1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tim hieu lich su TP Tam K Quang Nam

11 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 17,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bà Nguyễn Thị Thu Lan – Phó Bí thư Thành ủy Tam Kỳ cho biết: “Năm 2014 là một năm có nhiều dấu ấn đối với thành phố trẻ Tam Kỳ và đạt được những kết quả to lớn trên các lĩnh vực chính tr[r]

Trang 1

Bài viết dự thi tìm hiểu 110 năm phủ lỵ TAM KỲ

và 10 năm thành năm thành lập thành phố.

Người viết: Nguyễn Thị Trường

Chức vụ: Đảng viên

Đơn vị công tác: Chi bộ thôn Đồng Hành

Tam Kỳ trên dặm dài lịch sử

1.Vài nét về lai lịch một vùng đất (thời tiền sử - 1858)

Trên vùng đất Tam Kỳ từ trước cho đến nay, các nhà khảo cổ học vẫn chưa tìm thấy di tích nào thuộc thời đại đá cũ Trong những thập kỷ gần đây, nhờ kết quả của những cuộc khai quật khảo cổ học tại nhiều địa điểm khác nhau trên địa bàn Hà Đông - Tam Kỳ, từ đó đã tái hiện lại một bức tranh toàn cảnh, tương đối đầy đủ từ thời tiền sử và sơ sử trên vùng đất này Bàu

Dũ là di chỉ sớm nhất thuộc thời đại đá mới sau Hòa Bình (cách đây chừng

6000 năm) được phát hiện năm 1981 tại Phú Đông, Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, cách quốc lộ 1A khoảng 1 km về phía Đông và cách biển 4km Bàu

Dũ là di tích vừa là nơi cư trú vừa là mộ táng - một đặc trưng tiêu biểu trong hình thức sinh hoạt thời tiền sử Vì thế, di chỉ này được xếp vào loại hình di

tích “Đống rác bếp” hay “Cồn sò điệp” (Kjokkenmodding) Đúng như một

người đã nói: Bàu Bũ là một phát hiện khảo cổ quan trọng không chỉ đối với Quảng Nam mà đối với cả khu vực Nam Trung Bộ

Thời tiền sử: Đại diện tiêu biểu cho giai đoạn tiền Sa Huỳnh là khu di tích Bàu Trám (Tam Anh Bắc, Núi Thành), nằm ở hữu ngạn sông Vĩnh An được khai quật vào năm 1979 và 1992 Tại đấy, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy các hiện vật bằng gốm và đồng thau như nồi, hủ, tô, bát, lọ… khá nguyên vẹn có kích thước khá lớn, vành miệng loe rộng và hàng vạn mảnh gốm nằm dưới 2 tầng văn hóa niên đại cách ngay nay khoảng 3000 đến 2500 năm Đặc biệt, tại di tích Phú Hòa (Mỹ Tân An - Tam Xuân - Núi Thành) cho thấy sự giao lưu văn hóa Sa Huỳnh và Đông Sơn qua bộ sưu tập công cụ lao động và vũ khí đồng thau mang nhiều yếu tố Đông Sơn được phát hiện cạnh mộ Chum Sa Huỳnh

Bước sang giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh, (niên đại từ giữa thiên niên

kỷ I trước Công nguyên - thế kỷ đầu Công nguyên tương ứng với sơ kì đồ sắt) Thì Tam Kỳ nói riêng và ở Quảng Nam nói chung là nơi có nhiều di

Trang 2

tích nhất Trong đó nổi bật nhất khu mộ chum Khương Mỹ thuộc Tam Xuân

1 - Núi Thành với nhiều mộ chum hình trụ và một số nồi lớn, mộ chum hình trứng

Đồ sắt, đặc trưng tiêu biểu không chỉ có tại Tam Kỳ mà ở khắp các di tích Sa Huỳnh Công cụ vũ khí bằng sắt khá nhiều gồm dao, kiếm, rựa, liềm, rìu, cuốc… được làm bằng phương pháp rèn nóng Dựa vào các hiện vật mà các nhà nghiên cứu đã bước đầu phỏng đoán cư dân lúc này đã có sự phân hóa giàu nghèo, họ sống định cư ở đồng bằng và trồng lúa nước là hoạt động kinh tế chính

Sự ra đời và phát triển rực rỡ của văn hóa Chămpa là gạch nối của văn hóa, lịch sử Qua nhiều năm tìm hiểu, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng người Chăm là một trong những cư dân bản địa ở Miền Trung Việt Nam và

là hậu duệ trực tiếp hay gián tiếp của cư dân cổ Sa Huỳnh Họ gồm 2 bộ tộc Cau và Dừa sinh sống vào nửa thế kỷ I trước Công nguyên trên dải đất từ Quảng Nam đến Bình Thuận

Từ 190 - 193, nhân Trung Hoa loạn lạc, nhân dân Tượng Lâm dưới sự lãnh đạo của Khu Liên đã nổi dậy dựng quyền tự chủ (192), mở đầu vương quốc Gangaraja hay gọi là Lâm Ấp Từ cuối thế kỷ II đến nửa sau thế kỷ IV, lãnh thổ Lâm Ấp không ngừng mở rộng và vững chắc nhất là từ sau khi lãnh thổ được thống nhất, vương quốc Chămpa được xác lập (IV), phát triển hưng thịnh trong suốt nhiều thế kỷ (cuối IV - XIV) Sau đó vì nhiều lý do Chămpa suy yếu Năm 1402, Hồ Quý Ly dùng biện pháp quân sự mở rộng đất đai, buộc vua Chiêm cắt 2 châu Chiêm Động và Cổ Lũy để dâng cầu hòa Hồ Quý Ly lập nên 4 châu Thăng - Hoa - Tư - Nghĩa và thực hiện chính sách di dân vào đây Châu Thăng và châu Hoa gồm vùng đất từ Duy Xuyên đến Núi Thành ngày nay Như vậy, vùng đất Tam Kỳ đã thuộc về Đại Việt từ 1402 Đặc biệt, sau khi cuộc bình Chiêm thắng lợi, vua Lê Thánh Tông đã sáp nhập toàn bộ vùng đất từ Nam Hải Vân đến đèo Cù Mông vào bản đồ Đại Việt, lập thành Đạo Thừa tuyên Quảng Nam, đồng thời châu Thăng, Hoa được sát nhập để làm Phủ Thăng Hoa với 3 huyện Lê Giang, Hà Đông và Hy Giang Huyện Hà Đông có 8 tổng, 66 xã Đến cuối 1490, vua Lê Thánh Tông cải cách lại hành chính đổi Thừa tuyên thành Xứ - Xứ Quảng Nam Năm 1509, Lê Tương Dực đổi Xứ thành Trấn - Trấn Quảng Nam

Từ 1471 về sau, nối tiếp các triều đại phong kiến Việt Nam liên tục tổ chức nhiều đợt di dân từ Thanh - Nghệ … vào khai phá trong số đó có nhiều người chọn Hà Đông định cư Qua nghiên cứu thực tế, nhiều vị Thủy tổ, Tiền hiền của dòng họ Quảng Nam nói chung và Hà Đông - Tam Kỳ nói

Trang 3

riêng đều bắt đầu ở giai đoạn này Họ đã khai khẩn đất đai vùng Chiên Đàn

mà đình Chiên Đàn xây dựng cuối thế kỷ XV thờ Tiền hiền họ Ung là minh chứng quá trình cộng cư 2 dân tộc này…

Dưới thời các chúa Nguyễn, Trấn Quảng Nam đổi thành Dinh Quảng Nam Sau thời gian dài ổn định kinh tế - chính trị, đến nửa sau thế kỷ XVIII,

sự mục nát, chuyên quyền của chế độ phong kiến Đàng Trong đẩy cơ đồ của Chúa Nguyễn đến hồi sụp đổ Năm 1771, khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ, trong 3 thập kỷ, vùng đất Hà Đông là một trong những địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa Tây Sơn và thế lực phong kiến Việt Nam

Sau khi đánh bại Tây Sơn (1802), nhà Nguyễn được xác lập Dưới triều Nguyễn (1802 - 1945), ở Quảng Nam trường học bắt đầu mở từ Gia Long Năm Minh Mạng thứ 5 (1824 ), trường Phủ học Tam Kỳ được mở ở

xã Chiên Đàn phía Bắc phủ lỵ Đến Thiệu Trị được dời qua xã Tam Kỳ

Quảng Nam nói chung, Tam Kỳ và Hà Đông nói riêng là đất nổi tiếng

về truyền thống hiếu học Nói về khoa cử, Quảng Nam cũng có thể tự hào là nơi có số lượng người thi đỗ nhiều nhất so với các tỉnh phía nam đèo Hải Vân Năm 1472 Quảng Nam Thừa tuyên đạo thành lập, thì đến năm 1488, Quảng Nam đã có nguời dự thi kỳ thi Hương Từ đó, Quảng Nam đã có những người đỗ thi Hương như Lê Cảnh, Phạm Hữu Kính, Trần Phúc Thành, Đặng Dung… Nhưng tiếc rằng không có tài liệu để thống kê đầy đủ

Từ giữa thế kỷ thứ XIX, đến triều Nhà Nguyễn, Quảng Nam trở thành vùng đất học nổi tiếng, sản sinh ra nhiều nhà khoa bảng, nhiều tri thức cho đất nước Trong khoảng 100 năm, từ 1817- 1918 tại 32 khoa thi Hương ở trường Thừa Thiên Huế, Quảng Nam có tất cả 252 người đỗ, liên tiếp cả 32 khoa, chiếm 27,7% số người đỗ ở trường này, bằng 5,9% số người đỗ trong cả nước Quảng Nam còn có 39 vị đỗ đại khoa gồm 14 tiến sĩ và 25 phó bảng, trong số 558 vị đại khoa của cả nước, xếp hàng thứ 6 Trong đó, có một Đình nguyên Hoàng giáp là Phạm Như Xương, 2 trường hợp song nguyên là Phạm Phú Thứ và Huỳnh Thúc Kháng vừa đỗ hương nguyên vừa đỗ hội nguyên Trong các kỳ thi, sĩ tử Quảng Nam đều đỗ đạt rất cao Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898) 5 người Quảng Nam cùng đỗ, được người đương thời dành

tặng danh hiệu “Ngũ Phụng tề phi” cho 3 tiến sĩ Phạm Liệu, Phan Quang,

Phạm Tuấn và 2 phó bảng Ngô Chuân, Dương Hiển Tiến Khoa thi Canh Tý (1900), ở Quảng Nam đã có đến 14 người đăng khoa mà những người đỗ kế tiếp nhau từ thứ nhất đến thứ tư là Huỳnh Thúc Kháng (Hương nguyên), Nguyễn Đình Hiến, Phan Châu Trinh, Lê Bá Trinh Khoa thi Tân Sửu (1901) có bốn người cùng đỗ phó bảng là Nguyễn Đình

Trang 4

Hiến, Võ Vĩ, Nguyễn Mậu Hoán, Phan Châu Trinh được tặng cho Danh hiệu

“ Quảng Nam tứ kiệt ” Có tới 123 làng trong tỉnh có người đỗ từ cử nhân

trở lên Một số làng có nhiều người đăng khoa như làng Bảo An có đến 14 người, Mã Châu 10 người, Xuân Đài 9 người và các làng Phiếm Ái, Mỹ Xuyên, Chiên Đàn 6 người Lại có trên 20 gia đình được liệt vào hàng thế khoa (nhiều người đỗ) Tiêu biểu có gia đình họ Hoàng làng Xuân Đài cha con, anh em, bác cháu, chú cháu đều thi đỗ (Hoàng Kim Giám, Hoàng Diệu, Hoàng Kim Huyễn, Hoàng Chấn, Hoàng Đống, Hoàng Dương) Gia đình họ Nguyễn làng Hà Lam cha con, chú, cháu cùng thi đỗ (Nguyễn Thuật, Nguyễn Chức, Nguyễn Tạo, Nguyễn Duật) Gia đình họ Phạm làng Mã Châu cha con, anh em cùng thi đỗ (Phạm Thanh Nhã, Phạm Thanh Thạc, Phạm Thanh Nghiêm, Phạm Cung Lượng) Hay trường hợp họ Nguyễn làng Chiên Đàn có cha Nguyễn Văn Dục đỗ phó bảng, con Nguyễn Văn Thích đỗ tiến sĩ Gia đình họ Nguyễn Tường ở Cẩm Phô có anh Nguyễn Tường Vĩnh

đỗ phó bảng, em Nguyễn Tường Phổ đỗ tiến sĩ,… Danh hiệu “Ngũ tử đăng khoa” tặng cho 5 anh em Nguyễn Khắc Thân, Nguyễn Chánh Tâm, Nguyễn

Thành Ý, Nguyễn Tu Kỷ, Nguyễn Tĩnh Cung người làng Túy La, trú làng Bất Nhị, trong đó 3 người đỗ tú tài là Nguyễn Khắc Thân, Nguyễn Chánh Tâm, Nguyễn Tu Kỷ, 2 người đỗ cử nhân là Nguyễn Thành Ý và Nguyễn Tĩnh Cung Tinh thần hiếu học không chỉ thể hiện ở những người trẻ tuổi như trường hợp Ông Ích Khiêm thi đỗ cử nhân năm 15 tuổi được vua Tự

Đức khen là “Thiếu niên đăng cao khoa” mà còn ở sự gương mẫu, chí kiên

trì của những người sắp bước sang tuổi lão nhiêu như trường hợp Trà Quý Trưng đến năm 56 tuổi vẫn còn đi thi, đỗ cử nhân Ngoài ra, Quảng Nam cũng là vùng đất có những nhà giáo nổi tiếng, được giao trọng trách giáo dục cho những vị vua tương lai của triều đình Nguyễn như Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Đình Tựu

Năm 1814 đến Gia Long, huyện Hà Đông thuộc phủ Thăng Bình thuộc Nam Ngãi tổng trấn, rồi Hà Đông của Phủ Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Nam dưới thời Thành Thái (1906) Phủ Tam Kỳ đầu thế kỷ XX có 118 xã như bài phú Tam Kỳ bách thập bát xã của Trương Học Hoàng đã nói

2 Tam Kỳ truyền thống yêu nước và cách mạng (1858 – 1975.)

Ngày 31/8/1858, tàu chiến Pháp và 1 tàu chiến Tây Ban Nha đã nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu xâm lược nước ta Cùng với quan quân triều

đình, đội “thân biền binh dõng” của nhân dân Quảng Nam đã anh dũng

chiến đấu chống giặc

Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương, Trần Văn Dư, Phan Bá Phiến cùng Nguyễn Duy Hiệu thành lập Nghĩa hội Quảng Nam cùng chống

Trang 5

Pháp Căn cứ ban đầu ở núi Phương Xá - Ba Hương - Suối Dưa (Tiên Phước), đã gây cho kẻ thù nhiều phen khiếp vía Phong trào tuy tồn tại không đầy 3 năm (1885 - 1887) và kết thúc bằng cái chết bi tráng và anh hùng của 3 nhân vật kiệt xuất đó nhưng đã thể hiện tinh thần yêu nước, đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân Quảng Nam

Tiếp nối truyền thống đó, Quảng Nam tiếp tục là địa bàn hoạt động của phong trào Duy Tân (1904 - 1907) với 3 nhà lãnh đạo Phan Châu Trinh,

Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp Hành động theo phương châm “Chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh” Phong trào này châm ngòi cho phong

trào chống thuế 1908 bùng nổ Bắt đầu từ Đại Lộc lan rộng ra toàn tỉnh Quảng Nam Tại Tam Kỳ chiều 30/8/1908 một đoàn biểu tình gần 4000 người bao vây phủ đường Tam Kỳ đòi tri phủ giao Đề Sự - tên thật là Trần Tuệ - một tên cai xâu hung bạo cho dân Biết dân thù Đề Sự, nên vua quan phụ trách tòa Đại Lý Pháp ở Tam Kỳ tìm cách giải thoát, cho lính chở Đề Sự

về tòa Đại Lý Khi xe ra tới cổng, dân bao quanh xe, Trần Thuyết - một

người trong đoàn biểu tình la to: “Dân ta xin quan Đại Lý giao cho dân ăn gan”, một tiếng dạ vang lừng của đoàn người làm Đề Sự sợ hãi hộc cả máu

mồm, khi về tới tòa Đại Lý thì tắt thở Trần Thuyết bị bắt, tòa án Nam triều kết án tử hình, đem ra chém ở chợ Tam Kỳ

Hưởng ứng cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân (1916), nhân dân Tam Kỳ dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bảng, dân binh nổi dậy vây tòa Đại Lý bắn chết viên quan Pháp, kéo đến phủ đường bắt trói tri phủ Tạ Thúc Xuyên Cuộc khởi nghĩa thất bại, lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa và Nguyễn Bảng bị Pháp chém, nhiều người bị bắt, giam cầm

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Đảng bộ tỉnh Quảng Nam

thành lập (28/3/1930) sau đó không lâu, “5/1930, ở Tam Kỳ một chi bộ Đảng được thành lập tại Chùa Ông (Phường Phước Hòa) gồm 3 đồng chí

Hồ Bằng (Quang), Phan Kính (Phán) và Tư Định, do Tư Định làm Bí thư Đến tháng 7/1930, chi bộ kết nạp thêm Khâu Thúc Cự và Hồ Đắc Thành”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng trên địa bàn Tam

Kỳ đã phát triển mạnh mẽ: hưởng ứng Nghệ Tĩnh đỏ (1930 1931), 1936

-1939 và vận động giải phóng dân tộc -1939 - 1945, Đảng bộ Tam Kỳ tiếp tục xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang, gây dựng và phát triển tổ chức cơ

sở Đảng, chú trọng xây dựng mặt trận Việt Minh vững mạnh, khi thời cơ tới chỉ 2 ngày 18 và 19, nhân dân Tam Kỳ đã nhanh chóng lật đổ toàn bộ hệ thống chính quyền tay sai của Nhật từ xã đến phủ, góp phần cho Cách mạng

Trang 6

tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Nhân dân Tam Kỳ cùng không khí sôi nổi xây dựng đất nước, diệt giặc đói, giặc dốt, đấu tranh chống thù trong giặc ngoài Từ kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1945), hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác, nhân dân Tam Kỳ anh dũng chiến đấu bảo vệ vùng tự do, chống địch lấn chiếm Những năm 1947 - 1954, xây dựng và bảo vệ vùng tự do, góp phần làm nên thắng lợi vang dội, buộc Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán ký Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954)

Sau tháng 7/ 1954, Mỹ dựng lên chế độ Ngô Đình Diệm, âm mưu xâm lược Việt Nam Trên địa bàn Tam Kỳ, ngày 28/8/1954, địch vào tiếp quản

Bộ máy chính quyền tay sai được dựng lên điên cuồng chống phá Cách mạng, chia rẽ nhân dân Hờn căm chất chồng ở Chiên Đàn, giếng Lạng, La Gà… Ta phải rút vào hoạt động bí mật Và lần lượt đánh bại các chiến dịch Bình Châu Tháng 7/1965, cao trào đồng khởi đồng loạt nổ ra, rộng khắp, Cách mạng làm chủ vùng đất rộng lớn

Sau thất bại chiến tranh đặc biệt, Mỹ tiếp tục leo thang chiến tranh ở Việt Nam bằng chiến tranh cục bộ, ào ạt đưa quân viễn chinh vào Miền Nam Ngày 26/5/1965, mảnh đất Tam Kỳ lại đi vào lịch sử với chiến thắng

Núi Thành, loại khỏi vòng chiến đấu 1 đại đội Mỹ Làm nên “Quảng Nam trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ”.

Sau đó là thắng lợi vang dội ở gò Khoai, Kỳ Hương (25/2/1966), cầu

Kỳ Phú, nhà đèn, bến xe mới phía Bắc, đồn An Hà, xã Kỳ Anh… Năm

1968, quân và dân Tam Kỳ đánh vào hầu hết các mục tiêu, làm chủ tỉnh đường Quảng Tín trong nhiều giờ, góp phần buộc Mỹ tuyên bố “phi Mỹ hóa”, xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán Pari

Trong chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, Tam Kỳ - Quảng Nam là địa bàn trọng điểm của kế hoạch bình định nông thôn của Mỹ Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Khu ủy V và Tỉnh ủy Quảng Nam, quân dân Tam Kỳ phối hợp cùng bộ đội chủ lực bất ngờ đột kích tỉnh đường Quảng Tín, sân bay Chu Lai (2/1969) Cuối 8/1972, vùng giải phóng của ta nối dài từ Kỳ Thịnh đến Kỳ Nghĩa Đầu 11/1972, lợi dụng nước ngập công sự địch đưa quân đánh thẳng vào Ao Lầy, cuộc chiến kéo dài 2 tháng, ta tiêu diệt 4 trung đội nghĩa quân và đại đội Bảo An Ao Lầy là địa danh nổi tiếng trong cuộc chiến chống Mỹ ngụy của quân và dân Tam Kỳ

Ngày 27/7/1973, Hiệp định Pari được ký kết nhưng tình hình trên toàn Miền Nam cũng như Tam Kỳ còn phức tạp, Mỹ không ngừng chi viện cho

Trang 7

chính quyền Sài Gòn Năm 1974, cùng với thắng lợi tiêu diệt địch ta xây dựng được nhiều cơ sở quân sự và cơ sở Đảng…

Cuối 1974, tình hình có nhiều chuyển biến thuận lợi cho ta Đầu 3/1975, thực hiện chỉ đạo của tỉnh ủy Quảng Nam, huyện ủy Nam Tam Kỳ chỉ thị lực lượng đồng loạt nổ súng vào một số mục tiêu nhằm đánh lạc hướng phán đoán của địch Ta mở chiến dịch Tiên Phước - Tam Kỳ, giải phóng toàn bộ khu vực này, chọc thủng tuyến phòng thủ phía Tây của thị xã Tam Kỳ Tối 20 rạng 21/3/1975, lực lượng của ta đánh vào trụ sở ngụy ở xã

Kỳ Anh, Thăng Tân, Thạch Tân… Đến 11 giờ trưa ngày 22/3/1975 ta giải phóng hoàn toàn các xã Kỳ Phú, Kỳ Anh, giải phóng và chiếm lĩnh hoàn toàn địa bàn Đông Tam Kỳ Ngày 24/3/1975, ta tấn công tỉnh lỵ Quảng Tín

và giải phóng hoàn toàn thị xã Lúc 10 giờ 30 phút ngày 24/3/1975 lá cờ giải phóng tung bay trên nóc tỉnh đường Quảng Tín

3 Tam Kỳ trong hành trình xây dựng và phát triển (1975 – nay)

Sau chiến tranh, tình hình kinh tế - xã hội ở Tam Kỳ rất ảm đạm, sa sút, nông nghiệp bị tàn phá, phần lớn diện tích hoang hóa Công nghiệp không phát triển được, thiết bị máy móc cũ kĩ, hư hỏng, lạc hậu, cơ sở vật chất - hạ tầng xuống cấp nghiêm trọng Hệ thống an sinh xã hội, giáo dục, y tế văn hóa… rất nghèo nàn, thiếu thốn

Đứng trước tình hình đó, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, cán bộ huyện Tam Kỳ đã trực tiếp xuống địa phương để chỉ đạo ổn định an ninh trật tự, đưa dân về quê cũ, tiến hành khai hoang phục hóa, xây dựng vùng kinh tế mới… Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ được phục hồi sản xuất và hoạt động, giáo dục được sắp xếp lại theo chương trình mới… Không lâu sau, kinh tế - chính trị - xã hội - an ninh của Tam Kỳ đi vào ổn định và dần đạt được kết quả cao trong công tác hàn gắn vết thương chiến tranh

Năm 1979 - 1981, Đảng bộ và nhân dân Tam Kỳ tiếp tục ổn định và phát triển kinh tế, xã hội Cùng toàn tỉnh thi đua hoàn thành thắng lợi công trình đại thủy nông Phú Ninh

Ngày 3/12/1983, Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ) ra quyết định số 144/QĐ

- HĐBT, chia tách Tam Kỳ thành thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành Tam

Kỳ gồm 7 phường và 10 xã

Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện Thực hiện đường lối đó, từ 1986 - 1990, cơ chế quản

lý và cơ cấu kinh tế được sắp xếp lại, nông nghiệp được chú trọng đầu tư…

đã giải quyết được nguồn lương thực tại chỗ, đời sống nhân dân từng bước

Trang 8

ổn định Các công trình trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội được đầu tư xây dựng như nhà máy, xí nghiệp, khách sạn, chọn trung tâm thị xã, tuyến đường giao thông, giáo dục y tế đổi mới, chính sách xã hội kịp thời…

Kể từ khi chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Tam Kỳ thành thị xã trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Tam Kỳ có vị thế nhất định nên có điều kiện hơn nữa để tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng để xứng đáng với vị trí to lớn của thị xã tỉnh lỵ Quảng Nam

Năm 2005, để tạo thế và lực cho phát triển toàn diện thị xã Tam Kỳ, thị xã được chia tách thành Tam Kỳ và Phú Ninh Thị xã Tam Kỳ lúc này gồm 9 phường và 4 xã ven đô với diện tích tự nhiên 100.263,56 ha và 1.123.000 nhân khẩu, nhằm hướng đến thành lập thành phố Tam Kỳ (2006) Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung Đảng bộ và nhân dân Tam

Kỳ đang vững bước tiến vào thế kỷ XXI với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.

4 Tam Kỳ sau 41 năm giải phóng và 10 năm thành lập thành phố:

Đã 40 năm kể từ ngày giải phóng, mặc dù gặp không ít khó khăn thử thách, song với sự nổ lực, đoàn kết, Đảng bộ và nhân dân Tam Kỳ đã gặt hái được nhiều thành tích đáng tự hào, đã rất nhiều cố gắng, cống hiến, thăng trầm, buồn vui vì một Tam Kỳ từ huyện, thị cho đến thành phố Tam Kỳ loại

3 như bây giờ

Ngày xưa, Tam Kỳ là một huyện nghèo vừa bước ra khỏi chiến tranh năm 1975 với vô vàn những khó khăn: nông nghiệp kém phát triển, đất đai

bị hoang hóa, ngư nghiệp lạc hậu, tình hình xã hội phức tạp, thiên tai, hạn hán kéo dài Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, đời sống nhân dân từng bước ổn định Năm 1985, sản xuất nông nghiệp không ngừng phát triển với tổng sản lượng lương thực đạt trên 67.000 tấn quy thóc, lương thực bình quân đầu người tăng từ 200kg/người (năm 1975) lên gần 400kg/người, năng suất lúa bình quân đạt trên 30 tạ/ha, giá trị các ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đạt 25,3 triệu đồng, tăng 30% so với năm 1983, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,5 triệu Rúp, công tác giáo dục, y tế từng bước được cải thiện, nâng cao

Những khó khăn cùng tàn tích chiến tranh đã được hàn gắn, thay mới, huyện Tam Kỳ lại tiếp tục phấn đấu phát triển kinh tế – xã hội Cuối năm

1983, huyện Tam Kỳ được chia tách thành huyện Núi Thành và thị xã Tam

Kỳ Giai đoạn 1986 – 1991, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, Nghị quyết 6 của Tỉnh ủy, Nghị quyết 4 của

Trang 9

Thị ủy, thị xã Tam Kỳ từng bước đi lên thực hiện sự nghiệp đổi mới Trên lĩnh vực kinh tế, xác định cơ cấu “nông – công nghiệp”, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu Đến giai đoạn 1991 – 1996, trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, thị xã vẫn giữ vững và phát huy các thành tựu đã đạt được Năm 1996, tổng thu nhập trên lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ đạt gần 56 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 51% trong

cơ cấu nền kinh tế Thị xã Tam Kỳ với những bước đi ban đầu đầy khó khăn nay như đã thay da đổi thịt, chuẩn bị sẵn sàng cho những bước phát triển mới

Đầu năm 1997, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được chia tách thành hai đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương là tỉnh Quảng Nam và TP Đà Nẵng Tam Kỳ được chọn là thị xã tỉnh lỵ Quảng Nam Đến năm 2005, thị

xã Tam Kỳ được chia tách thành hai đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh là thị

xã Tam Kỳ và huyện Phú Ninh Đến năm 2006, Tam Kỳ được công nhận thành phố loại 3 Song song với quá trình chia tách đó, nhân dân và Đảng bộ Tam Kỳ đã phát huy sức mạnh đại đoàn kết, từng bước phát triển trên mọi lĩnh vực Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỷ trọng ngành thương mại – dịch vụ – công nghiệp, chiếm trên 98% trong cơ cấu kinh tế thành phố Kinh tế nông nghiệp được chuyển dịch theo hướng nông nghiệp đô thị Đến năm 2014, giá trị sản xuất ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đạt trên 2.000 tỷ đồng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt hơn 6.700 tỷ đồng, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt gần 460

tỷ đồng, thu ngân sách trên địa bàn đạt gần 870 tỷ đồng, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 82 triệu USD Nền kinh tế luôn giữ vững sự ổn định và có bước tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng luôn duy trì ở mức 14 – 15% Bà Nguyễn Thị Thu Lan – Phó Bí thư Thành ủy Tam Kỳ cho biết: “Năm 2014

là một năm có nhiều dấu ấn đối với thành phố trẻ Tam Kỳ và đạt được những kết quả to lớn trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xúc tiến đầu tư, phát triển đô thị, văn hóa – xã hội … Đây là động lực, tiền đề quan trọng để thành phố có những giải pháp cụ thể trong lãnh đạo phát triển kinh tế – xã hội năm

2015, lập thành tích chào mừng các ngày kỷ niệm trọng đại của Đảng, dân tộc, quê hương và hướng tới Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XX, nhiệm

kỳ 2015 – 2020”

Ngày 20/1/2016, tại cơ quan Bộ Xây dựng, Hội nghị thẩm định đề án

đề nghị công nhận thành phố Tam Kỳ là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Quảng Nam đã diễn ra dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Phan Thị Mỹ Linh - Chủ tịch Hội đồng thẩm định Đại diện Chính quyền địa phương tham dự Hội nghị có ông Lê Trí Thanh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam; lãnh đạo Sở Xây dựng tỉnh; lãnh đạo Thành ủy, UBND và HĐND thành phố Tam Kỳ

Trang 10

Báo cáo với Hội đồng nội dung Đề án, Chủ tịch UBND thành phố Tam Kỳ Văn Anh Tuấn cho biết: thị xã Tam Kỳ đã được công nhận là đô thị loại III tại Quyết định số 1993/QĐ-BXD ngày 26/10/2005 của Bộ Xây dựng,

và công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam tại Nghị định số 113/2006/NĐ-CP ngày 29/6/2006 của Chính phủ Hiện tại, với vai trò trung tâm chính trị - hành chính - kinh tế - văn hóa - giáo dục của tỉnh, có quan hệ mật thiết với Khu kinh tế mở Chu Lai, thành phố đang trở thành hạt nhân phát triển kinh tế xã hội của toàn tỉnh Thành phố có lợi thế lớn về vị trí địa

lý và điều kiện tự nhiên: nằm trong tuyến hành lang kinh tế ven biển Đà Nẵng - Quảng Nam - Quảng Ngãi; là đầu mối giao thông quan trọng kết nối với các đô thị lớn thông qua Quốc lộ 1, đường sắt Bắc Nam; gần sân bay Chu Lai và cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng – đó là những điều kiện thuận lợi để phát triển giao thương trên địa bàn thành phố và tỉnh với các vùng kinh tế lớn trong cả nước và vùng Nam Lào, Đông bắc Thái Lan, tiểu vùng sông Mê Kông Bên cạnh đó, Tam Kỳ còn có tiềm năng lớn để phát triển du lịch biển, du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch sinh thái…

Qua 10 năm phát triển, được sự quan tâm của Trung ương và Chính quyền địa phương, và với nỗ lực xây dựng một đô thị xanh-sạch-đẹp của người dân thành phố, Tam Kỳ đã có những thay đổi căn bản về diện mạo và chất lượng đô thị Không gian đô thị được mở rộng; tốc độ đô thị hóa nhanh; kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội được đầu tư nâng cấp đáng kể Kinh tế địa bàn đạt tốc độ tăng trưởng khá Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Đến năm 2015, tỷ trọng ngành thương mại - dịch vụ là 72,8%; công nghiệp – xây dựng 24,5%; nông nghiệp 2,7% Hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp như Thuận Yên, Trường Xuân được quan tâm đầu tư Các công trình hạ tầng xã hội, giáo dục, y tế được nâng cấp và xây mới đồng bộ.Về cơ bản, Tam Kỳ đã đáp ứng các tiêu chí của đô thị loại II, căn cứ theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009 của Chính phủ về việc Phân loại đô thị và Thông tư số 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 của Bộ Xây dựng về việc Quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP

Các báo cáo phản biện của Bộ Nội vụ và Cục Hạ tầng kỹ thuật - Bộ Xây dựng, báo cáo thẩm định của Cục Phát triển đô thị - Bộ Xây dựng, các chuyên gia trong Hội đồng đều đánh giá cao những kết quả Tam Kỳ đạt được trên chặng đường phấn đấu trở thành đô thị loại II, với 29/49 chỉ tiêu đạt tối đa, trong đó có nhóm chỉ tiêu về hạ tầng kỹ thuật Hội đồng cũng chỉ ra: bên cạnh những thành tích vô cùng ấn tượng, Tam Kỳ còn 5/49 chỉ tiêu chưa đạt chuẩn đô thị loại II cần khắc phục trong thời gian tới đây, trong đó

Ngày đăng: 02/11/2021, 18:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w