SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT LƯU ĐÌNH CHẤT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CÁCH TIẾP CẬN TÁC PHẨM TỰ SỰ DÂN GIAN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI Người thự
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT LƯU ĐÌNH CHẤT
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁCH TIẾP CẬN TÁC PHẨM TỰ SỰ DÂN GIAN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
Người thực hiện : Lê Thị Phương Thảo Chức vụ : Giáo viên
SKKN thuộc môn : Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2017
Trang 2MỤC LỤC
11 III/ Cách tiếp cận một số tác phẩm VHDG trong chương trình
ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại :
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học dân gian (VHDG) là một trong những bộ phận hợp thành nềnvăn học Việt Nam VHDG là sản phẩm tinh thần của ông cha ta từ thuở sơ khai,phản ánh phong tục tập quán, thói quen, cách cảm, nếp nghĩ và cả những tưtưởng, tình cảm VHDG chiếm một vị trí không nhỏ trong thời lượng chươngtrình ngữ văn lớp 10 Những bài học dân gian gắn chặt với mạch nguồn cảm xúccủa biết bao thế hệ, nuôi dưỡng tâm hồn hướng thiện của mỗi con người Việt.Hơn thế, VHDG còn đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành bản sắc vănhóa dân tộc, góp phần nâng cao ý thức trân trọng di sản văn học cho thế hệ sau
Qua thực tế giảng dạy cho thấy đa số HS chưa thật sự trân trọng cái hay,cái đẹp từ VHDG Có thể do các em đã quen tiếp xúc với nền văn hóa hiện đại
và đang bị cuốn hút vào cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật với sự bùng nổ củacông nghệ thông tin nên VHDG đối với các em có một khoảng cách vô cùnglớn Cũng có thể, đa phần giáo viên (GV) khai thác các tác phẩm VHDG, đặcbiệt là các tác phẩm tự sự dân gian theo kiểu diễn xuôi, dạy sơ sài nên HS chưanhận ra cái hay, nét độc đáo của văn bản từ đó kéo theo thái độ không hứng thúhọc, không tích cực, sáng tạo trong tiếp nhận Vì vậy dẫn đến tình trạng HS hếtsức mơ hồ về kiến thức, thậm chí nhầm lẫn các chi tiết của tác phẩm này với cáctác phẩm khác Do vậy khi làm bài kiểm tra HS thường suy luận chủ quan,nhiều lúc còn “ sáng tạo” thêm những chi tiết mới so với văn bản gốc
Từ thực tế này, là một GV dạy học môn Ngữ văn, tôi luôn luôn trăn trởlàm thế nào để góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ phận VHDG, nhất lànhững tác phẩm tự sự dân gian Với mục đích tạo hứng thú trong các tiết họcVHDG, giúp các em biết cách đọc đúng, hiểu đúng, nắm chắc được kiến thứctheo đặc trưng của từng thể loại, biết phát hiện và rung động trước vẻ đẹp củatác phẩm góp phần quan trọng bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho HS
Xuất phát từ những lí do trên tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài thể hiện một
vài kinh nghiệm nhỏ trong quá trình dạy học của mình, đó là: “Cách tiếp cận tác phẩm tự sự dân gian trong chương trình ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại” Hy vọng với đề tài này, Tôi sẽ có những đóng góp mới và tích cực hơn trong công tác giảng dạy bộ phận VHDG ở các trường THPT hiện nay
II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Đưa ra phương pháp, cách thức dạy học truyện dân gian có hiệu quả quamột số tác phẩm theo đặc trưng thể loại cụ thể, phù hợp với từng lớp, đối tượng
HS nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong xu thế đổi mới phươngpháp dạy học như hiện nay
III/ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1 Đối tượng nghiên cứu:
+ Phương pháp, cách thức dạy học truyện dân gian trong chương trìnhNgữ văn 10
+ HS lớp 10B4, 10B2; 10A1, 10A5 Trường THPT Lưu Đình Chất
2 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 4Những tác phẩm (đoạn trích) thuộc thể loại truyện dân gian Việt Namđược học trong chương trình Ngữ văn 10 - Chương trình chuẩn (không bao gồmcác bài đọc thêm và truyện dân gian nước ngoài).
IV/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp tiếp cận văn bản
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Trang 5B PHẦN NỘI DUNG:
I/ CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Văn học dân gian (VHDG) là một bộ phận của nền văn hóa nói chung,của nền văn học dân tộc nói riêng Nó giữ một vị trí rất quan trọng trong chươngtrình văn học của nhà trường phổ thông VHDG góp phần bồi dưỡng vẻ đẹp tâmhồn, giáo dục nhân cách cho HS, đồng thời qua VHDG HS có điều kiện tốt nhất,hiệu quả nhất và nhanh nhất để tiếp cận với nền văn hóa của dân tộc
Vậy VHDG là gì? “VHDG còn được gọi là văn chương bình dân hay văn chương truyền miệng Khái niệm chỉ những sáng tác nghệ thuật ngôn từ của nhân dân lao động, phát sinh từ thời kì nguyên thủy và phát triển mạnh mẽ trong các xã hội có giai cấp cho đến cả thời hiện đại VHDG tồn tại và phát triển trong mối liên quan chặt chẽ với các hoạt động lao động và sinh hoạt gia đình, sinh hoạt xã hội của nhân dân và thể hiện thành những sinh hoạt VHDG”.
[1]
Hệ thống thể loại của VHDG gồm có: thần thoại, sử thi, truyền thuyết,truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ, câu đố, ca dao, vè, truyện
thơ, chèo [2, tr17-18]
Dựa vào đặc trưng của thể loại, người ta chia VHDG thành hai nhóm: tự
sự dân gian hay còn gọi là truyện dân gian (thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, truyện thơ) và trữ tình dân gian
(tục ngữ, câu đố, ca dao, vè, chèo)
Dạy học VHDG nói chung và truyện dân gian nói riêng không chỉ giúp
HS tiếp nhận được những tri thức vô cùng phong phú thuộc đủ mọi lĩnh vực củađời sống: tự nhiên, xã hội và con người mà còn góp phần hình thành ở các emnhững phẩm chất tốt đẹp như lòng yêu quê hương, đất nước, tinh thần dũng cảm,đức kiên trung, vị tha, tính cần kiệm, óc thực tiễn,… Đồng thời qua việc tìmhiểu cái hay, cái đẹp của một số tác phẩm truyện dân gian, bồi dưỡng tình cảmyêu quý và trân trọng giá trị văn học truyền thống cho HS
Trên tinh thần thấy được vai trò quan trọng của VHDG, từ năm học
2006-2007 cấu trúc SGK Ngữ văn 10 (chương trình chuẩn), phần VHDG đưa vào 11tác phẩm (cả VHDG Việt Nam và VHDG nước ngoài), các tác phẩm được sắp
xếp theo thể loại, từ tự sự dân gian hay còn gọi là truyện dân gian (sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện thơ) và trữ tình dân gian (ca dao).
Cách sắp xếp này làm nổi bật vai trò của thể loại, đồng thời phù hợp với việc dạy và học văn theo đặc trung thể loại, thuận lợi cho HS làm văn, nhất
Trang 6Nội dung được tiếp nối với chương trình THCS và phong phú hơn về thểloại.
Sự phát triển của công nghệ thông tin giúp quá trình đưa tài liệu vào việcsoạn, giảng VHDG thêm sinh động
Có thể tổ chức ngoại khóa để tăng tính hấp dẫn của VHGD đối với HS
2/ Khó khăn:
Việc giảng dạy VHDG hiện nay chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi thái độđối phó thi cử của HS vì hầu như VHDG thường không xuất hiện trong các kỳthi lớn như tốt nghiệp THPT, đại học …
HS hiện nay không mấy hứng thú với bộ phận VHDG nhất là thể loại tự
sự dân gian vì các em cảm thấy xa lạ với cuộc sống của người dân lao động,trong khi, đó chính là môi trường sản sinh ra tác phẩm
Đời sống công nghệ với các trào lưu văn hóa giải trí hiện đại có tác độngmạnh mẽ đến tâm lý tiếp nhận của HS Khi đến với VHDG các em không dễdàng tin vào những điều quá cổ xưa Đồng thời HS chưa đủ vốn sống, suy nghĩcòn nông cạn, chưa đủ khả năng khái quát tổng hợp để hiểu những kinh nghiệm,triết lý nhân sinh mà cha ông đã đúc kết trong kho tàng VHDG
VHDG trong nhà trường phần lớn chỉ dừng lại ở mức độ tìm hiểu văn bảnnên khó gây được sự hứng thú cho HS Mặt khác cơ sở vật chất của nhà trườngchưa được trang bị đầy đủ và đồng bộ, kinh phí dành cho các hoạt động ngoạikhóa còn hạn hẹp Thời lượng dành cho mỗi bài học còn bó hẹp trong khuônkhổ từ 45 - 90 phút Phương pháp giảng dạy của GV chưa thực sự thu hút HScũng gây nên sự nhàm chán tẻ nhạt
Để khắc phục những vấn đề trên nhằm phát huy tính tích cực chủ độngsáng tạo của HS trong các tiết dạy học truyện dân gian góp phần nâng cao chấtlượng dạy học bộ phận VHDG Đồng thời giúp HS biết cách đọc đúng, hiểuđúng, để tích lũy kiến thức, để lí giải, đánh giá và đọc sáng tạo, biết phát hiện vàrung động trước vẻ đẹp của tác phẩm góp phần quan trọng bồi dưỡng tư tưởng,tình cảm cho HS tôi xin trình bày giải pháp sau:
III/ CÁCH TIẾP TÁC PHẨM TỰ SỰ DÂN GIAN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI:
Đặc trưng thể loại là một trong những căn cứ cần thiết mà người đọc cầnđặc biệt lưu ý khi đọc hiểu truyện dân gian Nó giúp cho người đọc có địnhhướng đúng trong việc khai thác nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm Mỗithể loại VHDG đều có đối tượng (hay đề tài), chức năng, phương thức phản ánh,thủ pháp nghệ thuật riêng của nó Và mỗi truyện dân gian, thuộc về một thể loại
nhất định Vì vậy, GV cần căn cứ vào đặc trưng từng thể loại truyện dân
gian hướng dẫn HS khai thác đúng để hiểu rõ, hiểu đúng giá trị của chúng.
1/ Sử thi dân gian - “Chiến thắng Mtao Mxây” (trích sử thi “Đăm Săn”)
1.1 GV giúp HS tìm hiểu chung về thể loại sử thi dân gian:
Trang 7- Khái niệm: Sử thi dân gian “là tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn,
sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng
đồng cư dân thời cổ đại” [2, tr17]
- Phân loại: Sử thi dân gian có hai loại: [2, tr30]
+ Sử thi thần thoại: kể về sự hình thành thế giới, sự ra đời của muôn loài,
sự hình thành các dân tộc, các vùng cư trú cổ đại của họ, sự xuất hiện nền vănminh buổi đầu, (như “Đẻ đất đẻ nước”, “Cây nêu thần”…)
+ Sử thi anh hùng: kể về cuộc đời và sự nghiệp các tù trưởng anh hùng,đại biểu cho sức mạnh trí tuệ của cộng đồng ( như “Đăm Săn”, “Xinh Nhã”,…)
1.2.1 Trước hết GV cần giúp HS xác định được tiểu loại và giá trị của
sử thi “Đăm Săn”: thuộc tiểu loại sử thi anh hùng, nhân vật trung tâm là anh
hùng Đăm Săn Tác phẩm tuy kể về cuộc đời của cá nhân tù trưởng Đăm Săn trẻtuổi nhưng qua đó người nghe kể sử thi nhận ra hình ảnh của cả cộng đồng thịtộc Êđê trong một giai đoạn lịch sử biến động Mà ở đó, số phận cá nhân, anhhùng thống nhất cao độ với số phận của cả thị tộc
Chiến tranh là đề tài nổi bật trong các tác phẩm sử thi anh hùng “ĐămSăn” kể về sáu cuộc chiến tranh do tù trưởng Đăm Săn lãnh đạo thị tộc tiến hànhnhằm xây dựng một cộng đồng thị tộc giàu mạnh
Văn bản “Chiến thắng Mtao Mxây” tiêu biểu trong sáu cuộc chiến tranh
ấy Mà ở đó, Đăm Săn được ngợi ca là một tù trưởng không chỉ có vẻ đẹp ngoạihình, mà còn có sức mạnh thể chất và tinh thần và đó cũng chính là vẻ đẹp của
cả cộng đồng người Êđê cổ đại
1.2.2 Tiếp theo GV cần giúp HS nắm vững cốt truyện qua hoạt động đọc ( kể, tóm tắt đoạn trích) Lưu ý trong quá trình đọc văn bản GV có thể phân vai cho HS đọc lời của các nhân vật Vì thời lượng không đủ đọc hết văn bản nên GV cho HS đọc một đoạn đối thoại giữa hai tù trưởng thể hiện
sự kịch tính của cuộc chiến đấu và một phần đoạn cuối lời của người kể chuyện
HS phải nắm được: Đoạn trích tái hiện cảnh chiến đấu và chiến thắng
của Đăm Săn với Mtao Mxây qua bốn hiệp đấu có mở đầu, diễn biến, kết thúc
Ở đó, Đăm Săn luôn chủ động, thẳng thắn, dũng cảm, còn Mtao Mxây thì thụđộng, hèn nhát, khiếp sợ Qua cuộc chiến này, HS thấy được trong tưởng tượngcủa dân gian, Đăm Săn là biểu tượng cho sức mạnh và chính nghĩa của cộngđồng, còn Mtao Mxây là biểu tượng cho phi nghĩa và cái ác Cảnh Đăm Săn thuphục dân làng của Mtao Mxây rồi cùng họ và tôi tớ ra về Đăm Săn gọi, dân
Trang 8làng trả lời, hưởng ứng, tự nguyện theo Đăm Săn thể hiện sự yêu mến, tuân phụccủa dân làng đối với người anh hùng, sự thống nhất cao độ giữa quyền lợi, khátvọng của cá nhân và cộng đồng Trong cảnh ăn mừng chiến thắng, con ngườiÊđê và thiên nhiên Tây Nguyên từng bừng trong men say chiến thắng Ở đây,nhân vật sử thi Đăm Săn được đặt giữa một bối cảnh rộng lớn của thiên nhiên,
xã hội, con người Tây Nguyên càng làm cho vẻ đẹp mang tầm vóc lịch sử
1.2.3 Khi dạy tác phẩm sử thi theo đặc trưng thể loại GV cần nhấn mạnh
những đặc điểm về ngoại hình và qua lời nói, hành động của nhân vật Đó chính
là sự cụ thể hóa phẩm chất và tính cách, tâm lý nhân vật: Đăm Săn luôn đượcđặt vào những biến cố, luôn được so sánh với nhân vật phản diện về chân dung,sức mạnh, tính cách Mọi hành động của anh hùng này đều đại diện cho lý tưởngcủa nhân dân Quá trình chiến đấu của Đăm Săn cũng là quá trình người Ê Đêchế ngự thiên nhiên, phát triển và bảo vệ cộng đồng
1.2.4 Khi dạy tác phẩm sử thi theo đặc trưng thể loại GV cần chú ý đến
những sự kiện lịch sử xã hội trọng đại có ý nghĩa quan trọng với cộng đồng:Trong cuộc chiến đấu với Mtao Mxây để giành lại vợ mình, đồng thời cũng bảo
vệ cuộc sống bình yên cho buôn làng mình Vì vậy cuộc chiến đòi lại vợ chỉ làcái cớ để Đăm Săn chiến đấu tăng thêm sức mạnh, uy tín cho cộng đồng mình
1.2.5 GV hướng dẫn HS khai thác văn bản từ phương diện nghệ thuật: Đoạn trích thể hiện rõ nét đặc trưng thể loại của sử thi anh hùng từ việc
xây dựng nhân vật anh hùng, tổ chức ngôn ngữ đến cách sử dụng hiệu quả lốimiêu tả, song hành, đòn bẩy, thủ pháp so sánh, phóng đại, đối lập, tăng tiến,…
Đó là : Hành động múa khiên của Đăm Săn được miêu tả bằng cách so
sánh và phóng đại “múa trên cao, gió như bão”, “múa dưới thấp, gió như lốc”,
“khi chàng múa chạy nước kiệu quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung” Rõ ràng, trí tưởng tượng và cách nói phóng đại là nghệ thuật tiêu biểu
của sử thi Nhiều nhất trong đoạn trích là những câu sử dụng biện pháp so sánh
Khi thì lối so sánh tương đồng, có sử dụng từ so sánh (như đầu cú, như cái cầu vồng, như một vị thần, như lốc, như bão, như bầy cà tong, như kiến như mối,…).
Khi là lối so sánh được tăng cấp bằng hàng loạt từ ngữ so sánh liên tiếp (đoạn tảtài múa khiên của Đăm Săn, đoạn tả cảnh đoàn người đông đảo, gồm cả ngườithắng lẫn kẻ thua kéo theo Đăm Săn trở về buôn của chàng, đoạn cuối văn bản
mô tả thân hình lực lưỡng của Đăm Săn) Có khi là lối so sánh tương phản (tảcảnh múa khiên của Đăm Săn và của Mtao Mxây)
Điều đáng lưu ý, bao giờ sử thi cũng dành miêu tả cái “tài” của địch thủtrước, tài của anh hùng sau, bằng cách đó đề cao hơn nhân vật anh hùng, đó gọi
là lối so sánh miêu tả đòn bẩy Đoạn trích thể hiện rõ đặc trưng này qua cách
miêu tả Mtao Mxây rung khiên múa trước “Khiên hắn kêu lạch xạch như quả mướp khô”, hắn “bước cao bước thấp chạy hết bãi tây sang bãi đông” còn
Đăm Săn rung khiên múa thì “Một lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh.
Một lần xốc tới nữa, chàng vượt một đồi lồ ô Chàng chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây”.
Trang 9Như vậy, dựa vào đặc trưng thể loại sử thi, GV hướng dẫn HS khai thác văn bản để có thể nắm được đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” khẳng
định sức mạnh và ngợi ca vẻ đẹp của người anh hùng Đăm Săn - một ngườitrọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bìnhyên, phồn vinh của thị tộc, xứng đáng là người anh hùng mang tầm vóc sử thicủa dân tộc Êđê thời cổ đại Điều đó góp phần lí giải vì sao người Ê đê luôn tựhào về khan “Đăm Săn” và ngợi ca “Bài ca chàng Đăm Săn”
2/ Truyền thuyết - “Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy”:
2.1 GV giúp HS tìm hiểu chung thể loại Truyền thuyết dân gian:
- Khái niệm: Truyền thuyết là “tác phẩm tự sự dân gian kể về sự kiện và nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) theo xu hướng lí tưởng hóa qua
đó thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công đối với đất nước dân tộc hoặc cộng đồng cư dân một vùng Bên cạnh đó
cũng có những truyền thuyết vừa đề cao, vừa phê phán nhân vật lịch sử” [2,
2.2 GV giúp HS vận dụng những đặc trưng của thể loại truyền thuyết
để tìm hiểu “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”:
2.2.1 Trước tiên GV hướng dẫn HS nắm bắt cốt truyện “Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy” qua hoạt động đọc ( kể, tóm tắt văn bản):
HS phải nắm được: Văn bản kể về quá trình xây thành, chế nỏ giữ nước
của An Dương Vương Quá trình ấy trải qua vô vàn khó khăn: Thành đắp tớiđâu lại lở tới đấy – vua lập đàn trai giới cầu đảo bách thần - cụ già mách bảo, sứThanh Giang giúp đỡ thành xây xong trong vòng nửa tháng - vua băn khoăn cóthành rồi nhưng cần có vũ khí mới bảo vệ được đất nước nếu “có giặc ngoài thìlấy gì mà chống?” – Rùa Vàng tháo vuốt của mình cho vua, vua sai Cao Lỗ chế
nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy nỏ, chính vì thế vua đã thắng được cuộc xâm lược lầnthứ nhất của Triệu Đà buộc hắn phải cầu hòa Qua những chi tiết kì ảo ấy nhândân ta đã phản ánh sự gian nan trong cộng việc dựng nước, ngợi ca nhà vuakhông chỉ có công lao đối với đất nước mà còn là người có ý thức trách nhiệmcao của một người đứng đầu đất nước, đồng thời tự hào về chiến công xây thànhchế nỏ, chiến thắng ngoại xâm, qua đó đề cao tư tưởng phòng chống giặc ngoạixâm của dân tộc ta
2.2.2 GV tiếp tục hướng dẫn HS nắm bắt tác phẩm theo đặc trưng thể loại thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở:
Truyền thuyết phản ánh bi kịch nước mất nhà tan và bi kịch tình yêu tan vỡ Bi kịch ấy bắt đầu khi nào? Nguyên nhân do đâu?
Trang 10Để trả lời cho những câu hỏi trên GV hướng dẫn HS tìm hiểu các chi tiết, sự việc có tính chất thiêng liêng, kì ảo liên quan đến các nhân vật như:
tên truyện - “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, việc xâythành, chế nỏ, rùa vàng…” Trở lại với cốt truyện, mặc dù Triệu Đà đã bị thuatrong cuộc xâm lược Âu Lạc lần thứ nhất buộc hắn phải cầu hòa nhưng dã tâmhắn không bao giờ mất đi Vì thế, không bao lâu, Đà cầu hôn, Vua vô tình gảcon gái là Mị Châu cho con trai hắn là Trọng Thủy Cả cha con An DươngVương đều chủ quan để Trọng Thủy tráo lẫy nỏ và đem về nước Khi giặc kéođến mà vua vẫn ỷ vào vũ khí, vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, mãi đến khi quân
Đà tiến sát, vua cầm lấy nỏ thì mới thấy lẫy thần đã mất, lúc đó đã muộn Thành
bị chiếm, vua cùng với Mị Châu chạy về phương Nam, tới bờ biển, cùng đườngvua cầu cứu Rùa Vàng Rùa Vàng hiện lên kết tội Mị Châu là giặc An DươngVương tỉnh ngộ, nhận ra bi kịch của mình, rút gươm chém Mị Châu Bị kịchnước mất nhà tan, mối tình Mị Châu – Trọng Thủy tan vỡ bởi âm mưu xâm lượccủa Triệu Đà Cái chết của Mị Châu, Trọng Thủy là kết cục bi thảm của một mốitình éo le luôn bị tác động, chi phối bởi chiến tranh
Nếu như ở nội dung thứ nhất, nhân dân bày tỏ thái độ ngợi ca công lao
của nhà vua thì ở nội dung thứ hai việc Âu Lạc rơi vào tay Triệu Đà nhân dân
bày tỏ thái độ gì? Thái độ của nhân dân như thế nào khi An Dương Vương tuốt gươm chém Mị Châu? Thái độ của nhân dân như thế nào đối với nhân vật Mị Châu?
GV tổ chức cho HS làm rõ điều này:
- Trước hết, nhân dân ta muốn phê phán thái độ mất cảnh giác của cả An
Dương vương và Mị Châu Việc vua vô tình gả con gái cho con trai Triệu Đà làvua đã vô tình mở đường cho đối phương vào làm nội gián, nghĩa là vua đã mơ
hồ về bản chất của kẻ thù, không phân biệt được đâu là bạn, đâu là thù của nhândân Âu Lạc Sự mất cảnh giác của An Dương Vương là nguyên nhân gây racảnh nước mất, nhà tan
- Hành động tuốt gươm chém Mị Châu thể hiện sự dứt khoát, quyết liệt và
sự tỉnh ngộ muộn màng của nhà vua Chi tiết này thể hiện rõ thái độ, tình cảmcủa nhân dân đối với nhà vua, người cầm đầu đất nước đã đứng lên trên quyềnlợi của dân tộc thẳng tay trừng trị kẻ có tội cho dù kẻ có tội đó là đứa con lángọc cành vàng của mình Đây là một sự lựa chọn quyết liệt giữa tình nhà vànghĩa nước, ông đã đặt cái chung lên trên cái riêng Một mặt phê phán thái độmất cảnh giác của An Dương Vương, mặt khác nhân dân ta lại bày tỏ lòng kínhtrọng trước thái độ dũng cảm của người anh hùng Người có công dựng nước vàtrong giờ phút quyết liệt vẫn đặt nghĩa nước lên trên tình nhà Vì vậy trong lòngnhân dân, An Dương Vương không chết, cầm sừng tê bảy tấc theo Rùa Vàng rẽnước về thủy phủ bước vào thế giới vĩnh cửu của thần linh Các vị anh hùng lịch
sử trong truyền thuyết, được lòng tôn kính của nhân dân pha chút thế giới quantôn giáo biến thành nhân vật bất tử, mà An Dương Vương trong truyền thuyếtnày là một điển hình
Trang 11Còn nhân vật Mị Châu, trước bi kịch của nàng thái độ của nhân dân
là phê phán hay cảm thông, bao dung?
Về vấn đề này GV hướng dẫn Hs tìm hiểu qua những sự việc trong
truyện và những chi tiết nghệ thuật “máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải
biến thành hạt châu” và chi tiết “ngọc trai – giếng nước” Việc Mị Châu lén
đưa cho Trọng Thủy xem nỏ thần là đã vi phạm nguyên tắc bí mật quốc gia, là
có tội với non sông đất nước nên gặp kết cục hiển nhiên thể hiện thái độ nghiêmkhắc của nhân dân Nhưng nhân dân đã cảm thông, bao dung cho nàng bởi tộicủa Mị Châu là không chủ ý, vì ngây thơ mà đã vô tình đắc tội với non sông
Chính vì vậy việc sáng tạo chi tiết “máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải biến thành hạt châu”, ngọc ấy đem rửa với nước giếng nơi Trọng Thủy chết thì “thấy
trong sáng thêm” như để minh oan cho nàng Đặc biệt chi tiết “ngọc trai –
giếng nước” không phải là hình ảnh khẳng định mối tình thủy chung mà là oan
tình của Mị Châu đã được hóa giải như lời nguyện cầu của nàng trước lúc chết.Việc sáng tạo chi tiết này thể hiện thái độ vừa nghiêm khắc, vừa nhân ái củangười Âu Lạc, cách ứng xử vừa thấu tình vừa đạt lí trong truyền thống của dântộc ta
Như vậy đặc trưng của truyền thuyết là thường kể về những sự kiện
và nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) theo quan điểm đánh giá của
nhân dân; có dung lượng vừa phải, có sự tham gia của các chi tiết, sự việc cótính chất thiêng liêng, kì ảo (các nhân vật thần, các đồ vật kì ảo có phép lạ,…),
2.2.3 Sau khi hướng dẫn HS tìm hiểu tác phẩm theo những đặc trưng ấy, GV yêu cầu các em cho biết đâu là cốt lõi lịch sử? Cốt lõi lịch sử
ấy đã được dân gian thần kì hóa như thế nào? Qua việc làm rõ vấn đề này,
HS sẽ hiểu sâu sắc thêm thể loại truyền thuyết cũng như giá trị của tác phẩm
HS cần trả lời: Như vậy, cốt lõi lịch sử của “Truyện An Dương Vương
và Mị Châu - Trọng Thủy” là: An Dương Vương xây thành chế nỏ bảo vệ đấtnước và An Dương Vương để mất nước Từ cái cốt lõi ấy nhân dân đã thần kìhóa, đã gửi vào đó tâm hồn thiết tha của mình qua hình ảnh Rùa Vàng Bi tình
sử Mị Châu - Trọng Thủy và chi tiết “Ngọc trai - giếng nước” đều là thái độ củatác giả dân gian đối với từng nhân vật liên quan đến lịch sử Rùa Vàng, Mị Châu
- Trọng Thủy và “Ngọc trai - giếng nước” chỉ là trí tưởng tượng của dân gianlàm tăng thêm mối quan hệ với cốt lõi lịch sử Qua tác phẩm, nhân dân đã giảithích nguyên nhân việc mất nước Âu Lạc và nêu ra bài học lịch sử về việc giữnước, tinh thần cảnh giác với kẻ thù, cùng cách xử lí đứng đắn mối quan hệ giữariêng với chung, nhà với nước, cá nhân với cộng đồng
3/ Truyện cổ tích – “Tấm Cám”:
3.1 GV giúp HS tìm hiểu chung về thể loại truyện cổ tích dân gian:
- Khái niệm: Truyện cổ tích là “tác phẩm tự sự dân gian mà cốt truyện
và hình tượng được hư cấu có chủ định, kể về số phận con người bình thường trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo và lạc quan của nhân dân lao động” [2, tr18]
Trang 12- Phân loại: Truyện cổ tích có ba loại: [2, tr65]
+ Cổ tích về loài vật
+ Cổ tích thần kì
+ Cổ tích sinh hoạt
- Đặc trưng của truyện cổ tích thần kì: [2, tr65]
+ Sự tham gia của các yếu tố thần kì vào tiến trình phát triển của câuchuyện (tiên, Bụt, sự biến hóa thần kì, những vật có phép màu,…)
+Truyện cổ tích thần kì thể hiện ước mơ cháy bỏng của nhân dân lao động
về hạnh phúc gia đình, về lẽ công bằng xã hội, về phẩm chất và năng lực tuyệtvời của con người Chính vì vậy, truyện cổ tích thần kì thường xây dựng nhữngmẫu thuẫn xung đột giữa hai tuyến nhân vật đại diện cho cái thiện – cái ác rấtquyết liệt, nhưng bao giờ cái thiện cũng thắng, nghĩa là kết thúc có hậu
VD: Cô Tấm mò cua bắt tép cuối cùng được lấy hoàng tử Chàng Thạch
Sanh kiếm củi được lấy công chúa Chàng Sọ Dừa xấu xí cuối cùng lấy được vợđẹp, con gái phú ông Những kẻ tàn ác, bất công nhất thời có thể vinh hoa phúquý nhưng cuối cùng cũng bị tiêu diệt Trong truyện cổ tích thần kì, thần tiên cóxuất hiện nhưng không phải thuyết minh cho tư tưởng tôn giáo mà chính là đểtrợ giúp cho cái thiện thắng cái ác
3.2 GV giúp HS vận dụng những đặc trưng của thể loại truyện cổ tích thần kì để tìm hiểu truyện “Tấm Cám”:
3.2.1 Xác định tiểu loại:
Đây là tác phẩm thuộc tiểu loại truyện cổ tích thần kì – tiểu loại tiêu biểuhơn cả cho thể loại truyện cổ tích
3.2.2 Dựa vào đặc trưng của truyện cổ tích thần kì, GV hướng dẫn
HS hiểu được giá trị của tác phẩm qua những mâu thuẫn, xung đột và sự tham gia của các yếu tố thần kì vào tiến trình phát triển của câu chuyện.
- Mâu thuẫn chủ yếu trong tác phẩm là mâu thuẫn giữa cô Tấm mồ côi,xinh đẹp, hiền lành với dì ghẻ và Cám độc ác, tàn nhẫn Mâu thuẫn này pháttriển từ thấp đến cao: ban đầu chỉ là những hơn thua về vật chất, tinh thần, sựganh ghét mẹ ghẻ con chồng Càng về sau, mẫu thuẫn chuyển thành sự đố kị,
một mất một còn, tiêu diệt lẫn nhau GV hướng dẫn Hs làm rõ các mâu thuẫn
đó qua những sự việc, chi tiết biểu:
+ Trước tiên mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám xoay quanh quyền lợivật chất và tinh thần trong cuộc sống gia đình Mẫu thuẫn bắt đầu bằng sự việc
“chiếc yếm đỏ” khi mụ dì ghẻ đưa cho hai chị em hai cái giỏ với lời hứa hẹn:
“Hễ đứa nào bắt được đầy giỏ thì thưởng cho một cái yếm đỏ” Tấm chăm
chỉ nên chỉ một buổi là đầy được giỏ nhưng vì thật thà nên đã bị Cám lừa trúthết giỏ tép và cướp mất chiếc yếm Con cá bống, người bạn tinh thần, là bầu bạncủa Tấm nhưng cũng vì ganh ghét mà mẹ con Cám đã lừa và giết bống để ănthịt Ít lâu sau nhà vua mở hội trong mấy ngày đêm, già trẻ, gái trai đều nô nức
đi xem Hai mẹ con Cám thì sửa soạn áo quần đẹp đẽ để đi xem hội còn Tấm
không những không được đi mà còn bị mụ dì ghẻ lấy “một đấu gạo trộn lẫn với một đấu thóc” bắt nhặt gạo để thổi cơm nhằm dập tắt niềm vui, niềm giao cảm