- Phương pháp Bàn tay nặn bột sử dụng vở thí nghiệm như là một phương tiện để rèn luyện ngôn ngữ viết cho học sinh trong quá trình học tập các kiến thức khoa học, tập làm quen với ghi ch[r]
Trang 1“ Bàn tay nặn bột ”
Trang 24 Nh ng u đi m c a ph ng pháp: Bàn tay n n b t ữ ư ể ủ ươ ặ ộ
Ph n th hai: ầ ứ Ti n trình d y h c theo ph ng pháp “Bàn tay ế ạ ọ ươ
n n b t” ặ ộ
1 Gi i thi u t ng th 5 b c c a ti n trình ớ ệ ổ ể ướ ủ ế
2 Gi i thi u chi ti t t ng b c có l y ví d minh h a làm rõ ớ ệ ế ừ ướ ấ ụ ọ
3 M t s l u ý khi l a ch n bài và v n d ng các b c c a ộ ố ư ự ọ ậ ụ ướ ủ
PPBTNB
Trang 3Phần thứ nhất : Giới thiệu chung về phương
pháp “Bàn tay nặn bột”.
1.1 Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là gì ?
Bàn tay nặn bột
(Tiếng Pháp “La main à pâte”; Tiếng Anh : Hand on)
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên cứu, áp dụng cho dạy các môn Khoa học tự nhiên.
“Bàn tay nặn bột” chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra…
Trang 41.2 Đ c đi m c b n c a ph ặ ể ơ ả ủ ươ ng ph áp
Bàn tay nặn bột ?
- Đặc điểm cơ bản của phương pháp Bàn tay nặn bột là
phương pháp giảng dạy dựa trên sự tìm tòi - nghiên cứu Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, học sinh đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy – học,
tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức Giáo viên là người hướng dẫn, cố vấn, giúp đỡ học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức thông qua các hoạt động Phương pháp
này ngoài việc giúp học sinh lĩnh hội kiến thức còn rèn luyện các kĩ năng và phát triển ngôn ngữ( nói và viết)
cho học sinh.
Trang 5* Một số đặc điểm quan trọng để phân biệt Bàn tay nặn bột với các phương pháp dạy học khác :
- Phương pháp Bàn tay nặn bột chú trọng quan niệm
ban đầu của học sinh trước khi tiếp cận kiến thức mới.
- Sự tiếp thu kiến thức của học sinh thông qua việc
giáo viên giúp học sinh tự đi lại chính con đường mà các nhà khoa học đã tìm ra chân lí (kiến thức): đặt giả thuyết (quan niệm ban đầu), đặt câu hỏi khoa học, đề xuất
phương án nghiên cứu và làm thí nghiệm để kiểm chứng giả thuyết, đưa ra kết luận.
Trang 6
- Phương pháp Bàn tay nặn bột sử dụng vở thí nghiệm
như là một phương tiện để rèn luyện ngôn ngữ viết cho học sinh trong quá trình học tập các kiến thức khoa
học, tập làm quen với ghi chép một cách khoa học các thông tin thu nhận được trong giờ học.
Tóm lại :
- Về bản chất việc phát hiện kiến thức của học sinh
thông qua quá trình tiến hành thực nghiệm, hs sẽ phân tích, suy luận, thảo luận chung và tranh luận với bạn với giáo viên về những ý tưởng hay kết quả thực nghiệm (Tức là bắt đầu từ đầu giống như các nhà khoa học đã đi )
Trang 71.3 Một số lưu ý khi dạy pp : Bàn tay nặn bột.
- Người học phải tự nhiên như quá trình tìm ra chân lý
hoạt động tự nhiên.Với PPBTNB thì kể cả việc hs đọc sách trước, học thêm trước, biết trước kiến thức thì khi
đề xuất ra các thí nghiệm để chứng minh,hs sẽ lúng
túng khi hỏi lại : Vì sao em biết điều đó? Làm sao em
chứng minh được kết luận của em là đúng ? Và nếu dạy trước thì tiết học sẽ không tốt cho lắm.
-Sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột không được
nhận xét quan điểm của ai đúng, ai sai ( Đây là một
điều mà chúng ta đặc biệt chú ý khi sử dụng phương
pháp này và thông qua thí nghiệm thì chính hs sẽ tự
đánh giá mình đúng hay sai.(Tức là hoàn toàn hs tự
mình rút ra điều đó).
Trang 8- Chúng ta là những người gv thì không được nhận xét
là ý kiến nào là đúng, ý kiến nào là sai và thông qua thí nghiệm thì chính hs sẽ tự đánh giá mình đúng hay sai (Tức là hoàn toàn hs tự mình rút ra điều đó).
- PPBTNB chủ yếu dạy ở các môn Khoa học, môn Tự
nhiên, môn Công nghệ ở các chủ đề gắn với đời sống
của hs PPBTNB rất phù hợp môn Tự nhiên & xã hội,
môn khoa học bởi vì nó liên quan đến quan sát, liên
quan đến thí nghiệm nhiều do đó mà nó rất phù hợp với
bộ môn nói trên.
- Trong chương trình hiện nay thì có những bài áp dụng được cả quy trình của PPBTNB, nhưng có những bài chỉ
áp dụng một phần.
Trang 91.4 Ưu điểm của phương pháp: Bàn tay nặn bột.
- Trong dạy học theo phương pháp BTNB, học sinh là người chủ động học tập, tự xây dựng kiến thưc thông
qua khám phá, thử nghiệm, thảo luận, hợp tác với bạn với sự định hướng giúp đỡ của giáo viên.Qua đó, học sinh nắm được kiến thức, phát triển năng lực nhận thức
và tư duy sáng tạo; phát triển năng lực quan sát, thực hành; kĩ năng làm việc hợp tác theo nhóm; … Góp phần phát triển năng lực của học sinh.
- BTNB còn chú ý nhiều tới rèn kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết để hs phát triển khả năng diễn đạt, ngôn ngữ khoa học.
Trang 10
- Qua việc tích cực tham gia các hoạt động, qua các bước của phương pháp BTNB, học sinh hình thành các tác phong và thói quen
làm việc khoa học, thói quen độc lập suy nghĩ, sáng tạo trong hành động, có lợi cho việc học tập và nghiên cứu sau này.HS cũng dần được hình thành, bồi dưỡng óc tò mò, ham muốn
khám phá, lòng yêu thích và say mê khoa học.
Trang 11Phần thứ hai : Tiến trình dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
Bước 1: Đưa ra tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
Bước 2 : Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu của học
sinh.
Bước 3 : Đề xuất câu hỏi(dự đoán/ giả thuyết) và
phương án tìm tòi ( Đây là bước hoàn toàn mới ).
Bước 4 : Tiến hành thực nghiệm tìm tòi.
Bước 5 : Kết luận kiến thức.
Trang 12Bước 1: Đưa ra tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
VD: Dạy kiến thức : Cấu tạo bên trong hạt đậu.
- Giáo viên đưa ra một vài hạt đậu (loại đậu hạt lớn nhằm mục đích để cho hs dễ quan sát.)
-Giáo viên đặt câu hỏi nêu vấn đề : Theo em trong
hạt đậu có gì? ( Đây là b1 nêu vấn đề )
Dùng phương pháp Bàn tay nặn bột để
Trang 13Bước 2 : Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu
của học sinh.
Bước này là bước thường là chúng ta không để ý.
- Ở bước này hs phải bộc lộ được quan điểm ban đầu của mình.
-VD : Làm bộc lộ quan điểm ban đầu của hs thì gv
giao nhiệm vụ cho hs: (Trong hạt đậu có những
gì ? Em hãy suy nghĩ và vẽ vào vở thí nghiệm hình
vẽ mô tả bên trong hạt đậu) hs phải có nhiệm vụ
đó và có thể mô tả bằng hình vẽ,có thể mô tả bằng lời Tức là đối với hs khả năng viết còn hạn chế thì
hs có thể nói, có thể vẽ… ( Sử dụng nhiều cách để
hs bộc lộ quan niệm ban đầu đó là có thể : Nói, có thể viết , có thể vẽ… )
Trang 14- Trong thời gian hs vẽ các ý kiến của mình vào vở thí nghiệm, giáo viên tranh thủ quan sát nhanh để tìm ra
các hình vẽ ( Các biểu tượng ban đầu) khác nhau Giáo viên chú ý không nhất thiết để ý tới các hình vẽ đúng và cần phải chú trọng đến các hình vẽ sai ( Vì đây là biểu tượng ban đầu ngây thơ của các em.)
H1: Trong hạt đậu có nhiều hạt nhỏ.
H2: Trong hạt đậu có cây con với lá và rễ.
H3 Trong hạt đậu có cây đậu nở hoa và có nhiều hạt đậu khác.
H4 Trong hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ có rễ.
H5, 7, 9.Trong hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ.
H6,8 Trong hạt đậu có một cây đậu nhỏ với đầy đủ thân lá, rễ.
Trang 15Bước 3 : Đề xuất câu hỏi(dự đoán/ giả thuyết) và
phương án tìm tòi ( Đây là bước hoàn toàn mới ).
Đây là bước tự hs đề xuất ý kiến chứ không phải là giáo viên.
- Đây là bước khác với các PP mà hiện nay chúng
ta thường dùng.
- Hs phải đề xuất câu hỏi ví dụ như : Có nhiều
nhóm khác nhau trong lớp :
+ Nhóm biểu tượng một : Biểu tượng hình vẽ
của hs 1,5,7,9 đều cho rằng trong hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ khác.
Trang 16
+ Nhóm biểu tượng hai : Hình vẽ của hs 2,6,8 đều cho
rằng: Trong hạt đậu đều có một cây đậu con với đầy đủ các bộ phận bên trong ( Tức là hs biểu hiện bằng hình
vẽ đó )
+ Nhóm biểu tượng ba : Hình vẽ của hs trong hạt đậu
có một cây đậu con có đầy đủ các bộ phận đã nở hoa, ngoài ra còn có nhiều hạt đậu khác( Tức là hs thể hiện trong hình vẽ là như vậy )
+ Nhóm biểu tượng bốn: Hình vẽ của hs cho rằng
trong hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ đang mọc rễ
Lưu ý: Các nhóm biểu tượng trên chỉ là một phương án Có thể hs ghép h.vẽ 4 vào các nhóm hình vẽ 1, 5, 7, 9 hoặc nhóm hình vẽ 3 vào nhóm với các hình 2,
6, 8 đều chấp nhận được.
Trang 17* Tất cả các hiểu biết ban đầu của hs từ các kiến thức
có sẵn hs có thể hiểu trong hạt đậu đó nó có trường hợp
đó xảy ra Và giáo viên hướng dẫn hs đặt câu hỏi nghi vấn:
- Có phải bên trong hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ
Trang 18- Để ý thấy rằng các câu hỏi trên là câu ghi vấn
là điểm khác biệt của những biểu tượng ban đầu Hs phải đặt câu hỏi nghi vấn Đây là vấn
đề hoàn toàn hs tự làm chứ cô giáo không có hướng dẫn ở đây Và khi đặt ra câu hỏi đó thì
hs đề xuất phương án thực hiện Khi đặt ra câu hỏi rồi, khi đề ra hình vẽ rồi thì bây giờ hs phải
đề ra cách thực hiện để kiểm chứng xem giả thuyết của mình có đúng không Nhóm 1,2,3,4 đưa ra giả thuyết như vậy, bây giờ : Phải đề
xuất phương án kiểm tra thực hành thí nghiệm xem những phương án nào là phương án
đúng.
Trang 19Học sinh đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu :
+ Phương án thứ nhất : là bổ hạt đậu đó ra ( Ở đây chúng ta chú ý là tách hạt đậu ra để tránh cái thay đổi cấu tạo bên trong hạt đậu Tức là tách hạt đậu
ra để quan sát bên trong)
+ Phương án thứ hai : Là xem hình vẽ trong sách giáo khoa.
+ Phương án thứ ba : Là xem tranh vẽ khoa học
chụp hình cấu tạo bên trong hạt đậu
+ Phương án thứ tư : Đi điều tra phỏng vấn
Tóm lại là tất cả các phương án này là hs phải nêu
ra và hs sẽ chọn phương án nào nó tối ưu nhất
trong các phương án nói trên.
Trang 20Bước 4 : Tiến hành thực nghiệm tìm tòi :
- Trong các phương án đưa ra thì chúng ta thấy là phương án tách hạt đậu ra là phương án tối ưu
nhất
- Giáo viên phải khéo léo nhận xét các phương án trên đều có lí nhưng tất cả phải thực hiện theo
phương án tách hạt đậu ra để quan sát cấu tạo
bên trong hạt đậu.
- Vì vậy sau khi thảo luận các nhóm thì chúng ta
sẽ đưa ra phương án tối ưu nhất là : Học sinh
phải tiến hành tách hạt đậu ra để quan sát.
Trang 21- Sau khi quan sát rồi thì giáo viên yêu cầu hs vẽ lại hình vẽ đã quan sát và ghi chú thích các bộ
phận bên trong của hạt đậu
- Nếu hs chưa chú thích đúng hình vẽ quan sát thì giáo viên đừng vội chỉnh sửa ngôn ngữ Học sinh quan sát gì,chú thích gì thì đó là quyền của học sinh, giáo viên không chỉnh sửa
- Qua việc quan sát thì hs tự làm việc đó
- Sau khi cả lớp thực hiện xong quan sát hình vẽ, chú thích xong hình vẽ thì giáo viên cho hs quan sát thêm một bức tranh phóng to cấu tạo bên
trong của hạt đậu có chú thích và phóng lên màn hình máy chiếu …vv hoặc cho hs quan sát hình
vẽ trong sách giáo khoa.
Trang 22Tóm lại : Giáo viên đưa ra hình ảnh chính xác nhất để cho học sinh so sánh với ý kiến của mình Sau đó hs tự điểu chỉnh các
thuật ngữ khoa học cần ghi chú thích trong hình vẽ mà các em đã làm chưa đúng (Tức
là giáo viên đưa ra một kiến thức chuẩn để
học sinh tự điều chỉnh )
Trang 23- Sau khi học sinh đã tự đưa ra kiến thức, giáo
viên đưa ra kiến thức chuẩn thì bước 5 là bước kết luận và hợp thức hóa kiến thức.
- Giáo viên giới thiệu cấu tạo bên trong hạt đậu với hình vẽ khoa học có sẵn hoặc hình vẽ tự vẽ, nếu trường hợp không có tranh vẽ in sẵn giáo viên lưu ý hs về một số thuật ngữ khoa học về những nhầm lẫn mà các em chưa gọi đúng tên khoa học trong quá trình quan sát hình vẽ.
Bước 5 : Kết luận kiến thức.
Trang 24Một số lưu ý khi soạn bài, vận dụng các bước của phương pháp BTNB:
1.Đối với môn khoa học thì hiện nay chúng ta đang dạy theo chủ đề
Có 3 chủ đề cơ bản : Sức khỏe và con người, Thực vật, động vật, …Đặc điểm của môn khoa học, TN&XH là
thiết kế theo chủ đề do đó vấn đề là chúng ta dạy như thế nào trong một chủ đề đó Và đối với môn khoa học
và môn TN&XH này thì tinh thần là giáo viên hoàn toàn
có quyền tự chủ trên cơ sở sách giáo khoa, trên cơ sở chương trình quy định và sách giáo khoa chỉ là một
kênh tham khảo Giáo viên có quyền thiết kế lại trật tự của sách giáo khoa đó theo một chủ đề để phục vụ cho việc dạy học theo PPBTNB.
Trang 252 Trên đây là 5 bước của tiến trình dạy học theo PPBTNB Trong một tiết học không nhất thiết phải thực hiện đầy đủ theo 5 bước (mà trong 1 tiết học có thể thực hiện theo 1 bước hoặc 2 bước hoặc 3 bước tùy theo từng bài ) VD: Trong một chủ đề các đ/c có thể thiết kế thực hành thí nghiệm 2-3 tiết liền nhau.