Đó là một yếu tố không thể thiếu được của cốt truyện, phản ánh mhữmg ước mơ, nguyện vọng về một xã hội lí tưởng của nhân dân và kết thúc truyện thường có hậu.. Một cô Tấm thảo hiền trở t
Trang 1BỘ ĐỀ HSG MÔN VĂN THEO TÁC PHẨM
GV: Thu Trang
BỘ ĐỀ LỚP 10
TRUYỆN CỔ TÍCH
Đề 1: Có ý kiến cho rằng: “Truyện cổ tích thần kì là những hư cấu kì ảo về một hiện
thực chỉ có trong mơ ước” Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Chứng minh qua một số truyện cổ tích đã được học
BÀI LÀM
Con người luôn hướng đến những điều tốt đẹp về một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc hơn, một cuộc sống bình đẳng, nơi đó cái thiện sẽ lên ngôi chiến thắng cái ác Những ước mơ ngàn đời ấy được thể hiện rõ nét qua những câu chuyện cổ tích bình
dị, mang cả điệu hồn dân tộc, ru ta lớn khôn từ thời tấm bé Khi thực tại quá tối tăm thì những người dân lao động chỉ biết tìm thấy chút ánh sáng le lói cháy lên qua những ngọn nến ước mơ nơi cuối đường hầm Chính vì thế mà đã có nhận định cho rằng: “Cổ tích thần kì là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước”
Truyện cổ tích thần kì là loại tiêu biểu nhất của truyện cổ tích Những truyện thuộc tiểu loại này thường ra đời từ rất sơm và những đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích đều có thể tìm thấy ở kiểu truyện này Đặc trưng nổi bật của truyện cổ tích là sử dụng yếu tố kì ảo một cách đậm đặc Đó là một yếu tố không thể thiếu được của cốt truyện, phản ánh mhữmg ước mơ, nguyện vọng về một xã hội lí tưởng của nhân dân
và kết thúc truyện thường có hậu
Truyện cổ tích tập trung phản ánh số phận của những con người nhỏ bé, khốn khổ, tủi nhục trong xã hội đầy áp bức bất công… Mỗi nhân vật có một số phận khác nhau mhưng đều có chung những phẩm chất tốt đẹp: hiền lành, tốt bụng, tài năng Đó
là anh Khoai nghèo khó, bần hàn nhưng cần cù, chất phác; là chàng Sọ Dừa đội lốt xấu xí nhưng chăm chỉ, hiền lành; là chàng Thạch Sanh có số phận bất hạnh nhưng tài năng, thương người… Họ đại diện cho tầng lớp nhân dân thấp cổ bé họng, sống trong lầm than, khổ cực nhưng vẫn giữ tâm hồn trong sáng, lương thiện, đức tính chăm chỉ, cần cù vốn có
Truyện cổ tích thần kì xây dựng thành công một thế giới trong mơ ước Thông qua những câu chuyện ấy một ánh sáng lí tưởng của nhân dân được nêu lên về một xã
Trang 2hội công bằng, dân chủ Trong đó, người lương thiện, tốt bụng, tài năng sẽ được hưởng hạnh phúc xứng đáng với những phẫm chất tốt đẹp của họ Một cô Tấm thảo hiền trở thành hoàng hậu; một chàng Thạch Sanh trở thành phò mã… Tất cả đều là những ước mơ, những giấc mơ giản dị mà đẹp đẽ thể hiện cho khát vọng của con người trong cuộc sống Họ mong muốn những người ở hiền sẽ được gặp lành, còn những kẻ độc ác, xấu xa sẽ bị trừng trị thích đáng Mơ ước và con người sống trong
mơ ước ấy không ngừng đấu tranh để đạt được mơ ước, để biến mơ ước ấy thành hiện thực Họ mơ ước trong hiện thực và mơ ước về hiện thực, không phải những điều tốt đẹp ở cõi tiên hay một nơi nào khác mà ngay chính giữa cuộc đời họ Nó vẫn là thế giới ở trần gian, tồn tại, biến động với tất cả sự phong phú, đa dạng, phức tạp của nó Chỉ có điều, thế giới ấy được hoàn thiện hóa, lí tưởng hóa lên mà thôi
Trong xã hội loài người, xã hội mà con người đã, đang và sẽ sống luôn luôn tồn tại biết bao nhiêu sự phức tạp, đa dạng thẫm chí cả những mâu thuẫn hết sức gay gắt nóng bỏng Bên cạnh những điều tốt đẹp, tươi sáng vẫn còn không ít những cái xấu
xa, đen tối nhởn nhơ giữa cuộc đời, đặc biệt trong xã hội phong kiến- hoàn cảnh ra đời chủ yếu của truyện cổ tích Mà con người ngay từ khi xuất hiện đã không ngừng vươn tới chân, thiện, mĩ Do đó, người ta không thể chấp nhận những điều xấu xa, giả dối kia Người ta phải xây dựng nên trong khát vọng và trí tưởng tượng của mình một thế giới khác tươi đẹp hơn Đó cũng là một hình thức phủ nhận hiện thực đen tối Khi ước
mơ không thể thực hiện thì qua những câu chuyện cổ tích ánh sáng kì ảo, chói ngời hạnh phúc vào cuộc đời tối tăm, bất hạnh của con người, khiến họ yêu đời và sống mạnh mẽ hơn Trong thế giới truyện cổ tích, người hiền sẽ gặp lành, kẻ ác bị trừng trị;
sự công bằng được thực hiện, lao động được nhẹ nhàng, tuổi già và cái chết bị đẩy xa; người dị dạng, xấu xí trở nên đẹp đẽ; người mất vợ hoặc người yêu được đoàn tụ; người nghèo sẽ giàu có, người bị áp bức, đau khổ sẽ có địa vị và quyền thế cao sang…
Có thể nói, truyện cổ tích thần kì là sự phản ánh mơ ước của nhân dân về một
thế giới tốt đẹp hơn trong tương lai bằng những hư cấu kì ảo Họ không khoanh tay đứng nhìn để cho mơ ước của mình mãi mãi là điều không tưởng Chính vì mơ ước là cái không có thực trong hiện tại nên sự phản ánh mơ ước phải là những hư cấu kì ảo
do trí tưởng tượng của con người tạo ra Do đó, nói: “Cổ tích thần kì là những hư cấu
kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước” có nghĩa là: truyện cổ tích thần kì là sự phản ánh mơ ước của nhân dân ta về một thế giới tốt đẹp hơn trong tương lai bằng những hư cấu kì ảo Đồng thời nó cũng phản ánh quyết tâm của người lao động, là đấu tranh cho mơ ước ấy thành hiện thực…
Trong truyện “Tấm Cám” có một bức tranh cuộc sống với những mâu thuẫn gay gắt trong xã hội Truyện kể “mẹ Tấm chết từ hồi Tấm mới biết đi”, lời kể ấy đã xác định thân phận mồ côi của Tấm Trong bao nỗi đau buồn của một đứa trẻ, có lẽ đau khổ, thiệt thòi nhất là thiếu mẹ Tục ngữ có câu: “Cha chết ăn cơm với cá, mẹ chết
Trang 3liếm lá đầu chợ” để khái quát nỗi đau khổ, thiệt thòi vô cùng của đứa con mồ côi mẹ.
Mồ côi cha đã khổ, mồ côi mẹ lại càng thiệt thòi, đau khổ hơn nhiều
Mọi đau khổ của Tấm đều bắt nguồn từ quan hệ với mẹ con dì ghẻ Tấm cô đơn chỉ biết khóc mỗi khi bị hành hạ Bị Cám lừa trút mất giỏ tép, mất hi vọng cái yếm đào, Tấm khóc Bị lừa đi chăn trâu đồng xa để ở nhà mẹ con Cám làm thịt chú bống
bé nhỏ bầu bạn với Tấm, cô lại khóc Lần thứ ba Tấm khóc là khi cô không được đi hội làng Tấm lại khóc và dường như tiếng khóc lại một lần nữa đẩy nỗi đau của cô lên cao hơn Tiếng khóc hay tiếng lòng, hay nỗi uất hận đã đè nén thành hình, thành khối để rồi bật ra nơi từng tiếng khóc nghẹn ngào, ấm ức
Thân phận đầy đau khổ của cô Tấm trong truyện cổ là thân phận chung của những người nghèo, người mồ côi lương thiện trong xã hội Mâu thuẫn giữa Tâm với
mẹ con dì ghẻ không chỉ là mâu thuẫn là mâu thuẫn dì ghẻ- con chồng mà còn là hình thức biểu hiện cụ thể của xung đột Thiện- Ác trong cuộc đời Tấm đại diện cho nhân vật thiện chămm chỉ, lương thiện, đôn hậu Cái ác hiện hình trong mẹ con mụ dì ghẻ qua hành động: lừa gạt lấy mất giỏ tép để tước đoạt ước mơ nhỏ bé của Tấm là cái yếm đào; lén lút giết chết con bôngd là giết chết người bạn nhỏ bé của Tấm; đang tâm trộn thóc với gạo nhằm dập tắt niềm vui được đi hội làng, được giao cảm với đời của cô… Tiếng khóc tội nghiệp của Tấm mỗi lần bị chèn ép, áp bức có sức lay động mọi trái tim nhân hậu, gọi dậy niềm cảm thông chia sẻ với mọi người
Sống giữa vũng lầy của cuộc đời, “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Tấm-đại diện cho người nông dân vẫn vươn lên tỏa ngát như những bông sen mảnh mai mà bền bỉ sức sống Tước vùi dập của cái ác Tấm hay chính là nhân dân vẫn đấu tranh vì hạnh phúc đến cùng Tấm tuy đã trở thành hoàng hậu nhưng vẫn bị cái ác tiêu diệt, săn đuổi Cô Tám lương thiện, hiếu thảo trèo cau hái quả cúng hca đã bị mẹ con Cám chặt cây giết chết Cô Tấm hiền lành, ngây th vừa ngã xuống một cô gái mạnh mẽ và quyết liệt hơn sống dậy, hóa thân trở về với cuộc đời, công khai chống lại cái ác đòi hạnh phúc Cuộc chiến đấu đó thật gian nan, quyết liệt nhưng cũng thật hấp dẫn đối với độc giả Bởi trong cuộc đời, những gì người mồ côi, nhỏ nhoi, yếu thế không làm được thì Tấm đã thay họ thự hiện “oán thì trả oán, ân thì trả ân” đến tận cùng
Tấm thảo hiền thì dì ghẻ chặt cây sát hại mà không cam chịu chết Cô hóa vàng
an, bay vào cung vua báo hiệu sự có mặt của mình trong lời nhắc nhỏ: “Giặt áo chồng tao phơi lao, phơi sào/ Chớ phơi bờ rào rách áo chồng tao”, vàng anh bị giết chết Tấm hóa cây xoan đào tuyên chiến với kẻ thù trực tiếp và dữ dội hơn: “Lây tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”, khug cửi bị đốt cháy Từ đống tro tàn chết chóc, Tấm hóa cây thị trở lại với đời Trong sự hóa thân ấy có sự kiên nhẫn và lòng dũng cảm Phải chăng trong nhân vật Tấm đã hội tụ sự dịu dàng và tính cách bất khuất của người pụ nữ Việt Nam xa xưa
Trang 4Tấm đã hóa thân, cái thiện không chịu chết một cách oan ức trong im lặng đã vùng dậy còn cái ác cũng tìm mọi cách tiêu diệt cái thiện Những lần chết đi sống lại của tấm phản ánh cuộc đấu tranh quyết liệt, gay gắt của cuộc chiến đấu giữ cái thiện với cái ác; đồng thời cũng thể hiện sức sống mãnh liệt, không thể bị triệt tiêu của cái thiện
Chim vàng anh, cây xoan đào, quả thị là những nơi Tấm gửi gắm linh hồn, cũng
là những vật bình dị, thân thương trong cuộc sống dân dã Nếu như lần đầu câu chuyện, mỗi lần Tấm khóc Bụt thường hiện lên ban tặng vật thần kì, thì phần sau cuộc đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn nhưng Tấm không còn khóc, cũng không còn thấy
sự xuất hiện của Bụt, chỉ thấy tấm hành động liên tiếp để chống lại kẻ thù Cũng chính nhân dân lao động, những người có thân phận như Tấm, những người thấu hiểu và cảm thương cô Tấm thiệt thòi, đã gửi vào cô Tấm ý thức mãnh liệt giành và giữ hạnh phúc của mình Đằng sau câu chuyện đã ẩn chứa một chân lí: Hạnh phúc chỉ có bền chặt khi ta biết dành và giữ lấy Vì vậy, nếu lúc đầu mỗi lần Tấm uất ức chỉ biết ngồi khóc, còn bụt làm thay tất cả thì đến đây chim vàng anh, khug cửi, quả thị không thay tấm trong cuộc chiến đấu mà chỉ là nơi hóa thân, tạm ẩn mình để trở về đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn
Nhưng sau nhiều lần chết đi sống lại của Tấm, trong lốt chim, cây, quả… Tấm hiểu rằng không thể có hạnh phúc trọn vẹn chừng nào cái ác còn tồn tại, chừng nào mẹ con Cám còn hiển diện Cô lừa cám để sai người đào hố, dội nước sôi tự tìm đến cái chết Kết thúc đó nêu lên một triết lí dân gian “ác giả ác bào”, phù hợp với mong ước của nhân dân về sự trừng phạt tận gốc kẻ thù Cuối cùng hạnh phúc đã trở về với Tấm như món quà tặng quý giá cho lòng thủy chung và sự dũng cảm của cô
Sự hóa thân nhiều lần rồi trở về cuộc đời của tấm là biểu hiện sinh động của quan niệm về công bằng xã hội và hạnh phúc Người lương thiện phải được hạnh phúc, còn kẻ ác nhất định bị trừng phạt, đó là quy luật của lòng nhân đạo, tình yêu thương con người Người lao động không chờ đợi hạnh phúc và mơ hồ ở cõi nào khác
mà tìm và giữ hạnh phúc thực sự ngay trên mảnh đất mình từng gắn bó ở nơi trần thế
Truyện cổ tích thần kì thường giải quyết mâu thuẫn theo hướng: Thiện thắng Ác
và nười lương thiện nhất định sẽ được hưởnh hạnh phúc Con đường dẫn đến hạnh phúc của nhân vật thiện chính là xu hướng giả quyết mâu thuẫn rất đặc trưng của truyện cổ tích Để giải quyết mâu thuẫn đó, truyện cổ tích thường dử dụng yếu tố kì ảo
Trong truyện “Tấm Cám” các yểu tố kì ảo được đưa vào sử dụng với “mật độ” dày đặc Đó là những thế lực siêu nhiên như ông Bụt Bụt thường xuất hiện đúng lúc mỗi khi tấm khóc, an ủi, nâng đỡ cô mỗi khi Tấm gặp khó khăn hay đau khổ Tấm mất
Trang 5yếm đào- Bụt cho cá bống, Tấm mất cá bống- Bụt cho hi vọng đổi đời Tấm không được đi hội- Bụt cho đàn chim sẻ đến giúp Bụt cho tấm có ngựa, có quần áo mới… đưa Tấm đến hội, gặp nhà vua, được làm hoàng hậu và đạt đến đỉnh cao hạnh phúc Cùng với Bụt, con gà cũng là yếu tố kì ảo, biết cảm thông với Tấm, chim sẻ cũng giúp Tấm nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, trợ giúp Tấm trên đường tới hạnh phúc Hoàng hậu Tấm là hình ảnh cao nhất về hạnh phúc mà nhân dân có thể mơ ước cho cô gái mồ côi nghèo, cô đơn trong xã hội xưa Những hình ảnh chim vàng anh, khung cửi, quả thị… cũng đều là những yếu tố kì ảo, là vật hóa thân của tấm hỗ trợ cô trên con đường tìm đến hạnh phúc Mỗi lần hóa thân sức sống ấy lại càng trỗi dậy mãnh liệt hơn, tràn trề hơn khiến cho cuộc chiến giữ Thiện và Ác càng cam go, quyết liệt hơn
Những đau khổ của người mồ côi là có thật và phổ biến, còn hạnh phúc mà họ được hưởng rất hiếm hoi, phần lớn chỉ là mơ ước Để phản ánh mơ ước về hạnh phúc thông qua nhân vật mồ côi, truyện cổ tích đã “chữa lại” số phận không may mắn cho
họ thông qua những yếu tố thần kì Điều đó thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, hi vọng ở tương lai công bằng, dân chủ của nhân dân lao động
Cùng với truyện “Tấm Cám”, đến với truyện “Chử Đồng Tử” những ước mơ ấy của nhân dân cũng được thể hiện một cách sâu sắc Nhân vật Chử Đồng Tử là chàng trai nghèo đánh cá có cuộc sống bần hàn, nghèo khó Cả “gia tài” của hai cha con chỉ
có mỗi một cái khố chung nhau mặc Trong khi đó, cuộc sống nơi cung đình thì xa hoa, giàu sang tột đỉnh Chỉ một chuyến đi chơ của công mà có biết bao kẻ hầu người
hạ, thuyền, lọng nườm nượp
Như một sự tình cờ khi Tiên Dung vào bờ tắm thì gặp phải Chử Đồng Tử đang vùi mình dưới cát và duyên số kết thành hai người đã đến vớ nhau Cuộc hôn nhân của công chúa Tiên dung và chàng trai đánh cá nghèo Chử Đồng Tử vượt ra ngoài khuôn khổ phong kiến, điều đó thể hiện cho khát vọng bình đẳng giữa con người với con người của nhân dân ta
Hoàn cảnh hai người gặp nhau thật độc đáo Đó là khung cảnh giữa đất trời bao
la, phóng khoáng và Tiên Dung là người ngỏ lời trước Sống trong xã hội phong kiến thì con người luôn phải chịu ảnh hưởng của tư tưởng nam nữ “Trâu đi tìm cọc”, hành động ấy của Tiên Dung đã nêu lên khát vọng tình yêu trong tự do, thuận theo tình cảm
Khi bị vua Hùng phản đối, hai vợ chồng Chử Đồng Tử đã tự mình gây dựng nên cuộc sống và họ đã sống trong nhân dân, làm ăn thịnh vượng Đó là lời ca ngợi tinh thần tự lực cánh sinh, phấn đấu thực hiện ước mơ Đồng thời, khi cuộc sống đã yên bề gia thất hai vợ chồng vẫn không đối đầu với vua cha mà vẫn hào hảo Đó chính
Trang 6là tiếng nói của nhân dân không muốn xảy ẻa chiến tranh Biểu hiện cao đẹp cho giá trị nhân đạo, khát vọng dân chủ mãnh liệt của nhân dân ta
Và để thực hiện được ước mơ ấy, tác giả dân gian đã thổi vào những yếu tố kì
ảo để giúp nhân vật của mình trong bước đường đi tìm hạnh phúc Để có được tòa thành lớn, có kẻ hầu người hạ đó là nhờ nhà sự Phật Quang truyền cho phép mầu Tất
cả các chi tiết như được “sắp xếp” một cách cẩn trọng, khi Chử Đồng Tử lên núi lấy nước đã vô tình gặp được nhà sư Phật Quang và được ông truyền đạo để rồi có khả năng siêu biệt có thể hóa phép thành nhà cao cửa rộng Chi tiết cả người lẫn lâu đài thành quách cùng bay về trời để mãi được sống tự do là một chi tiết kì ảo được nhân dân sáng tạo ra để gửi gắm vào đó chân lí “ở hiền gặp lanh”, ước mơ được sống tự do…
Con người muốn hoàn thiện mình, xã hội muốn tiến lên thì phải luôn luôn mơ ước đến những điều tốt đẹp hơn và không ngừng đấu tranh để đạt đến điều mơ ước ấy
“Là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước”, truyện cổ tích thàn kì
và văn học dân gian nói rộng ra đúng là kho báu tinh thần của dân tộc, rất đáng chúng
ta trân trọng và học hỏi
(Đề sưu tầm)
NGUYỄN DU
ĐỀ 2: Bàn về thơ, Tố Hữu đã nói: “ Thơ là cái đó: sự im lặng giữa các từ Nếu
người ta lắng nghe cái im lặng đó thì có những tiếng dội vang rất đa dạng và tinh tế”
và “Thơ phải chăng là điều ấy: mơ ở trong thực, cái vô hình trong cái hữu hình ”
Bằng những hiểu biết về tác phẩm của Nguyễn Du, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
*Yêu cầu về kĩ năng:
- Vận dụng thuần thục kĩ năng làm bài văn nghị luận văn học về thơ trữ tình
- Vận dụng thuần thuc kiến thức lí luận văn học về thơ trữ tình
- Vận dụng thuần thục kĩ năng phân tích tác phẩm thơ trữ tình
- Diễn đạt lưu loát, sáng rõ, giàu hình ảnh và cảm xúc
*Yêu cầu về nội dung:
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đáp ứng các ý cơ bản sau:
Trang 71 Giải thích:
- “Sự im lặng giữa các từ”: là một cách diễn đạt để chỉ những “khoảng trống” của
ngôn ngữ, là ý nghĩa của thơ
- “Những tiếng dội vang rất đa dạng và tinh tế”: là một cách diễn đạt có hình ảnh
để chỉ thế giới tâm hồn phong phú, đa dạng và vô cùng tinh tế của con người
- “Thơ phải chăng là điều ấy: mơ ở trong thực, cái vô hình trong cái hữu hình”:
Cái hiện hữu, hữu hình là từ ngữ, hình ảnh thơ, âm điệu thơ Cái mờ ảo, vô hình là những trường liên tưởng được gợi lên Đó là những ấn tượng, những cảm xúc, tâm trạng, những nỗi niềm, khát khao, mơ ước…
* Ý nghĩa của thơ không phải chỉ là nghĩa của ngôn từ, mà quan trọng hơn, còn là
những gì ngôn từ gợi lên Một trong những phẩm chất kì lạ của thơ bộc lộ ở sự “im lặng” của nó Thơ đối thoại với người đọc không chỉ qua từ ngữ mà lắm khi bằng sự
im lặng đầy ý nghĩa của từ ngữ và giữa từ ngữ, những “khoảng trống” đầy ẩn ý của ngôn ngữ, phần chữ nghĩa của thơ không nói hết, phần ý ở ngoài lời
2 Bình luận:
Ý kiến trên là hoàn toàn xác đáng, đúng đắn và sâu sắc Nó xuất phát từ đặc trưng của văn học, của ngôn từ nghệ thuật nói chung, của thơ trữ tình nói riêng
- Cấu trúc của văn bản văn học gồm có: tầng ngôn từ, tầng hình tượng và tầng hàm nghĩa Trong đó, ngôn từ là cơ sở để xác định hình tượng và suy ra hàm nghĩa -mục đích quan trọng của quá trình đọc-hiểu văn bản văn học
- Đặc trưng quan trọng nhất của ngôn từ nghệ thuật là tính hình tượng Chính đặc trưng này tạo nên tính hàm súc và đa nghĩa của ngôn từ nghệ thuật Ý nghĩa của ngôn
từ nghệ thuật không phải ở cái nó nói, mà ở cái nó gợi lên
- Thơ trữ tình không chú trọng tả mà chú trọng gợi Ý nghĩa của thơ không phải
là nghĩa của ngôn từ mà là những gì ngôn từ gợi lên, đó là “sự im lặng giữa câu từ”,
là những “khoảng trống” của ngôn ngữ, và ở đó chính là thế giới tâm hồn phong phú,
đa dạng và vô cùng tinh tế của con người Đọc thơ chính là từ thế giới của ngôn từ mà thâm nhập vào thế giới tâm hồn phong phú, đa dạng và vô cùng tinh tế của con người
3 Chứng minh:
Học sinh lựa chọn tác phẩm của Nguyễn Du theo hướng phục vụ tốt nhất cho việc làm sáng tỏ ý kiến của đề bài Bài làm phải có ý thức bám sát nhận định HS phân tích nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong các tác phẩm đó để cảm nhận được cảm
Trang 8xúc, tâm trạng, ước mơ, khát vọng, tư tưởng… mà Nguyễn Du gởi gắm Đó chính là ý nghĩa của tác phẩm, là yếu tố quan trọng nhất trong cấu trúc của tác phẩm
4 Đánh giá:
- Ý kiến trên đã khẳng định một đặc trưng quan trọng của thơ trữ tình, và là một lời nhắc nhở có tính nguyên tắc đối với người làm thơ: Thơ không phải là nghệ thuật của ngôn từ, mà là nghệ thuật biểu hiện thế giới nội tâm của con người bằng ngôn từ nghệ thuật
- Ý kiến trên có giá trị định hướng cho người đọc khi tiếp cận và tìm kiếm những giá trị đích thực của những tác phẩm thơ trữ tình
BIỂU ĐIỂM:
- Điểm 11-12: Bài làm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức Bài mạch lạc, hành văn trôi chảy, giàu hình ảnh, cảm xúc Có thể còn mắc vài lỗi nhỏ về diễn đạt
Người ra đề: Đoàn Thị Hồng
ĐỀ 3: Có ý kiến cho rằng: Người nghệ sĩ chân chính là người suốt đời chỉ truyền
bá một thứ tôn giáo: Tình yêu thương con người.
Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua các trích đoạn “Truyện Kiều” đã học trong chương trình Ngữ văn 10- THPT, anh/chị hãy làm sáng tỏ
Đáp án:
Nhận thức đề:
Đề bài yêu cầu làm rõ 2 nội dung:
– Hiểu đúng ý kiến: Người nghệ sĩ chân chính suốt đời chỉ viết về con người, ca tụng tình yêu thương con người
– Phân tích tình yêu thương, sự đồng cảm của tác giả Nguyễn Du đối với các nhân vật trong “Truyện Kiều”.(ý chính)
Yêu cầu kiến thức
*Mở bài: Nêu vấn đề
*Thân bài:
Trang 9a) Giải thích nhận định (1,5 điểm):
+ Người nghệ sĩ là cách gọi chung cho các nhà văn, nhà thơ…những người có đóng
góp lớn lao cho nghệ thuật (0,25 điểm)
+ Người nghệ sĩ chân chính: Những người mang lý tưởng tiến bộ của thời đại, đại diện cho lương tri của loài người, sẵn sàng đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác để bảo
vệ công lí, lẽ phải, giàu tình yêu thương nhân ái, sẵn sàng xả thân cho cuộc đời và cho
nghệ thuật (0,5 điểm)
+ Sứ mệnh cao cả của người nghệ sĩ là khám phá cái đẹp của cuộc sống và chuyển tải đến người đọc thông qua tác phẩm văn học Con người với tất cả niềm vui hạnh phúc, khát khao và nỗi buồn đau luôn trở thành nguồn cảm hứng dồi dào của văn học và là
mối quan tâm hàng đầu của nhà văn (0,5 điểm)
+ Tác phẩm văn học chân chính là sản phẩm của nhà văn nhân đạo chủ nghĩa Qua những cảnh ngộ, nhà văn muốn người đọc cùng chia sẻ và đồng cảm, bênh vực và ca tụng con người, ca ngợi tình người Những tác phẩm như thế sẽ trường tồn và độc giả
yêu thích (0,25 điểm)
=> Ý kiến bàn về sứ mệnh của người nghệ sỹ, giá trị và chức năng của văn học nghệ thuật
b) Bàn luận: Vì sao nhà văn chân chính lại lấy việc làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn
làm mục đích sáng tác? (2,5 điểm)
+ Vì Người nghệ sĩ chân chính rất giàu tình yêu thương đối với cuộc đời Họ luôn day
dứt, trăn trở trước cuộc sống và con người (họ là “người cho máu”, là “nhà nhân đạo
từ trong cốt tuỷ”…) (0,5 điểm)
+ Vì họ hiểu rõ khả năng, sức mạnh to lớn của văn chương Họ đã dùng văn chương như một công cụ đắc lực để thực hiện lí tưởng nghệ thuật của mình! Tác phẩm của họ
dù viết theo đề tài nào cũng vẫn để bày tỏ “lòng thương và tình bác ái, để người gần
người hơn” (0,5 điểm)
+ Họ thực hiện chức năng giáo dục (truyền bá tình yêu thương con người) bằng cách
nào? (1,5 điểm)
- Ca ngợi, khẳng định những cái tốt đẹp của cuộc sống (những yêu thương, nhân
ái, vị tha)
- Cảm thương, bênh vực những kiếp người đau khổ, bất hạnh
Trang 10- Đồng tình với những khát vọng chính đáng của con người.
- Lên án, tố cáo những cái xấu, cái ác…để bảo vệ con người khỏi những áp bức, bất công!
ĐỀ 4: Phân tích biểu hiện của tình yêu thương trong các trích đoạn “Truyện Kiều” (7 điểm)
*Khái quát:
Văn học trung đại Việt nam từ cuối thế kỷ XIII - đầu thế kỷ XIX phát triển trong một giai đoạn lịch sử có nhiều biến cố “kinh thiên động địa” và những phen
“thay đổi sơn hà” Những biến cố xã hội đó đã có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân, và vấn đề con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của các tác gia
văn học.(0,5 điểm)
*Giới thiệu ngắn về tác giả, tác phẩm.
Nguyễn Du là một nhà thơ lớn của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới
“Truyện Kiều” của ông là đỉnh cao chói lọi và là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam
Dù đã sống hơn 200 trăm năm, nhưng tác phẩm vẫn luôn mới mẻ trong lòng người đọc bởi tính nhân loại phổ quát Đọc “Truyện Kiều” Ta thấy cái tâm thể hiện rất rõ trên từng nét bút của tác giả – Một tình yêu thương con người vô tận theo cách
của Nguyễn Du.(0,5 điểm)
*Tình yêu thương con người thể hiện trong các trích đoạn “Truyện Kiều”:
“Truyện Kiều là tiếng nói ngợi ca những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của con người: Ca ngợi tài sắc, hiếu nghĩa, bao dung của Thuý Kiều (Trao duyên); Sáng trong, thanh khiết (Nỗi thương mình) Ca ngợi lòng nhân hậu, đức hy sinh của
Thúy Vân Ca ngợi chí khí anh hùng của Từ Hải (Chí khí anh hùng)…(1,5 điểm)
Qua “Truyện Kiều”, Nguyễn Du cất tiếng khóc thương cho những cho những kiếp người đau khổ – Đặc biệt là những người tài hoa, bạc mệnh: Khóc cho tình
yêu trong sáng, chân thành bị tan vỡ, khóc cho tình cốt nhục bị lìa tan (Trao
duyên), khóc cho thân xác bị đày dọa hắt hủi (Nỗi thương mình)… Vì thế, không
phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Du đặt tên cho tác phẩm của mình là “Đoạn trường
tân thanh” (1,5 điểm)
“Truyện Kiều” là bài ca về tình yêu tự do và ước mơ công lý