Đây là sự bắt đầu tan rã của chế độ thị tộc trải qua hang ngàn năm cho tới ngày nay, những năm đầu của thế kỷ XXI làng đã tồn tại như một thực thể hiển nhiên điều đó cũng cho chúng ta th
Trang 1TÌM HIỀU LỊCH SỬ LÀNG TAM HIỆP- XÃ CAM THỦY-HUYỆN CAM LỘ- TỈNH QUẢNG TRỊ
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn cô giáo, PGS.TS Bùi Thị Tân; nhân dân xã Cam Thủy và đặc biệt là bác Đào Tuấn; và bà con thôn Tam Hiệp đã giúp đỡ tận tình trong chuyến đi thực tập vừa qua Với sự cố gắng của bản thân nhưng không tránh khỏi sai sót Mong sự góp ý của cô và đại diện Huyện, Xã, em xin chân thành cảm ơn các cơ quan đã rất nhiệt tình giúp đỡ em để hoàn thành niên luận này
Trang 2Lời Nói Đầu
1 Lý do chọn đề tài
Làng là một tổ chức xã hội tồn tại lâu đời và phổ biến trong xã hội Việt Nam Đây là sự bắt đầu tan rã của chế độ thị tộc trải qua hang ngàn năm cho tới ngày nay, những năm đầu của thế kỷ XXI làng đã tồn tại như một thực thể hiển nhiên điều đó cũng cho chúng ta thấy làng có một vai trò quan trọng như thế nào đối với đời sống của người dân Việt Nam, đặc biệt là những người sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước
Làng ở Việt Nam nó khác hơn so với các tổ chức xã hội và nó không giống với bất cứ một làng nào trên thế giới, với tư cách là một tổ chức xã hội làng có tính độc lập tương đối trong việc điều tiết và quản lý chung các hoạt động của làng, đây là một đơn vị hành chính thấp nhất trong cơ cấu tổ chức của nhà nước Nhưng không có nghĩa là nó nhỏ bé mà đây chính là cái hồn, cái chứa đựng bao nhân văn của Việt Nam thong qua các hương ước luật lệ
và phong tục tập quán của làng
Vệ mặt kinh tế làng là một tổ chức mang tính hướng nội sản xuất trong các làng chỉ mang tính riêng rẽ và nhỏ lẻ chỉ phục vụ cho cuộc sống tối thiểu của từng người trong cộng đồng, tính độc lập đó nó tồn tại nên đã hạn chế sự phát triển kinh tế của làng
Trong thời kỳ chống giặc giữ nước làng là một tổ chức chặt chẽ Là nơi có tinh thần đoàn kết truyền thống và ý chí tự lực tự cường đặc biệt là sự gắn bó với mảnh đất của mình “nơi chôn rau cắt rốn” và họ đã biến làng của mình thành căn cứ cách mạng để che dấu bộ đội và có nhiều làng trở thành làng chiến đấu Và có nhiều bà mẹ đã cũng xuất phát từ làng quê nghèo khó, đây cũng là thành lũy để chống lại quân giặc
Bên cạnh làng xã có một vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển các đặc trưng văn hóa đây là nơi bảo lưu tốt các giá trị văn hóa cả
về vật chất cũng như tinh thần, truyền thống của dân tộc ta
Trang 3Với tất cả các yếu tố trên làng thực sự có yếu tố quan trọng trong lịch
sử Việt Nam Việc nghiên cứu về làng Việt Nam là một đề tài quen thuộc, tuy nhiên mỗi làng quê đều có một đặc trưng riêng của nó Nó sẽ tạo cho ta luôn có một cảm giác mới mẻ mỗi khi nghiên cứu về một làng quê nào đó phần nào giúp chúng ta ngày càng hiểu sâu hơn bản sắc của dân tộc Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu
Việc nghiên cứu về làng xã là một trong những đề tài lịch sử nó mang tính bao quát cả một tiến trình từ khi thành lập làng cho đến quá trình phát triển Các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội của làng
Trong quá trình nghiên cứu về lịch sử làng để cho chúng ta thấy nét đặc sắc của làng này so với làng khác ở Việt Nam và trên thế giới, phần nào giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về sự đa dạng và phong phú của làng quê Việt Nam đây là một nét đa dạng trong nghiên cứu khoa học
3 Nguồn tư liệu và phương pháp thực hiện
Việc nghiên cứu đề tài này em dựa vào hai nguồn tư liệu chủ yếu: Đó
là các báo cáo Các gia phả và sách báo, bên cạnh đó không thể thiếu là các tài liệu tham khảo, các nhân chứng lịch sử được phỏng vấn
Phương pháp thực hiện: đề tài này được thực hiện theo phương pháp
đi khảo sát thực tế về làng Tam Hiệp- xã Cam Thủy- huyện Cam Lộ- tỉnh Quảng Trị Được trực tiếp trao đổi qua các nhân chứng lịch sử để hiểu về quá trình thành lập làng Bên cạnh đó còn thu thập các tài liệu lien quan khác
để đối chiếu và cuối cùng kết hợp với sự kiến giải và suy nghĩ của bản thân trên cơ sở hệ thống tư liệu nói về làng để hoàn thành niên luận này
3 giới hạn vấn đề
4 Bố cục
Đề tài hoàn thành gồm có năm phần chính được phân bố như sau: Lời nói đầu
Trang 4Phần nội dung
I Khái quát về thành lập làng, xã
II Tình hình kinh tế
III Văn hóa xã hội của làng trước năm 1945
IV Truyền thống yêu nước cách mạng của làng Tam Hiệp từ 1945-1975
V Làng Tam Hiệp sau đổi mới từ năm 1986 đến nay
Trang 5Dung Phần Nội
I Khái quát về xã và quá trình thành lập và phát triển của làng
1 Khái quát về xã
1.1 Theo dòng lịch sử
Cam Thủy ngày xưa vốn là đất của bộ Việt Thường một trong 15 bộ của nước Văn Lang tiếp đó là Âu Lạc đến khi Triệu Đà sang xâm lược nhà Triệu chiếm lấy phần đất của An Dương Vương
Sau khi nhà Hán đánh bại các thế lực phong kiến khác ở Trung Quốc năm 111 trcn thì vùng đất của nước Nam Việt lại về tay nhà Hán, với chính sách cai trị chặt chẽ từ trung ương đến địa phương nhà Hán đã tiến hành phân chia lãnh thổ của mình thống nhất bằng quận, huyện đối với lãnh thổ của Văn Lang cũ nhà Hán chia làm ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam
Năm 192 Khu Liên lãnh tụ của bộ tộc Chàm đã nổi dậy đánh đổ nhà Hán ra khỏi đất Nhât Nam và dựng nước Chămpa (hay gọi là Lâm Ấp) độc lập từ Đèo Ngang đến Thuận Hải, Nhật Nam lại thuộc về nước Chămpa Vùng đất từ Quảng Trị đến đèo Hải Vân được chia thành hai châu Ô, Lý
Năm 1306 sau đám cưới mang màu sắc chính trị giữa Huyền Trân Công chúa và vua Chế Mân nhà vua của Chiêm Thành đã dâng trọn hai châu
Ô, Lý làm vật sính lễ Hai châu này lại thuộc về Đại Việt Từ đó dân tộc Việt
đã di cư vào làm ăn, khai khẩn dần dần làng mạc của người Việt được hình thành và đứng vững trên đất này nhưng từ khi triều Trần cho đến triều Lê dân Việt chỉ chiếm được vùng đồng bằng ven biển, còn ở vùng trung du rừng núi phía tây chưa được khai thác
Khi Nguyễn Hoàng trấn thủ xứ Thuận Hóa thì làn sóng di cư của người Việt ngày càng mạnh mẽ Các dân tộc ít người bị đẩy lùi nhường chỗ cho cư dân Việt sinh sống ở các vùng núi hoang dã, ao dầm bao lách đã được người Việt phục hóa Và xây dựng nên làng mạc trù phú, vùng Cam
Trang 6Thủy lúc này cũng được bắt đầy khai phá Và thuộc huyện Đăng Xương
thuộc phủ Triệu Phong [1] (thời lê mạc là huyện Vũ Xương thuộc phủ Triệu
Phong)[2]
Thời nhà Nguyễn và Pháp thuộc, các thôn trước gọi là Cam Đường của xã Cam Thủy bây già năm trong tổng Cam Vũ huyện Cam Lộ tỉnh Quảng Trị[3]
Xã Cam Lộ gồm ba thôn: Cam Vũ, Nhật Lệ và Phú Ngạn
Xã Tam Hiệp gồm ba thôn: Tân Đình, Tân Độ và Đại Độ
Xã Nhị Hiệp gồm hai thôn: Thọ Xuân, Thiện Chánh
Năm 1946 thì 4 xã này tiến hành hợp nhất lấy tên là Cam Thủy, riêng Phú Ngạn thuộc xã Cam Thanh Năm 1950 Cam Thủy nhập với Cam Mỹ (bao gồm Cam Hiếu, Cam Tuyền) thành xã Thủy Mỹ, năm 1952 lại tách thành 2 xã có tên gọi như trước Cam Thủy lúc đó có 5 thôn Lâm Lang, Nhật
Lệ, Cam Vũ, Tam Hiệp và Thọ Xuân sau giải phóng 1972 thiện chánh (Cam Mỹ) lại trở về Cam Thủy và Cam Thủy hợp nhất với Cam Hiếu thành một
xã gọi là xã Cam Thủy Đến năm 1975 do chính sách của xã về vùng kinh tế mới Tân Xuân được thành lập Năm 1978 hai xã lấy sông Hiếu ra làm ranh giới của mỗi xã
Xã Cam Thủy gồm có 7 thôn: Lâm Lang, Cam Vũ, Nhật Lệ, Thọ Xuân, Thiện Chánh, Tam Hiệp, Tân Xuân
1.2 Vị trí giới hạn, diện tích, dân số
Cam Thủy năm hai bên con đường 71 là một xã ở vùng biển của dãy Trường Sơn, phía tây là rừng xung quanh gò đồi, đông giáp Cam Thanh, tây giáp với xã Cam Tuyền, Cam Hiếu và bắc giáp xã Linh Hải (thuộc huyện Gio Linh)
Tổng diện tích của xã Cam Thủy hiện nay có 2069ha trong đó đất nông nghiệp là 870ha, lâm nghiệp 863ha, đất chuyên dùng 184ha, đất ở là 20ha chưa kể đất sử dụng 332ha
Trang 7Dân số của xã có 1053 hộ gồm có 4738 nhân khẩu.
Nằm ở một vị trí trải dọc trên tuyến đường 71 đây là con đường giao thông quan trọng nối liền với quốc lộ 1 và đường 9 với cầu Đuối bắc qua sông Hiếu Chạy suốt con đường này phía nam của xã cách khoảng 1km có con đường 9 nổi tiếng nối liền với Đông Hà- Cam Lộ-Khe Sanh- Hướng Hóa và con đường huyết mạch đối với miền tây Quảng Trị mà còn đối với cả nước (đã kiểm nghiệm qua thời kỳ lịch sử của dân tộc)
Với con đường giao thông quan trọng như vậy Cam Thủy ngày nay có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế văn hóa, mở rộng và giao lưu với văn hóa bên ngoài
1.3 Điều kiện tự nhiên
1.3.1.Địa hình
Cam Thủy đồi núi chiếm 2/3 diện tích địa hình của xã nghiêng dần theo hướng tây bắc- đông nam trong đó vùng cao thuộc các thôn Thiện Chánh, thọ Xuân, Tân Xuân vùng tương đối bằng phẳng là các thôn Lâm Lang, Cam Vũ, Nhật Lệ Xen kẻ với các vùng gò đồi là dãi đồng bằng xanh thẳm chủ yếu để trồng lúa địa hình Cam Thủy khá đa dạng vừa có rừng vừa
có núi vừa có gò đồi trong tương lai ta có thể thấy được thế mạnh phát triển lâm nghiệp và gò đồi nếu được đầu tư đúng hướng
1.3.2 Khí hậu
Cũng giống như ở Cam Lộ, thời tiết ở đây rất khắc nghiệt, nắng gắt mưa nhiều và thường kéo dài gây ra lũ lụt vào tháng 9, 10 mùa Hè lại có gió mùa Tây Nam thổi về từ tháng 5-7 làm nhiệt độ thời tiết trở nên nóng bức có lúc nhiệt độ lên tới 400C Vào mùa Đông gió đông bắc thổi vào tháng 11-3 làm nhiệt độ xuống còn 100C
1.3.3 Sông ngòi ao hồ, bầu chứa nước
Dòng sông cò một vai trò quan trọng trong đời sống của nhân dân Đông Hà –Cam Lộ nói chung và Cam Thủy nói riêng là dòng sông Hiếu,
Trang 8con sông chảy dọc phía nam đó là ranh giới giữa Cam Thủy và Cam Hiếu Chiều dài của dòng song qua xã Cam Thủy 3km đây là nơi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp cũng là nơi khai thác thủy hải sản
Ngoài song Hiếu còn có một số suối, ao, hồ, đàm và khe nhỏ lớn nhất
là Đã Lả nguyên trước đây là một khe suối và ngăn đập lại làm hồ chưa nước phục vụ cho sản xuât, hệ thống kênh mương dọc ngang cũng khái nhiều, bên cạnh đó Cam Thủy còn có nhiều bầu nước lớn nhìn chung song suối ở Cam Thủy có một vai trò quan trọng đối với nhân dân trong vùng
1.4 Tài nguyên thiên nhiên
Hệ động thực vật trước 1968 ở phía bắc xã Cam Thủy (các làng Thọ Xuân, Thiện Chánh, Tân Xuân) đã tồn tại rừng nguyên sinh với thảm thực vật phong phú bao gồm nhiều loại gỗ quý như Lim, gỗ Kiền Kiền,… có đóng góp rất lớn vào việc xây dựng nhà cửa, làm đồ gia dụng và chế thuốc
Tuy vậy năm 1968-1972 nhằm mục đích triệt phá căn cứ cách mạng
Mỹ và Ngụy quyền Sài Gòn đã tàn phá hoàn toàn khu vục này, biến đây thành vành đai trắng
Thực vật, cây lương thực, lúa, sắn, ngô, cây họ đậu và cây ăn quả 1.5 Ưu thế về môi trường tự nhiên
Nằm ỏ lãnh thổ Việt Nam nói chung và địa vàn Quảng Trị nói riêng Cam Lộ có khí hậu nhiệt đới ẩm giáo mùa Tuy vậy điều kiện địa lý phức tạp nên có những đặc điểm riềng biệt là sự giao thoa giữa các khối khí nóng Đây là cái rốn của gió nóng Tây Nam khắc nghiệt một trong những tỉnh có khí hậu nhất cả nước
Với môi trường khí hậu như vậy đã làm cho người dân nơi đay thường xuyên phải chịu những thử thách của thiên nhiên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, với tất cả các yếu tố đó đã chi phối và ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thành lập làng xã và sinh hoạt văn hóa của xã Cam Thủy
Trang 92 Khái quát về Quá trình thành lập làng
Tam Hiệp nằm ở phía tây nam của xã đây là một thôn rộng lớn, phía bắc giáp với xã Cam Tuyền, nam giáp với Cam Hiếu lấy con song Hiếu làm ranh giới Đông giáp với Lâm Lang, Cam Vũ, địa hình chủ yếu là đồi núi chiếm 80% đất canh tác đa số là gò nương và đất trồng rừng
Về mặt giao thông thì Tam Hiệp tương đối thuận lợi do nằm ở hai bên đường 71 nên nơi đây trở thành cầu nối giữa các thôn các làng phía đông với chợ phiên và huyện lị Cam Lộ So với các làng trong xã Cam Thủy quá trình thành lập làng Tam Hiệp tương đối phức tạp hơn, tiền thần của làng Tam Hiệp do ba làng Đại Độ, Tân Độ và Tân Đình hợp thành trong đó Đại Độ được hình thành sớm nhất Ông tổ sớm nhất của làng có nguồn gốc từ Đại
Độ (thuộc xã Cam Giang) sau này do nhu cầu cuả cuộc sống cho nên có nhiều người ở làng này đã đi lập nghiệp ở các vùng đất phía tây lập nên làng Đại Độ Thượng Nguyên (để phân biệt với làng cũ) theo gia phả của họ Hoàng một trong những họ sáng lập làng thì dòng họ này sống ở Đại Độ Thượng Nguyên, và tính đến nay đã được 8 đời tương truyền khoảng 200 năm (vào khoảng thế kỉ XVIII-XIX) Trước cách mạng tháng Tám năm
1945 đây được coi là đơn vị hành chính nhưng do đất hẹp, dân số ít nên không được đặt tên là xã mà đặt tên là phường thuộc tổng Cam Vũ huyện Cam Lộ
Đặc biệt là giống như Đại Độ và Tân Đình ngày xưa là vùng đất hoang vu cây cối rậm rạp thú rừng rất nhiều, từ khoảng giữa thế kỉ XIX những người làng Đình Tổ thuộc Cam Giang đã lên đây khai thác gỗ, củi săn muông thú họ không ở hẳn tại đây mà chỉ lập nên những lều quán chòi trong thời gian đi rừng Mặc dù đến trước nhưng người Đình Tổ không phải là người khai canh lập làng này mà chỉ sử dụng với mục đích kinh tế của mình
Vào khoảng giữa thế kỉ XIX những cư dân mới từ miền bắc vào đây lập nghiệp lâu dài tương truyền đầu tiên có 12 người thuộc 12 họ có nguồn g gốc ở Thanh Nghệ Tĩnh và Quảng Bình đặt chân đến Tân Đình, ở đây họ gặp người Đình Tổ do thế yếu nên lúc đầu họ bị người Đình Tổ đánh đuổi về
Trang 10sau được phép nhập cư và phải làm những công việc khổ sai, phục dịch vất
vả Người Đình Tổ đối xử với họ rất ngang ngược và gọi nơi cư trú của họ là làng Cái Hạ (làng Phục Dịch) sự đối xử bất công, phi lý của người Đình Tổ đối với những người mới đến khiến cho nhân dân các làng Đại Độ và Tân
Độ hết sức bất bình và động lòng thương xót những người dân làng Cái Hạ,
họ muốn ra tay cứu giúp nhưng không có cơ hội
Thế rồi do một sự tình cờ ông Hoàng Khúc Người Đại Độ vốn là rể của làng Đình Tổ trong một lần xem gia phả của nhà bố vợ mới biết vùng đất Cái Hạ không thuộc địa phận của làng Đình Tổ mà chỉ đất hoang chưa
có chủ, sau đó ông mach cho người dân Cái Hạ và bày cho họ đưa kiện với quan trên để chiếm lấy vùng đất này mọi chi phí kiện đều do ông Nguyễn Ngọc Huy một người giàu đảm nhận với điều kiện là nếu như thắng kiện ông chỉ xin được làm người hậu khai canh của làng Kết quả là những người Cái
Hạ được thắng kiện quan đã xác nhận vùng đất này không phải là đất của người Đình Tổ và cho phép lập làng mới, mang tên là Tân Độ (tức Đình Tổ mới) bao gồm những người Cái Hạ và một số người Đình Tổ Người làng Đình Tổ đã quyết định lập làng mới ở đây
Về sau ông Hoàng Ủy (con trai ông Hoàng Khúc) do có nhiều công đức với làng được phong là ông tổ của Tân Đình hàng năm vào tháng 4 và tháng 7 âm lịch (kể từ khi ông mất) dân làng lại tổ chức hương khói tế ông
và góp công xây dựng một miếu thờ ngài tổ vì vậy hiện nay con cháu của ông đaều tuyết thế
Họ Nguyễn được phong là họ nhất và ông Nguyễn Huy có công lao đối với làng tiếp đó là các dòng họ Lê, Đào, Trần, Phạm, Tăng, Lê (Viết), Trần (Viết)…
Tam Hiệp hình thành tương đối muộn nhưng trong làng Tân Độ hiện nay vẫn không để lại một tài liệu thành văn nào đề cập đến năm tháng cụ thể của thành lập làng Theo gia phả họ Đào (một trong 12 họ đến trước) dòng
họ đã truyền được 6 đời 150 năm vào khoảng giữa thế kỉ XIX [4]
Trang 11Như vậy đến giữa thế kỉ XIX ở vùng Tam Hiệp ngày nay đã xuất hiện
3 làng nhỏ Đại Độ, Tân Độ và Tân Đình Do điều kiện cụ thể quy định sự hình thành mỗi làng đều mang một nét riếng biệt, tuy nhiên tât cả đều gắn liền công cuộc khai hoang lấn rừng, định canh, định cư đầy gian khổ của cư dân từ nhiều vùng khác nhau về quy tụ tại vùng đất này
Trước cách mạng tháng Tám tuy có mối lien hệ khá mật thiết nhưng
3 làng nói trên vẫn tồn tại độc lập với 3 đơn vị hành chính thuộc tổng Cam
Vũ Về sau do yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, cả 3 làng đều hợp nhất thành một xã lấy tên là Tam Hiệp (vào năm 1943) sau cách mạng, xã Tam Hiệp được đổi tên thành thôn Tam Hiệp thuộc xã Cam Thủy
Như vậy quá trình hình thành làng Tam Hiệp nó diễn ra hết sức phức tạp, lâu dài để thống nhất thành thôn Tam Hiệp như hiện nay
II Tình hình kinh tế
Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu khi để cập đến vấn đề kinh tế làng xã Việt Nam đã nêu ra được 2 quan điểm đáng lưu ý, đấy là sản xuất nhỏ lẻ và tiểu nông dựa vào cơ sở nông nghiệp thương nghiệp và kinh tế hàng hóa của tiểu nông Làng xã với các chợ làng đặc biệt là các phường hội thủ công nghiệp [5] Tuy thế không nhất thiết kinh tế làng xã ở việt nam thì một lúc đều mang hai đặc điểm nói trên mà tùy từng tình hình cụ thể của từng vùng, từng địa phương như thế nào để phát triển kinh tế, và có thể đặc điểm này đậm nét hơn đặc điểm kia và ngược lại
Trước năm 1945 khác với nhiều làng lân cận hoạt động kinh tế nông nghiệp lẫn thủ công nghiệp của làng Tam Hiệp phát triển còn rất hạn chế chủ yếu là kinh tế nông nghiệp lúa nước, hoa màu chiếm vai trò chủ yếu các nghề thủ công hầu như không có điều kiện hình thành kinh tế của làng chủ yếu còn mang kết cấu đơn giản mang tính nguyên đơn trong đó thủ công nghiệp và thương nghiệp chưa làm được vai trò bổ sung cho nông nghiệp, chính vì vậy trước cách mạng cuộc sống của người dân Tam Hiệp rất cơ cực kham khổ và không có lối thoát