1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận lịch sử Phật giáo Ấn Độ

11 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 270,54 KB
File đính kèm Dhammadinna.rar (56 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với đệ tử Phật, việc tu học để thoát ly sinh tử cố nhiên là quan trọng, nhưng việc hoằng dương chân lí, thuyết pháp độ sinh cũng quan trọng không kém. Trong hàng đệ tử Ni của đức Phật có Tỳ Kheo Ni Dhammadinnā được đức Phật khen là thuyết pháp đệ nhất. Trước khi xuất gia bà là một người vợ tài đức vẹn toàn của nam cư sĩ Visākha, bà đã từ bỏ cuộc sống gia đình để xuất gia tu tập và chứng đắc thánh quả Arahant.

Trang 1

TIỂU LUẬN LỊCH SỬ PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ

ĐỀ TÀI

HÀNH TRẠNG TỲ KHEO NI DHAMMADINNĀ

QUA KINH TẠNG NIKĀYA

Trang 2

DẪN NHẬP

Sau khi Đức Phật độ cho sáu mươi vị đệ tử đầu tiên chứng đắc A La Hán, Ngài quyết định đưa họ đi khắp nơi để truyền bá chánh pháp Trước khi họ lên đường, Ngài

đã động viên, kêu gọi các đệ tử rằng: "Này các tỳ khưu, ta đã thoát khỏi tất cả các sự

trói buộc thuộc về cõi trời và loài người Này các tỳ khưu, các ngươi cũng đã thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người Này các tỳ khưu, hãy cất bước du hành vì lợi ích của nhiều người, vì an lạc của nhiều người, vì lòng thương xót thế gian,

vì sự tiến hóa, sự lợi ích, sự an vui của chư Thiên và nhân loại, chớ đi hai người chung một (đường) Này các tỳ khưu, hãy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ Có những hạng người sanh lên bị ít ô nhiễm sẽ là những người hiểu được Giáo Pháp, do việc không nghe Giáo Pháp sẽ bị tha hóa Này các tỳ khưu, ta cũng sẽ đi đến ngôi làng của Senāni ở Uruvelā cho việc thuyết giảng Giáo Pháp." 1

Đối với đệ tử Phật, việc tu học để thoát ly sinh tử cố nhiên là quan trọng, nhưng việc hoằng dương chân lí, thuyết pháp độ sinh cũng quan trọng không kém Trong hàng

đệ tử Ni của đức Phật có Tỳ Kheo Ni Dhammadinnā được đức Phật khen là thuyết pháp

đệ nhất Trước khi xuất gia bà là một người vợ tài đức vẹn toàn của nam cư sĩ Visākha,

bà đã từ bỏ cuộc sống gia đình để xuất gia tu tập và chứng đắc thánh quả Arahant

Để hiểu rõ hơn về hành trạng của vị Tỳ Kheo Ni Dhammadinnā từ thời quá khứ, trước khi xuất gia, sau khi xuất gia tu tập, thành đạo và nhập diệt, người viết xin chọn

đề tài: “Hành trạng Tỳ Kheo Ni Dhammadinnā qua Kinh tạng Nikāya” làm bài

khảo luận

Bên cạnh nguồn sử liệu chính trích dẫn từ Kinh điển Nikāya, người viết còn tham khảo thêm một số bài viết, tác phẩm có đề cập đến Tỳ Kheo Ni Dhammadinnā để hoàn thiện bài khảo luận

1 Kinh Đại Phẩm, Tập 1, tụng phẩm thứ nhì, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, tr 36

Trang 3

NỘI DUNG

Dhammadinnā là người phụ nữ xinh đẹp và đức hạnh, sanh ra ở thành Giribbja trong một gia đình giàu có, khi đang ở tuổi thanh xuân lập gia đình cùng Visākha, một người có địa vị trong xã hội, hai vợ chồng có cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc Trong

Kinh Tiểu Bộ có ghi lại như sau: “Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong

một gia đình ở Rājagaha (Vương Xá) và trở thành vợ của Visākha, một người có địa vị trong xã hội.” 2 Trong Tiểu Bộ Kinh – Thánh Nhân Ký Sự 3, ký sự về trưởng lão ni Dhammadinnā được ghi: “Và vào kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra ở

kinh thành Giribbaja, trong gia đình triệu phú, thịnh vượng, có sự dồi dào về tất cả các dục lạc Vào lúc đạt đến sắc đẹp và đức hạnh ở vào thời đầu của tuổi thanh xuân, khi

ấy tôi đã đi đến gia tộc khác (làm vợ) và đã sống thọ hưởng lạc thú.’’ 3

Một ngày kia sau khi nghe Phật thuyết pháp, ông Visākha chứng được quả Anāgāmin (A-na-hàm) không còn tham và sân, không còn tình cảm nam nữ nữa Khi ông về đến nhà, cũng như thường ngày, Dhammadinnā đưa tay cho chồng nắm để dắt lên lầu nhưng ông không nắm Ông không nói tiếng nào đi thẳng lên lầu Đến bữa cơm chiều, ông ăn trong chánh niệm, tiếp tục giữ im lặng không nói chuyện với bà như thường ngày Bà thấy chồng có biểu hiện khác lạ, không biết ông có chuyện gì nhọc lòng Bà khéo léo hỏi chồng duyên cớ vì sao ông lại không vui, nếu bà có làm gì sai trái

xin ông chỉ rõ để bà biết mà sửa đổi Ông Visākha từ tốn trả lời vợ: "Please accept all

my property; from today, I'm not going to take part in any of the affairs of the house." 4

“Không phải lỗi của nàng, vì hôm nay sau khi nghe Pháp từ đức Phật, ta đã hiểu được Chánh pháp, chứng được Anāgāmin nên không còn những cử chỉ như trước nữa Ta trả quyền tự do cho nàng, nếu muốn nàng có thể ở lại đây cùng gia đình hoặc là lấy tiền bạc rồi về lại gia đình cha mẹ sống”.5

Nghe xong, bà nói với ông rằng, những thứ đó chỉ là bãi nước bọt, là cái đống nôn

mửa, những thứ đáng bỏ đi của ông, bà không cần, bà xin được đi tu “His wife

Dhammadinnā retorted, "Who would swallow the spittle you have thrown up?" Then she asked permission from him to enter the Order and became a bhikkhuni.”6 Ông

2 Kinh Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm Một, Tập Một Kệ, tr 548.

3 Kinh Tiểu Bộ – Thánh Nhân Ký Sự 3, Phẩm Kuṇḍalakesā, tr 127

4 The Dhammapada: Verses and Stories, pdf page 858

5 Kinh Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm Một, Tập Một Kệ, tr 548

6 The Dhammapada: Verses and Stories, pdf page 858

Trang 4

Visākha nghe vậy, rất hoan hỷ đồng ý ngay và chuẩn bị một chiếc kiệu vàng7 để đưa bà đến các Tỷ-kheo-ni xin xuất gia

“Ðược cho phép xuất gia, nàng xin sống nhập thất, không muốn sống chung đụng

ồn ào và đi đến một tinh xá ở làng Tại đấy, nhờ những thiện nghiệp quá khứ, nàng chế ngự thân, miệng, ý, chứng được quả A-la-hán, với Tứ Vô Ngại Giải (paṭisambhidā): Nghĩa vô ngại giải, pháp vô ngại giải, từ vô ngại giải, biện tài vô ngại giải Rồi nàng đi

về Ràjagaha (Vương Xá), với các Tỷ-kheo-ni.” 8

Trong một khoảng thời gian ngắn tu tập thiền định, vị Tỳ Kheo Ni Dhammadinnā chứng đạt Arahant với Tứ Vô Ngại Giải Điều này cho thấy bà trãi qua nhiều kiếp quá khứ đã tạo nhiều thiện nghiệp

Thời đức Phật Padumuttara, Dhammadinnā là một cô gái rất hiền lành, đức hạnh, làm thuê cho một gia đình nọ tại thành Haṃsavatī Một hôm, trên đường đi lấy nước về,

cô thấy vị Tỳ Kheo Sujāta (đệ tử của đức Phật Padumuttara) rời trú xá đi khất thực Nhìn từng bước đi khoan thai của ngài, cô phát tâm hoan hỷ xin được cúng dường ngài món bánh ngọt Sau khi thọ lãnh, ngài đã ngồi ngay tại chỗ và thọ dụng Trong tâm cô rất vui mừng, cô xin thỉnh ngài về nhà để cúng dường thêm vật thực Gia chủ nhìn thấy việc làm của cô, họ cảm thấy rất vừa lòng với cô bởi tánh hạnh hiền lành, đức độ đáng quý Ông bà chủ quyết định nhận cô làm con dâu trong gia đình Từ đó, cô thường đi cùng với mẹ chồng đến đảnh lễ và nghe Phật thuyết pháp

Một hôm, khi nghe đức Phật tán dương một vị Tỳ Khưu Ni là thuyết pháp đệ nhất, cô

đã rất hoan hỷ và phát nguyện sau này mình cũng sẽ được như vậy Gia đình cô tổ chức một buổi đại thí, thỉnh Phật cùng chúng Tăng đến nhà Đức Phật biết được tâm tư nguyện vọng của cô, ngài đã nói với cô rằng: “Này người thiếu nữ hiền thục là người dâng vật thực, được vui thích trong việc hộ độ Ta cùng với hội chúng, được gắn bó trong việc lắng nghe Chánh Pháp, với tâm ý được tăng trưởng về đức hạnh, cô hãy hoan hỷ, cô sẽ đạt được kết quả của điều nguyện ước Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian Cô sẽ trở thành nữ Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Dhammadinnā.”

7 Theo như Papañcasūdanī I 515, chiếc kiệu vàng này do vua Kimbisara cung cấp

8 Kinh Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm Một, Tập Một Kệ, tr 549

Trang 5

Sau khi nghe điều đó, cô rất hoan hỷ Nhờ những thiện nghiệp đó, sau khi mất cô được làm chư thiên ở cõi trời Đạo Lợi.9

“Dưới thời đức Phật Phussa, nàng đã thực hiện một phước nghiệp vĩ đại băng của

bố thí được thực hiện khi nàng còn sống trong gia đình, người phụ tá cho người anh rể đạo sư Được chồng báo cho biết là phải thực hiện một bố thí nàng đã thực hiện một lúc đến hai của thí.” 10

Vào thời đức Phật Kassapa, Dhammadinnā là công chúa Sudhammā, con đức vua Kikī ở xứ Kāsi tại kinh thành Bārāṇasī Đức vua là người hộ độ của các bậc Đại Ẩn Sĩ, Ngài có bảy cô công chúa: Samaṇī thứ nhất, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, Sudhammā thứ sáu và Saṅghadāsikā thứ bảy Thời đức Phật Gotama, bảy cô công chúa đó là sáu vị thánh đệ tử Ni của Phật: Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, Kuṇḍalā, Gotamī, Dhammadinnā, và bà cư sĩ Visākhā là thứ bảy Một hôm, sau khi công chúa Sudhammā đi nghe đức Phật Kassapa thuyết pháp, cô đã xin xuất gia nhưng vua cha không đồng ý Cô cùng các chị em luôn hoan hỷ hộ độ đức Phật trong hai mươi ngàn năm, không xao lãng Với những phước thiện đó, sau khi mất, các cô được sanh lên cõi trời Đao Lợi.11

Bà Dhammadinnā sau khi xuất gia, sống đời sống không gia đình, tu tập theo lời dạy của đức Phật, bà đã đạt được mục đích đoạn tận tất cả các lậu hoặc, chứng Arahant với Tứ Vô Ngại Giải

“Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần

thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác

Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh Sau khi đã quăng

bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng

Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật” 12

9 Kinh Tiểu Bộ - Thánh Nhân Ký Sự 3, Phẩm Kuṇḍalakesā, tr123,125

10 Chú giải Trưởng Lão Ni Kệ, tr 56

11 Kinh Tiểu Bộ - Thánh Nhân Ký Sự 3, Phẩm Kuṇḍalakesā, tr127

12 Kinh Tiểu Bộ - Thánh Nhân Ký Sự 3, Phẩm Kuṇḍalakesā, tr129

Trang 6

Theo Pali dictionary, Tứ Vô Ngại Giải (paṭisambhidā) được giải thích: “analytical

knowledge” or “discrimination”, is of 4 kinds: analytical knowledge of the true meaning (attha-paṭisambhidā) of the law (dhamma-paṭisambhidā), of language (nirutti-paṭisambhidā), of ready wit (paṭibhāna-paṭisambhidā) Có 4 loại

Vô ngại giải hay trí giải: Nghĩa vô ngại giải, pháp vô ngại giải, từ vô ngại giải, biện vô ngại giải

Sau khi chứng quả Arahant, bà đã nghĩ rằng: “Now, by reason of me, my kinsfolk will perform works of merit.”13 “Bây giờ, do sự hiện diện của ta tại đó, nhiều người họ hàng của ta sẽ thực hiện nhiều phước nghiệp” Thế rồi bà đã trở về Rājagaha cùng chư

Tỷ Kheo Ni để kính lễ đức Phật Khi vừa hay tin bà trở về, vì muốn biết xem mức độ chứng đắc của bà đến mức nào nên ông trưởng giả Visākha liền đến gặp bà, xá phục rồi

ngồi sang một bên Lúc này ông đã nghĩ: “It would be highly improper for me to say to

her, “Noble sister, pray are you discontented?” I will therefore ask her this question.”

So he asked her a question about the Path of Conversion, and she immediately answered

it correctly.” 14 “Hình như đối với ta hỏi cô ấy điều này xem ra không phải lẽ “Phải chăng nàng đã chán ngấy cuộc đời tu sĩ chăng?” Do đó ta sẽ hỏi cô ấy câu hỏi này

Ông Visākha hỏi các câu hỏi15 về tự thân, tập khởi của tự thân, đoạn diệt của thân, con đường đưa đến đoạn diệt của thân, thủ uẩn, thân kiến Tỷ Kheo Ni Dhammadinnā

đã trả lời rành mạch: năm thủ uẩn là tự thân, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn; khát ái là tự thân tập khởi, vì nó đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, gồm có dục ái, hữu ái và phi hữu ái; sự xả ly, sự vất bỏ, sự giải thoát, sự vô chấp là đoạn diệt của thân; con đường Thánh tám ngành gọi là tự thân diệt đạo, gồm chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định; có dục tham đối với năm thủ uẩn là thủ uẩn; xem ngũ uẩn là tự ngã, hay xem tự ngã là ngũ uẩn, hay xem ngũ uẩn là trong tự ngã, hay xem tự ngã là trong ngũ uẩn Như vậy là thân kiến.16 Sau khi nghe các câu trả lời về ngũ uẩn của Tỷ Kheo Ni Dhammadinnā, ông Visākha tiếp tục hỏi về Bát chánh đạo, về định, về hành, về diệt định Bằng thắng trí mà

bà chứng đắc, bà đã trả lời các vấn đề trên một cách lưu loát: Bát chánh đạo là pháp hữu

13 Buddhist Legends Dhammapada Commentary Vol III, Book XXVI The Brahman, Brāhmaṇa Vagga, pdf page 372

14 Buddhist Legends Dhammapada Commentary Vol III, Book XXVI The Brahman, Brāhmaṇa Vagga, pdf page 372

15 Tóm tắt Kinh Trung Bộ, số 44, Kinh Tiểu Phương Quảng, tr 129-130

16 Kinh Trung Bộ, Tập I, Số 44, Tiểu Kinh Phương Quảng, tr 368-369

Trang 7

vi, bị ba uẩn giới, định, tuệ thâu nhiếp Chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng được thâu nhiếp trong giới uẩn Chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định được thâu nhiếp trong định uẩn Chánh tri kiến và chánh tư duy được thâu nhiếp trong tuệ uẩn; biết rõ thở

vô thở ra là thân hành, biết rõ tầm tứ là khẩu hành, biết rõ thọ tưởng là tâm hành Chứng nhập Diệt thọ tưởng định thì khẩu hành diệt trước, rồi đến thân hành, tâm hành Một vị

đã chứng nhập Diệt thọ tưởng định thì vị ấy cảm giác ba loại xúc: không xúc, vô tướng xúc, vô nguyện xúc Khi Tỷ-kheo xuất khởi Diệt thọ tưởng định, tâm của vị ấy thiên về độc cư, hướng về độc cư, khuynh hướng về độc cư

Ông Visākha đã khéo léo hỏi bà Dhammadinnā về những pháp mà chính ông đã chứng đạt được Tỳ-khưu-ni Dhammadinnā đã trả lời rất lưu loát, trôi chảy, không ngập ngừng, như thể một người cắt thân cây sen với một con dao thật bén Điều này chứng

tỏ đấy là cái biết thực do bà chứng đắc, chứ không do suy nghĩ mà có Qua những câu trả lời của bà, ông Visākha biết chắc chắn bà đã chứng ngộ được quả vị bằng ông hoặc

là hơn thế nữa Để biết rõ hơn những gì mà bà chứng đắc, ông lại tiếp tục hỏi, nội dung

câu hỏi được tóm tắt: “Có bao nhiêu thọ? Thế nào là lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc

thọ? Đối với lạc thọ, cái gì lạc, cái gì khổ? Đối với khổ thọ, cái gì lạc, cái gì khổ? Đối với bất khổ bất lạc thọ, cái gì lạc, cái gì khổ? Trong ba thọ, có tùy miên gì tồn tại? Trong

ba thọ, cái gì phải từ bỏ? Ba thọ lấy gì làm tương đương? Vô minh lấy gì làm tương đương? Minh lấy gì làm tương đương được? Giải thoát lấy gì làm tương đương?” 17

Bà rất hoan hỷ đáp lại ông Visākha Có ba thọ: cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm, một cách khoái lạc, là lạc thọ; cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm, một cách đau khổ là khổ thọ; cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm không khoái cảm là bất khổ bất lạc thọ Đối với lạc thọ, cái gì trú là lạc, cái gì biến hoại là khổ Đối với khổ thọ, cái gì trú

là khổ, cái gì biến hoại là lạc Đối với bất khổ bất lạc thọ, có trí là lạc, vô trí là khổ Trong lạc thọ, có tham tùy miên tồn tại Trong khổ thọ, có sân tùy miên tồn tại Trong bất khổ bất lạc thọ, có vô minh tùy miên tồn tại Vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm và tứ Do vậy tham đã được từ bỏ, không còn tham tùy miên tồn tại Vị Tỷ-kheo suy tư như sau:

"Chắc chắn ta sẽ chứng và an trú trong trú xứ mà nay các vị Thánh đang an trú" Vì muốn phát nguyện hướng đến các cảnh giải thoát vô thượng, do ước nguyện ấy, khởi lên ưu tư Do vậy, sân được từ bỏ, không còn sân tùy miên tồn tại ở đây Vị Tỷ-kheo xả

17 Tóm tắt Kinh Trung Bộ, Số 44, Kinh Tiểu Phương Quảng, tr 130

Trang 8

lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh Do vậy vô minh đã được từ bỏ, không còn vô minh tùy miên tồn tại ở đây Lạc thọ lấy khổ thọ làm tương đương Khổ thọ lấy lạc thọ làm tương đương Bất khổ bất lạc thọ lấy vô minh làm tương đương Vô minh lấy minh làm tương đương Minh lấy giải thoát làm tương đương Giải thoát lấy Niết Bàn làm tương đương

Ông Visākha lại tiếp tục hỏi đến vấn đề về Niết Bàn “Thưa Ni sư, Niết-bàn lấy gì

làm tương đương?” 18 Bà biết ông đã chứng đạt được quả vị Anāgāmin (A-na-hàm), vẫn còn lậu hoặc chưa đoạn diệt hết, chưa đạt được cứu cánh Niết Bàn, ông sẽ không hiểu được những gì vượt quá tầm hiểu biết của ông Vì vậy, nếu bà có giải thích về Niết Bàn thì ông Visākha cũng không thể hiểu được Bà nghĩ chỉ có Phật mới giúp được ông tiến bước xa hơn trên bước đường tu tập Sau đó Tỷ Kheo Ni Dhammadinnā đã trả lời ông

Visākha: “Wonderful, brother Visākha! But if you desire to know about Arahatship, you

should approach the Teacher and ask him this question.” 19 “Hiền giả Visākha, câu hỏi

đi quá xa, vượt ra ngoài giới hạn câu trả lời Hiền giả Visākha, phạm hạnh là để thể nhập vào Niết-bàn, để vượt qua đến Niết-bàn, để đạt cứu cánh Niết-bàn Hiền giả Visākha, nếu Hiền giả muốn, hãy đến chỗ Thế Tôn ở, và hỏi ý nghĩa này Và Thế Tôn trả lời cho Hiền giả như thế nào, hãy như vậy thọ trì.” 20

Qua phần trả lời của bà đã thể hiện bà là người rất khéo léo trong việc thuyết pháp, theo đúng khế lý, khế cơ mà thuyết Ông cư sĩ đã rất hoan hỷ tín thọ lời của Tỷ Kheo Ni Dhammadinnā Sau khi về, ông đi đến đảnh lễ đức Phật rồi ngồi xuống một bên Ông thuật lại cho đức Phật tất cả câu chuyện đàm đạo với Tỷ Kheo Ni Dhammadinnā Khi

nghe xong, đức Phật nói với ông cư sĩ Visākha rằng: “What my daughter Dhammadinnā

said was well said In answering this question I also should answer it as follows.” 21

“Này Visākha, Tỷ Kheo Ni Dhammadinnā là bậc hiền trí! Này Visākha, Tỷ Kheo Ni

Dhammadinnā là bậc đại tuệ Này Visākha, nếu ông hỏi ta ý nghĩa ấy, ta cũng trả lời như Tỷ Kheo Ni Dhammadinnā đã trả lời Ông đối với nghĩa này, hãy như vậy thọ trì.” 22

“Ta không nhìn thấy vị tỳ khưu ni nào khác là vị thuyết giảng Giáo Pháp như là vị ni

này Này các tỳ khưu, Dhammadinnā là vị ni sáng trí, các ngươi hãy ghi nhớ như thế.”23

18 Kinh Trung Bộ, Tập I, Số 44, Tiểu Kinh Phương Quảng, tr372

19 Buddhist Legends Dhammapada Commentary Vol III, Book XXVI The Brahman, Brāhmaṇa Vagga, pdf page 372

20 Kinh Trung Bộ, Tập I, Số 44, Tiểu Kinh Phương Quảng, tr373

21 Buddhist Legends Dhammapada Commentary Vol III, Book XXVI The Brahman, Brāhmaṇa Vagga, pdf page 372

22 Kinh Trung Bộ, Tập I, Số 44, Tiểu Kinh Phương Quảng, tr373

23 Kinh Tiểu Bộ - Thánh Nhân Ký Sự 3, Phẩm Kuṇḍalakesā, tr127

Trang 9

Đức Phật đã khen Tỷ Kheo Ni Dhammadinnā người thuyết pháp tối thắng trong các vị nữ đệ tử Tỷ Kheo Ni của ngài.24 Bằng chí nguyện đạt được quả vô sanh, bà đã chọn sống nơi vắng vẻ, tu tập tinh tấn, nhiệt tâm Vào thời điểm đó bà thốt lên bài kệ:

“Trong ai, lòng ước muốn, Ðạt được quả vô sanh, Ðược sanh khởi tỏa rộng, Ðầy tràn cả tâm ý,

Tâm không bị trói buộc, Trong các dục chi phối,

Vị ấy được tên gọi

Là bậc vào dòng trên.”25

Qua kệ ngôn trên, ta có thể thấy trong tâm ý của bà chứa đựng toàn mong muốn chứng đạt quả vô sanh cho nên không bị các dục chi phối Nhiệt tâm tu tập giải thoát đã giúp bà thoát khỏi sự trói buộc của dục Nhiệt tâm đó thể hiện qua ý chí kiên định, sự dứt khoát buông bỏ chồng con, tài sản, cuộc sống sung túc để đi xuất gia Khi được xuất gia rồi, nhiệt tâm ấy giúp bà tinh tấn tu tập thiền định để chứng đạt quả vị Dự Lưu Nhiệt tâm tu tập giải thoát không cho phép bà dừng lại ở đó, bà tiếp tục thiền định để đoạn trừ hết các dục còn lại và chứng được quả vị Arahant Mục đích xuất gia để đạt quả vô sanh

đã hoàn thành, với tứ vô ngại giải, Dhammadinnā tiếp tục nhiệt tâm trên con đường thuyết pháp giáo hóa chúng sanh

một gia đình quyền quí ở Rājagaha đến nghe pháp Bởi quá cảm xúc với bài thuyết pháp tuyệt diệu của vị Tỷ Kheo Ni Dhammadinnā, cô gái đã xin xuất gia với bà Sau khi xuất gia, bà hướng dẫn Sukkā tinh tấn tu tập thiền quán và chứng được quả Arahant với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ Tỷ Kheo Ni Sukkā cũng trở thành một vị thuyết pháp giỏi.26

Với tài thuyết pháp tối thắng của mình, Tỷ Kheo Ni Dhammadinnā cũng giúp cho

vị Ni Vāddhesi xa lánh các dục, tu tập thiền định và chứng được sáu thắng trí Vāddhesi vốn là nữ điều dưỡng của Mahāpajāpati, khi chủ xuất gia cô cũng xin xuất gia Nhưng trong hai mươi lăm năm xuất gia, Vāddhesi bị các dục chi phối ám ảnh, không tu tập thiền định được Vāddhesi khóc than rồi đi đến gặp Dhammadinnà và được bà thuyết về uẩn, xứ, giới Sau khi nghe pháp, Tỷ Kheo Ni Vāddhesi xa lánh các dục, tu tập thiền định và chứng được sáu thắng trí.27

24 Kinh Tăng Chi Bộ, Tập I, Chương I Một Pháp, Phẩm Người Tối Thắng, tr 54

25 Kinh Tiểu bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm Một, Tập Một Kệ, tr 535

26 Kinh Tiểu bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm Ba, Tập Ba Kệ, tr 571-572

27 Kinh Tiểu bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm Năm, Tập Năm Kệ, tr 579.

Trang 10

KẾT LUẬN

Từ nguồn tài liệu chính thống Kinh tạng Nikāya về hành trạng của Thánh ni Dhammadinnā, người viết đã vô cùng kính ngưỡng bà bởi tài năng, phẩm hạnh cùng những đóng góp to lớn, đáng để thế hệ sau noi gương tu tập

Trong nhiều kiếp quá khứ Tỷ Kheo Ni Dhammadinnā đã thực hành hạnh bố thí cúng dường, nghe pháp với chí nguyện tìm cầu giải thoát và mong muốn trở thành bậc thuyết pháp tối thắng Ở kiếp sống cuối cùng, khi làm vợ trưởng giả Visākha, bà là người vợ, người mẹ xinh đẹp, đức hạnh, sắp xếp chu toàn cho gia đình Đến khi người chồng chứng quả Anāgāmin, ông giao lại tài sản, gia đình cho bà, bà xem đó như là nước bọt mà ông nhả ra Bà dũng mãnh quyết không nhận tài sản mà xin xuất gia để được giải thoát như ông Khi được xuất gia rồi, trong một khoảng thời gian ngắn, bà tinh tấn tu tập thiền định và chứng được quả vị Arahant

Qua hành trạng của Tỷ Kheo Ni Dhammadinnā, người viết cảm thấy mình thật hổ thẹn, bởi bản thân cũng xuất gia sáu năm rồi mà tu tập thì còn quá yếu kém Như Tổ Qui Sơn có dạy “tích niên hành xứ thốn bộ bất di”, thời gian trôi qua mấy năm, tham sân si vẫn còn đó Đôi khi cứ khuyên người bố thí mà nghĩ lại cả năm mình chẳng cho

ai được cái gì Dặn lòng thôi thì cố gắng tu thiền cho tâm được bình yên nhưng lên ngồi chưa được nửa giờ là gục tới gục lui Cứ đổ lỗi mọi chuyện là do nghiệp quá khứ rồi cứ thế lười biếng, giải đãi, không chịu tinh tấn tu tập Dẫu sơ tâm xuất gia có dũng mãnh

đó nhưng nó vẫn chưa đủ lớn để đối trị tâm tham sân si bám rễ từ nhiều đời nhiều kiếp

Tỷ Kheo Ni Dhammadinnā là tấm gương sáng đáng để tôn kính, đáng để học hỏi Buông bỏ, tinh tấn, từ bi, tùy duyên hóa độ là những phẩm hạnh cao quý ở Thánh Ni

mà hàng hậu học cần noi theo, để được giải thoát khỏi các phiền não, ái dục buộc ràng

Ngày đăng: 29/10/2021, 20:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w