“Bình Ngô đại cáo” được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng đầu năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải kí h[r]
Trang 1Nguyễn Trãi sinh năm 1380 mất năm1442), hiệu là Ức Trai, quê ở thôn Chi Ngại, phường Cộng Hoà, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sau dời đến làng Nhị Khê (huyệnThường Tín, Hà Nội) Ông xuất thân từ một gia đình quý tộc với hai truyền thống lớn: yêu nước, và văn hóa, văn học Cuộc đời ông phải chịu nhiều đau thương, mất mát Vì nợ nước, thù nhà ông tham gia nghĩa quân Lam Sơn Ông là một người vĩ đại, một nhà văn chính luận kiệt xuất, một nhà văn trữ tình sâu sắc Và khi nhắc đến ông thì không thể không nhắc tới tác phẩm “Bình Ngô đại cáo”, một áng “thiên cổ hùng văn” được lưu truyền trong lịch sử dân tộc
“Bình Ngô đại cáo” được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng đầu năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải kí hòa ước, rút quân về nước, nước ta bảo toàn được nền độc lập tự chủ, hòa bình Bài cáo được xem như là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, công bố việc dẹp yên giặc Ngô, thống nhất đất nước Tác phẩm được viết bằng thể cáo, chữ Hán gồm bốn đoạn Đoạn đầu nêu cao luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến.Đoạn thứ hai của bài cáo đã vạch trần, tố cáo tội ác dã man của giặc Minh xâm lược Đoạn văn thứ ba tổng kết lại quá trình khởi nghĩa Đoạn cuối của bài cáo là tuyên bố trịnh trọng về việc kết thúc chiến tranh, khẳng định nền độc lập, hòa bình vững bền của đất nước, thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc
Mở đầu tác phẩm là tư tưởng chính xuyên xuốt bài, là mục tiêu chiến đấu vô cùng cao cả và thiêng liêng của cuộc khởi nghĩa lam sơn:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Nhân nghĩa là một quan niệm đạo đức chỉ mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lí Bằng sự chắt lọc những yếu tố tích cực của nhân nghĩa tác giả đã nhấn mạnh và chỉ cho ta thấy rằng: Nhân nghĩa trước tiên phải vì dân
mà diệt trừ bạo ngược Đồng thời cũng đánh vào luận điệu kẻ đi xâm lược: biết sai vẫn làm và nêu cao ngọn cờ chính nghĩa của nghĩa quân Lam sơn Tiếp đến, Nguyễn Trãi đã khẳng định tư cách độc lập của nước Đại Việt:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
“Từ Triệu, Đinh, Lí,Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Nền lãnh thổ dân tộc được xác lập trên nhiều phương diện như nền văn hiến lâu đời, lãnh thổ, dân tộc riêng, tài nguyên riêng, có nhân tài và cũng có hào kiệt Chủ quyền của dân tộc không còn phụ thuộc vào thiên thư (những ý nghĩa tâm linh) mà đã được khẳng định rất cụ thể và khoa học Nguyễn Trãi thể hiện tinh thần dân tộc, lòng tự hào sâu sắc khi đặt Đại Việt sánh ngang với các triều đại Trung Quốc: “Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương” Trong quá trình dựng nước và giữ nước, tuy có những thăng trầm “mạnh yếu từng lúc khác nhau”, nhưng “hào kiệt đời nào cũng có” Đó là những trang nam tử, những người anh hùng sẵn sàng hi sinh bảo vệ đất nước khi đất nước lâm nguy
“Cho nên
Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chứng cớ còn ghi”
Vì cố tình xâm phạm nên những kẻ xâm lược đã phải gánh chịu hậu quả vô cùng thê thảm Lưu Cung, Triệu Tiết, Ô Mã, Toa
Đô là những tên tướng cầm đầu đội quân xâm lược, vì bất chấp luân lí xâm phạm Đại Việt mà chúng đã nhận lấy những thất bại cay đắng Bằng các động từ để diễn tả sự thất bại ê chề này: “thất bại”, “tiêu vong”, “bắt sống”, “giết” Nguyễn Trãi đã nêu lên những thắng lợi vang dội của quân dân ta cũng như sự khẳng đinh rằng những nước có ý định xâm lược nhất định sẽ thất bại Sau khi kết thúc luận đề chính nhĩa tác giả đã vạch rõ tội ác của giặc:
“Vừa rồi
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa
Bọn gian tà bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung
tàn
Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ”
“Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế Gây binh kết oán trải hai mươi năm Bại nhân nghĩa nát cả đất trời Nặng thuế khóa sạch không đầm núi Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay
cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng khốn rừng sâu nước độc
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng
Trang 2Nhiễu nhân dân, bẫy hưu đen, nơi nơi cạm đặt Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ”
Nguyễn Trãi đã kể lại sự rối ren trong nước, khi họ Hồ “chính sự phiền hà’, nhân dân lầm than, oán khổ Nhân sự mâu thuẫn nội
bộ của Đại Việt, quân Minh nhân cơ hội này đã thực hiện những hành động phi nghĩa “thừa cơ gây họa” Cách dùng từ “thừa cơ” làm bật lên cái phi nghĩa của cuộc xâm lược, đồng thời cũng thể hiện được cái tiểu nhân đê hèn trong hành động xâm lược
ấy Không chỉ lên án quân Minh mà nhà thơ còn vạch tội của những kẻ “bán nước cầu vinh” Vì hành động bắt tay xâm lược của chúng đã đẩy nhân dân ta vào biết bao nhiêu tai họa Nhà thơ đã sử dụng những động từ mạnh “nướng dân đen”, “vùi con đỏ” để vạch trần bản chất tàn nhẫn, độc ác của chúng Để mang lại lợi ích cho mình, quân giặc không từ một thủ đoạn, một hành động nhẫn tâm, tàn ác nào Chúng không chỉ bắt dân ta nộp nhiều loại tô thuế mà còn bắt những người dân vô tội lên rừng xuống biển tìm cho chúng những món đồ quý giá Cuộc sống của người dân vô cùng đau khổ, bi thương Nhưng tiếng khóc của người dân chúng đâu thấy được, không chỉ người dân mà ngay cả những loài thú quý, hay những loài côn trùng, cây cỏ chúng cũng không buông tha
độc ác thay,trúc nam sơn ko ghi hết tội
dơ bẩn thay,nước đông hải ko rửa sạch mùi!"
lấy trúc nam sơn,sông đông hải, những cái vô cùng lớn để nói về tội ác và sự nhơ bần của quân "cuồng minh",cái cùng cực,cái
vô cùng, NT đã ghi sâu vào lòng người sự độc ác xủa quân Minh
Đoạn tiếp theo kể về quá trình nghĩa quân Lam Sơn chiến đấu chống lại giặc Minh bạo tàn Tả về những ngày đầu kháng chiến đầy gian khổ, tác giả đã lấy đó làm nền để lột tả hết những chiến thắng oanh liệt của nhân dân ta:
“ Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đương mạnh
Lại ngặt vì :
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu “
Quân ta nổi dậy trong lúc thế giặc mạnh thì binh lực bên ta yếu kém, lương thực cạn kiệt, nhân tài thì hiếm hoi Thế nhưng, nhờ tài lãnh đạo của Lê Lợi, một người xuất thân từ núi rừng, nghĩa quân Lam Sơn đã đoàn kết một lòng, vượt qua khó khăn tạo nên sức mạnh to lớn chiến thắng kẻ địch Đó là do người lãnh đạo có quyết tâm cao độ, có những chiến lược, chiến thuật phù hợp để nâng cao sức mạnh của tình đoàn kết của nhân dân, chú trọng mưu cơ hơn binh lực Có thể nói, hình tượng của Lê Lợi chính là hình tượng người anh hùng áo vải sinh động và toàn diện
Với giọng điệu hào hùng, tác giả đã kể về ba trận đánh: Trận Bồ Đằng-tro bay ; Trận Ninh Kiều-tết động ; Trận Chi Lăng-Mã
An đến Xương Giang Trong một loạt những cặp câu biền ngẫu, lối viết thậm xưng, nhạc điệu dồn dập mạnh mẽ mang đậm chất anh hùng ca, tác giả đã nhấn mạnh được sự thất bại thảm hại của giặc Minh và khí thế hào hùng của quân ta
Đoạn cuối, tác giả đã tuyên bố chiến thắng, khẳng định sự nghiệp chiến đấu chính nghĩa đã thắng lợi hoàn toàn:
“ Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới “
Bằng giọng văn nhẹ nhàng khoan thai, tác giả đã tuyên bố nền hòa bình của dân tộc ta đã được lặp lại Đồng thời, tác giả cũng rút ra bài học lịch sử và thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước
Với nghệ thuật chính luận tài tình, cảm hứng trữ tình sâu sắc, “ Đại cáo bình Ngô “ đã có sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và yếu tố văn chương, được xem là áng “thiên cổ hùng văn” của dân tộc ta Ca ngợi sức mạnh của truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, tinh thần tự lập tự cường nêu bật sức mạnh của nhân dân ta, mở ra kỷ nguyên mới-kỉ nguyên hòa bình, độc lập tự
do cho lịch sử dân tộc chính là những ý nghĩa sâu sắc mà “Bình Ngô đại cáo” mang lại
“Đại cáo bình Ngô” tiêu biểu cho thể loại cáo, tiêu biểu cho thể loại văn chính luận của Nguyễn Trãi Bài cáo được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc ta, thể hiện được khát vọng tự chủ độc lập, yêu chuộng hòa bình