1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

3 quy luật của phép biện chứng duy vật

11 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 480,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quy luật lượng – chất là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Quy luật này vạch rõ, chỉ rõ, cho chúng ta biết phương thức, cách thức của sự vận động phát triển của các sự vật, hiện tượng, hay phương thức của sự thay thế của sự vật hiện tượng này bằng sự thay sự vật hiện tượng khác. Sự thay thế sự vật hiện tượng này bắt đầu từ sự thay đổi dần dần về lượng này đến một giới hạn nào đó dẫn đến sự thay đổi cơ bản, căn bản về chất. sự vật hiện tượng cũ mất đi, sự vật hiện tượng mới ra đời và thay thế nó.

Trang 1

Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật chỉ ra hình thức chung nhất của sự vận động, phát triển của thế giới vật chất và nhận thức của con người về thế giới đó, đồng thời các quy luật này cũng tạo cơ sở cho phương pháp chung nhất của tư duy biện chứng Vì vậy đây là nền tảng cho sự phát triển của sự vật hiện tượng sau này

Trong phép biện chứng duy vật có 3 quy luật là quy luật lượng chất, quy luật mâu thuẫn và quy luật phủ định của phủ định, nếu quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập chỉ ra nguyên nhân và động lực bên trong của sự vận động, quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức và tính chất của sự phát triển thì quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng, hình thức và kết quả của

sự phát triển đó

I QUY LUẬT 1: QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT: QUY LUẬT TỪ SỰ THAY ĐỔI DẦN DẦN

VỀ LƯỢNG DẪN ĐẾN SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI

VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA QUY LUẬT trong phép biện chứng duy vật (mở bài thi): quy luật lượng – chất là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này vạch rõ, chỉ rõ, cho chúng ta biết phương thức, cách thức của sự vận động phát triển của các sự vật, hiện tượng, hay phương thức của sự thay thế của sự vật hiện tượng này bằng sự thay sự vật hiện tượng khác Sự thay thế sự vật hiện tượng này bắt đầu từ sự thay đổi dần dần về lượng này đến một giới hạn nào đó dẫn đến sự thay đổi cơ bản, căn bản về chất sự vật hiện tượng cũ mất đi, sự vật hiện tượng mới ra đời

và thay thế nó

CÁC KHÁI NIỆM CHẤT VÀ LƯỢNG:

Theo triết học Mac – Lê nin, mỗi một sự vật hiện tượng bao gồm chất và lượng Chất và lượng gắn liền với sự vật hiện tượng nào đó, không có sự vật hiện tượng nào không có chất và lượng của nó Chất và lượng thống nhất với nhau, gắn chặt với nhau không thể tách rời và vì vậy chất và lượng là tồn tại khách quan, chất và lượng là vốn có của sự vật hiện tượng, mà sự vật hiện tượng tồn tại khách quan, vậy cái thuộc về nó cũng tồn tại khách quan Mà tồn tại khách quan thì con người không thể sáng tạo và thủ tiêu nó theo ý muốn chủ quan của con người Ví dụ: kim loại có thuộc tính dẫn điện là vốn có của kim loại, ko phải do con người gán cho nó hay kim loại dễ bị oxy hoá là vốn có của nó, không phải do con người tạo ra

Chất là một khái niệm triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng Là thể thống nhất các thuộc tính Chất là cái chỉ rõ sự vật, hiện tượng đó là như thế nào, là gì và vì vậy chất

là cái phân biệt sự khác biệt giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác Các sự vật khác nhau là khác nhau về chất Từ định nghĩa trên đây, có thể khái quát thành những nội dung như sau:

CHẤT

 Chất là chỉ tính quy định, quy định rõ sự vật hiện tượng đó là nó chứ không phải là sự vật hiện tượng khác Giúp con người nhận biết được sự vật cụ thể là như thế nào Chất giúp phân biệt các sự vật hiện tượng khác nhau Vd: Thuộc tính của con người có tư duy và có khả năng sử dụng công cụ lao động, phân biệt con người khác với con vật Vd: chế độ tư bản chủ nghĩa có đặc điểm đặc trưng khác với chế độ xã hội chủ nghĩa và vì vậy 2 chế độ này khác nhau

 Chất là thể thống nhất của các thuộc tính Mỗi một chất có nhiều thuộc tính (thuộc tính là tính chất đặc trưng đặc điểm thuộc về sự vật), tuy nhiên những thuộc tính này ít nhiều khác nhau về vị trí vai trò của nó đối với tồn tại, phát triển của sự vật hiện tượng Cho nên căn cứ/dựa vào vào vị trí vai trò của từng thuộc tính mà người ta có thể chia thuộc tính thành: nhóm thuộc tính cơ bản và nhóm thuộc tính không cơ bản

Trang 2

o Thuộc tính cơ bản tạo thành chất cơ bản mà người ta gọi là bản chất Thuộc tính cơ bản bao gồm những thuộc tính mà sự tồn tại hay mất đi những thuộc tính này quyết định sự tồn tại hay mất đi những thuộc tính khác Vd: kim loại nói đến 5 thuộc tính

cơ bản là dẫn điện, dẫn nhiệt tốt, dễ oxy hoá, dễ dát mỏng, có ánh kim

o Thuộc tính không cơ bản tạo thành chất không cơ bản thuộc tính mà sự tồn tại hay mất đi thuộc tính này không quyết định sự tồn tại và mất đi những thuộc tính khác Vđ: kim loại ngoài 5 thuộc tính cơ bản còn có những thuộc tính khác không cơ bản; con người không chỉ có thuộc tính biết sử dụng công cụ lao động và tư duy, mà con người còn nhiều thuộc tính khác

 Thuộc tính của chất, sự vật hiện tượng (cả thuộc tính cơ bản và không cơ bản) chỉ có thể bộc

lộ thông qua mối quan hệ, liên hệ giữa sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác Vđ thông qua mối quan hệ giữa nước và đường để biết được đường có tính chất hoà tan Cho nên các nhà khoa học mới tiến hành thí nghiệm, thực nghiệm để tạo ra mối quan hệ giữa các

sự vật hiện tượng

LƯỢNG

Mỗi một sự vật hiện tượng còn bao hàm lượng Vậy lượng là một khái niệm triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật hiện tượng, lượng cũng tồn tại khách quan Lượng gắn liền với sự vật, lượng chỉ số lượng các thuộc tính (vd: kim loại có 5 thuộc tính cơ bản, mỗi thuộc tính là chất, lượng là 5), chỉ quy mô tồn tại (dài, ngắn, rộng, to, nhỏ, nặng, nhẹ … như thế nào), chỉ nhịp độ, vận tốc của sự vận động phát triển của các sự vật hiện tượng Vđ nền kinh tế của nước ta phát triển như thế nào được cho là chất,

nó là thuôcj tính căn bản của nền kinh tế thị trường còn về mặt lượng ta chỉ nói đến số lượng các thành phần kinh tế, các lĩnh vực kinh tế hay chúng ta nói đến vận tốc, vận động như tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế 8%/năm hay 6%/năm tỷ lệ sinh đẻ có kế hoạch của Vn hiện nay Do vậy, lượng thường biểu đạt, thể hiện bằng con số Tuy nhiên, có những biểu đạt, thông số, phương diện về lượng không thể biểu đạt dễ dàng bằng những con số cụ thể được vđ: không thể đo lường được trình độ tri thức của 1 người cao 2m1 mà chỉ nói là trình độ tri thức uyên thâm, sâu rộng Không ai nói phẩm chất đạo đức của anh

A nặng 2kg mà nói phẩm chất đạo đức tốt, mẫu mực Không thể nói ảnh hưởng vai trò của một cá nhân rộng lớn bằng 4500km2, mà nói ảnh hưởng của một cá nhân nào đó là rất lớn Giá trị của một phát minh khoa học không thể nói bằng 4 tấn thóc mà chỉ nói giá trị rất cao

NỘI DUNG QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT

Quy luật lượng chất có những nội dung chủ yếu sau:

1 Sự thống nhất giữa chất và lượng, trong sự thống nhất này, lượng thay đổi biến đổi nhanh hơn

so với chất (non sông dễ đổi, bản tính khó dời) (dù rằng những sự biến đổi dần dần về lượng ít nhiều kéo theo sự thay đổi ít nhiều về chất) chưa dẫn đến sự thay đổi căn bản về chất, sự vật hiện tượng cũ vẫn là nó, chưa chuyển hoá biến đổi thành sự vật khác Khoảng giới hạn này, triết học gọi là độ Vậy độ là một khái niệm triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn mà trong đó sự biến đổi dần dần về lượng … Như vậy mỗi một sự vật hiện tượng là một độ xác định Ví dụ: nước dưới áp suất 1 amp, nước thay đổi từ 0-100 độ C, nước vẫn là nước, chưa chuyển hoá thành chất rắn hoặc bay hơi Nước ở 10 độ C vẫn giống nước ở 90 độ C, chỉ hơi khác chút

2 Sự thay đổi biến đổi dần về lượng đến một giới hạn nào đó dẫn đến sự thay đổi căn bản về chất, chất cũ mất đi, chất mới ra đời sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời, giới hạn này triết học gọi là điểm nút Điểm nút là một khái niệm triết học dùng để chỉ giới hạn mà tại đó sự biến đổi dần dần về lượng dẫn đến sự biến đổi dần dần về chất Từ 2 ví dụ trên, điểm nút là 0 độ và 100 độ; hay quyết định thạc sĩ là điểm nút Tuy nhiên, trong giới tự nhiên, trong xã hội cũng như trong

tư duy nhận thức của con người, không phải bao giờ sự biến đổi dần dần về lượng đến một giới

Trang 3

hạn cũng dẫn đến sự thay đổi căn bản về chất, sự vật cũ hoàn toàn mất đi, sự vật mới hoàn toàn

ra đời thay thế cho nó Ta trở lại ví dụ trên, nước rất rõ ràng, không phải nước đến 100 C thì nước hoanf toàn mất đi và không khí hoàn toàn ra đời thay đổi nó, mà muốn cho nước hoàn toàn mất đi, khí hoàn toàn ra đời thay thế nó thì cần phải có thời gian cung cấp những điều kiện, tiền

đề duy trì mới thực hiện được Cũng giống như trong sự vận động xã hội loài người, không phải sau mỗi cuộc cách mạng xã hội thì xã hội cũ mất đi, xã hội mới ra đời mà cần một thời gian thực hiện các tiền đề thì xã hội cũ mới hoàn toàn mất đi, xã hội mới hoàn toàn ra đời, ta thường gọi

là thời kỳ quá độ

3 Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật Về mặt phương pháp, toàn bộ các nội dung trên là cơ

sở là căn cứ đòi hỏi chúng ta phải quán triệt thực hiện Nghiên cứu quy luật lượng chất có ý nghĩa phương pháp luận cho con người trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn như sau:

a Bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng là sự thống nhất không thể tách rời giữa chất và lượng

do vậy muốn nhận thức đầy đủ chính xác sự vật hiện tượng thì phải nhận thức cả chất

và lượng của nó để từ đó góp phần làm thay đổi biến đổi một sự vật hiện tượng nào đó thì hoạt động thực tiễn của con người phải tác động đến cả chất và lượng thì mới hy vọng làm sự vật hiện tượng thay đổi, biến đổi

b Mỗi một sự vật hiện tượng bao gồm nhiều thuộc tính và mỗi thuộc tính có vị trí vai trò khác nhau đối với mỗi sự phát triển của sự việc hiện tượng, do vậy trong nhận thức phải vạch ra những thuộc tính nào là thuộc tính cơ bản, thuộc tính chủ yếu, thuộc tính nào là thuộc tính không cơ bản, không chủ yếu để từ đó trong hoạt động thực tiễn, muốn làm thay đổi sự vật hiện tượng thì hoạt động thực tiễn của con người trước hết phải tập trung thay đổi thuộc tính cơ bản, tác động vào thuộc tính cơ bản

c Vì thuộc tính gồm cả thuộc tính cơ bản và không cơ bản chỉ biểu hiện bộc lộ trong quan

hệ giữa sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác do vậy muốn nhận thức đúng đắn chính xác sự vật hiện tượng phải nhận thức sự vật hiện tượng này trong quan hệ với

sự vật hiện tượng khác và trong hoạt động thực tiễn, để góp phần thay đổi thuộc tính thì phải tác động lên các mối quan hệ này, hoàn cảnh nảy sinh thuộc tính Vđ tính cách con người, muốn cải ác thì phải thay đổi môi trường sống, tái lập tạo lập môi trường mới để cái ác mất đi cái thiện hình thành Nhà tù tạo lập các môi trường lao động để thay đổi tâm tính con người

II QUY LUẬT THỨ 2: QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP (QUY LUẬT MÂU THUẪN)

Còn được gọi là quy luật mâu thuẫn, là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng duy vật Quy luật này chỉ rõ, vạch rõ nguồn gốc, là động lực bên trong của sự vận động phát triển của các sự vật hiện tượng Nguồn gốc đó là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh là nguồn gốc của sự vận động phát triển

1 Các khái niệm mặt đối lập và mâu thuẫn

Theo triết học M-L và trên cơ sở các thành tuuwj của các khoa học, từ đời sống thực tiễn của con người đã đi đến quan niệm rằng:

 Mọi sự vật đều là sự thống nhất của các mặt đối lập (câu cửa miệng: cái gì cũng có 2 mặt của nó), mặt đối lập là khái niệm triết học dùng để chỉ các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các tính chất khác nhau, đối lập nhau về đặc điểm, vị trí vai trò, xu hướng vận động, nhưng nó lại có liên

hệ với nhau, giàng buộc lẫn nhau tạo thành chỉnh thể mỗi một sự vật hiện tượng Vđ trong xã hội có giai cấp, xét về mặt giai cấp xã hội có 2 giai cấp khác nhau, đối lập nhau về địa vị xã hội

Trang 4

và lợi ích là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, 2 giai cấp này có vai trò lợi ích khác nhau, xu hướng vận động trái ngược nhau, giai cấp thống trị bằng mọi biện pháp duy trì sự tồn tại vĩnh viễn giai cấp đối lập với nó để duy trì giai cấp thống trị của mình, bằng mọi cách duy trì xã hội hiện thời, xã hội mà trong đó giai cấp thống trị luôn là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị luôn

là giai cấp bị trị Còn giai cấp bị trị muốn giải phóng, giải thoát sự áp bức bóc lột cũng luôn tìm cách thủ tiêu giai cấp thống trị 1 bên muốn xoá bỏ chế độ hiện thời, 1 bên muốn duy trì chế độ hiện thời trong 1 con người cũng luôn có 2 mặt đối lập thiện và ác, cao thượng và thấp hèn, nam châm có cực nam cực bắc, trong toán học có số âm số dương Các mặt đối lập này mặc dù đối lập nhau nhưng chúng còn ràng buộc lẫn nhau, quy định sự tồn tại của nhau, hay nói cách khác sự tồn tại của mặt đối lập này lấy sự tồn tại của mặt đối lập kia làm tiền đề (câu cửa miệng: không có cái này thì chẳng có cái kia), không có xấu thì ko có cái đẹp, thừa nhận sự tồn tại cái thiện thì cũng nghiễm nhiên thừa nhận sự tồn tại của cái ác

 Thứ 2: Ngay bản thân mỗi một mặt đối lập cũng không phải là cái gì đó thuần tuý tuyệt đối hoàn toàn mà còn bao hàm, chứa đựng trong nó mặt đối lập của chính nó (người ta thường nói: trong thiện có ác, trong ác có thiện), các cụ thường giáo dục “thương cho roi cho vọt”, hai mặt đối lập tạo thành một mâu thuẫn, vì vậy mỗi sự vật hiện tượng là một mâu thuẫn do vậy mâu thuẫn sự vật hiện tượng mang tính khách quan

NỘI DUNG CHÍNH:

 Sự thống nhất giữa các mặt đối lập: về cơ bản đã được đề cập khi nói về mặt đối lập và mâu thuẫn (đã đề cập ở trên)

 Đấu tranh giữa các mặt đối lập: các mặt đối lập không chỉ là tiền đề của nhau, ràng buộc lẫn nhau, quy định lẫn nhau, không có mặt đối lập này thì không có mặt đối lập kia mà vì các mặt đối lập là đối lập nhau cho nên chúng còn xâm nhập vào nhau, đấu tranh với nhau (cái ác, cái thiện trong một con người luôn luôn đấu trang lẫn nhau), thủ tiêu và giằng xé lẫn nhau Tất nhiên mức độ phạm vi đấu tranh của các mặt đối lập ít nhiều khác nhau VD: giai cấp thống trị đấu tranh giai cấp bị trị, chống lại dập tắt ý chí phản kháng từ phía những người bị áp bức bóc lột chứ ko phải xoá bỏ giai cấp bị trị để nhằm duy trì họ mãi mãi là giai cấp bị bóc lột Còn giai cấp

bị thống trị, chính cái chế độ ấy làm cho con người luôn luôn là tầng lớp bị áp bức, chính sự tồn tại của giai cấp thống trị nên giai cấp bị trị luôn luôn là giai cấp bị trị vì thế muốn thoát khỏi giai cấp bị trị thì giai cấp bị trị phải đấu tranh để xoá bỏ chế độ xã hội hiện thời

 Sự chuyển hoá của các mặt đối lập: chính là kết quả của sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập đến một giới hạn nào đó, đến một mức độ nào đó thì các mặt đối lập sẽ chuyển hoá và biểu hiện của sự chuyển hoá là sự vật hiện tượng cũ mất đi và được thay thế bằng sự vật hiện tượng mới Sự chuyển hoá này còn biểu hiện ở phạm vi, mức độ, tính chất, khác nhau Vđ chuyển hoá hoàn toàn (chuyển hoá từ sự vật hiện tượng này bằng sự vật hiện tượng khác, từ mặt này thành mặt khác), chuyển hoá bộ phận (từng phần, từng bộ phận, từng mặt của bộ phận này thành từng phần của bộ phận mới)

 Các loại mâu thuẫn: do mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến khách quan nhưng vị trí vai trò của từng loại mâu thuẫn đối với sự tồn tại phát triển của sự vật hiện tượng lại rất khác nhau, khác nhau về tính chất, khác nhau về mức độ ảnh hưởng, khác nhau về phạm vi tác động,… và dựa vào đó người ta chia thành các nhóm loại mâu thuẫn sau:

o Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài:

 Mâu thuẫn bên trong: là mâu thuẫn của các mặt cấu thành của sự vật hiện tượng, vđ: xã hội muốn vận động phát triển thì phải giải quyết hiệu quả các mâu thuẫn bên trong nội tại của xã hội mâu thuẫn giữa quần chúng với các thể chế chính

Trang 5

trị xã hội… mâu thuẫn bên trong giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại của các hiện tượng xã hội

 Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa các sự vật hiện tượng với nhau Vđ mâu thuẫn giữa nước ta với các nước khác Mâu thuẫn bên ngoài không có vị trí vai trò quyết định đối với sự vận động phát triển thay đổi của sự vật hiện tượng như mâu thuẫn bên trong mà chỉ có vai trò thứ yếu, vai trò nhất định, và những vai trò này cũng phải thông qua những mâu thuẫn bên trong Những vai trò thứ yếu của những mâu thuẫn bên ngoài cũng phải thông qua những mâu thuẫn bên trong

o Mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản:

 Mâu thuẫn cơ bản là những mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các giai đoạn, các cấp

độ tồn tại của sự vật hiện tượng, nó quyết định sự vận động phát triển của các sự vật hiện tượng ở tất cả các giai đoạn, các cấp độ tồn tại của nó

 Mâu thuẫn không cơ bản gồm những mâu thuẫn tồn tại trong các giai đoạn, các cấp độ nhưng không có vai trò như mâu thuẫn cơ bản

 Vd: người ta nói lịch sử xã hội loài người từ trước đến nay trải qua/ tồn tại qua 5 giai đoạn hay 5 phương thức sản xuất hay 5 hình thái kinh tế xã hội như sau: cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn thấp là xã hội chủ nghĩa Thì mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Mâu thuẫn không cơ bản có nhiều ví dụ mâu thuẫn cung cầu, cung và cầu không phải lúc nào cũng khớp với nhau, cung có thể vượt quá cầu, cầu có thể vượt quá cung đều mang đến những

hệ luỵ nhất định

o Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu

 Mâu thuẫn chủ yếu: là những mâu thuẫn nổi bật lên hàng đầu trong mỗi một giai đoạn, mỗi một cấp độ tồn tại của sự vật hiện tượng, nó quyết định, nó chi phối

sự tồn tại, sự vận động phát triển của sự vật hiện tượng ở giai đoạn đó và nó tạo

ra điều kiện tiền đề làm cho sự vật hiện tượng ấy phát triển lên giai đoạn khác cao hơn

 Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn tồn tại trong từng giai đoạn, từng cấp độ tồn tại nhưng nó không có vị trí vai trò như mâu thuẫn chủ yếu

 Vd: Trong những văn kiện đầu tiên, Đảng ta xác định cách mạng Việt Nam trải qua 2 giai đoạn/2 cuộc cách mạng là cách mạng dân tộc dân chủ (thổ địa cách mệnh) và cách mạng xã hội chủ nghĩa (thế giới cách mệnh) Trong giai đoạn đầu, Đảng ta xác định mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn toàn thể dân tộc ta với thực dân Pháp xâm lược Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân, nông dân, giai cấp giữa các tầng lớp

o Mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng: chỉ xuất hiện tồn tại trong xã hội có giai cấp

và đấu tranh giai cấp

 Mâu thuẫn đối kháng: là mâu thuẫn giữa các giai cấp, tầng lớp mà địa vị và quyền lợi đối kháng nhau, đối lập nhau và không thể dung hoà Vđ mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và gia cấp bị trị Như ông Lênin đã nói, giai cấp thống trị không bao giờ từ bỏ, tự nguyện từ bỏ địa vị thống trị lợi ích cơ bản của nó, giai cấp bị trị không thể trông cậy vào lòng tốt của giai cấp thống trị Do vậy, biện pháp để giải quyết loại mâu thuẫn này chủ yếu bằng bạo động

 Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa giai cấp đẳng cấp tầng lớp mà về mặt lợi ích cơ bản là phù hợp vđ: mâu thuẫn giữa đảng cộng hoà – đảng dân chủ;

Trang 6

mâu thuẫn giữa các phe phái, mâu thuẫn trong nội bộ Nó không làm thay đổi địa

vị của giai cấp thống trị Do vậy để giải quyết loại mâu thuẫn này là hợp tác, là đoàn kết Mâu thuẫn không đối kháng nếu không thận trọng sẽ dẫn đến mâu thuẫn đối kháng

 Ý nghĩa phương pháp luận của các loại mâu thuẫn đối với hoạt động của con người

QUY LUẬT 3: QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH

Quy luật phủ định hay quy luật phủ định của phủ định là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin, chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển, theo đó sự phát triển của sự vật, hiện tượng

có xu hướng, khuynh hướng lặp lại giai đoạn đầu nhưng ở trình độ cao hơn, phát triển theo hình xoắn trôn ốc.

Sự phủ định

Theo triết học Mác - Lênin thì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều trải qua quá trình sinh ra, tồn tại, phát triển và diệt vong Sự vật cũ mất đi được thay thế bằng sự vật mới Sự thay thế đó là tất yếu trong quá trình vận động

và phát triển của sự vật Không như vậy sự vật không phát triển được Sự thay thế đó được triết học gọi là sự phủ định

Theo quan điểm duy vật biện chứng, sự chuyển hoá từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất, sự đấu tranh thường xuyên của các mặt đối lập làm cho mâu thuẫn được giải quyết, từ đó dẫn đến sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế Sự thay thế diễn ra liên tục tạo nên sự vận động và phát triển không ngừng của sự vật Sự vật mới ra đời là kết quả của sự phủ định sự vật cũ Điều đó cũng có nghĩa là sự phủ định là tiền đề, điều kiện cho sự phát triển liên tục, cho sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Đó là phủ định biện chứng

Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự thân, sự phát triển tự thân, là mắt khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời sự vật mới, tiến bộ hơn sự vật cũ Tuy nhiên có sự phủ định chỉ là phá hủy cái cũ, không tạo tiền đề cho sự tiến lên và lực lượng phủ định được đưa từ ngoài vào kết cấu của sự vật, tức là sự tự phủ định, là

sự phủ định tạo tiền đề cho sự phát triển tiếp theo, cho cái mới ra đời thay cái cũ

Phủ định biện chứng có các đặc trưng cơ bản là tính khách quan và tính kế thừa

 Tính khách quan: vì nguyên nhân của sự phủ định nằm ngay trong bản thân sự vật Đó chính là giải quyết những mâu thuẫn bên trong sự vật Nhờ việc giải quyết những mâu thuẫn mà sự vật luôn luôn phát triển Mỗi sự vật có phương thức phủ định riêng tuỳ thuộc vào sự giải quyết mâu thuẫn của bản thân chúng Điều đó cũng có nghĩa, phủ định biện chứng không phụ thuộc vào ý muốn, ý chí của con người Con người chỉ có thể tác động làm cho quá trình phủ định ấy diễn ra nhanh hay chậm trên cơ sở nắm vững quy luật phát triển của sự vật

 Kế thừa: vì phủ định biện chứng là kết quả của sự phát triển tự thân của sự vật, nên nó không thể là sự thủ tiêu, sự phá huỷ hoàn toàn cái cũ Cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng cái cũ Cái mới ra đời không xóa bỏ hoàn toàn cái cũ mà có chọn lọc, giữ lại và cải tạo những mặt còn thích hợp, những mặt tích cực, nó chỉ gạt bỏ ở cái cũ những mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu, gây cản trở cho sự phát triển Do vậy, phủ định biện chứng đồng thời cũng là khẳng định

Cái mới trong phủ định biện chứng là cái biểu hiện sự phát triển phù hợp quy luật của sự vật, hiện tượng, là biểu hiện sự chuyển hóa từ giai đoạn thấp đến giai đoạn cao trong quá trình phát triển

Nội dung quy luật

Sự ra đời và tồn tại của sự vật đã khẳng định chính nó Trong quá trình vận động của sự vật, những nhân tố mới xuất hiện sẽ thay thế những nhân tố cũ, sự phủ định biện chứng diễn ra Sự vật đó không còn nữa và bị thay thế bởi sự vật mới, trong đó có những nhân tố tích cực được giữ lại Song sự vật mới này sẽ lại bị phủ định bởi sự vật mới khác

Sự vật mới khác ấy dường như là sự vật đã tồn tại, song không phải là sự trùng lặp hoàn toàn, mà nó có được bổ sung những nhân tố mới và chỉ bảo tồn những nhân tố tích cực, thích hợp với sự phát triển tiếp tục của nó Sau khi

Trang 7

sự phủ định diễn ra 2 lần thì sự phủ định của phủ định được thực hiện, sự vật mới hoàn thành một chu kỳ phát triển

Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định biện chứng như trên là sự thống nhất hữu cơ giữa lọc bỏ, bảo tồn và bổ sung thêm những nhân tố tích cực mới Do vậy, thông qua những lần phủ định biện chứng của bản thân, sự vật sẽ ngày càng phát triển

Phạm trù phủ định biện chứng mới nói lên một giai đoạn, một mắt khâu, một nấc thang trong quá trình phát triển nhất định Với tư cách là cái phủ định (lần thứ 1), cái mới cũng chứa đựng trong mình xu hướng dẫn tới sự phủ định lần thứ 2 (phủ định của phủ định)

Trong sự vận động vĩnh viễn của thế giới vật chất, dây chuyền của những lần phủ định biện chứng là vô tận, cái mới phủ định cái cũ, nhưng rồi cái mới lại trở nên cũ và lại bị cái mới sau phủ định Cứ như vậy, sự phát triển của sự vật, hiện tượng diễn ra theo khuynh hướng phủ định của phủ định từ thấp đến cao một cách vô tận theo đường "xoáy ốc" hay "vòng xoáy trôn ốc" Sau mỗi chu kỳ phủ định của phủ định, cái mới được ra đời lặp lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn

Sự phát triển theo đường "xoáy ốc" là sự biểu thị rõ ràng, đầy đủ các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng của sự vật: tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên Mỗi vòng của đường "xoáy ốc" thể hiện sự lặp lại nhưng cao hơn, thể hiện trình độ cao hơn của sự phát triển

Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật là do mâu thuẫn trong bản thân sự vật quyết định Mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh và chuyển hoá giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật - giữa mặt khẳng định và mặt phủ định Sự phủ định lần thứ nhất diễn ra làm cho sự vật cũ chuyển thành cái đối lập với cái khẳng định ban đầu Sự phủ định lần thứ hai, sự vật mới với tư cách là cái phủ định của phủ định đối lập với cái phủ định

và trở lại cái ban đầu nhưng không giống nguyên vẹn như cái cũ mà trên cơ sở cao hơn, tốt hơn

Phủ định của phủ định là sự thống nhất biện chứng của cái khẳng định và phủ định, là kết quả của sự tổng hợp tất cả nhân tố tích cực của cái khẳng định ban đầu và cái phủ định lần thứ nhất, cũng như các giai đoạn trước đó Cái tổng hợp này là sự lọc bỏ những giai đoạn đã qua, vì vậy, nó có nội dung phong phú hơn, toàn diện hơn Kết quả của sự phủ định của phủ định là điểm kết thúc của một chu kỳ phát triển và cũng là điểm khởi đầu cho kỳ phát triển tiếp theo Sự vật lại tiếp tục biện chứng chính mình để phát triển Cứ như vậy sự vật mới ngày càng mới hơn Theo triết học Mác-Lênin thì quy luật phủ định của phủ định là quy luật phổ biến của sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy

Ý nghĩa phương pháp luận

Quy luật phủ định của phủ định đã chỉ rõ sự phát triển là khuynh hướng chung, là tất yếu của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Song, quá trình phát triển không diễn ra theo đường thẳng nhưng quanh co phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định, nhiều khâu trung gian Điều đó giúp chúng ta tránh được cách nhìn phiến diện, giản đơn trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, đặc biệt là các hiện tượng xã hội, và do vậy cần phải kiên trì đổi mới, khắc phục khuynh hướng bi quan, chán nản, dao động trước những khó khăn của sự phát triển

Quy luật phủ định của phủ định cũng khẳng định tính tất thắng của cái mới, vì cái mới là cái ra đời phù hợp với quy luật phát triển của sự vật Mặc dù khi mới ra đời, cái mới có thể còn non yếu, song nó là cái tiến bộ hơn, là giai đoạn phát triển cao hơn về chất so với cái cũ Vì vậy, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, cần có nhận thức đúng về cái mới và có thái độ đúng đối với cái mới đồng thời chủ động phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển

Phải có cái nhìn biện chứng trong khi phê phán cái cũ, cần phải biết sàng lọc, kế thừa những yếu tố hợp lý của cái

cũ, tránh thái độ “hư vô chủ nghĩa”, “phủ định sạch trơn”

Lí luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng nghiên cứu bản chất, tính quy luật, những hình thức và phương pháp nhận thức, vấn đề chân lý Nó giải đáp một cách đúng đắn và đầy đủ mặt thứ hai trong vấn đề cơ bản của triết học

Câu 5: khái niệm thực tiễn và lý luận? bỏ những yêu cầu cơ bản? Sự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong cách mạng Việt Nam?

Trang 8

1 Khái niệm thực tiễn và lý luận

 Thực tiễn:

o Định nghĩa: là một phạm trù triết học chỉ toàn bộ hoạt động vật chất cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến thế giới và chính con người để tạo ra những điều kiện tiền đề sự phát triển của con người và của xã hội loài người

o Hoạt động thực tiễn của con người hết sức đa dạng, phong phú, tính chất khác nhau, mục tiêu mục đích khác nhau Từ tất cả các hoạt động thực tiễn hết sức đa dạng đó, người ta sắp xếp lại thành 3 dạng hoạt động thực tiễn là hoạt động lao động sản xuất, hoạt động chính trị xã hội và hoạt động nghiên cứu khoa học

 Hoạt động lao động sản xuất là hoạt động đầu tiên, cơ bản, thường xuyên, phổ biến của con người Một xã hội, một dần tộc nào đó mà dừng sản xuất thì sẽ không thể phát triển chưa nói đến việc sản xuất ra các sản phẩm thoả mãn nhu cầu của con người (vd tâm linh) Nhu câuf cũng là một nhân tố, là động lực của sản suất Như Mac nói, con người đầu tiên phải ăn, mặc, đi lại, … rồi sau đó mới

… Những thức ăn ban đầu của con người là những đồ có sẵn trong tự nhiên, nhưng phải thông qua hoạt động tìm kiếm, hái lượm săn bắn, …, Làm ra các sản phẩm thoả mãn nhu cầu tinh thần

 Hoạt động chính trị xã hội là hoạt động để tạo ra điều kiện môi trường, hoàn cảnh, không gian để hình thành và hoàn thiện bản chất con người, các năng lực, các phẩm chất của con người vd: người có khả năng ca hát, người có khả năng

tư duy logics

 Hoạt động nghiên cứu khoa học: hoạt động này khác với 2 hoạt động trên, hoạt động này đặc biệt ở chủ thể của hoạt động, phương thức hoạt động, sản phẩm của hoạt động Chủ thể của hoạt động này đúng là con người nhưng đặc biệt hơn

ở 2 hoạt động kia hai hoạt động trên cũng chủ thể là con người nhưng số lượng đông đảo hơn Hoạt động nghiên cứu khoa học không thể trên phần lớn người dân được mà chỉ một bộ phận nhất định (vd từ sinh viên, các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học), phương pháp thực hiện cũng khác các hoạt động khác, phải có công cụ (kính hiển vi, phòng thí nghiệm, phòng thực nghiệm) sản phẩm của nó

là các công trình khoa học, các công trình nghiên cứu, các học thuyết, các phát minh, định lý định luật, giáo trình bài giảng, các đề tài khoa học, … mà giá trị của nó không thể định lượng cụ thể được Không thể định lượng giá trị khoa học bằng 3 tạ thóc được

 Lý luận (Nhận thức): là dạng nhận thức cấp độ cao của tri thức Tri thức lý luận tồn tại ở các hình thức lý luận, đây là các định lý định luật khoa học VD các học thuyết của kinh tế là lý luận, các khái niệm các phạm trù, các quy luật của phép biện chứng của triết học là lý luận Nó

là kết quả của năng lực khái quát hoát, trừu tượng hoá ở cấp độ cao Lý luận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Lý luận được Khái quát từ thực tiễn và phải thông qua năng lực khái quát hoá, trừu tượng hoá Lý luận khác với các tri thức thông thường, nó tồn tại dưới dạng tư tưởng, định luật, định lý

 Mối quan hệ giữa thực tiễn với nhận thức, với lý luận: có quan hệ chặt chẽ với nhau

Mặt thứ nhất: Thực tiễn có 3 vai trò quan trọng với nhận thức:

o Thực tiễn là cơ sở của lý luận, của nhận thức Lý luận của con người không phải cái có sẵn mà nó hình thành thông qua hoạt động thực tiễn của con người, toàn bộ tri thức con người được hình thành từ hoạt động thực tiễn, lý luận là thực tiễn được khái quát bằng

Trang 9

tư tưởng Con người dùng các công cụ tác động vào giới tự nhiên và làm giới tự nhiên bộc lộ bản chất, vd: không tác động vào than đá thì con người ko thể phát hiện ra các đặc trưng của than đá, phục vụ vào hoạt động sản xuất của con người Thực tiễn luôn luôn vận động phát triển không chỉ dừng lại một hình thức một phương thức, một mục đích nào mà thực tiễn còn là cơ sở của nhận thức, thực tiễn đến lượt nó có vai trò là động lực thúc đẩy sự phát triển của lý luận, nhận thức VD: lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, vấn đề quản trị kinh doanh trong nền kinh tế thị trường qua nghiên cứu Panasonic Qua thực tiễn, lý luận cần phải thay đổi để bắt kịp và phù hợp hơn với thực tiễn

o Thực tiễn là mục đích của nhận thức, của lý luận Con người sáng tạo ra lý luận để phục

vụ hoạt động thực tiễn ổn định chính trị, xã hội có trật tự kỷ cương có hoà bình xét đến cùng mà theo Đảng ta chỉ rõ cũng nhằm phát triển kinh tế xã hội, hoàn thiện bộ máy nhà nước, chỉnh đốn Đảng cũng nhằm phát triển kinh tế xã hội HCM trước đây đã nói rằng

lý luận không vì thực tiễn là lý luận suông

o Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm tra, kiểm nghiệm lý luận Việc kiểm tra lý luận không phải từ chính bản thân nó mà phải thông qua thực tiễn, phải được vận dụng vào trong thực tiễn chúng ta đã trả giá rất nhiều, đưa ra đường lối quyết sách thường không xuất phát từ thực tiễn, khi đưa vào thực tiễn không phù hợp Trong các cuộc họp quốc hội của nước ta, lần nào cũng sửa đổi các điều luật nghị định., Từ năm 1946 đến nay đã sửa đổi mấy bộ luật Uỷ ban pháp luật của Quốc hội làm việc rất căng thẳng, không có thời gian nhiều để đi sâu sát hoạt động thực tiễn Triết học Mac - Lê Nin còn khẳng định thực tiễn là tiêu chí duy nhất để kiểm tra lý luận Mặt khác triết học Lê nin cũng cho rằng không phải bao giờ và lúc nào thực tiễn cũng đóng vai trò kiểm tra kiểm nghiệm

ví dụ: các loại dự báo, các dự báo khoa học, không thể lấy thực tiễn lúc bấy giờ để kiểm tra được Dự báo tương lai thì phải lấy thực tiễn sau này mới kiểm tra được là cho thời gian, sự kiện xảy ra trong tương lai

Mặt thứ 2 tác động qua lại, vậy Vai trò của lý luận, nhận thức đối với thực tiễn là như thế nào:

o Lý luận đóng vai trò dẫn đường, chỉ lối, kim chỉ nam, cung cấp trang bị tri thức về

tự nhiên, xã hội, con người, … Trang bị cả những tri thức trong việc vận dụng tri thức vào trong thực tiễn Các nhà khoa học không chỉ trang bị tri thức cho bà con làm giàu mà còn có tri thức vận dụng cho bà con Nhà nước tổ chức rất nhiều các lớp để bà con làm giàu không chỉ bằng nghề nông mà còn hướng dẫn nhiều ngành nghề khác để làm giàu

Lý luận mà không vì thực tiễn thì là lý luận suông, thực tiễn không có lý luận soi đường thì là thực tiễn

mù quáng Không có hành động nào của con người mà không chịu chi phối tác động bởi một lý luận nào đó

Sự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong cách mạng Việt Nam

Trước đổi mới:

Do chưa nhận thức đầy đủ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường, chưa gắn lý luận với thực tế điều kiện, hoàn cảnh ở nước ta nên đã chủ quan, nóng vội, bỏ qua những bước đi cần thiết Một trong những sai lầm trong chính sách của Đảng trong thời kỳ trước đổi mới là xuất phát từ căn bệnh giáo điều, xuất phát từ sự lạc hậu, yếu kém về lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa Sự yếu kém về lý luận làm cho

Trang 10

chúng ta tiếp thu lý luận Chủ nghĩa Mác Lênin một cách giản đơn, phiến diện, cắt xén sơ lược, không đến nơi đến chốn, CNXH được hiểu một cách giản đơn, ấu trĩ Trong thời kỳ này, Đảng ta cũng vấp phải những sai lầm trong việc đề ra chủ trương, đường lối, chính sách phát triển đất nước: Chủ trương tập trung cho công nghiệp hóa đất nước mà chủ lực là phát triển công nghiệp nặng mà không chú ý đến điều kiện vật chất và lực lượng sản xuất của ta còn chưa tương xứng, với xuất phát điểm còn rất thấp từ một nền kinh tế lạc hậu, sản xuất nông nghiệp là chính, trình độ lực lượng sản xuất không cao, sản xuất thủ công là chủ yếu Sự nhận thức giản đơn, yếu kém trong việc vận dụng xơ cứng lý luận vào trong còn thể hiện ở việc hiểu và vận dụng chưa đúng các quy luật khách quan đang tác động trong thời kỳ quá độ ở nước ta (quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, các quy luật sản xuất hàng hoá, quy luật thị trường ), quá nhấn mạnh một chiều vai trò của quan hệ sản xuất, của chế độ công hữu, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ Xét đến cùng, những sai lầm trên đây của Đảng ta xuất phát từ việc chưa quán triệt đầy đủ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn

Thời kỳ đổi mới:

Nhận thức được những sai lầm trên, từ ĐH Đảng lần VI (1986), Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có mọi phương hướng đổi mới phải xuất phát từ thực tiễn như Văn kiện Đại hội VI của Đảng: “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng” Thực tế, sau 10 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng Đại Hội Đảng lần IX cũng đã nhấn mạnh “Tiến hành đổi mới xuất phát từ thực tiễn và cuộc sống xã hội Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm tốt của thế giới, không sao chép bất cứ một mô hình có sẵn nào…” Những nhận định trên của Đảng chính là sự tiếp thu và vận dụng đúng đắn quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN phải lấy thực tế làm điểm xuất phát

để xác định phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ của cách mạng, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn để xác định chủ trương, chính sách Đại hội IX tiếp tục khẳng định “Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo Tiến hành đổi mới xuất phát từ thực tiễn và cuộc sống của xã hội Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm tốt của thế giới, không sao chép bất cứ một mô hình sẵn có nào; đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để với những bước đi, hình thức và cách làm phù hợp Có những điều chỉnh, bổ sung và phát triển cần thiết về chủ trương, phương pháp, biện pháp; tìm và lựa chọn những giải pháp mới, linh hoạt, sáng tạo, nhạy bén nắm bắt cái mới, tận dụng thời cơ, khắc phục sự trì trệ, làm chuyển biến tình hình”.Trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tổng kết kinh nghiệm thành công và cả kinh nghiệm chưa thành công trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và các nước khác Những thành tựu đó chứng

tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam Sau gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đó, có thể nói rằng mỗi Đại hội Đảng là một dịp để Đảng và Nhà nước ta tổng kết thực tiễn, nâng tầm lý luận, làm căn cứ cho việc hoạch định đường lối, chính sách phù hợp cho từng giai đoạn Những thành tựu tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận đã cung cấp nhiều luận

cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng; góp phần vào những thành công rất

to lớn của Đảng và nhân dân ta trong công cuộc đổi mới, tạo thế và lực mới cho đất nước Đại hội X tiếp tục khẳng định: “đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng”, “phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn”, “đổi mới phải

vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát

từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới" Lý luận đổi mới ở nước ta ngày càng có vai trò quan trọng trong việc tác động trở lại thực tiễn Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành

cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối chính sách của Đảng, cho việc quản lý của nhà nước

Ngày đăng: 18/10/2021, 01:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w