1. Trang chủ
  2. » Tất cả

New Microsoft Word Document

119 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 518,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các năm 2016 và năm 2017, Ban Cán sự đảng, lãnh đạo Tòa án nhân dân Tối cao đã đưa ra nhiều giải pháp cụ thể nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật; động viên, khuyến khích đội ngũ cán

Trang 1

Xây dựng đội ngũ cán bộ, thẩm phán đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới

Những năm qua, nhất là sau khi Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án năm

2014 có hiệu lực thi hành, hệ thống tòa án đã chủ động xây dựng và triển khai nhiều giải pháp về công tác cán bộ; thực hiện có hiệu quả cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, thẩm phán vững vàng về bản lĩnh chính trị, giỏi về chuyên môn, gắn liền với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Hệ thống Tòa án đã tập trung đổi mới từ khâu tuyển dụng, bố trí, sắp xếp, đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục chính trị tư tưởng; kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách…

Tổng số hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021 của 63 tòa án nhân dân cấp tỉnh và 710 tòa án nhân dân cấp huyện là 16.702 người Trong các năm 2016 và năm 2017, Ban Cán

sự đảng, lãnh đạo Tòa án nhân dân Tối cao đã đưa ra nhiều giải pháp cụ thể nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật; động viên, khuyến khích đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện các nhiệm vụ; xây dựng chỉ tiêu thi đua gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn; ban hành quy định về xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân

Đất nước ngày càng phát triển, đòi hỏi công tác tổ chức cán bộ của Tòa án nhân dân cần phải được thay đổi mạnh mẽ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới

Những khó khăn, vướng mắc

Một số quy định còn gặp khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn; tổ chức bộ máy giúp việc của các tòa án nhân dân còn chồng chéo, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả.

Về đội ngũ cán bộ, thẩm phán: Số lượng biên chế, thẩm phán của tòa án nhân dân

các cấp chưa bảo đảm đáp ứng yêu cầu theo cơ cấu tổ chức, bộ máy, nhiệm vụ, thẩm quyền của các tòa án nhân dân được quy định trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm

2014 và các đạo luật về tố tụng tư pháp (được Quốc hội khóa XIV thông qua, có hiệu lực

từ ngày 01-01-2018), cùng với khối lượng công việc ngày càng gia tăng như hiện nay Chất lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong tòa án nhân dân các cấp chưa đáp ứng yêu cầu; đội ngũ cán bộ, công chức nòng cốt kế cận có trình độ chuyên môn cao và đội ngũ chuyên gia đầu ngành đủ sức giải quyết những vấn đề pháp lý đặt ra trong điều kiện hội nhập quốc tế còn hạn chế; còn thiếu các chức danh tư pháp, nhất là thẩm phán ở các tòa án nhân dân cấp huyện.

Về công tác cán bộ: Công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ ở một số tòa

án chưa đáp ứng yêu cầu, nguồn cán bộ còn hạn chế, các quy trình thực hiện còn thể hiện

Trang 2

sự lúng túng, hình thức, chưa thực chất, hiệu quả.

Công tác thi tuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại thẩm phán, các chức danh lãnh đạo, quản lý còn chậm; công tác bố trí chức danh lãnh đạo chủ chốt không phải là người địa phương đang được từng bước thực hiện, tuy nhiên còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do chưa có hướng dẫn cụ thể của Trung ương.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng chậm đổi mới, chưa đáp ứng nhu cầu của đội ngũ cán bộ và chưa thực sự gắn kết với các khâu trong công tác cán bộ, nhất là quy hoạch cán bộ, kinh phí đào tạo, bồi dưỡng còn hạn chế.

Về quản lý cán bộ ở một số tòa án công tác quản lý cán bộ còn lỏng lẻo, tình trạng cán bộ, thẩm phán vi phạm kỷ luật, có một số trường hợp bị xử lý hình sự chưa chấm dứt; chưa có

cơ chế kịp thời thay thế những cán bộ, công chức yếu kém, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Chế độ chính sách chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ được giao, chưa thể hiện tính đặc thù trong hoạt động của tòa án nhân dân Đây là vấn đề khó khăn không nhỏ trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tòa án nhân dân.

Công tác phân cấp quản lý cán bộ còn chưa kịp thời; công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, chưa có hướng dẫn cụ thể của Trung ương đối với các trường hợp có vấn đề về lịch sử chính trị…

Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về tổ chức cán bộ và đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, giúp việc về tổ chức cán bộ còn chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm

vụ Công tác phối hợp, sự quan tâm của cấp ủy các cấp trong công tác cán bộ còn chưa thường xuyên, chặt chẽ, hiệu quả…

Các quy định của pháp luật hiện nay mặc dù tương đối đồng bộ nhưng vẫn còn chưa phù hợp, một số quy định khó áp dụng nhưng lại chậm được sửa đổi, bổ sung, trong đó có cả các quy định liên quan đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ và cả những quy định liên quan đến trách nhiệm thực thi công vụ, thậm chí còn lĩnh vực chưa có pháp luật điều chỉnh như vấn đề sử dụng sau luân chuyển, đào tạo….

Phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ, thẩm phán

Thời gian tới, Ban Cán sự đảng, lãnh đạo Tòa án nhân dân Tối cao Tổ chức tích cực chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng về tổ chức cán bộ gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các nghị quyết Trung ương 4 (khóa

XI, khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng Đặc biệt là nghị quyết Trung ương 6 khóa XII về sắp xếp tổ chức, bộ máy; Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về tinh giản

Trang 3

biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức…

Tiếp tục tổ chức thi hành tốt các quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 Trong đó, tập trung vào một số nhiệm vụ quan trọng: Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về tổ chức, biên chế của các Tòa án quân sự; bổ sung số lượng, cơ cấu thẩm phán trung cấp, thẩm phán sơ cấp cho các tòa án nhân dân cấp huyện; tập trung nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định về tổ chức bộ máy giúp việc của tòa án nhân dân và tòa

án quân sự các cấp bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và Thẩm phán theo vị trí việc làm, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Tòa án nhân dân các cấp Rà soát lại số lượng biên chế, đội ngũ Thẩm phán của các Tòa án nhân dân,

để điều chỉnh phù hợp đối với từng Tòa án theo nhu cầu công việc; nghiên cứu, đề xuất cơ quan có thẩm quyền bổ sung cơ cấu, số lượng Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp cho các Tòa án nhân dân cấp huyện để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ được giao.

Đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ các khâu của công tác cán bộ, thực hiện nghiêm nguyên tắc

“Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị”; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ.

Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong quy hoạch theo chức danh cán bộ, gắn lý thuyết với thực hành và kỹ năng xử lý những tình huống nảy sinh trong thực tiễn đối với từng chức danh Đẩy mạnh cập nhật kiến thức mới cho cán bộ quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý Thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý theo quy hoạch khắc phục tư tưởng cục bộ, khép kín.

Nghiên cứu, đề xuất với Ban Chỉ đạo cải cách chính sách tiền lương của Nhà nước các chế

độ, chính sách của cán bộ, công chức, viên chức Tòa án phù hợp với đặc thù hoạt động Nghiên cứu, đề ra các giải pháp đột phá để đổi mới công tác cán bộ và nâng cao chất lượng đội ngũ tham mưu về công tác tổ chức cán bộ gắn với những chính sách đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, vinh danh và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.

Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, thẩm phán

1-Quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng về mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ Nắm vững và quán triệt nghiêm sáu quan điểm của Đảng

về xây dựng đội ngũ cán bộ theo định hướng Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thực hiện nghiêm chủ trương tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức theo vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 39- NQ/TW của Bộ Chính trị Quán triệt, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện Nghị quyết

Trang 4

số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả Phân công, xác định cụ thể, rõ ràng thẩm quyền đi đôi với trách nhiệm của người đứng đầu và tập thể lãnh đạo; trao mạnh quyền cho người đứng đầu theo nguyên tắc “Trách nhiệm phải đi đôi với thẩm quyền”.

2- Đổi mới công tác cán bộ Hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ, xây dựng và tổ

chức thực hiện tốt các quy chế, quy định trong công tác cán bộ: về tuyển dụng, đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ, công chức; về đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức; về kiểm tra, giám sát và quản lý cán bộ, công chức; về kỷ luật cán bộ, công chức; về bảo vệ chính trị nội bộ…, bảo đảm sự gắn kết giữa các khâu trong công tác cán bộ.

Đổi mới cơ chế, phương pháp, nội dung và hình thức tuyển chọn cán bộ phù hợp với vị trí việc làm - năng lực công chức Hoàn thiện cơ chế tuyển chọn cán bộ, thực hiện việc tuyển chọn thông qua thi cử công khai Đồng thời, kiên quyết loại trừ các hiện tượng tiêu cực nhằm tạo sức thu hút những cá nhân có tài năng; xử lý kịp thời và nghiêm minh hành vi sai phạm của người làm công tác tuyển chọn và người đang muốn được tuyển chọn Trên

cơ sở đó, mới xây dựng được một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, chính quy, hiện đại bao gồm những người ưu tú, đủ khả năng đảm đương các công việc của Tòa án trong điều kiện hiện nay Hoàn thiện và nâng cao chất lượng các khâu trong công tác cán bộ

Thực hiện rà soát để bào đảm bố trí, sắp xếp và sử dụng đội ngũ cán bộ có hiệu quả, định

kỳ hằng năm và theo từng giai đoạn, để bố trí, sắp xếp và sử dụng cán bộ, thẩm phán bảo đảm phù hợp với năng lực, sở trường đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; đồng thời, để chủ động bố trí, sắp xếp cán bộ, thẩm phán có năng lực, triển vọng đảm nhiệm các công việc quan trọng, nhất là đối với diện quy hoạch chức danh lãnh đạo, quản

lý Đồng thời, kiên quyết thay thế, miễn nhiệm những cán bộ, Thẩm phán (kể cả cán bộ lãnh đạo) năng lực yếu kém, thường xuyên không hoàn thành nhiệm vụ hoặc có tham nhũng, tiêu cực.

Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đánh giá, quy hoạch và luân chuyển cán bộ Xác định rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của các khâu trong công tác cán bộ (phân loại, đánh giá cán bộ là tiền đề, quy hoạch cán bộ là nền tảng, luân chuyển cán bộ là đột phá và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài).

Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chế độ, chính sách đối với cán bộ, Thẩm phán Tòa án nhân dân Chế độ chính sách, tiền lương là một trong những vấn đề bảo đảm tính độc lập của đội ngũ cán bộ, Thẩm phán Tòa án trong quá trình họ thực hiện chức trách của mình Chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ cần bảo đảm cho cán bộ, Thẩm phán không phải

lo mưu sinh, để họ và gia đình có thể sống đầy đủ bằng chính đồng lương, không bị phụ

Trang 5

thuộc vào những tác động vật chất từ phía các cá nhân, tổ chức liên quan đến thực thi công vụ của họ Chế độ tiền lương của cán bộ, Thẩm phán Tòa án ở nước ta tuy đã được quan tâm nhưng so với yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay thì còn nhiều bất cập, chưa tính toán đầy đủ tới đặc thù của hoạt động Tòa án.

Để bảo đảm xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân thì việc xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy tham mưu về công tác cán bộ

là yêu cầu cấp thiết Trên cơ sở Chiến lược cán bộ của Đảng, việc xây dựng tổ chức bộ máy tham mưu về công tác cán bộ được xác định như sau:

Một là, tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ

công tác của cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ: Bộ máy làm công tác tổ chức cán bộ phải đảm bảo tinh, gọn, hoạt động thật sự có hiệu quả, khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán, chưa thật rõ trách nhiệm, chưa thật nắm chắc cán bộ, không ít thời gian bị hút vào giải quyết sự vụ.

Hai là, xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ trên cơ sở cụ

thể hoá tiêu chuẩn chung.

Ba là, tăng cường sự lãnh đạo của Ban cán sự đảng đối với bộ máy làm công tác tổ chức

cán bộ Cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở mỗi cấp Tòa án, mỗi đơn vị phải trực tiếp chăm lo công tác cán bộ.

Bốn là, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, chú trọng tổng kết thực tiễn về công

tác tổ chức cán bộ Đội ngũ làm công tác tổ chức cán bộ đòi hỏi không chỉ sát thực tiễn,

có trình độ, nhanh nhạy nắm bắt những vấn đề về đường lối, chính sách, nhất là về đổi mới kinh tế của Đảng, Nhà nước, mà còn hiểu biết nhiều lĩnh vực ở trong nước và nước ngoài.

3 Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng; quản lý cán bộ, tăng cường kỷ luật công vụ gắn với kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm những cán bộ, thẩm phán có vi phạm

Hoàn chỉnh các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu Tòa án các cấp trong giáo dục, quản lý cán bộ Tăng cường công tác kiểm tra của cấp ủy cấp trên đối với cấp dưới Kịp thời kiểm tra, kết luận các vụ việc có liên quan đến lịch sử chính trị hoặc chính trị hiện nay của cán bộ Xử lý nghiêm những tập thể và cá nhân có sai phạm trong quản lý, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ Tăng cường trau dồi phẩm chất, đạo đức và nâng cao năng lực nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, Thẩm phán gắn với công tác giáo dục chính trị tư tưởng và quản lý cán bộ.

4 Bảo đảm cơ sở vật chất, trụ sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho Tòa án

Việc bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện và trang thiết bị làm việc cho cán bộ Tòa án

Trang 6

nhân dân, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay đang là vấn đề lớn, hệ trọng và phức tạp Bên cạnh thuận lợi cũng có nhiều khó khăn, trở ngại, vì vậy, rất cần có sự đồng thuận của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, phải rất quyết tâm và coi đó là nhiệm vụ chính trị của toàn hệ thống thì mới có thể thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng này.

Trước hết, Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục bám sát các chủ trương của Đảng, pháp luật

của Nhà nước, có quyết tâm chính trị cao trong công tác chỉ đạo xây dựng phương án tăng cường cơ sở vật chất, trụ sở, phương tiện và trang thiết bị làm việc cho Tòa án nhân dân các cấp.

Thứ hai, tập trung kinh phí và rà soát, xác định trọng điểm đầu tư xây dựng mới hoặc

sữa chữa cải tạo trụ sở làm việc cho các Tòa án nhân dân, đảm bảo các tiêu chí về diện tích đất theo định hướng chung, đặc biệt đối với các Toà án nhân dân chưa có trụ sở Phối hợp với các cơ quan, bộ, ngành chức năng xây dựng các định mức, tiêu chuẩn phòng làm việc, trang thiết bị, phương tiện cho từng chức danh cán bộ theo đặc thù Tòa án.

Thứ ba, phát triển việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của tòa án theo

hướng tạo sự đồng bộ và hiện đại hóa về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị; hệ thống các phần mềm ứng dụng chuyên biệt của tòa án có đủ về số lượng với công nghệ hiện đại, thuận tiện, dễ sử dụng, bảo đảm phục vụ cho việc chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành của lãnh đạo tòa

án nhân dân các cấp chủ yếu thông qua hệ thống mạng máy tính, đáp ứng các yêu cầu về công khai hoá, minh bạch hóa các hoạt động của Tòa án nhân dân.

iểu luận - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tuyển dụng công chức hiện

nayT PHẦN MỞ ĐẦU

Trong hoạt động của nền hành chính, vấn đề xây dựng đội ngũ công chức luôn

là vấn đề quan tâm hàng đầu của nhiều nước trên thế giới Đội ngũ công chứctrực tiếp thực hiện quyền lực Nhà nước trong quản lý xã hội,đảm bảo thực thipháp luật và là nhân tố quyết định hiệu lực,hiệu quả của nền hành chính Ở nước

ta những thành tưụ đạt được trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới cóphần đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ,công chức Trước yêu cầu pháttriển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường,địnhhướng Xã Hội Chủ Nghĩa trong xu hướng hội nhập quốc tế thì vấn đề cấp báchđặt ra là phải xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ,công chức…Việc xây dựngmột đội ngũ công chức bao gồm những người có trình độ chuyên môn,có nănglực quản lý và có phẩm chất đạo đức tốt,làm việc nghiêm túc vì trách nhiệm củamình trước công vụ là yêu cầu cấp thiết trước tình hình đổi mới đất nước để xâydựng một nền hành chính trong sạch,vững mạnh Công tác tuyển dụng là bướcđầu tiên để tuyển chọn được đội ngũ công chức có chất lượng cao,nhưng trongthời gian qua do chưa được quan tâm đúng mức nên chúng ta chưa phát

Trang 7

hiện,tuyển chọn được những cán bộ,công chức thực sự có đức,có tài Để khắcphục những tồn tại hiện nay và đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổimới,vấn đề cấp bách là phải có chiến lược về con người,trong đó việc tuyểndụng thực sự đã trở thành động lực cho sự phát triển của xã hội Trong điều kiệncải cách hành chính, hướng tới xây dựng một nền hành chính dân chủ, trongsạch và từng bước hiện đại hóa thì vấn đề tuyển dụng và xây dựng đội ngũ côngchức càng có ý nghĩa quyết định hơn bao giờ hết mà nó cần được nghiên cứu cả

về mặt lý luận và thực tiễn Chính vì ý nghĩa to lớn đó nên em đã chọn đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tuyển dụng công chức hiện nay” Do hiểubiết có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót vì vậy em mong nhận đượcnhững ý kiến đóng góp của các thầy cô để bài viết này được hoàn thiện hơn

PHẦN NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận của vấn đề tuyển dụng công chức hiện nay.

1 Quan niệm về công chức,và tuyển dụng công chức ở Việt Nam hiện nay.

Vấn đề cán bộ,công chức luôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trênthế giới Quan niệm đúng đắn về cán bộ,công chức là cơ sở cho việc xây dựng

và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của nền hành chính.Tùy theo đặc điểm kinh tế,văn hóa,xã hội và cấu trúc bộ mấy Nhà nước mà mỗinước có quan niệm khác nhau về công chức

Khái niệm công chức ở nước ta có lịch sử phát triển rất phong phú Ngay từnhững năm sau khi giành chính quyền,chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh76/SL ngày 22/5/1950 quy định chế độ công chức của nước Việt Nam Dân ChủCộng Hòa.Trải qua các thời kỳ lịch sử khái niệm nay có nhiều thay đổi Hiệnnay công chức được hiểu là:những công dân Việt Nam được tuyển dụng ,bổnhiệm,hoặc giao giữ một nhiệm vụ công cụ thường xuyên trong cơ quan Nhànước,tổ chức chính trị,tổ chức chính trị xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân màkhông phải là sỹ quan,hạ sỹ quan,quân nhân chuyên nghiệp,công nhân quốcphòng

Tuyển dụng là một dạng hoạt động của quản lý hành chính Nhà nước nhằmchọn được những cán bộ,công chức có đủ khả năng và điều kiện thực thi côngviệc trong các cơ quan Nhà nước Tùy theo tính chất,chức năng,nhiệm vụ củatừng loại cơ quan mà tiêu chuẩn,điều kiện,hình thức tuyển dụng có khác nhau.Tuyển dụng là khâu đầu tiên có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng đội ngũ cánbộcông chức do đó cần phải tuân thủ những nguyên tắc chung nhất định và quytrình khoa học từ hình thức đến nội dung thi tuyển

2 Vai trò của công chức trong nền hành chính quốc gia.

Nền hành chính theo nghĩa rộng là hoạt động quản lý, điều hành công việc củamọi tổ chức Nhà nước cũng nhưu của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị,

xã hội…theo chức năng,nhiệm vụ,điều lệ của từng tổ chức hành chính nhànước là hoạt động chính của của các cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước đểquản lý,điều hành các hoạt động trong các lĩnh vực đời sống xã hội theo phápluật Nền hành chính nhà nước có 3 yếu tố cấu thành đó là:

Trang 8

Thứ nhất,hệ thống thể chế để quản lý xã hội theo pháp luật,bao gồm hệ thốngcác văn bản pháp luật là cơ sở để quản lý Nhà nước.

Thứ hai,cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính các cấp,cácngành từ chính phủ đến chính quyền cơ sở

Thứ ba,đội ngũ cán bộ,công chức hành chính bao gồm những người thực thicông vụ trong bộ máy hành chính công quyền, không kể những người lâu naygọi là viên chức nhà nước nhưng làm việc ở các doanh nghiệp Nhà nước hoặccác đơn vị sự nghiệp,dịch vụ không thuộc bộ máy công quyền

Như vậy cán bộ,công chức là một mắt xích quan trọng không thể thiếu của bất

kỳ nền hành chính nào Đội ngũ này có vai trò thực thi pháp luật để quản lý cáclĩnh vực của đời sống xã hội,bảo đảm hiệu lực của đường lối thể chế của giaicấp cầm quyền Tuy nhiên mục đích thực thi pháp luật ở mỗi nền hành chínhkhác nhau là không hoàn toàn giông nhau mà tùy thuộc vào chế độ chính trị,tínhdân chủ…Khác với các nước tư sản công chức trong các nhà nước XHCN trướcđây và ở nước ta hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự,kỷcương Nhà nước và bảo vệ lợi ích của quàn chúng lao động Đội ngũ công chức

có nhiệm vụ tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống,quản lý nhà nước trêncác lĩnh vực của đời sống xã hội phù hợp với mục tiêu dân chủ Xã Hội ChủNghĩa

Để khắng định được vai trò quản lý của mình,đội ngũ công chức phải tự xácđịnh được nhiệm vụ,nâng cao tri thức để đảm nhận công việc phục vụ sự nghiệpcách mạng, quản lý Nhà nước và phục vụ nhân dân Theo LêNin hiệu quả của

bộ máy phụ thuộc rất nhiều vào việc lựa chọn đội ngũ cán bộ,công chức,ôngthường nhắc nhở rằng: “ Muốn quản lý được thì cần phải am hiểu công việc vàphải là một cán bộ quản lý giỏi’’ và “ không thể quản lý được nếu không có kiếnthức đầy đủ, nếu không tinh thông khoa học quản lý” Để thực hiện được vai tròcủa mình mỗi công chức cần phải đấu tranh chống những biểu hiện thờ ơ,coithường,lơ là trước những đòi hỏi của nhân dân,chống phương pháp làm việc bàngiấy hình thức làm việc hoàn toàn không phù hợp với bản chất nhà nướcXHCN Đội ngũ công chức cần phải thể hiện vai trò của mình thông qua làmviệc một cách cụ thể,chu đáo,trung thực và giải quyết nhiệm vụ chuyên mônmột cách khẩn trương,nhanh chóng Tuyệt đối không được để xảy ra tình trạnggiải quyết công việc tắc trách,vô tổ chức mà phải được tổ chức là việc có uytín,điều hành,giải quyết kịp thời,chính xác mọi yêu cầu chính đáng của nhândân Ở mỗi cơ quan,tổ chức công chức phải “ xúc tiến tiến trình chung của côngviệc, không được làm cho nó trì trệ”

Trong hoạt động hành chính công chức phải chủ động hoàn thành tốt mọi nhiệm

vụ được giao và chống lại sự quan liêu,đùn đẩy trách nhiệm,phải giữ vững mốiquan hệ với quần chúng,thu hút quần chúng tham gia ngày càng đông đảo vàocông tác quản lý Theo Chủ Tịch HCM thì người cán bộ công chức không chỉ cótài mà còn phải có đức,Người quan niệm rằng người cán bộ,công chức có tài màkhông có đức thì như cây không rễ và thường gây ra những tai hại không nhỏ.Ngược lại nếu chỉ có đức mà không có tài thì chẳng khác nào ông bụt ngồi ở

Trang 9

trong chùa Đạo đức luôn giữ vị trí hàng đầu,cơ bản,quyết định nhân của ngườicán bộ,công chức Trong bất cứ hoàn cảnh nào người cán bộ,công chức cũngphải đặt của nhân dân,của Đảng và nhà nước lên trên hết.

Với tiêu chí đạo đức đó,người công chức muốn thực hiện được tốt vai trò củamình thì không được quan liêu,xa rời dân vì vậy phải biết lắng nghe ý kiến quầnchúng,thành tâm hộc hỏi quần chúng,biết tổ chức,biết lãnh đạo,lời nói phải điđôi với việc làm…

Kế tục những tư tưởng lớn lao về vai trò của đội ngũ công chức trong nền hànhchính,từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước,Đảng ta luôn khắng định tầmquan trọng của đội ngũ công chức Để đảm bảo hiệu lực,hiệu quả của nền hànhchính trên các lĩnh vực thì nhất thiết phải xây dựng được đội ngũ công chức giỏi

về chuyên môn,kinh nghiệm,có phẩm chất chính trị và cách mạng,hiểu biết vềquản lý hành chính Nắm vững được yêu cầu này sẽ giúp chúng ta xây dựngđược đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở nước ta hiệnnay

3 Những nguyên tắc và nội dung của việc tuyển dụng công chức hiện nay.

Một là, quan điểm xuyên suốt có tính nguyên tắc là công tác công chức phải đặtdưới sự lãnh đạo thống nhất của ĐCSVN,bảo đảm nguyên tắc tập thể,dân chủ điđôi với phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan,tổ chức,đơn vị…Hai là nguyên tắc công khai,bình đẳng: Tất cả các nội dung quy định của phápluật có liên quan đến nghĩa vụ,quyền lợi và các hoạt động công vụ của côngchức phải được công khai và được kiểm tra,giám sát của nhân dân trừ nhữngviệc liên quan đến bí mật quốc gia

Ba là nguyên tắc ưu tiên: Biểu hiện việc đánh giá,sử dụng,bổ nhiệm công chứcgiữ các chức vụ,vị trí trọng trách trong từng công vụ phải thông qua tài năngthực sự,thành tích hoạt động thực tế và phải lập được công trạng Nó bảo đảmđược tính công bằng,khách quan,khuyến khích được mọi công chức tận tâm vớicông vụ,hạn chế tính quan liêu,tùy tiện,cảm tình cá nhân,gia đình chủ nghĩa…Bốn là nguyên tắc dựa vào việc dể tìm người: đây là nguyên tắc quan trọngtrong việc tuyển chọn,sử dụng công chức một cách có hiệu qủa và tăng cườnghiệu lực quản lý của Nhà nước Xuất phát từ nhu cầu của công việc mà Nhànước phải tìm được những người có đủ điều kiện,tri thức đảm đương côngviệc,tránh tình trạng vì người mà tìm việc Điều 3 pháp lệnh cán bộ, công chứcquy định: “ Khi tuyển dụng cán bộ, công chức…cơ quan, tổ chức tuyển dugjphải căn cứ vào nhu cầu công việc,vị trí công việc của các chức danh cán bộ,công chức trong cơ quan, tổ chức mình và chỉ tiêu biên chế được giao.”

Năm là nguyên tắc quan niệm công chức là một nghề: Thừa nhận nguyên tắcnày có nghĩa là không phải ai cũng làm được công chức Muốn trở thành côngchức ngoài khả năng cá nhân,nguyên tắc này đòi hỏi phải có sự đầu tư của Nhànước Đã là nghề phải được đào tạo công phu,bài bản Để trở thành công chứcnhà nước phải trải qua những kỳ thi tuyển nghiêm túc bằng những hình thứckhác nhau như: thi viết,thi vấn đáp… Nguyên tắc này bảo đảm,kích thích tính

Trang 10

năng động sáng tạo và chủ động đối với công chức Đồng thời đảm bảo sự ổnđịnh của đội ngũ công chức trong nền hành chính quốc gia liên lục và ổn định.

II Thực trạng của việc tuyển dụng công chức ở nước ta hiện nay.

1 Thực trạng:

Tuyển dụng công chức là một hoạt động của quản lý hành chính Nhà nước.Thông qua tuyển dụng để chọn được những người phù hợp với khả năng,tiêuchuẩn và điều kiện đảm nhận công vụ Tuyển dụng công chức được thực hiệnbằng hình thức thi cử công khai do chính phủ quy định Người được tuyển dụngqua thi tuyển phải là người có phẩm chất đạo đức tốt,đúng với tiêu chuẩn cáchmạng, nghĩa vụ Tuy nhiên thi tuyển chỉ là bắt đầu của quá trình tuyểndụng,người được tuyển dụng phải thực hiện chế độ tập sự, hết thời hạn tấp sự cơquan tuyển dụng phải đánh giá phẩm chất đạo đức và kết quả công việc củangười tập sự,nếu đạt được yêu cầu thì đề nghị cơ quan,tổ chức có thẩm quyềnquản lý công chưc quyết định bổ nhiệm chính thức vào ngạch Tùy thuộc vàotừng loại công chức hành chính khác nhau,căn cứ vào vai trò,vị trí của họ màcon đường trở thành công chức cung khác nhau Đối với những công chức trongcác ngạch,bậc nhất định thông thường thực hiện tuyển dụng ngay vào hệ thốngbiên chế qua thi tuyển Đối với những công chức lãnh đạo( Bộ trưởng, thủtướng, chủ tich…) thì được hình thành bằng các quy định khác

Yêu cầu của tuyển dụng công chức trong điều kiện hiện nay là là phải tuân thủpháp luật và chế độ công vụ, đảm báo nguyên tắc bình đẳng,khách quan,côngkhai…Cùng với những vấn đề pháp luật, yêu cầu của việc tuyển dụng nêutrên,việc đánh giá tình trạng công tác tuyển dụng còn phải đề cập đến các hìnhthức tuyển dụng và những tiêu chuẩn đặt ra trong tuyển dụng công chức

Về các hình thức tuyển dụng: Tuyển dụng công chức theo nghĩa chung nhất làtuyển lựa,thi tuyển,bầu chọn,bổ nhiệm…để lấy một số ít người trong số nhiềungười tham gia công vụ Nhà nước Đánh giá từ các quy định pháp luật ban hành

ở nước ta có hai hình thức tuyển dụng cơ bản:

Một là, hình thức bầu Đây là hình thức đang được áp dụng cho một số chứcdanh công chức,hoạt động với tư cách là một nhà chính trị và tư cách là côngchức thực thi công vụ,ví dụ như : chủ tịch UBND,phó chủ tịch UBNDtỉnh,huyện…Tuy nhiên đây là hình thức có tính đặc thù trong xây dựng đội ngũcông chức hành chính

Hai là hình thức thi tuyển, có thể nhìn nhận ở việc thi tuyển để bổ sung biên chếtrong hệ thống công chức hành chính và việc thi tuyển làm thay đổi trạng tháicông vụ của công chức như thi nâng ngạch,thi chuyển ngạch,thay đổi ngạch,bậc,chức vụ đảm nhận…Hình thức này nhằm để công chức có những thăngtiến,phát triển trong nền hành chính Nhà nước.Trong hình thức thi tuyển tùytheo yêu cầu đặt ra nên tiêu chuẩn cũng đòi hỏi những điều kiện,tiêu chuẩn nhấtđịnh về đối tượng,trình độ đào tạo Thi tuyển có thể thực hiện qua phần thi viết

để đánh giá bằng chuyên môn,khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn về nghiệp vụtrong từng ngành,lĩnh vực cụ thể Đồng thời có thể tiến hành tuyển dụng công

Trang 11

chức qua thi vấn đáp,thực hành…đối với những ngành,lĩnh vực có yêu cầu đặcthù nhất định.

Về tiêu chuẩn tuyển dụng công chức Để đảm bảo chất lượng đội ngũ công chứchành chính,những người muốn tham gia công vụ phải đáp ứng được những đòihỏi trước khi tuyển dụng Những tiêu chuẩn được coi là điều kiện bắt buộc.Nghị định 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của chính phủ về việc tuyểndụng,sử dụng và quản lý cán bộ,công chức trong các cơ quan Nhà nước quyđịnh những điều kiện chung khi tuyển dụng công chức,các điều kiện đó là :

- Cơ quan,tổ chức Nhà nước có nhu cầu công việc,vị trí công tác và chỉ tiêu biênchế được giao ;

- Người tham dự tuyển dụng có phẩm chất đạo đức tốt,đáp ứng được tiêu chuẩncách mạng nghĩa vụ của ngạch tuyển vào và các quy định tại điều 5 của nghịđịnh 117/2003 NĐ-CP là :

+ Là công dân Việt Nam,có địa chỉ thường trú tại Việt Nam ;

+ Từ đủ 18 tuổi đến dưới 40 tuổi( nếu là sỹ quan,quân nhân chuyên nghiệp,viên chức trong các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp Nhà nước thì tuổi dựtuyển có thể cao hơn,nhưng không quá 45 tuổi)

+ Có đơn dự tuyển,có lý lịch rõ ràng ;có các văn bằng chứng chỉ đào tạo phùhợp với yêu cầu của ngạch dự tuyển ;

+ Có đủ sức khỏe đảm nhận nhiệm vụ, công vụ ;

+ Không trong thời gian bị truy cứu TNHS,chấp hành án phạt tù cải tạo khônggiam giữ,quản chế,đang bị áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã phường,thịtrấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh,cơ sở giáo dục

- Những đối tượng thuộc diện chính sách,những người có học vị thạc sĩ, tiến sĩ,tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn phù hợp với nhucầu tuyển dụng …(Điều 7 nghị định 117) thì được ưu tiên trong tuyển dụng.Bên cạnh đó còn có những điều kiện riêng,cụ thể được áp dụng để tuyển dụngnhững chức danh cụ thể, nhằm đảm bảo chuyên môn,nghiệp vụ đó là : Thời giancông tác,học vấn,trình độ,năng lực,kinh nghiệm…

Những yêu cầu,quy định cơ bản nêu trên của công tác tuyển dụng là cơ sở quantrọng cho quá trình xây dựng đội ngũ công chức những năm qua

2 Những thành tựu đạt được của việc tuyển dụng công chức trong thời gian qua.

Tại đại hội lần VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới,xác định rõ yêu cầu tiêuchuẩn công chức là người có đủ phẩm chất chính trị đã qua thử thách luôn đứngvững trên lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân,chấp hành nghiêm chỉnhđường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước, ham học hỏi, năng động sáng tạo

có kiến thức về quản lý kinh tế-xã hội,có tính tổ chức và kỷ luật cao Đó lànhững công chức có đạo đức cách mạng,có ý thức tập thể,dân chủ đi đôi vớitính quyết đoán,có ý thức trách nhiệm,tác phong làm việc,gần gũi với quầnchúng nhân dân,gương mẫu trong lối sống Vì vậy trong quá trình tuyển dụngcông chức chúng ta đã cụ thể hóa được một bước tiêu chuẩn công chức trongthời kỳ mới đó là : Có tinh thần yêu nước sâu sắc,tận tụy phục vụ nhân dân, kiên

Trang 12

định mục tiêu độc lập và CNXH,phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối chínhsách của Đảng và Nhà nước,cần kiệm liêm chính,chí công vô tư,có ý thức tổchức kỷ luật,trung thực,không cơ hội,có tinh thần đấu tranh chống các biểu hiệntiêu cực,được nhân dân tín nhiệm,có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị,quanđiểm đường lối của Đảng,chính sách và pháp luật của Nhà nước,có trình độcách mạng,năng lực,sức khỏe để làm việc có hiệu quả,đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ được giao Các tiêu chuẩn này là cơ sở để mỗi cấp,mỗi ngành cụ thể hóa tiêuchuẩn cán bộ,công chức của ngành mình phù hợp với yêu cầu về chuyênmôn,phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp

Việc tuyển dụng công chức của mỗi ngành,mỗi cấp tuy có những tiêu chuẩnkhác nhau để phù hợp với lĩnh vực hoạt động của mình Tuy nhiên dù tuyểndụng dưới hình thức nào thì đều phải tuân thủ những quy định của pháp luật.Trong những năm qua nhiều địa phương và bộ,ngành đã tổ chức các kỳ thituyển căn cứ vào nhu cầu sử dụng và biên chế được giao Các bộ,ngành đã tổchức thi nâng ngạch công chức ở hầu hết các ngạch chuyên môn Bộ máy hànhchính Nhà nước có những chuyển biến tích cực trong công tác tuyển dụng côngchức Ở một bình diện nào đó,đã tạo được ‘‘những kết cấu mới’’ cũng như ‘‘sứcnăng động mới’’ trong đội ngũ công chức hành chính hiện nay

Việc thi nâng ngạch đối với chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên caocấp và các ngạch tương đương tiếp tục được triển khai,qua đó tạo ra sự thay đổitích cực góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ,công chức Nộidung,chương trình thi tuyển đã bước đầu được đổi mới theo hướng phù hợp hơnvới thực tế,chương trình đào tạo Việc nâng cao chất lượng cán bộ tham gia quátuyển dụng đã được chú trọng

Những mặt tích cực,thành tựu của việc tuyển dụng công chức vào các cơ quanNhà nước,các đơn vị hành chính sự nghiệp, ác tổ chức chính trị-xã hội được thểhiện rõ qua

* Về số lượng tuyển dụng : Đáp ứng ngày càng cao đòi hỏi của xã hội đặc biệttrong bối cảnh hiện nay thì mỗi ngành,mỗi cấp đã có sự điều chỉnh hợp lý vềquy định số lượng tuyển chọn Điều này được thể hiện ở việc thông báo côngkhai,lập kế hoạch dự toán tuyển dụng từ trước Sự phát triển mạnh mẽ của khoahọc công nghệ và cuộc cách mạng kỹ thuật đã làm cho số người tham gia thituyển ngày càng đông

* Về chất lượng : Với những tiêu chuẩn đề ra trong việc tuyển dụng một cáchcông khai,minh bạch,rõ ràng với hình thức tuyển dụng phong phú chúng ta đãlựa chọn được những công chức có trình độ chuyên môn cao Công chức có thểđóng góp cho sự phát triển Đất nước theo những cách khác nhau,phù hợp vớiđiều kiện hoàn cảnh cụ thể Ngược lại các cơ quan,đơn vị sự nghiệp,các tổ chứcchính trị-xã hội cũng tạo điều kiện để công chức phát huy hết tài năng,đóng gópcông sức vào sự đi lên của nhân loại

Việt Nam là nước có tỷ lệ người biết chữ và trẻ em trong độ tuổi đến trường khácao so với các nước trong khu vực nên đội ngũ công chức cũng tăng lên theo xuhướng đó Chỉ tính từ năm 1986 đến năm 2007 lực lượng công chức có trình độ

Trang 13

chuyên môn đã tăng từ 7,6% lên 30% So với nhiều nước thì công chức ViệtNam có những phẩm chất tốt như : thông minh,cần cù,có kinh nghiệm sử dụngcác cộng nghệ hiện đại…đây là lợi thế cạnh tranh quan trọng của công chứcnước nhà trong quá trình hội nhập.

Hiện nay với xu hướng tuyển dụng những người vừa có đức và tài vào các vị tríquan trọng trong bộ máy hành chính Nhà nước,vì vậy không phải tất cả côngchức đều phải là Đảng viên mà nhiều ngoài Đảng vẫn được đề bạt vào những vịtrí xứng đáng,điều này đã tạo được niềm tin,sự tin tưởng của quần chúng vàođường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước

Trong những năm qua công tác quy hoạch,xây dựng công chức ở cơ sở đã cónhững chuyển biến tích cực,quá trình thực hiện tương đối đồng bộ theo đúngquy trình, hướng dẫn Số lượng công chức nữ,công chức trẻ từng bước đượcnâng lên,các xã miền núi,vùng sâu có nguồn công chức là người dân tộc thiểu

số cũng có số lượng ngày càng tăng Hiện tại ta đang tiến hành quy hoạch,đàotạo,bồi dưỡng đội ngũ công chức nên trong thời gian tới trình độ công chứcngày càng được nâng cao,đảm bảo yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế

- xã hội của Đất nước

3 Những tồn tại và hạn chế của việc tuyển dụng công chức.

Bên cạnh những kết quả đạt được nói chung,công tác tuyển dụng công chức vẫncong những hạn chế cần khắc phục Chế độ thi tuyển và thi nâng ngạch chưathật sự đáp ứng mục đích,yêu cầu đặt ra là chọn được những người tài,đức vàđảm bảo nâng cao trình độ công chức Nhiều cơ quan,địa phương chưa thực sựđảm bảo tính dân chủ,công khai,công bằng trong thi tuyển công chức,chế độ thinâng ngạch công chức theo tiêu chuẩn,cơ cấu ngạch…trong thực tế áp dụng mộtcách tràn lan đối với mọi đối tượng công chức mà chưa tính hết đến các đặcđiểm riêng của cơ cấu hành chính ở mỗi ngành,lĩnh vực…Việc làm không đồng

bộ trên dẫn đến công chức chưa ổn định, không tận tâm vào công việc,nâng caotrình độ chuyên môn nghiệp vụ thực sự mà quay sang ‘‘đối phó’’ với việc thinâng ngạch,đánh giá công chức Hiện nay,do nhu cầu cần có việc trong xã hộirất cao,chế độ tiện lương bất hợp lý nên nhu cầu được làm việc trong các cơquan Nhà nước nói chung và cơ quan hành chính Nhà nước nói riêng là rất lớn.Mặc dù có những quy định về tuyển dụng công chức chặt chẽ nhưng rất ít cơquan, địa phương thực hiện nghiêm túc,minh bạch mà thường đặt ra các ‘‘quyđịnh nội bộ’’ để định hướng, ‘‘ưu tiên’’ tuyển dụng con em trong ngành,nhữngngười có mối quan hệ thân thích…Nhận định về công tác tuyển dụng,phó chủtịch nước Nguyễn Thị Bình đánh giá rằng :‘‘Có cơ quan phải hoãn cuộc thituyển nhân viên vì số người xin thi quá đông,nếu thi thì con em trong ngànhtrượt hết’’

Một số chính sách,quy định về tuyển dụng công chức còn thiếu đồng bộ, chưasát với tình hình thực tế ở địa phương Có nơi bố trí,sử dụng còn nặng về chínhsách, còn biểu hiện thiếu dân chủ, cục bộ, khép kín chưa bám sát quy hoạch vàtiêu chuẩn công chức,trong thời kỳ mới thiếu sự tập trung, kiểm tra,đôn đốc cấp

Trang 14

dưới thực hiện.Nhiều nơi còn nhầm lẫn công tác quy hoạch công chức với côngtác nhân sự nên còn tư tưởng hẹp hòi trong giới thiệu chuyên môn.

Theo báo cáo,hiện không có số liệu thống kê chính xác về số lượng nhân sự củakhu vực công ước tính con số cán bộ,công chức ở cấp trung ương, cấp tỉnh, cấphuyện là 300.000 người,con số viên chức làm việc trong cơ quan sự nghiệp là1,4 triệu và cán bộ cấp xã là 200.000 người Đây cũng là một con số khá lớn sovới nền hành chính của Việt Nam,nên xảy ra hiện tượng tuyển tràn lan trong khi

số lượng công việc thì không cần nhiều

Nội dung thi tuyển không liên quan tới công việc nên không thể chọn ra nhữngứng cử viên tốt nhất theo yêu cầu của công việc Bên cạnh đó còn có xu hướngkhuyến khích các thí sinh học thuộc lòng và nhớ kiến thức một cách máy mócthay vì hiểu và sử dụng kiến thức một cách sáng tạo,từ đó dẫn đến các côngchức có xu hướng đạt yêu cầu về mặt lý thuyết nhưng lại thiếu kỹ năng, nghiệp

vụ thực tế về công tác hành chính và quản lý

Việc tinh giản biên chế trong thời gian qua đã được ta nói nhiều nhưng chưathực hiện được Nguyên nhân chính là việc thiếu kiên quyết,cả nể từ phía ngườiđược tuyển dụng và trực tiếp là thủ trưởng cơ quan-người sử dụng cán bộ,côngchức

Hạn chế lớn nhất hiện nay là vấn đề chạy chức,chạy quyền,ngồi không đúng chỗvẫn tồn tại ngang nhiên trong xã hội Vấn đề này đã làm cho chất lượng côngchức giảm sút Do có nhiều khe hở của pháp luật,như không quy định được cácnguyên tắc cơ bản,trách nhiệm cá nhân,không có các chế tài cụ thể trong tuyểnchọn và bổ nhiệm do đó đã để lọt quá nhiều các sai phạm trong lĩnh vực này.Thực tế cho thấy đã có nhiều tình trạng chạy chức,chạy quyền bị phát hiện vàđưa ra trước pháp luật nhưng những người có quyền bổ nhiệm cũng không phảichịu trách nhiệm vì đã bổ nhiệm sai người Nhiều công chức được tuyển chọnvào mà không có nguyên tắc,không xác định được trình độ chuyên môn Mặtkhác việc tuyển dụng không có kế hoạch,chiến lược do đó có sự tăng biên chế

mà không có cách nào giảm được

Việc công khai thông tin tuyển dụng chưa được thực hiện một cách hoànchỉnh,vẫn còn hiện tượng ‘‘thiếu thì vẫn thiếu mà thừa thì vẫn thừa’’ Thông tintuyển dụng chỉ có một số ít người biết nên có mói quan hệ tốt sẽ được ưu tiên.Hơn nữa người làm công tác tuyển dụng lại là người có hoặc có ở mức hạn chế

về trình độ chuyên môn,chuyên môn trong việc lựa chọn người tài Nhiều khiviệc thi tuyển công chức đang làm không dễ gì đến được với mọi người vì trongmột số cuộc thi chỉ có người đang công tác(hợp đồng) được thi tuyển,còn cácthí sinh tự do thì hầu như không có

Thời kỳ trước khi chưa có thi tuyển ,hầu hết xin vào cơ quan Nhà nước là diệncon em trong ngành và qua các mối quan hệ thân thích Bố mẹ trước đã làmtrong ngành nào thì khi về hưu con sẽ đước thế chỗ vào ngành đókhông cần biếtđến việc đào tạo,học hành ra sao,có phù hợp chuyên môn hay không Cứ tuyểnvào cơ quan trước sau đó cho đi đào tạo để hợp thức hoá Kết quả là đa số côngchức được tuyển như vậy đều làm việc kém hiệu quả nhưng họ vẫn tồn tại mà

Trang 15

gánh nặng đó lại được chia sẻ cho những hợp đồng lao động làm việc có hiệuquả hơn Đã có nhiều nơi,nhiều chỗ,nhiều cơ quan,tổ chức,các nhân viên dạnghợp đồng làm việc tốt hơn,cóhệu quả hơn và họ đang phải ‘‘gánh’’ phần việccủa chính các công chức chính thức chưa làm được.

Đồng thời việc chuyển ngạch lên các cấp cao hơn như từ chuyên viên đếnchuyên viên chính rồi chuyên viên cao cấp hầu như chỉ dành cho công chứcnắm giữ các vị trí quản lý Trong khi đó, đối với những công chức giỏi vềchuyên môn đơn thuần việc chuyển ngạch lên cao hơn vẫn còn rất hạn chế Việcnày dẫn đến tình trạng công chức đua chen nhau vào các vị trí quản lý,khi ghếcông chức thì ít mà công chức lại nhiều dễ dẫn đến tình trạng bon chen

Đây là những thực tế đã đang xảy ra trong và xung quanh việc tuyển dụng nhân

sự của các cơ quan hành chính Nhà nước Những hạn chế này xuất phát từ nhiềunguyên nhân, song cơ bản cho đến nay nền kinh tế nước ta vẫn là kinh tế nôngnghiệp lạc hậu,thu nhập bình quân đầu người thấp Đây là những nguyên nhân

cơ bản đang tạo ra sự hạn chế trong sự phát triển công chức ở nước ta hiệnnay.Bên cạnh đó thực trạng quy hoạch và phát triển công chức ở nước ta trongnhững năm qua còn nhiều vấn đề bất cập Cho đến nay chúng ta chưa có đượcchiến lược tổng thể trong việc xây dựng,phát triển và sử dụng đội ngũ côngchức cho quá trình phát triển đất nước Việc quy hoạch và phát triển đội ngũcông chức giữa các ngành,các vùng,các địa phương trong cả nước cũng cònnhiều chòng chéo và thiếu các mục tiêu cụ thể dẫn đến tình trạng phổ biến hiệnnay là thiếu công chức có độ cao nhưng lại thừa công chức có trình đọ trungbình và thấp Một nguyên nhân nữa mà không thể không nhắc tới đó là không

có sự thống nhất về nội dung và phương pháp trong việc tuyển dụng công chức

ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng đó cho thấy cần phải có những phương hướng đổi mới, quản lýtuyển dụng cho phù hợp trong thời gian tới

III Phương hướng và giải pháp cho việc tuyển dụng công chức ở nước ta hiện nay.

Nhằm từng bước chuẩn hoá đội ngũ công chức ở cơ sở đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế xã hội địa phương trong thời gian tới trước hết phải hoàn thiện hệtiêu chuẩn,chức danh Cụ thể với cán bộ công chức cấp phường,thị trấn nếutham gia gĩư chức vụ và nằm trong quy hoạch của nhiệm kỳ tới phải có trình độtrung cấp chuyên môn và trung cấp lý luận chính trị Do đó trong nhiệm kỳ hiệntại phải đưa họ đi đào tạo học chuyên ngành, đến hết nhiệm kỳ nếu chưa đạt tiêuchuẩn trên thì không đua vào giới thiệu nguồn nhân sự Với các xã đồngbằng ,miền biển,miền núi,vùng đặc biệt khó khăn,nếu tham gia giữ chức vụ lầnđầu công chức phải có trình độ trung cấp chuyên môn,sơ cấp lý luận chính trị Mục tiêu của chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước là xây dựngmột nền hành chính dân chủ,trong sạch,vững mạnh,chuyên nghiệp,hiện đạihoá,hoạt động có hiệu lực hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyềnXHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng,xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất

và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng,phát triển đất nước Phấn

Trang 16

đấu đến năm 2010 đội ngũ cán bộ,công chức có số lượng,cơ cấu hợp lý,chuyênnghiệp và hiện đại Tuyệt đại bộ phận cán bộ,công chức có phẩm chất tốt và đủnăng lực thi hành công vụ,tận tuỵ,phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục

vụ nhân dân Mục tiêu này liên quan trực tiếp đến việc cải cách nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ,công chức Một bộ chỉ số cần được thành lập dùng để đolường chất mức độ đội ngũ công chức chuyên nghiệp,hiện đại theo hướng năngđộng ,công bằng,tăng cường trách nhiệm Tập hợp các chỉ số đó là : Số cơ quan

tổ chức áp dụng đúng quy trình tuyển dụng công chức,thử việc, đánh giá côngviệc,bổ nhiệm đề bạt,luân chuyển cán bộ,công chức ;số lượng công chức chuyênnghiệp được tuyển dụng mới đạt trình độ đai học đúng chuyên ngành ;số lượngcông chức được đào tạo nâng cao kiến thức chuyên ngành…Các chỉ số định tính này phải được thu nhập qua các phương pháp đánh giá, điều tra xã hội học Đểđạt được các mục tiêu trên ta phải thực hiện được những giải pháp cụ thể sau :

- Tổ chức các kỳ thi tuyển dụng hàng năm,xây dựng kế hoạch tuyển dụng từ đầunăm

- Xây dựng kế hoạch ra đề thi,thành lập ngân hàng câu hỏi,cấu trúc đề thi hợplý

- Thực hiện nghiêm túc khâu thi và chấm thi đảm bảo nguyên tắc minhbạch,khách quan,công bằng

- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về đội ngũ công chức vàcông tác quản lý công chức Ban hành quy chế tuyển dụng công chức hànhchính để áp dụng thống nhất trong các kỳ thi tuyển

- Thực hiện cơ cấu công chức trong các cơ quan, đơn vị làm cơ sở cho việctuyển dụng ,quy hoạch, đào tạo,bồi dưỡng ,bổ nhiệm,luân chuyển công chức

- Để ngăn chặn những hành vi sai phạm phải quy định trong các văn bản phápluật những điều được làm, trách nhiệm cá nhân,trách nhiệm liên đới của ngườiđược giao quyền tuyển dụng và đặc biệt là người sử dụng công chức

- Quy định của pháp luật phải bắt nguồn từ thực tiễn khách quan,phản ánh đúng

sự thực và có tính khái quát cao phù hợp với điêù kiện thực tế của tình hìnhtuyển dụng công chức Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu vì chỉ có thể điềuchỉnh được các hoạt động đó mà không tạo ra những sai sót đáng tiếc thì phápluật phải phản ánh được các điều kiện về vấn đề cấp bách trong việc tuyển dụngcông chức như cần sự điều chỉnh để làm hạn chế ý chí chủ quan của người cóquyền tuyển dụng

- Để có được đội ngũ công chức trong sạch,vững mạnh đủ phẩm chất và nănglực…thì việc đổi mới,hoàn thiện pháp lệnh về công chức trong trời gian tới cầnphải dựa trên những quan điểm sau :

+ Phải xuất phát từ mục đích,yêu cầu của nền cải cách hành chính đặt ra đốivới việc hoàn thiện công chức là phải định rõ tiêu chuẩn về trình độ,năng lực,cơchế tuyển dụng nhằm đưa vào nền công vụ người có khả năng hình thành tốtnhiệm vụ,công vụ của nền hành chính

Trang 17

+ Phải kế thừa được những ưu điểm của chế độ công chức truyền thống, đồngthời nghiên cứu tiếp thu,chọn lọc kinh nghiệm và những thành tựu khoa họctrong việc quản lý nhân sự của các nước trên thế giới.

+ Phải tiến hành đồng bộ,toàn diện và phải có bước đi thích hợp đảm bảo từngbước xây dựng,hoàn chỉnh hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về côngchức tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất,nănglực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH đất nước

+ Quy định rõ các điều kiện tuyển dụng và bổ nhiệm công chức bao gồm cácquy định về tuổi,trình độ văn hoá,trình độ chuyên môn,năng lực thực tiễn…Đồng thời quy định rõ chế độ thi tuyển

- Phải đổi mới công tác quy hoạch,cần định rõ cơ cấu độ tuổi cơ cấu quản lýNhà nước ở cơ sở Phải kết hợp tốt ba độ tuổi để đảm bảo tính kế thừa,tính liêntục và phát triển Chỉ tiêu,tiêu chuẩn tuyển chọn phải được công khai, đối tượngtuyển chọn phải bám sát định hướng chung của công tác công chức là phải trẻhoá,chú trọng đến năng lực trình độ,tạo điều kiện thuận lợi cho mọi đối tượng

dự tuyển công chức Cần chú ý cơ cấu giới tính trong tuyển dụng đảm bảo sựcân bằng hợp lý,kết hợp với công tác quy hoạch nâng cao tỷ lệ công chức nữ

- Tuy nhiên trong điều kiện thực tế cần phải có chính sách ưu tiên đối với một

số đối tượng con thương binh,liệt sỹ,người dân tộc thiểu số…Việc ưu tiên phảiđược quy định rõ ràng,hợp lý, đúng đối tượng tránh tình trạng ưu tiên mọt cáchtràn lan,vô nguyên tắc

- Để đảm bảo tính khách quan,công bằng và chất lượng của việc thi tuyển cầnquy định rõ cơ cấu chất lượng,thành phần, chức năng,nhiệm vụ và quy chế làmviệc của các hội đồng thi tuyển công chức ở cả trung ương và địa phương Đồngthời quy định rõ tiêu chuẩn của từng loại ngạch,bậc,chức vụ của công chức Nhànước

- Tinh giản biên chế để lựa chọn được những người có tài,người có năng lực vàolàm việc trong bộ máy hành chính trong thời đại chúng ta đang hướng tới mộtnền hành chính tri thức,văn minh và hiện đại là việc làm cần thiết và cấp báchnhưng phải có những phương pháp mang tính đột phá,mà phải đột phá ngay từkhâu tuyển dụng

Trên đây chỉ là mốt số giải pháp cơ bản mang tính định hướng, để giải quyết tốtvấn đề tuyển dụng công chức cần phải có sự phối hợp của các cấp,các ngành từtrung ương đến địa phương Trong thời gian tới mong rằng Đảng,chính phủ sẽ

có những đổi mới về cơ chế,chính sách để ngày càng thu hút nhiều nhân tài hơnnữa đóng góp và xây dựng hệ thống hành chính của ta ngày càng tinh gọn,pháttriển và tiến bộ

PHẦN KẾT LUẬN

Trong công cuộc đổi mới đất nước,quá trình cải cách nền hành chính Nhà nước

đã đặt ra những yêu cầu lớn về con người Con người là yếu tố trung tâm củacác hoạt động xã hội Do đó,trong chiến lược cải cách,chiến lược về quản lý vàphát triển nguồn nhân lực là vấn đề được quan tâm hàng đầu Đất nước ta đangđứng trước giai đoạn phát triển mới với nhiều vận hội và thách thức Quá trình

Trang 18

chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế địnhhướng XHCN đòi hỏi phải xây dựng chế độ công vụ,công chức phù hợp khắcphục những nhược điểm và hạn chế vẫn còn tồn tại của cơ chế cũ,tiếp tục xâydựng một nền hành chính phục vụ nhân dân Công chức là một vấn đề quantrọng trong hoạt động của mọi Nhà nước, đặc biệt là trong điều kiện quốc tế hoálực lượng sản xuất Khi mà các chính sách xã hội đã tương đối phù hợp với thựctiễn thì điều kiện quyết định thành công hay thất bại là do công tác công chức.Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới,việc giải quyết tốt công tác cán bộ công chứcvẫn là khâu then chốt,quyết định sự phát triển bền vững của xã hội.Thực trạngtuyển dụng công chức hiện nay cho thấy còn nhiều điều bất cập gây ảnh hưởngđến hiệu quả hoạt động của các cơ quan,tổ chức, đơn vị trong quá trình phục vụnhân dân Việc thiếu tinh thần trách nhiệm,yếu kém về năng lực,chuyên môn,kỹnăng hành chính…của đội ngũ công chức làm cho bộ máy hành chính Nhà nướchoạt động trì trệ,kém hiệu quả,tình trạng quan liêu,tham nhũng ,sách nhiễu nhândân vẫn tồn tại trong một bộ phận công chức làm ảnh hưởng đến lòng tin củanhân dân đối với Đảng và Nhà nước.Vì vậy trong điều kiện cải cách hành chínhhiện nay,hướng tới xây dựng nền dân chủ,trong sạch và hiện đại hoá thì việc xâydựng đội ngũ công chức càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết,mà đòi hỏi chúng taphải cải cách chế độ công vụ,công chức mà trước hết phải làm tốt ngay từ khâutuyển dụng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

Tuyển dụng là một dạng hoạt động của quản lý hành chính Nhà nước nhằmchọn được những cán bộ,công chức có đủ khả năng và điều kiện thực thi côngviệc trong các cơ quan Nhà nước Tùy theo tính chất,chức năng,nhiệm vụ củatừng loại cơ quan mà tiêu chuẩn,điều kiện,hình thức tuyển dụng có khác nhau.Tuyển dụng là khâu đầu tiên có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng đội ngũ cánbộcông chức do đó cần phải tuân thủ những nguyên tắc chung nhất định và quytrình khoa học từ hình thức đến nội dung thi tuyển

2 Vai trò của công chức trong nền hành chính quốc gia.

Nền hành chính theo nghĩa rộng là hoạt động quản lý, điều hành công việc củamọi tổ chức Nhà nước cũng nhưu của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị,

xã hội…theo chức năng,nhiệm vụ,điều lệ của từng tổ chức hành chính nhànước là hoạt động chính của của các cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước để

Trang 19

quản lý,điều hành các hoạt động trong các lĩnh vực đời sống xã hội theo phápluật Nền hành chính nhà nước có 3 yếu tố cấu thành đó là:

Thứ nhất,hệ thống thể chế để quản lý xã hội theo pháp luật,bao gồm hệ thốngcác văn bản pháp luật là cơ sở để quản lý Nhà nước

Thứ hai,cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính các cấp,cácngành từ chính phủ đến chính quyền cơ sở

Thứ ba,đội ngũ cán bộ,công chức hành chính bao gồm những người thực thicông vụ trong bộ máy hành chính công quyền, không kể những người lâu naygọi là viên chức nhà nước nhưng làm việc ở các doanh nghiệp Nhà nước hoặccác đơn vị sự nghiệp,dịch vụ không thuộc bộ máy công quyền

Như vậy cán bộ,công chức là một mắt xích quan trọng không thể thiếu của bất

kỳ nền hành chính nào Đội ngũ này có vai trò thực thi pháp luật để quản lý cáclĩnh vực của đời sống xã hội,bảo đảm hiệu lực của đường lối thể chế của giaicấp cầm quyền Tuy nhiên mục đích thực thi pháp luật ở mỗi nền hành chínhkhác nhau là không hoàn toàn giông nhau mà tùy thuộc vào chế độ chính trị,tínhdân chủ…Khác với các nước tư sản công chức trong các nhà nước XHCN trướcđây và ở nước ta hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự,kỷcương Nhà nước và bảo vệ lợi ích của quàn chúng lao động Đội ngũ công chức

có nhiệm vụ tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống,quản lý nhà nước trêncác lĩnh vực của đời sống xã hội phù hợp với mục tiêu dân chủ Xã Hội ChủNghĩa

Để khắng định được vai trò quản lý của mình,đội ngũ công chức phải tự xácđịnh được nhiệm vụ,nâng cao tri thức để đảm nhận công việc phục vụ sự nghiệpcách mạng, quản lý Nhà nước và phục vụ nhân dân Theo LêNin hiệu quả của

bộ máy phụ thuộc rất nhiều vào việc lựa chọn đội ngũ cán bộ,công chức,ôngthường nhắc nhở rằng: “ Muốn quản lý được thì cần phải am hiểu công việc vàphải là một cán bộ quản lý giỏi’’ và “ không thể quản lý được nếu không có kiếnthức đầy đủ, nếu không tinh thông khoa học quản lý” Để thực hiện được vai tròcủa mình mỗi công chức cần phải đấu tranh chống những biểu hiện thờ ơ,coithường,lơ là trước những đòi hỏi của nhân dân,chống phương pháp làm việc bàngiấy hình thức làm việc hoàn toàn không phù hợp với bản chất nhà nướcXHCN Đội ngũ công chức cần phải thể hiện vai trò của mình thông qua làmviệc một cách cụ thể,chu đáo,trung thực và giải quyết nhiệm vụ chuyên mônmột cách khẩn trương,nhanh chóng Tuyệt đối không được để xảy ra tình trạnggiải quyết công việc tắc trách,vô tổ chức mà phải được tổ chức là việc có uytín,điều hành,giải quyết kịp thời,chính xác mọi yêu cầu chính đáng của nhândân Ở mỗi cơ quan,tổ chức công chức phải “ xúc tiến tiến trình chung của côngviệc, không được làm cho nó trì trệ”

Trong hoạt động hành chính công chức phải chủ động hoàn thành tốt mọi nhiệm

vụ được giao và chống lại sự quan liêu,đùn đẩy trách nhiệm,phải giữ vững mốiquan hệ với quần chúng,thu hút quần chúng tham gia ngày càng đông đảo vàocông tác quản lý Theo Chủ Tịch HCM thì người cán bộ công chức không chỉ cótài mà còn phải có đức,Người quan niệm rằng người cán bộ,công chức có tài mà

Trang 20

không có đức thì như cây không rễ và thường gây ra những tai hại không nhỏ.Ngược lại nếu chỉ có đức mà không có tài thì chẳng khác nào ông bụt ngồi ởtrong chùa Đạo đức luôn giữ vị trí hàng đầu,cơ bản,quyết định nhân của ngườicán bộ,công chức Trong bất cứ hoàn cảnh nào người cán bộ,công chức cũngphải đặt của nhân dân,của Đảng và nhà nước lên trên hết.

Với tiêu chí đạo đức đó,người công chức muốn thực hiện được tốt vai trò củamình thì không được quan liêu,xa rời dân vì vậy phải biết lắng nghe ý kiến quầnchúng,thành tâm hộc hỏi quần chúng,biết tổ chức,biết lãnh đạo,lời nói phải điđôi với việc làm…

Kế tục những tư tưởng lớn lao về vai trò của đội ngũ công chức trong nền hànhchính,từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước,Đảng ta luôn khắng định tầmquan trọng của đội ngũ công chức Để đảm bảo hiệu lực,hiệu quả của nền hànhchính trên các lĩnh vực thì nhất thiết phải xây dựng được đội ngũ công chức giỏi

về chuyên môn,kinh nghiệm,có phẩm chất chính trị và cách mạng,hiểu biết vềquản lý hành chính Nắm vững được yêu cầu này sẽ giúp chúng ta xây dựngđược đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở nước ta hiệnnay

3 Những nguyên tắc và nội dung của việc tuyển dụng công chức hiện nay.

Một là, quan điểm xuyên suốt có tính nguyên tắc là công tác công chức phải đặtdưới sự lãnh đạo thống nhất của ĐCSVN,bảo đảm nguyên tắc tập thể,dân chủ điđôi với phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan,tổ chức,đơn vị…Hai là nguyên tắc công khai,bình đẳng: Tất cả các nội dung quy định của phápluật có liên quan đến nghĩa vụ,quyền lợi và các hoạt động công vụ của côngchức phải được công khai và được kiểm tra,giám sát của nhân dân trừ nhữngviệc liên quan đến bí mật quốc gia

Ba là nguyên tắc ưu tiên: Biểu hiện việc đánh giá,sử dụng,bổ nhiệm công chứcgiữ các chức vụ,vị trí trọng trách trong từng công vụ phải thông qua tài năngthực sự,thành tích hoạt động thực tế và phải lập được công trạng Nó bảo đảmđược tính công bằng,khách quan,khuyến khích được mọi công chức tận tâm vớicông vụ,hạn chế tính quan liêu,tùy tiện,cảm tình cá nhân,gia đình chủ nghĩa…Bốn là nguyên tắc dựa vào việc dể tìm người: đây là nguyên tắc quan trọngtrong việc tuyển chọn,sử dụng công chức một cách có hiệu qủa và tăng cườnghiệu lực quản lý của Nhà nước Xuất phát từ nhu cầu của công việc mà Nhànước phải tìm được những người có đủ điều kiện,tri thức đảm đương côngviệc,tránh tình trạng vì người mà tìm việc Điều 3 pháp lệnh cán bộ, công chứcquy định: “ Khi tuyển dụng cán bộ, công chức…cơ quan, tổ chức tuyển dugjphải căn cứ vào nhu cầu công việc,vị trí công việc của các chức danh cán bộ,công chức trong cơ quan, tổ chức mình và chỉ tiêu biên chế được giao.”

Năm là nguyên tắc quan niệm công chức là một nghề: Thừa nhận nguyên tắcnày có nghĩa là không phải ai cũng làm được công chức Muốn trở thành côngchức ngoài khả năng cá nhân,nguyên tắc này đòi hỏi phải có sự đầu tư của Nhànước Đã là nghề phải được đào tạo công phu,bài bản Để trở thành công chứcnhà nước phải trải qua những kỳ thi tuyển nghiêm túc bằng những hình thức

Trang 21

khác nhau như: thi viết,thi vấn đáp… Nguyên tắc này bảo đảm,kích thích tínhnăng động sáng tạo và chủ động đối với công chức Đồng thời đảm bảo sự ổnđịnh của đội ngũ công chức trong nền hành chính quốc gia liên lục và ổn định.

II Thực trạng của việc tuyển dụng công chức ở nước ta hiện nay.

1 Thực trạng:

Tuyển dụng công chức là một hoạt động của quản lý hành chính Nhà nước.Thông qua tuyển dụng để chọn được những người phù hợp với khả năng,tiêuchuẩn và điều kiện đảm nhận công vụ Tuyển dụng công chức được thực hiệnbằng hình thức thi cử công khai do chính phủ quy định Người được tuyển dụngqua thi tuyển phải là người có phẩm chất đạo đức tốt,đúng với tiêu chuẩn cáchmạng, nghĩa vụ Tuy nhiên thi tuyển chỉ là bắt đầu của quá trình tuyểndụng,người được tuyển dụng phải thực hiện chế độ tập sự, hết thời hạn tấp sự cơquan tuyển dụng phải đánh giá phẩm chất đạo đức và kết quả công việc củangười tập sự,nếu đạt được yêu cầu thì đề nghị cơ quan,tổ chức có thẩm quyềnquản lý công chưc quyết định bổ nhiệm chính thức vào ngạch Tùy thuộc vàotừng loại công chức hành chính khác nhau,căn cứ vào vai trò,vị trí của họ màcon đường trở thành công chức cung khác nhau Đối với những công chức trongcác ngạch,bậc nhất định thông thường thực hiện tuyển dụng ngay vào hệ thốngbiên chế qua thi tuyển Đối với những công chức lãnh đạo( Bộ trưởng, thủtướng, chủ tich…) thì được hình thành bằng các quy định khác

Yêu cầu của tuyển dụng công chức trong điều kiện hiện nay là là phải tuân thủpháp luật và chế độ công vụ, đảm báo nguyên tắc bình đẳng,khách quan,côngkhai…Cùng với những vấn đề pháp luật, yêu cầu của việc tuyển dụng nêutrên,việc đánh giá tình trạng công tác tuyển dụng còn phải đề cập đến các hìnhthức tuyển dụng và những tiêu chuẩn đặt ra trong tuyển dụng công chức

Về các hình thức tuyển dụng: Tuyển dụng công chức theo nghĩa chung nhất làtuyển lựa,thi tuyển,bầu chọn,bổ nhiệm…để lấy một số ít người trong số nhiềungười tham gia công vụ Nhà nước Đánh giá từ các quy định pháp luật ban hành

ở nước ta có hai hình thức tuyển dụng cơ bản:

Một là, hình thức bầu Đây là hình thức đang được áp dụng cho một số chứcdanh công chức,hoạt động với tư cách là một nhà chính trị và tư cách là côngchức thực thi công vụ,ví dụ như : chủ tịch UBND,phó chủ tịch UBNDtỉnh,huyện…Tuy nhiên đây là hình thức có tính đặc thù trong xây dựng đội ngũcông chức hành chính

Hai là hình thức thi tuyển, có thể nhìn nhận ở việc thi tuyển để bổ sung biên chếtrong hệ thống công chức hành chính và việc thi tuyển làm thay đổi trạng tháicông vụ của công chức như thi nâng ngạch,thi chuyển ngạch,thay đổi ngạch,bậc,chức vụ đảm nhận…Hình thức này nhằm để công chức có những thăngtiến,phát triển trong nền hành chính Nhà nước.Trong hình thức thi tuyển tùytheo yêu cầu đặt ra nên tiêu chuẩn cũng đòi hỏi những điều kiện,tiêu chuẩn nhấtđịnh về đối tượng,trình độ đào tạo Thi tuyển có thể thực hiện qua phần thi viết

để đánh giá bằng chuyên môn,khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn về nghiệp vụtrong từng ngành,lĩnh vực cụ thể Đồng thời có thể tiến hành tuyển dụng công

Trang 22

chức qua thi vấn đáp,thực hành…đối với những ngành,lĩnh vực có yêu cầu đặcthù nhất định.

Về tiêu chuẩn tuyển dụng công chức Để đảm bảo chất lượng đội ngũ công chứchành chính,những người muốn tham gia công vụ phải đáp ứng được những đòihỏi trước khi tuyển dụng Những tiêu chuẩn được coi là điều kiện bắt buộc.Nghị định 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của chính phủ về việc tuyểndụng,sử dụng và quản lý cán bộ,công chức trong các cơ quan Nhà nước quyđịnh những điều kiện chung khi tuyển dụng công chức,các điều kiện đó là :

- Cơ quan,tổ chức Nhà nước có nhu cầu công việc,vị trí công tác và chỉ tiêu biênchế được giao ;

- Người tham dự tuyển dụng có phẩm chất đạo đức tốt,đáp ứng được tiêu chuẩncách mạng nghĩa vụ của ngạch tuyển vào và các quy định tại điều 5 của nghịđịnh 117/2003 NĐ-CP là :

+ Là công dân Việt Nam,có địa chỉ thường trú tại Việt Nam ;

+ Từ đủ 18 tuổi đến dưới 40 tuổi( nếu là sỹ quan,quân nhân chuyên nghiệp,viên chức trong các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp Nhà nước thì tuổi dựtuyển có thể cao hơn,nhưng không quá 45 tuổi)

+ Có đơn dự tuyển,có lý lịch rõ ràng ;có các văn bằng chứng chỉ đào tạo phùhợp với yêu cầu của ngạch dự tuyển ;

+ Có đủ sức khỏe đảm nhận nhiệm vụ, công vụ ;

+ Không trong thời gian bị truy cứu TNHS,chấp hành án phạt tù cải tạo khônggiam giữ,quản chế,đang bị áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã phường,thịtrấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh,cơ sở giáo dục

- Những đối tượng thuộc diện chính sách,những người có học vị thạc sĩ, tiến sĩ,tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn phù hợp với nhucầu tuyển dụng …(Điều 7 nghị định 117) thì được ưu tiên trong tuyển dụng.Bên cạnh đó còn có những điều kiện riêng,cụ thể được áp dụng để tuyển dụngnhững chức danh cụ thể, nhằm đảm bảo chuyên môn,nghiệp vụ đó là : Thời giancông tác,học vấn,trình độ,năng lực,kinh nghiệm…

Những yêu cầu,quy định cơ bản nêu trên của công tác tuyển dụng là cơ sở quantrọng cho quá trình xây dựng đội ngũ công chức những năm qua

2 Những thành tựu đạt được của việc tuyển dụng công chức trong thời gian qua.

Tại đại hội lần VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới,xác định rõ yêu cầu tiêuchuẩn công chức là người có đủ phẩm chất chính trị đã qua thử thách luôn đứngvững trên lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân,chấp hành nghiêm chỉnhđường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước, ham học hỏi, năng động sáng tạo

có kiến thức về quản lý kinh tế-xã hội,có tính tổ chức và kỷ luật cao Đó lànhững công chức có đạo đức cách mạng,có ý thức tập thể,dân chủ đi đôi vớitính quyết đoán,có ý thức trách nhiệm,tác phong làm việc,gần gũi với quầnchúng nhân dân,gương mẫu trong lối sống Vì vậy trong quá trình tuyển dụngcông chức chúng ta đã cụ thể hóa được một bước tiêu chuẩn công chức trongthời kỳ mới đó là : Có tinh thần yêu nước sâu sắc,tận tụy phục vụ nhân dân, kiên

Trang 23

định mục tiêu độc lập và CNXH,phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối chínhsách của Đảng và Nhà nước,cần kiệm liêm chính,chí công vô tư,có ý thức tổchức kỷ luật,trung thực,không cơ hội,có tinh thần đấu tranh chống các biểu hiệntiêu cực,được nhân dân tín nhiệm,có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị,quanđiểm đường lối của Đảng,chính sách và pháp luật của Nhà nước,có trình độcách mạng,năng lực,sức khỏe để làm việc có hiệu quả,đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ được giao Các tiêu chuẩn này là cơ sở để mỗi cấp,mỗi ngành cụ thể hóa tiêuchuẩn cán bộ,công chức của ngành mình phù hợp với yêu cầu về chuyênmôn,phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp

Việc tuyển dụng công chức của mỗi ngành,mỗi cấp tuy có những tiêu chuẩnkhác nhau để phù hợp với lĩnh vực hoạt động của mình Tuy nhiên dù tuyểndụng dưới hình thức nào thì đều phải tuân thủ những quy định của pháp luật.Trong những năm qua nhiều địa phương và bộ,ngành đã tổ chức các kỳ thituyển căn cứ vào nhu cầu sử dụng và biên chế được giao Các bộ,ngành đã tổchức thi nâng ngạch công chức ở hầu hết các ngạch chuyên môn Bộ máy hànhchính Nhà nước có những chuyển biến tích cực trong công tác tuyển dụng côngchức Ở một bình diện nào đó,đã tạo được ‘‘những kết cấu mới’’ cũng như ‘‘sứcnăng động mới’’ trong đội ngũ công chức hành chính hiện nay

Việc thi nâng ngạch đối với chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên caocấp và các ngạch tương đương tiếp tục được triển khai,qua đó tạo ra sự thay đổitích cực góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ,công chức Nộidung,chương trình thi tuyển đã bước đầu được đổi mới theo hướng phù hợp hơnvới thực tế,chương trình đào tạo Việc nâng cao chất lượng cán bộ tham gia quátuyển dụng đã được chú trọng

Những mặt tích cực,thành tựu của việc tuyển dụng công chức vào các cơ quanNhà nước,các đơn vị hành chính sự nghiệp, ác tổ chức chính trị-xã hội được thểhiện rõ qua

* Về số lượng tuyển dụng : Đáp ứng ngày càng cao đòi hỏi của xã hội đặc biệttrong bối cảnh hiện nay thì mỗi ngành,mỗi cấp đã có sự điều chỉnh hợp lý vềquy định số lượng tuyển chọn Điều này được thể hiện ở việc thông báo côngkhai,lập kế hoạch dự toán tuyển dụng từ trước Sự phát triển mạnh mẽ của khoahọc công nghệ và cuộc cách mạng kỹ thuật đã làm cho số người tham gia thituyển ngày càng đông

* Về chất lượng : Với những tiêu chuẩn đề ra trong việc tuyển dụng một cáchcông khai,minh bạch,rõ ràng với hình thức tuyển dụng phong phú chúng ta đãlựa chọn được những công chức có trình độ chuyên môn cao Công chức có thểđóng góp cho sự phát triển Đất nước theo những cách khác nhau,phù hợp vớiđiều kiện hoàn cảnh cụ thể Ngược lại các cơ quan,đơn vị sự nghiệp,các tổ chứcchính trị-xã hội cũng tạo điều kiện để công chức phát huy hết tài năng,đóng gópcông sức vào sự đi lên của nhân loại

Việt Nam là nước có tỷ lệ người biết chữ và trẻ em trong độ tuổi đến trường khácao so với các nước trong khu vực nên đội ngũ công chức cũng tăng lên theo xuhướng đó Chỉ tính từ năm 1986 đến năm 2007 lực lượng công chức có trình độ

Trang 24

chuyên môn đã tăng từ 7,6% lên 30% So với nhiều nước thì công chức ViệtNam có những phẩm chất tốt như : thông minh,cần cù,có kinh nghiệm sử dụngcác cộng nghệ hiện đại…đây là lợi thế cạnh tranh quan trọng của công chứcnước nhà trong quá trình hội nhập.

Hiện nay với xu hướng tuyển dụng những người vừa có đức và tài vào các vị tríquan trọng trong bộ máy hành chính Nhà nước,vì vậy không phải tất cả côngchức đều phải là Đảng viên mà nhiều ngoài Đảng vẫn được đề bạt vào những vịtrí xứng đáng,điều này đã tạo được niềm tin,sự tin tưởng của quần chúng vàođường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước

Trong những năm qua công tác quy hoạch,xây dựng công chức ở cơ sở đã cónhững chuyển biến tích cực,quá trình thực hiện tương đối đồng bộ theo đúngquy trình, hướng dẫn Số lượng công chức nữ,công chức trẻ từng bước đượcnâng lên,các xã miền núi,vùng sâu có nguồn công chức là người dân tộc thiểu

số cũng có số lượng ngày càng tăng Hiện tại ta đang tiến hành quy hoạch,đàotạo,bồi dưỡng đội ngũ công chức nên trong thời gian tới trình độ công chứcngày càng được nâng cao,đảm bảo yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế

- xã hội của Đất nước

3 Những tồn tại và hạn chế của việc tuyển dụng công chức.

Bên cạnh những kết quả đạt được nói chung,công tác tuyển dụng công chức vẫncong những hạn chế cần khắc phục Chế độ thi tuyển và thi nâng ngạch chưathật sự đáp ứng mục đích,yêu cầu đặt ra là chọn được những người tài,đức vàđảm bảo nâng cao trình độ công chức Nhiều cơ quan,địa phương chưa thực sựđảm bảo tính dân chủ,công khai,công bằng trong thi tuyển công chức,chế độ thinâng ngạch công chức theo tiêu chuẩn,cơ cấu ngạch…trong thực tế áp dụng mộtcách tràn lan đối với mọi đối tượng công chức mà chưa tính hết đến các đặcđiểm riêng của cơ cấu hành chính ở mỗi ngành,lĩnh vực…Việc làm không đồng

bộ trên dẫn đến công chức chưa ổn định, không tận tâm vào công việc,nâng caotrình độ chuyên môn nghiệp vụ thực sự mà quay sang ‘‘đối phó’’ với việc thinâng ngạch,đánh giá công chức Hiện nay,do nhu cầu cần có việc trong xã hộirất cao,chế độ tiện lương bất hợp lý nên nhu cầu được làm việc trong các cơquan Nhà nước nói chung và cơ quan hành chính Nhà nước nói riêng là rất lớn.Mặc dù có những quy định về tuyển dụng công chức chặt chẽ nhưng rất ít cơquan, địa phương thực hiện nghiêm túc,minh bạch mà thường đặt ra các ‘‘quyđịnh nội bộ’’ để định hướng, ‘‘ưu tiên’’ tuyển dụng con em trong ngành,nhữngngười có mối quan hệ thân thích…Nhận định về công tác tuyển dụng,phó chủtịch nước Nguyễn Thị Bình đánh giá rằng :‘‘Có cơ quan phải hoãn cuộc thituyển nhân viên vì số người xin thi quá đông,nếu thi thì con em trong ngànhtrượt hết’’

Một số chính sách,quy định về tuyển dụng công chức còn thiếu đồng bộ, chưasát với tình hình thực tế ở địa phương Có nơi bố trí,sử dụng còn nặng về chínhsách, còn biểu hiện thiếu dân chủ, cục bộ, khép kín chưa bám sát quy hoạch vàtiêu chuẩn công chức,trong thời kỳ mới thiếu sự tập trung, kiểm tra,đôn đốc cấp

Trang 25

dưới thực hiện.Nhiều nơi còn nhầm lẫn công tác quy hoạch công chức với côngtác nhân sự nên còn tư tưởng hẹp hòi trong giới thiệu chuyên môn.

Theo báo cáo,hiện không có số liệu thống kê chính xác về số lượng nhân sự củakhu vực công ước tính con số cán bộ,công chức ở cấp trung ương, cấp tỉnh, cấphuyện là 300.000 người,con số viên chức làm việc trong cơ quan sự nghiệp là1,4 triệu và cán bộ cấp xã là 200.000 người Đây cũng là một con số khá lớn sovới nền hành chính của Việt Nam,nên xảy ra hiện tượng tuyển tràn lan trong khi

số lượng công việc thì không cần nhiều

Nội dung thi tuyển không liên quan tới công việc nên không thể chọn ra nhữngứng cử viên tốt nhất theo yêu cầu của công việc Bên cạnh đó còn có xu hướngkhuyến khích các thí sinh học thuộc lòng và nhớ kiến thức một cách máy mócthay vì hiểu và sử dụng kiến thức một cách sáng tạo,từ đó dẫn đến các côngchức có xu hướng đạt yêu cầu về mặt lý thuyết nhưng lại thiếu kỹ năng, nghiệp

vụ thực tế về công tác hành chính và quản lý

Việc tinh giản biên chế trong thời gian qua đã được ta nói nhiều nhưng chưathực hiện được Nguyên nhân chính là việc thiếu kiên quyết,cả nể từ phía ngườiđược tuyển dụng và trực tiếp là thủ trưởng cơ quan-người sử dụng cán bộ,côngchức

Hạn chế lớn nhất hiện nay là vấn đề chạy chức,chạy quyền,ngồi không đúng chỗvẫn tồn tại ngang nhiên trong xã hội Vấn đề này đã làm cho chất lượng côngchức giảm sút Do có nhiều khe hở của pháp luật,như không quy định được cácnguyên tắc cơ bản,trách nhiệm cá nhân,không có các chế tài cụ thể trong tuyểnchọn và bổ nhiệm do đó đã để lọt quá nhiều các sai phạm trong lĩnh vực này.Thực tế cho thấy đã có nhiều tình trạng chạy chức,chạy quyền bị phát hiện vàđưa ra trước pháp luật nhưng những người có quyền bổ nhiệm cũng không phảichịu trách nhiệm vì đã bổ nhiệm sai người Nhiều công chức được tuyển chọnvào mà không có nguyên tắc,không xác định được trình độ chuyên môn Mặtkhác việc tuyển dụng không có kế hoạch,chiến lược do đó có sự tăng biên chế

mà không có cách nào giảm được

Việc công khai thông tin tuyển dụng chưa được thực hiện một cách hoànchỉnh,vẫn còn hiện tượng ‘‘thiếu thì vẫn thiếu mà thừa thì vẫn thừa’’ Thông tintuyển dụng chỉ có một số ít người biết nên có mói quan hệ tốt sẽ được ưu tiên.Hơn nữa người làm công tác tuyển dụng lại là người có hoặc có ở mức hạn chế

về trình độ chuyên môn,chuyên môn trong việc lựa chọn người tài Nhiều khiviệc thi tuyển công chức đang làm không dễ gì đến được với mọi người vì trongmột số cuộc thi chỉ có người đang công tác(hợp đồng) được thi tuyển,còn cácthí sinh tự do thì hầu như không có

Thời kỳ trước khi chưa có thi tuyển ,hầu hết xin vào cơ quan Nhà nước là diệncon em trong ngành và qua các mối quan hệ thân thích Bố mẹ trước đã làmtrong ngành nào thì khi về hưu con sẽ đước thế chỗ vào ngành đókhông cần biếtđến việc đào tạo,học hành ra sao,có phù hợp chuyên môn hay không Cứ tuyểnvào cơ quan trước sau đó cho đi đào tạo để hợp thức hoá Kết quả là đa số côngchức được tuyển như vậy đều làm việc kém hiệu quả nhưng họ vẫn tồn tại mà

Trang 26

gánh nặng đó lại được chia sẻ cho những hợp đồng lao động làm việc có hiệuquả hơn Đã có nhiều nơi,nhiều chỗ,nhiều cơ quan,tổ chức,các nhân viên dạnghợp đồng làm việc tốt hơn,cóhệu quả hơn và họ đang phải ‘‘gánh’’ phần việccủa chính các công chức chính thức chưa làm được.

Đồng thời việc chuyển ngạch lên các cấp cao hơn như từ chuyên viên đếnchuyên viên chính rồi chuyên viên cao cấp hầu như chỉ dành cho công chứcnắm giữ các vị trí quản lý Trong khi đó, đối với những công chức giỏi vềchuyên môn đơn thuần việc chuyển ngạch lên cao hơn vẫn còn rất hạn chế Việcnày dẫn đến tình trạng công chức đua chen nhau vào các vị trí quản lý,khi ghếcông chức thì ít mà công chức lại nhiều dễ dẫn đến tình trạng bon chen

Đây là những thực tế đã đang xảy ra trong và xung quanh việc tuyển dụng nhân

sự của các cơ quan hành chính Nhà nước Những hạn chế này xuất phát từ nhiềunguyên nhân, song cơ bản cho đến nay nền kinh tế nước ta vẫn là kinh tế nôngnghiệp lạc hậu,thu nhập bình quân đầu người thấp Đây là những nguyên nhân

cơ bản đang tạo ra sự hạn chế trong sự phát triển công chức ở nước ta hiệnnay.Bên cạnh đó thực trạng quy hoạch và phát triển công chức ở nước ta trongnhững năm qua còn nhiều vấn đề bất cập Cho đến nay chúng ta chưa có đượcchiến lược tổng thể trong việc xây dựng,phát triển và sử dụng đội ngũ côngchức cho quá trình phát triển đất nước Việc quy hoạch và phát triển đội ngũcông chức giữa các ngành,các vùng,các địa phương trong cả nước cũng cònnhiều chòng chéo và thiếu các mục tiêu cụ thể dẫn đến tình trạng phổ biến hiệnnay là thiếu công chức có độ cao nhưng lại thừa công chức có trình đọ trungbình và thấp Một nguyên nhân nữa mà không thể không nhắc tới đó là không

có sự thống nhất về nội dung và phương pháp trong việc tuyển dụng công chức

ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng đó cho thấy cần phải có những phương hướng đổi mới, quản lýtuyển dụng cho phù hợp trong thời gian tới

III Phương hướng và giải pháp cho việc tuyển dụng công chức ở nước ta hiện nay.

Nhằm từng bước chuẩn hoá đội ngũ công chức ở cơ sở đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế xã hội địa phương trong thời gian tới trước hết phải hoàn thiện hệtiêu chuẩn,chức danh Cụ thể với cán bộ công chức cấp phường,thị trấn nếutham gia gĩư chức vụ và nằm trong quy hoạch của nhiệm kỳ tới phải có trình độtrung cấp chuyên môn và trung cấp lý luận chính trị Do đó trong nhiệm kỳ hiệntại phải đưa họ đi đào tạo học chuyên ngành, đến hết nhiệm kỳ nếu chưa đạt tiêuchuẩn trên thì không đua vào giới thiệu nguồn nhân sự Với các xã đồngbằng ,miền biển,miền núi,vùng đặc biệt khó khăn,nếu tham gia giữ chức vụ lầnđầu công chức phải có trình độ trung cấp chuyên môn,sơ cấp lý luận chính trị Mục tiêu của chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước là xây dựngmột nền hành chính dân chủ,trong sạch,vững mạnh,chuyên nghiệp,hiện đạihoá,hoạt động có hiệu lực hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyềnXHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng,xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất

và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng,phát triển đất nước Phấn

Trang 27

đấu đến năm 2010 đội ngũ cán bộ,công chức có số lượng,cơ cấu hợp lý,chuyênnghiệp và hiện đại Tuyệt đại bộ phận cán bộ,công chức có phẩm chất tốt và đủnăng lực thi hành công vụ,tận tuỵ,phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục

vụ nhân dân Mục tiêu này liên quan trực tiếp đến việc cải cách nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ,công chức Một bộ chỉ số cần được thành lập dùng để đolường chất mức độ đội ngũ công chức chuyên nghiệp,hiện đại theo hướng năngđộng ,công bằng,tăng cường trách nhiệm Tập hợp các chỉ số đó là : Số cơ quan

tổ chức áp dụng đúng quy trình tuyển dụng công chức,thử việc, đánh giá côngviệc,bổ nhiệm đề bạt,luân chuyển cán bộ,công chức ;số lượng công chức chuyênnghiệp được tuyển dụng mới đạt trình độ đai học đúng chuyên ngành ;số lượngcông chức được đào tạo nâng cao kiến thức chuyên ngành…Các chỉ số định tính này phải được thu nhập qua các phương pháp đánh giá, điều tra xã hội học Đểđạt được các mục tiêu trên ta phải thực hiện được những giải pháp cụ thể sau :

- Tổ chức các kỳ thi tuyển dụng hàng năm,xây dựng kế hoạch tuyển dụng từ đầunăm

- Xây dựng kế hoạch ra đề thi,thành lập ngân hàng câu hỏi,cấu trúc đề thi hợplý

- Thực hiện nghiêm túc khâu thi và chấm thi đảm bảo nguyên tắc minhbạch,khách quan,công bằng

- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về đội ngũ công chức vàcông tác quản lý công chức Ban hành quy chế tuyển dụng công chức hànhchính để áp dụng thống nhất trong các kỳ thi tuyển

- Thực hiện cơ cấu công chức trong các cơ quan, đơn vị làm cơ sở cho việctuyển dụng ,quy hoạch, đào tạo,bồi dưỡng ,bổ nhiệm,luân chuyển công chức

- Để ngăn chặn những hành vi sai phạm phải quy định trong các văn bản phápluật những điều được làm, trách nhiệm cá nhân,trách nhiệm liên đới của ngườiđược giao quyền tuyển dụng và đặc biệt là người sử dụng công chức

- Quy định của pháp luật phải bắt nguồn từ thực tiễn khách quan,phản ánh đúng

sự thực và có tính khái quát cao phù hợp với điêù kiện thực tế của tình hìnhtuyển dụng công chức Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu vì chỉ có thể điềuchỉnh được các hoạt động đó mà không tạo ra những sai sót đáng tiếc thì phápluật phải phản ánh được các điều kiện về vấn đề cấp bách trong việc tuyển dụngcông chức như cần sự điều chỉnh để làm hạn chế ý chí chủ quan của người cóquyền tuyển dụng

- Để có được đội ngũ công chức trong sạch,vững mạnh đủ phẩm chất và nănglực…thì việc đổi mới,hoàn thiện pháp lệnh về công chức trong trời gian tới cầnphải dựa trên những quan điểm sau :

+ Phải xuất phát từ mục đích,yêu cầu của nền cải cách hành chính đặt ra đốivới việc hoàn thiện công chức là phải định rõ tiêu chuẩn về trình độ,năng lực,cơchế tuyển dụng nhằm đưa vào nền công vụ người có khả năng hình thành tốtnhiệm vụ,công vụ của nền hành chính

Trang 28

+ Phải kế thừa được những ưu điểm của chế độ công chức truyền thống, đồngthời nghiên cứu tiếp thu,chọn lọc kinh nghiệm và những thành tựu khoa họctrong việc quản lý nhân sự của các nước trên thế giới.

+ Phải tiến hành đồng bộ,toàn diện và phải có bước đi thích hợp đảm bảo từngbước xây dựng,hoàn chỉnh hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về côngchức tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất,nănglực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH đất nước

+ Quy định rõ các điều kiện tuyển dụng và bổ nhiệm công chức bao gồm cácquy định về tuổi,trình độ văn hoá,trình độ chuyên môn,năng lực thực tiễn…Đồng thời quy định rõ chế độ thi tuyển

- Phải đổi mới công tác quy hoạch,cần định rõ cơ cấu độ tuổi cơ cấu quản lýNhà nước ở cơ sở Phải kết hợp tốt ba độ tuổi để đảm bảo tính kế thừa,tính liêntục và phát triển Chỉ tiêu,tiêu chuẩn tuyển chọn phải được công khai, đối tượngtuyển chọn phải bám sát định hướng chung của công tác công chức là phải trẻhoá,chú trọng đến năng lực trình độ,tạo điều kiện thuận lợi cho mọi đối tượng

dự tuyển công chức Cần chú ý cơ cấu giới tính trong tuyển dụng đảm bảo sựcân bằng hợp lý,kết hợp với công tác quy hoạch nâng cao tỷ lệ công chức nữ

- Tuy nhiên trong điều kiện thực tế cần phải có chính sách ưu tiên đối với một

số đối tượng con thương binh,liệt sỹ,người dân tộc thiểu số…Việc ưu tiên phảiđược quy định rõ ràng,hợp lý, đúng đối tượng tránh tình trạng ưu tiên mọt cáchtràn lan,vô nguyên tắc

- Để đảm bảo tính khách quan,công bằng và chất lượng của việc thi tuyển cầnquy định rõ cơ cấu chất lượng,thành phần, chức năng,nhiệm vụ và quy chế làmviệc của các hội đồng thi tuyển công chức ở cả trung ương và địa phương Đồngthời quy định rõ tiêu chuẩn của từng loại ngạch,bậc,chức vụ của công chức Nhànước

- Tinh giản biên chế để lựa chọn được những người có tài,người có năng lực vàolàm việc trong bộ máy hành chính trong thời đại chúng ta đang hướng tới mộtnền hành chính tri thức,văn minh và hiện đại là việc làm cần thiết và cấp báchnhưng phải có những phương pháp mang tính đột phá,mà phải đột phá ngay từkhâu tuyển dụng

Trên đây chỉ là mốt số giải pháp cơ bản mang tính định hướng, để giải quyết tốtvấn đề tuyển dụng công chức cần phải có sự phối hợp của các cấp,các ngành từtrung ương đến địa phương Trong thời gian tới mong rằng Đảng,chính phủ sẽ

có những đổi mới về cơ chế,chính sách để ngày càng thu hút nhiều nhân tài hơnnữa đóng góp và xây dựng hệ thống hành chính của ta ngày càng tinh gọn,pháttriển và tiến bộ

PHẦN KẾT LUẬN

Trong công cuộc đổi mới đất nước,quá trình cải cách nền hành chính Nhà nước

đã đặt ra những yêu cầu lớn về con người Con người là yếu tố trung tâm củacác hoạt động xã hội Do đó,trong chiến lược cải cách,chiến lược về quản lý vàphát triển nguồn nhân lực là vấn đề được quan tâm hàng đầu Đất nước ta đangđứng trước giai đoạn phát triển mới với nhiều vận hội và thách thức Quá trình

Trang 29

chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế địnhhướng XHCN đòi hỏi phải xây dựng chế độ công vụ,công chức phù hợp khắcphục những nhược điểm và hạn chế vẫn còn tồn tại của cơ chế cũ,tiếp tục xâydựng một nền hành chính phục vụ nhân dân Công chức là một vấn đề quantrọng trong hoạt động của mọi Nhà nước, đặc biệt là trong điều kiện quốc tế hoálực lượng sản xuất Khi mà các chính sách xã hội đã tương đối phù hợp với thựctiễn thì điều kiện quyết định thành công hay thất bại là do công tác công chức.Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới,việc giải quyết tốt công tác cán bộ công chứcvẫn là khâu then chốt,quyết định sự phát triển bền vững của xã hội.Thực trạngtuyển dụng công chức hiện nay cho thấy còn nhiều điều bất cập gây ảnh hưởngđến hiệu quả hoạt động của các cơ quan,tổ chức, đơn vị trong quá trình phục vụnhân dân Việc thiếu tinh thần trách nhiệm,yếu kém về năng lực,chuyên môn,kỹnăng hành chính…của đội ngũ công chức làm cho bộ máy hành chính Nhà nướchoạt động trì trệ,kém hiệu quả,tình trạng quan liêu,tham nhũng ,sách nhiễu nhândân vẫn tồn tại trong một bộ phận công chức làm ảnh hưởng đến lòng tin củanhân dân đối với Đảng và Nhà nước.Vì vậy trong điều kiện cải cách hành chínhhiện nay,hướng tới xây dựng nền dân chủ,trong sạch và hiện đại hoá thì việc xâydựng đội ngũ công chức càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết,mà đòi hỏi chúng taphải cải cách chế độ công vụ,công chức mà trước hết phải làm tốt ngay từ khâutuyển dụng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

Tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức, hình thức, phương thức hoạt động củacác cơ quan nhà nước ở trung ương, địa phương nhằm hướng tới một bộ máynhà nước gọn về tổ chức, hiệu quả trong hoạt động, đáp ứng ngày càng tích cựchơn các yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, bảođảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân phù hợp với các chuẩn mực củachế độ pháp quyền

Trên những định hướng này, Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi), Luật tổchức Tòa án nhân dân (sửa đổi), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi)

đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8 vừa qua Các Luật tổ chức Chínhphủ, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, đạibiểu Hội đồng nhân dân (trong đó quy định về Hội đồng bầu cử quốc gia theohướng quy định của Hiến pháp 2013), Luật kiểm toán nhà nước, Luật Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam đã được Quốc hội khóa XIII thông qua

Trang 30

- Để thể chế hóa các quy định của Hiến pháp 2013 về quyền con người,quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cần tập trung ưu tiên trên các phươngdiện sau:

+ Về cơ bản, việc quy định các quyền con người, quyền công dân phảiđược thực hiện ở tầm các đạo luật Những quyền con người, quyền công dânhiện tại đang được quy định tại các văn bản dưới luật, kể cả trong pháp lệnh cầnđược nghiên cứu để chuyển sang quy định tại các đạo luật Việc luật hóa cácquy định về quyền con người, quyền công dân vừa tạo cho các quyền này giá trịpháp lý cao, ổn định, khắc phục được sự tùy tiện hay các nguy cơ hạn chế cácquyền con người trong quá trình thực hiện Tuy nhiên để luật hóa được tất cảcác quyền con người, quyền, nghĩa vụ của công dân được Hiến pháp quy địnhđòi hỏi phải có lộ trình phù hợp Do vậy đối với việc thực hiện một số quyền,trước mắt vẫn cần duy trì cách tiếp cận “theo quy định của pháp luật” Nhưngcách tiếp cận này chỉ áp dụng cho việc quy định trình tự, thủ tục thực hiện một

số ít quyền và không thể áp dụng để quy định nội dung các quyền này

+ Việc hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi các quy định về quyền con người,quyền công dân phải đặc biệt tuân thủ quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp

2013 Theo đó, “quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theoquy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốcgia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”

Như vậy chỉ có các đạo luật mới có thể quy định việc hạn chế các quyềncon người, và việc hạn chế này luôn bị giới hạn trong những trường hợp thật sựcần thiết như đã xác định tại khoản 2 Điều 14 nêu trên Điều khoản hiến địnhnày đòi hỏi phải rà soát để kịp thời loại bỏ những quy định trong các văn bảndưới luật đang hạn chế quyền con người, quyền công dân ngoài các trường hợpthật sự cần thiết như Hiến pháp 2013 quy định

+ Trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ

và môi trường: 38 đạo luật quan trọng đã được đưa vào chương trình sửa đổi,

bổ sung, hoàn thiện theo Kế hoạch triển khai thi hành Hiến pháp được ban hànhkèm theo Nghị quyết 718/NQ-UBTVQH13 ngày 02/01/2014 Các đạo luật điềuchỉnh các quan hệ kinh tế cần bám sát các quy định của Hiến pháp về nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để tập trung sửa đổi, bổ sung để hoànthiện cơ sở pháp lý đồng bộ cho nền kinh tế thị trường, tạo các đột phá trongcải cách thể chế kinh tế theo đúng các quy luật của thị trường Theo đó việc sửađổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực kinh tế tập trungvào việc loại bỏ các cơ chế, các thủ tục hành chính đang gò bó sự phát triểnkinh tế, gây khó khăn, ách tắc trong sự vận hành và phát triển các quan hệ thịtrường

Quán triệt tư tưởng này của Hiến pháp 2013, việc sửa đổi, hoàn thiệnpháp luật trong lĩnh vực kinh tế tập trung vào các mục tiêu:

- Tạo môi trường pháp lý ổn định và an toàn cho việc xây dựng, vận hành

và phát triển các loại thị trường, đặc biệt là các thị trường hàng hóa, thị trườngvốn, thị trường lao động và thị trường khoa học công nghệ, huy động được mọi

Trang 31

nguồn lực xã hội tham gia phát triển các loại hình thị trường.

- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên đất đai, cácnguồn vốn nhà nước, vốn vay, minh bạch hóa các mối quan hệ sử dụng đất, thuhồi đất, phù hợp với chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, quyền và lợi íchhợp pháp của người được giao quyền sử dụng đất, thuê đất theo đúng quan hệthị trường

- Đơn giản hóa các quy trình, thủ tục thành lập, giải thể, phá sản doanhnghiệp, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho các hoạt động sản xuất, kinhdoanh và tiêu dùng

- Đổi mới quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, xác định rõ quyền hạn vàtrách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xử lý các vấn đề liên quan đếndoanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư của Nhà nước trong các loại hình doanhnghiệp, đảm bảo quyền bình đẳng, quyền cạnh tranh của tất cả các doanhnghiệp theo đúng quy định của pháp luật, ngăn ngừa có hiệu quả việc can thiệptrái pháp luật của các cơ quan, công chức nhà nước vào hoạt động sản xuất,kinh doanh của tổ chức kinh tế và cá nhân công dân; nâng cao năng lực, vai trò

và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ công,hướng dẫn, giúp đỡ, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trong việc tiếp cận cácnguồn vốn, các thị trường và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp khi

bị vi phạm

Sự gắn kết các quy định về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục đào tạo,khoa học công nghệ và môi trường tại Chương III của Hiến pháp 2013 đòi hỏiphải sửa đổi, bổ sung đồng bộ các quy định pháp luật trong các lĩnh vực quantrọng này Do vậy, các văn bản pháp luật trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội,giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và môi trường đều phải được nghiên cứu,đánh giá lại để có những sửa đổi, bổ sung thích hợp, tạo lập môi trường pháp lýthuận lợi cho việc tiếp tục các giải pháp cải cách kinh tế - xã hội trong giai đoạnphát triển mới của đất nước

Trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và đối ngoại, việcsửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp luật để điều chỉnh các quan hệquan trọng này theo đúng tinh thần của Hiến pháp 2013 cũng đang được triểnkhai đồng bộ với các lĩnh vực điều chỉnh pháp luật khác Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật sĩ quan quân đội và nhân dân, Luật công an nhân dân (sửađổi) được Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 8 vừa qua đã hoàn thiệnmột bước quan trọng các cơ sở pháp lý để xây dựng lực lượng quân đội nhândân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại

Với Hiến pháp mới – Hiến pháp 2013, hệ thống pháp luật Việt Nam đangtừng bước được đổi mới, hoàn thiện, đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu,nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa và chủ động hợp tác quốc tế Tuy nhiên, việc hoàn thiện hệ thống pháp luậttheo yêu cầu mới của Hiến pháp 2013 là một công việc hệ trọng, phức tạp cầnđược triển khai một cách khoa học, có lộ trình thích hợp, huy động được trí tuệ,kinh nghiệm của cả xã hội cùng tham gia đóng góp cho việc hoàn thiện từng dự

Trang 32

thảo văn bản trước khi Quốc hội, các cơ quan có thẩm quyền xem xét, thông qua.Thực tiễn hơn hai năm thi hành Hiến pháp 2013 đã đem lại cho chúng ta nhữngkinh nghiệm ban đầu quý giá để thực hiện thành công nhiệm vụ này

Quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của công dân trong việc thựchiện quyền tự do dân chủ; đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan,

tổ chức trong việc duy trì, bảo đảm kỷ cương, trật tự công cộng, kịp thời pháthiện và xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ của côngdân để xâm hại an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội

Tiếp tục nghiên cứu luật hoá các quyền hiến định của công dân theohướng: nghiên cứu xây dựng các luật để thể chế hoá các quy định của Hiếnpháp về quyền tự do lập hội, quyền tự do hội họp, quyền biểu tình, quyền đượctrưng cầu dân ý theo lộ trình phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước;bảo đảm để vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện các quyền củamình, vừa tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong từng lĩnh vựcđời sống xã hội

Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế, trọng tâm là hoàn thiện

thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Hoàn thiện thể chế về

sở hữu toàn dân theo hướng tách bạch vai trò của Nhà nước với tư cách là bộmáy công quyền quản lý toàn bộ nền kinh tế - xã hội với vai trò đại diện chủ sởhữu tài sản thuộc sở hữu toàn dân; tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn củaNhà nước và chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước Tạo

cơ sở pháp lý để công dân tích cực huy động mọi tiềm năng, nguồn lực và pháttriển sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân, giađình và góp phần làm giàu cho đất nước Tạo lập môi trường pháp lý cho cạnhtranh lành mạnh, bình đẳng, phù họp với nguyên tắc của WTO và các cam kếtquốc tế khác Xoá bỏ đặc quyền và độc quyền kinh doanh, những sự phân biệtđối xử theo thành phần kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện phápluật về cạnh tranh

Trang 33

CHUYÊN ĐỀ 3 XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

(Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch chuyên viên chính

khối Đảng, Đoàn thể năm 2019)

I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHÀ NƯỚCPHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1 Khái quát sự hình thành và nội dung tư tưởng về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại

1.1 Sự hình thành và phát triển của tư tưởng nhà nước pháp quyền

Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với tư tưởng phát triểndân chủ đã hình thành ngay từ thời cổ đại, thể hiện trong quan điểm của các nhà

tư tưởng của thời cổ đại như Xôcrat (469-399 Tr.CN), Arixtốt (384-322 Tr.CN),Xixêrôn (l06-43 Tr.CN) Những tư tưởng này đã được các nhà tư tưởng chính trị

và pháp lý tư bản sau này như John Locke (1632 1704), Montesquieu (1698 1755), J.J.Rút-xô (1712 - 1778), I.Kant (1724 - 1804), Hêghen (1770 - 1831)…phát triển như một thế giới quan pháp lý mới

-Cùng với các nhà lý luận nổi tiếng nói trên, nhiều nhà luật học, nhà tưtưởng vĩ đại khác cũng đã góp phần phát triển các tư tưởng về Nhà nước phápquyền như Tômát Jepphecxơn (1743 - 1826 - tác giả của Tuyên ngôn độc lập

Mỹ năm 1776), Tômát Pên (1737 - 1809), Jôn A đam (1735 - 1826)…

1.2 Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền trong ý nghĩa

là biểu hiện tập trung của một chế độ dân chủ

Những đặc trưng này được xem là các giá trị phổ biến của nhà nước phápquyền nói chung đã được đề cập trong nhiều quan điểm, học thuyết của các nhà

tư tưởng, các nhà lý luận chính trị - pháp lý trong lịch sử phát triển các tư tưởngchính trị - pháp lý nhân loại

Các giá trị phổ biến này được trình bày dưới các dạng thức khác nhau bởicác nhà lý luận, phụ thuộc vào lập trường chính trị - pháp lý và quan điểm họcthuật của từng người Các trình bày có thể khác nhau, song về bản chất có thểquy về các giá trị có tính tổng quát sau:

Trang 34

a) Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ Dân

chủ vừa là bản chất của nhà nước pháp quyền vừa là điều kiện, tiền đề của chế

độ nhà nước

Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dânchủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyềndân chủ của mình thông qua dân chủ trực tiếp; dân chủ đại diện

b) Nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật

- Hiến pháp và pháp luật luôn giữ vai trò điều chỉnh cơ bản đối với toàn

bộ hoạt động Nhà nước và hoạt động xã hội, quyết định tính hợp hiến và hợppháp của mọi tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

- Tuy nhiên không phải mọi chế độ lập hiến, mọi hệ thống pháp luật đều

có thể đưa lại khả năng xây dựng nhà nước pháp quyền, mà chỉ có Hiến pháp và

hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở cho chế độ phápquyền trong nhà nước và xã hội

c) Nhà nước pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội

- Quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhànước Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảmbảo quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mìnhtheo đúng các quy định của luật pháp

- Mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước được xác định chặt chẽ vềphương diện luật pháp và mang tính bình đẳng Mô hình quan hệ giữa Nhà nước

và cá nhân được xác định theo nguyên tắc: Đối với cơ quan nhà nước chỉ được

làm những gì luật cho phép; đối với công dân được làm tất cả trừ những điều luật cấm.

d) Quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền được tổ chức và thực hiện theo các nguyên tắc dân chủ: phân công quyền lực và kiểm soát quyền lực.

Tính chất và cách thức phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng,tuỳ thuộc vào chính thể nhà nước ở các nước khác nhau, nhưng đều có điểmchung là quyền lực nhà nước không thể tập trung vào một người, vào một cơquan, mà phải được phân công (phân chia) giữa các cơ quan nhà nước trongviệc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Đồng thời,việc tổ chức và thực thi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các cơ chếkiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy nhà nước và bên ngoài bộmáy nhà nước

đ) Nhà nước pháp quyền gắn liền với một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật phù hợp.

- Nền tảng của nhà nước pháp quyền là Hiến pháp và một hệ thống phápluật dân chủ và công bằng, do vậy, một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luậtluôn là một yêu cầu, một điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, phápluật luôn được tôn trọng, đề cao và tuân thủ nghiêm minh

Trang 35

- Hình thức và phương thức bảo vệ Hiến pháp và pháp luật ở các quốc gia

có thể đa dạng và khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu là bảo đảm địa vịtối cao, bất khả xâm phạm của Hiến pháp, loại bỏ hành vi trái với tinh thần vàquy định của Hiến pháp, không phụ thuộc vào chủ thể của các hành vi này

- Đồng thời với bảo vệ Hiến pháp, nhà nước pháp quyền luôn đòi hỏi phảixây dựng và thực thi một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, minh bạch và trongsạch để duy trì và bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước

- Trong mối quan hệ với xã hội, Nhà nước thông qua luật pháp để quản lý

xã hội, tôn trọng đề cao vị trí, vai trò và quyền tự chủ (tự quản) của các cấu trúc

xã hội (các tổ chức xã hội, các cộng đồng xã hội)

- Mối quan hệ giữa Nhà nước, kinh tế, xã hội là mối quan hệ tương tác,quy định và chi phối lẫn nhau Nhà nước không đứng trên kinh tế và xã hội.Nhà nước pháp quyền gắn liền với kinh tế và xã hội, phục vụ kinh tế và xã hộitrong phạm vi Hiến pháp và pháp luật

1.3 Tính phổ biến của nhà nước pháp quyền

Về phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền với tính cách là những giátrị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ Do vậy nhà nướcpháp quyền không phải là một kiểu nhà nước Trong ý nghĩa này nhà nước phápquyền được nhìn nhận như một cách thức tổ chức nền dân chủ, cách thức tổchức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ Điều này có ý nghĩa là nhà nướcpháp quyền gắn liền với một nền dân chủ, tuy không phải là một kiểu nhà nướcđược xác định theo lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, nhưng không thể xuấthiện trong một xã hội phi dân chủ Điều này cắt nghĩa vì sao ý tưởng về một chế

độ pháp quyền đã xuất hiện từ rất xa xưa, thậm chí từ thời cổ đại bởi các nhà tưtưởng phương Tây, hay tư tưởng pháp trị tại Trung Hoa cổ đại, nhưng mãi đếnkhi nhà nước tư sản ra đời, với sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản, nhà nướcpháp quyền mới từ nhà nước ý tưởng dần trở nên một nhà nước hiện thực

Sự phủ nhận quan điểm nhà nước pháp quyền như một kiểu nhà nước có

ý nghĩa nhận thức luận quan trọng trong việc nhìn nhận đúng bản chất của nhànước pháp quyền Ý nghĩa nhận thức luận này bao hàm các khía cạnh sau:

- Chỉ từ khi xuất hiện dân chủ tư sản, mới có cơ hội và điều kiện để xuấthiện nhà nước pháp quyền Do vậy trên thực tế tồn tại khái niệm nhà nước phápquyền tư sản và về thực chất nhà nước pháp quyền đang được tuyên bố xâydựng ở hầu hết các quốc gia tư bản phát triển và đang phát triển

Trang 36

- Nhà nước pháp quyền không những có thể xây dựng tại các quốc gia tưbản mà vẫn có thể xây dựng tại các quốc gia phát triển theo định hướng XHCN.Nhà nước pháp quyền với tính chất là một cách thức tổ chức và vận hành củamột chế độ nhà nước và xã hội có thể xây dựng trong điều kiện chế độ xã hộiXHCN Như vậy trong nhận thức lý luận và trong thực tiễn tồn tại nhà nướcpháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN.

1.4 Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền ở mỗi quốc gia

Nhà nước pháp quyền ngoài các giá trị phổ biến còn bao hàm các giá trịđặc thù của mỗi một quốc gia, dân tộc

Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi hàng loạt yếu

tố Các yếu tố này về thực chất là rất đa dạng, phong phú và phức tạp, được xácđịnh bởi các điều kiện về lịch sử, truyền thống - văn hoá, tâm lý xã hội của mỗimột dân tộc, các chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá và môi trường địa lý.Các yếu tố này không chỉ tạo ra các đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi một dân tộctrong quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển của mình mà còn quyết địnhmức độ tiếp thu và dung nạp các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền

- Việc thừa nhận tính đặc thù của nhà nước pháp quyền có ý nghĩa nhậnthức luận quan trọng Với ý nghĩa này nhà nước pháp quyền là một phạm trùvừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù Nhà nước pháp quyền vừa làmột giá trị chung của nhân loại, vừa là một giá trị riêng của mỗi một dân tộc,quốc gia

- Không thể có một nhà nước pháp quyền chung chung như một mô hìnhchung thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc Mỗi một quốc gia, dân tộc, tuỳthuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển

mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp

- Thực tiễn xây dựng và vận hành của nhà nước pháp quyền tại các nướccho thấy, mỗi một nước đều có cách thức xây dựng, tổ chức nhà nước pháp quyềntheo cách riêng của mình Các khảo sát kinh nghiệm xây dựng nhà nước phápquyền tại các nước Cộng hoà Liên bang Đức, Cộng hoà Pháp, Vương quốc Anh,Cộng hoà Ý đã cho thấy ở các nước này, mô hình tổ chức nhà nước pháp quyềnđược tổ chức vừa thống nhất vừa đa dạng, phản ánh các giá trị phổ biến của nhànước pháp quyền, đồng thời các giá trị đặc thù của từng quốc gia Thực tiễn nàycũng đã được xác nhận tại Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ và nhiều nước khác

- Thừa nhận tính đa dạng của mô hình nhà nước pháp quyền, đòi hỏi việcxây dựng nhà nước pháp quyền tại mỗi một quốc gia phải đồng thời quán triệtcác phương diện:

+ Phải xuất phát từ đòi hỏi, yêu cầu và trình độ phát triển kinh tế - vănhoá, chính trị và truyền thống dân chủ của dân tộc mình mà lựa chọn cách thứcxây dựng và vận hành mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp Nhà nước phápquyền phải mang bản chất của chế độ chính trị, thể hiện được các đặc sắc củaquốc gia, dân tộc

Trang 37

+ Phải quán triệt các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền, tiếp thucác giá trị phổ biến này trong sự tương hợp với các đặc điểm lịch sử, văn hoá,chính trị của quốc gia Sự quán triệt các giá trị phổ biến của nhà nước phápquyền trong ý nghĩa là các giá trị chung của nhân loại mới có thể đảm bảo đượctính pháp quyền của nhà nước theo các chuẩn mực đã được thừa nhận, khắcphục tính dân tộc cực đoan hay các dị biệt làm cho các giá trị dân chủ khôngđược phát huy, tạo nguy cơ rơi vào tình trạng biệt lập trong một thế giới hiện đạingày nay.

+ Sự thống nhất hữu cơ giữa tính phổ biến và tính đặc thù của nhà nướcpháp quyền là cơ sở lý luận cần quán triệt trong cuộc đấu tranh lý luận chống lạimọi sự áp đặt từ bên ngoài đối với mô hình nhà nước pháp quyền hay áp dụngmột cách máy móc, giáo điều, dập khuôn mô hình nhà nước pháp quyền ở mộtnước này vào một nước khác Điều này có nghĩa là không thể lấy các tiêu chuẩncủa nhà nước pháp quyền tư sản để áp đặt cho các việc xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa

Mặt khác khi quán triệt các đặc điểm, đặc thù của mỗi nước cần phải đặtcác điều kiện đặc thù ấy trong sự tương quan với các giá trị phổ biến và phảibiến các giá trị phổ biến ấy thành các giá trị nội tại, chuyển hoá chúng thành cácgiá trị quốc gia

2 Quá trình nhận thức và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề Nhà nước và pháp luật giữmột vị trí đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng,củng cố một nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân Các tư tưởng Hồ ChủTịch về Nhà nước thật sự to lớn, sâu sắc không chỉ được thể hiện trong các bàiviết, các bài phát biểu, trong các văn kiện quan trọng do Người trực tiếp chỉ đạoxây dựng và ban hành mà cả trong hành động thực tiễn của Người trên cương vị

là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền có thể kháiquát trên các quan điểm sau:

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân:

Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị caonhất là dân vì dân là chủ”1; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làchủ”2 Với Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lựcnhà nước Toàn bộ quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân

uỷ quyền cho bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phụng sự lợi ích của nhân dân

Bộ máy nhà nước được thiết lập là bộ máy thừa hành ý chí, nguyện vọng củanhân dân, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước không thể là các ông quan cáchmạng mà là công bộc của nhân dân “Chúng ta hiểu rằng, các cơ quan của Chínhphủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, NxbCTQG, H,2000, tr.515.

2 Sđd, tập 7, tr.499.

Trang 38

việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dướiquyền thống trị của Pháp, Nhật”3.

Là nhà nước của dân, do chính nhân dân lập qua thông qua chế độ bầu cửdân chủ Bầu cử dân chủ là phương thức thành lập bộ máy nhà nước đã đượcxác lập trong nền chính trị hiện đại, đảm bảo tính chính đáng của chính quyềnkhi tiếp nhận sự uỷ quyền quyền lực từ nhân dân Chính vì vậy, để thật sự là nhànước của dân, ngay từ những ngày đầu giành được nền độc lập, Hồ Chí Minh đãđặc biệt quan tâm đến tổ chức cuộc tổng tuyển cử để nhân dân trực tiếp bầu racác đại biểu xứng đáng thay mặt mình gánh vác việc nước

Chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập vào 3/9/1945 Hồ Chủ Tịch

đã họp và đề ra những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước, trong đó Người đềnghị “Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổthông đầu phiếu”4

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước của dân, không chỉ do dânlập ra thông qua bầu cử dân chủ mà còn là nhà nước chịu sự kiểm tra, giám sát,định đoạt của nhân dân Người khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, Chínhphủ là đầy tớ của nhân dân Nhân dân có quyền đôn đốc phê bình Chính phủ.Chính phủ thì việc to nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ nhân dân” “Nhân dân cóquyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đạibiểu ấy tỏ ra không xứng đáng với tín nhiệm của nhân dân Nguyên tắc ấy bảođảm quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại biểu của mình”5 Người nhắcnhở: “Nước ta là nước dân chủ; địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ Trong bộmáy cách mạng từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều là phâncông làm đầy tớ cho dân”6 Người còn viết: “Chính phủ cộng hoà dân chủ là gì?

là đầy tớ của dân từ Chủ tịch toàn quốc đến Đảng – Dân là chủ thì Chính phủ làđầy tớ… Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”7

Đối với Hồ Chí Minh, một nhà nước của dân thật sự phải là một nhà nước

do dân và vì dân Người viết: “Kinh nghiệm trong nước và các nước chứng tỏcho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khăn mấy cũnglàm được Không có, thì việc gì làm cũng không xong Dân chúng biết giảiquyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ mà những người tàigiỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”; “Không có lực lượng nhân dân,thì việc nhỏ mấy, dễ mấy làm cũng không xong…”8

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là nguồn sức mạnh của Nhànước, là nguồn trí tuệ của Nhà nước, là nguồn sáng kiến vô tận, nhà nước cóchức năng khơi nguồn, phát hiện, tiếp thu và hoàn thiện các sáng kiến của nhândân để xây dựng chính sách và luật pháp

Trang 39

Một nhà nước của dân, do dân, vì dân theo Hồ Chí Minh là một nhà nướcnếu biết lắng nghe và học hỏi nhân dân, biết tôn trọng bồi dưỡng và nâng caosức dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân thì sẽ thấy nhân dânkhông chỉ nói lên những mong muốn của mình mà còn chỉ ra được nhà nướccần phải hành động như thế nào để giải quyết các vấn đề quốc kế dân sinh.Chính vì lẽ đó Nhà nước được thành lập không vì mục đích làm thay cho dân,

mà thực hiện vai trò người cầm lái, người tổ chức để nhân dân bằng trí tuệ, sứcmạnh của mình giải quyết các vấn đề của chính mình Người viết: “Nếu không

có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng Nếu không có Chính phủ thìnhân dân không ai dẫn đường Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kếtthành một khối”9 Nhà nước của dân, do dân không có mục đích tự thân, ýnghĩa, mục tiêu và sứ mệnh của Nhà nước là phụng sự hạnh phúc của nhân dân,

vì nhân dân Vì lẽ đó Hồ Chủ Tịch cho rằng “… Ngày nay, chúng ta đã xâydựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Nhưng nếu nước nhà độc lập màdân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì Chính phủ ta đã hứa với dân sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnhphúc ”10 Người nhắc nhở: “Việc gì lợi cho dân thì phải hết sức làm Việc gì cóhại đến dân phải hết sức tránh ”11

Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước vì dân, tất cả vì hạnh phúc củanhân dân là tư tưởng nhất quán trong suốt cuộc đời của Người Cả cuộc đờiNgười là một tấm gương trong sáng thể hiện sinh động tư tưởng, đạo đức củamột con người suốt đời vì dân, vì nước Khi đảm nhận chức vụ Chủ tịch nước,

Hồ Chủ Tịch đã trả lời các nhà báo “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn côngdanh phú quý chút nào Bây giờ phải gánh vác chức chủ tịch là vì đồng bào uỷthác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trướcmặt trận”12

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình tổ chức bộ máy nhà nước:

Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủcộng hoà ra đời, mở đầu một chính thể nhà nước mới ở Việt Nam: chính thể dânchủ cộng hoà Sự ra đời của chính thể dân chủ cộng hoà thể hiện một tư duysáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn mô hình tổ chức nhànước, vừa tiếp thu được các giá trị phổ biến của nền dân chủ nhân loại, vừa phùhợp với các đặc điểm của đất nước

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình bộ máy nhà nước của dân, do dân, vìdân được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện pháp lý quan trọng của đất nước

do chính Người chỉ đạo xây dựng và ban hành Có thể thấy rằng hai bản Hiếnpháp 1946, 1959 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo và 613sắc lệnh kể từ 1945 đến 1969, trong đó có 243 sắc lệnh liên quan đến bộ máynhà nước và luật pháp do Người ký ban hành đã hình thành một thể chế bộ máy

9 Sđd, tập 4, tr.56.

10 Sđd, tập 4, tr.56.

11 Sđd, tập 4, tr.57.

12 Sđd, tập 1, tr.381.

Trang 40

nhà nước vừa hiện đại vừa dân tộc kết tinh sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh vềmột chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.

Tuy không tiếp nhận tư tưởng phân quyền vốn là nền tảng lý luận của môhình nhà nước dân chủ phương Tây, nhưng Hồ Chí Minh đã đưa vào mô hình tổchức bộ máy nhà nước những yếu tố hợp lý và khoa học của nguyên tắc phânquyền Theo đó, bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1946 được thiết kế trên cơ sởphân chia quyền lực uyển chuyển giữa các cơ quan nhà nước trong việc thựchiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Trong mô hình tổ chức

bộ máy nhà nước này, không có một cơ quan nào là độc quyền quyền lực, cóquyền đứng trên cơ quan khác Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền caonhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (Điều 22 - Hiến pháp 1946), nhưngkhông thể là cơ quan toàn quyền; Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà là cơquan hành chính cao nhất của toàn quốc (Điều 43 - Hiến pháp 1946) nhưngkhông phải là cơ quan chấp hành của Quốc hội như các quy định của Hiến pháp

1992 Cơ quan tư pháp là hệ thống toà án được tổ chức theo cấp xét xử Với quyđịnh của Hiến pháp 1946 bộ máy nhà nước về cơ bản được cấu tạo theo baquyền: quyền lập pháp (Nghị viện nhân dân); quyền hành pháp (Chủ tịch nước

và Chính phủ); quyền tư pháp (Hệ thống toà án được tổ chức theo cấp xét xử)

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật:

Tiếp xúc với nền văn minh Âu - Mỹ, nhất là kinh nghiệm tổ chức, hoạtđộng của nhà nước trong quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, Hồ Chí Minhcho rằng, quản lý xã hội bằng pháp luật là dân chủ, tiến bộ và có tính chất phổbiến đối với các xã hội hiện đại

Nhận thức được tầm quan trọng của luật pháp, từ rất sớm, Hồ Chí Minh

đã đề cập đến vai trò của chúng trong điều hành và quản lý xã hội Năm 1919,tám yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Véc- xây đã có 4 điểm liênquan đến vấn đề pháp quyền, còn lại liên quan đến công lý và quyền con người

Bản Yêu sách của nhân dân An Nam được Hồ Chí Minh chuyển thành

“Việt Nam yêu cầu ca”, trong đó yêu cầu thứ bảy là: “Bảy xin hiến pháp banhành, Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” Đây là tư tưởng rất đặc sắc của

Hồ Chí Minh, phản ánh nội dung cốt lõi của Nhà nước dân chủ mới - Nhà nướcquản lý xã hội bằng pháp luật Đồng thời, đây cũng là nguyên tắc xuyên suốttrong hoạt động quản lý nhà nước của Người

Sau Cách mạng Tháng Tám, năm 1945, Hồ Chí Minh đề ra một trong sáunhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là: Chúng ta phải

có một Hiến pháp dân chủ Ngày 20/9/1945, Chủ tịch lâm thời nước Việt Namdân chủ cộng hoà ký Sắc lệnh thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 thànhviên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm trưởng ban Bản dự thảo Hiến pháp hoànthành khẩn trương và nghiêm túc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chủ tịch Tại

kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I vào tháng 10/1946, Quốc hội đã thảo luận dânchủ và thông qua bản dự thảo Hiến pháp này Đó là bản hiến pháp đầu tiên củanước Việt Nam: Hiến pháp năm 1946 Trong phiên họp Quốc hội thông qua hiến

Ngày đăng: 24/10/2021, 08:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w