Nắm phạm vi thay đổi của từng mức độ gây hại theo từng năm và những nguyên nhân gây ra những thay đổi đó - Nắm được các thời kỳ khủng hoảng trong đời sống của các loài dịch bệnh chủyếu c
Trang 1Chương I: KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA DỰ TÍNH DỰ BÁO
BIẾN ĐỘNG SỐ LƯỢNG QUẦN THỂ DỊCH HẠI
I khái niệm về dự tính, dự báo dịch hại cây trồng nông nghiệp
1 Khái niệm
- Dự tính dự báo (DTDB) là dự đoán sớm tình hình dịch hại sẽ phát sinh mức
độ dịch hại gây hại dựa trên việc theo dõi thường xuyên dịch hại trên đồng ruộng
để chủ động phòng trừ
- Việc DTDB không chỉ dừng lại ở mức nắm được số lượng và tình hình gâyhại của dịch hại trên đồng ruộng trong thời gian hiện tại mà còn cần phải dự đoánsớm sự phát sinh gây hại của chúng trong tương lai Muốn vậy người làm công tácDTDB cần phải nắm được quy luật phát sinh, phát triển của dịch hại và các điềukiện ngoại cảnh ảnh hưởng tới chúng
- DTDB dịch hại chính xác sẽ giúp đỡ đắc lực cho việc lập kế hoạch phòng trừdịch hại bảo vệ mùa màng trong vài năm hoặc từng năm, từng vụ từng thời kì sinhtrưởng của cây trồng
- Loại DTDB này nhằm mục đích xác định phương hướng cho công tác BVTVtrong những năm tiếp theo
- Trên cơ sở những dự tính dài hạn, ta xây dựng các kế hoạch nghiên cứu khoahọc, tình hình biến đổi của xản xuất và tình hình phát sinh các loài sinh vật hại đề
ra những biện pháp phòng trừ phù hợp với từng loài sinh vật gây hại
Trang 2- Dự tính dự báo dài hạn là một trong những tiền đề để hình thành kế hoạchxây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác BVTV, các điểm theo dõi dịch hại,các xưởng sản xuất và gia công thuốcBVTV, mua sắm máy móc Ngoài ra côngtác dự tính dự báo dài hạn còn là cơ sở để tiến hành cải cách bộ máy quản lý và chỉđạo công tác BVTV.
+ Muốn cho DTDB dài hạn đảm bảo được độ chính xác và tin cậy cần nắm cácyếu tố sau:
- Cần nắm được vùng gây hại và mức độ gây hại của dịch hại theo từng vùng,từng nhóm dịch hại Nắm phạm vi thay đổi của từng mức độ gây hại theo từng năm
và những nguyên nhân gây ra những thay đổi đó
- Nắm được các thời kỳ khủng hoảng trong đời sống của các loài dịch bệnh chủyếu có liên quan đến việc thay đổi tình trạng môi trường sinh sống, mỗi khi cónhững thay đổi trong các biện pháp kỹ thuật trong cơ cấu cây trồng và trong tổchức sản xuất của một vùng, một địa phương
- Nắm được mối quan hệ giữa diện tích bị gây hại với số lượng các ổ dự trữdịch hại trong vùng và khả năng phát tán của dịch hại
- Tính toán đầy đủ đến chiều hướng phát triển và khả năng hoạt động của các
cơ sở chọn giống cây trồng, thường các giống cây trồng có năng suất cao luôn cóđiều kiện thuận lợi cho một số loài dịch haị phát sinh và gây hại
- Tính toán đến chiều hướng và khả năng phát triển các biện pháp BVTV để
dự tính một cách chính xác tình trạng dịch hại trong thời gian sắp tới
b DTDB trung hạn
+ Khái niệm:
- DTDB trung hạn là loại DTDB cho thời hạn một năm hay một vụ sản xuất,DTDB trung hạn vừa khác với DTDB dài hạn ở mục đích, thời gian, yêu cầu và nộidung vì vậy các căn cứ làm tiền đề cho công tác, phương pháp DTDB cũng khác
Trang 3- DTDB này làm cơ sở cho việc xây dựng công tác BVTV trong vụ sản xuấtsắp đến và công việc chuẩn bị cho việc mua sắm các trang thiết bị, vật tư cần thiết.DTDB trung hạn dựa trên những thay đổi của các yếu tố khí tượng, kỹ thuật canhtác và hoạt động sinh sống của dịch hại
+ DTDB trung hạn có các yêu cầu sau:
- Tính toán mật độ, sự phân bố của dịch hại trong vùng phổ biến
- Mức độ gây hại của dịch hại ở tiểu vùng trong vùng phổ biến
- Khả năng dịch hại phát triển thành dịch
c DTDB ngắn hạn
+ Khái niệm:
- DTDB ngắn hạn được thực hiện trong những khoảng thời gian ngắn 7 - 10ngày cho đến một tháng Loại dự tính dự báo này là cơ sở quyết định thời gian, quy
mô và địa điểm để tiến hành các biện pháp phòng trừ dịch hại
- Là dự báo tình hình dịch hại trong quá trình một giai đoạn sinh trưởng củacây trồng hoặc một lứa sâu Loại dự báo này dễ làm và có độ chính xác cao
- DTDB ngắn hạn dựa trên cơ sở số liệu của công tác điều tra phát hiện định
kỳ dịch hại trên đồng ruộng, công tác này thường làm liên tục và phát hiện dịch hạitrên cây trồng một cách kỹ lưỡng
- Dự tính ngắn hạn có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo hiệu quả của côngtác BVTV vì vậy việc làm này đòi hỏi tiến hành thường xuyên nghiêm túc, đều đặn
và trên mọi cây trồng trong mỗi vụ sản xuất nông nghiệp
3 Vai trò của công tác dự tính, dự báo dịch hại
- Cho tới nay vai trò của công tác DTDB được đánh giá tương đối cao Nó là
cơ sở để tiến hành các biện pháp bảo vệ thực vật trên cây trông và nông sẩn phẩm
- DTDB giúp đỡ đắc lực cho việc lập kế hoạch phòng trừ dịch hại bảo vệ mùamàng trong một thời gian tương đối dài
Trang 4- Nhờ có DTDB chính xác mà đã ngăn ngừa hạn chế sự thiệt hại do dịch hạigây nên trên diện rông ở một vùng sinh thái nhất định Do công tác DTDB đã báotrước được nguy cơ gây hại của dịch hại, sễ có kế hoạch phòng trừ hợp lý nên sẽlàm giảm nhẹ chi phí phòng trừ cho người nông dân.
II Nội dung nghiên cứu và nhiệm vụ của dự tính dự báo trong công tác bảo vệ thực vật
1 Nội dung nghiên cứu của DTDB
Khảo sát một cách chi tiết mối quan hệ tương hỗ giữa dich hại với các nhân tố
vô sinh và hữu sinh Đặc biệt là ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, nguồnthức ăn, thiên địch đến dịch hại Từ đó người làm công tác DTDB nắm bắt đượctình hình dịch hại, chỉ đạo nông dân thực hiện biện pháp phòng trừ thích hợp, kịpthời hạn chế thấp nhất thiệt hại do dịch hại gây nên
2 Nhiệm vụ của DTDB dịch hại cây trồng nông nghiệp
- Nhiệm vụ cơ bản của công tác DTDB là dự báo sớm sự phát sinh, phát triển
và lây lan của dịch hại để đề xuất kịp thời các biện pháp bảo vệ cây trồng
- DTDB là cơ sở để tổ chức tiến hành những biện pháp phòng ngừa dịch hạigây hại trong sản xuất và bảo quản nông sản
- DTDB sự phát sinh dịch hại giúp cho việc phân vùng cây trồng được hợp líhạn chế thấp nhất dịch hại phát sinh
Ví dụ: ở những vùng dự báo trước có sâu tơ gây hại thì người ta sẽ không
trồng những cây thuộc họ hoa thập tự hoặc nếu có trồng thì phải có kế hoạch phòngtrừ
- DTDB không những đảm bảo chọn đúng thời gian tốt nhất để diệt trừ dịch hại
mà còn cho ta khả năng tính trước được hiệu quả kinh tế của từng biện pháp phòngtrừ làm cơ sở hết sức cần thiết cho việc xác định sản lượng và chất lượng nông sản
Trang 5- DTDB tốt là cơ sở cho việc bố trí thời vụ, xây dựng các công thức xen canh
và luân canh hợp lí tránh được sự gây hại của dịch hại từ vụ trước tồn tại và gây hạicho vụ sau
- DTDB tốt là cơ sở cho việc xác định phương hướng các công trình nghiêncứu khoa học trong lĩnh vực BVTV và đồng thời xác định chính xác những loàidịch hại nguy hiểm nhất cho cây trồng vào thời điểm hiện tại cũng như tương lai
Ví dụ: lạc hè thu hay bị rệp đen hại nên làm thí nghiệm thử nghiệm
- DTDB còn xác định thời gian và phương thức làm đất, phương thức bón phân
và xác định loại phân bón phù hợp với từng loại đất, từng giai đoạn sinh trưởng củacây trồng và từng vùng sinh thái Ví dụ sâu đục thân
- Phương thức gieo trồng và thời vụ gieo trồng cũng phụ thuộc vào kết quảDTDB của các loài dich haị và thời tiết trong những ngày tiếp theo
Ví dụ: Nếu dự tính thấy sâu xuất hiện muộn và trời khô hanh thì nên gieo hạt
sớm Khi thời kì phát triển của sâu sớm hoặc thời tiết ẩm lạnh thì gieo chậm lại
- Để xác định chính xác biện pháp chăm sóc cây đang sinh trưởng một cáchđúng đắn cần phải dựa vào DTDB sự phát triển của dịch hại
- Phòng trừ dịch hại bằng biện pháp hoá học cần gắn liền với kết quả dự tính,
dự báo các sinh vật có ích, đặc biệt là côn trùng bắt mồi ăn thịt và ong kí sinh
Ví dụ: Giai đoạn cây lúa sau cấy 45- 50 ngày mật độ sâu cuốn lá < 50c/m2 vàmật độ thiên địch cao sẽ không phải phòng trừ
- Công tác chọn tạo giống cũng cần dựa vào kết quả của việc DTDB dịch hạitrước tiên phải nâng cao tính chống chịu của giống đối với dịch hại trong tương lai
Ví dụ: vụ chiêm xuân hay bị đạo ôn gây hại thì phải chọn giống kháng đạo ôn
- Trước khi áp dụng các biện pháp mới trong canh tác hoặc trồng những câytrồng mới cần phải chú ý đến kết quả dự tính, dự báo Khi đưa một cây trồng mớivào vùng có điều kiện sinh thái khác cần phải dự báo trước được sự phát triển củaloài dịch hại mới có thể gây hại cho cây trồng đó
Trang 6- Dựa vào DTDB từng loại dịch hại để bố trí loại cây trồng và lựa chọn mật độtrồng thích hợp để hạn chế thấp nhất sự phát sinh và gây hại Ví dụ: vùng trũngthường xuyên bị bệnh khô vằn nên bố trí mật độ cấy < 55 khóm / m2
- Khi tuyên truyền các biện pháp BVTV cũng cần phải dựa vào kết quả DTDB
để đoán biết loại dịch hại nào gây hại chủ yếu, trên cơ sở đó tập trung tuyên truyền
+ Giai đoạn sau tháng 8/1945
Sau năm 1945 hệ thống DTDB ngày càng phát triển và hoàn chỉnh Đến nay đãhình thành hệ thống DTDB từ TƯ đến địa phương
- Trạm BVTV đầu tiên được thành lập năm 1956 do Trung Quốc giúp ta xâydựng đó là trạm Cổ Lễ(Nam Định) sau đó là trạm Bích sơn (Việt Yên) chủ yếu lànghiên cứu về sâu bệnh hại lúa Sau đó thành lập thêm trạm Tiền Hải (Thái Bình),trạm Đô Lương (phụ trách vùng khu 4 ) và trạm Tuyên Quang Vùng Tây Bắc cótrạm Sơn La
- Tới năm 1961 Đại hội Đảng lần thứ 5 bàn về nông nghiệp trong kế hoạch 5năm lần thứ nhất có nêu ra “Cần tổ chức phát hiện sớm sâu, bệnh hại”
- Đến năm 1975 Thành lập thêm hai trạm DTDB đó là trạm Tiền Giang vàtrạm Nghĩa Bình
- Năm 1977 phòng DTDB trực thuộc cục BVTV được thành lập và được giao
Trang 7- Năm 1980 các trạm BVTV các huyện được thành lập Đến năm 1993 các trạm huyện trực thuộc chi cục BVTV tỉnh quản lí và các chi cục BVTV ở các tỉnh thì được cục BVTV quản lí chung về chuyên môn Từ năm 1993 các trạm huyện thường xuyên gửi thông báo về chi cục 7 ngày một lần và chi cục tổng hợp báo cáo
về cục 7 ngày một lần Hiện nay một số đối tượng dịch hại chính trên các cây trồng được dự báo tương đối chính xác
sơ đồ quản lí của BV và KDTV (trong đó có DTDB)
Bé NN& PTNT
Côc BV & KDTV
Chi côc KDTV(vïng)
Chi côc KDTV(vïng)
Tr¹m KDTV cöa khÈu Q.TÕ
Chi côc BV & KDTV (c¸c tØnh)
Tr¹m BV & KDTV c¸c huyÖn Tr¹m KDTV cöa
khÈu (c¸c tØnh)
Trang 8 Chức năng trạm BV & KDTV các huyện
- Điều tra phát hiện tình hình dịch hại để kịp thời chỉ đạo phòng trừ phục vụ sảnxuất trên địa bàn huyện
- Tích luỹ số liệu và kinh nghiệm để dự tính một số dịch hại chính, dịch hại chủ yếu
- Kiểm tra tình hình kinh doanh, lưu thông thuốc BVTV trên địa bàn toàn huyện
- Kiểm tra tình hình kinh doanh, buôn bán các loại giống cây trồng trên địa bànhuyện
2 Tình hình DTDB ngoài nước (trên thế giới)
ở các nước phát triển : Nga, Mĩ, Na Uy, Hà Lan, Ai Cập, Nhật Bản, Bungari,Hunggari đã nghiên cứu lĩnh vực này rất thành công, với các phương pháp DTDBhiện đại Sau đó các thông tin đó được đưa vào máy tính và gửi về trung tâmDTDB xử lí và đưa ra kết quả Vùng nào bị dịch hại gây hại (loại sâu bệnh gì) thìthông báo trên các thông tin đại chúng và chỉ đạo phòng trừ theo từng diện tích vàđiều kiện cụ thể ở mỗi địa phương, với cách làm này việc DTDB được kịp thời vàchính xác
IV Mục đích, nguyên tắc và các thuật ngữ dùng trong DTDB
1 Mục đích môn học
- Trang bị cho sinh viên những phương pháp điều tra, phát hiện, theo dõi thườngxuyên dịch hại trên đồng ruộng trong từng giai đoạn sinh trưởng của các loại câytrồng
- Giúp cho sinh viên hiểu rõ mối quan hệ qua lại giữa dịch hại với các yếu tố vôsinh và hữu sinh (môi trường bên ngoài) Từ đó xác lập cơ sở khoa học cho việc dựđoán dịch hại trong công tác BVTV
2 Một số nguyên tắc chung điều tra DTDB
+ Cần phải chặt chẽ và trung thực:
- DTDB cần phải điều tra đầy đủ, chính xác diễn biến các loại SVH, sinh vật có
Trang 9- Dự báo những loại SVH thứ yếu có khả năng phát triển thành đối tượng chính,đánh giá tình hình SVH hiện tại, nhận định khả năng phát sinh phát triển và gây hạicủa SVH chính trong thời gian tới
+ Cần phải điều tra điển hình đại diện:
Mỗi loại cây trồng, chân ruộng gieo cấy ở các thời vụ (sớm, muộn, đại trà) vàcác giống khác nhau phải điều tra nhắc lại 2-3 lần và cố định điểm điều tra
+ Thời gian điều tra, số lượng điều tra
- Điều tra phải đúng ngày quy định Trước đây điều tra 5 ngày 1 lần nay điều tra 7ngày 1 lần
- Số mẫu điều tra phải đảm bảo theo quy định không bớt mẫu điều tra, giảm bớtdiện tích điều tra
- Điều tra phát dục của sâu hại phải điều tra ít nhất 20 cá thể
- Sinh vật hại chủ yếu là những sinh vật hại chính mà tại thời điểm điều tra có mức
độ gây hại cao hoặc khả năng lây lan nhanh, phân bố rộng trong điều kiện ngoạicảnh thuận lợi
- Yếu tố điều tra chính là các yếu tố đại diện bao gồm: giống, thời vụ, địa hình, giaiđoạn sinh trưởng của cây trồng
- Khu vực điều tra là khu đồng, ruộng, vườn, đại diện cho các yếu tố điều tra đượcchọn cố định ngay từ đầu vụ
- Mẫu điều tra là số lượng (lá, thân, quả, củ, rễ) của cây trồng trên đơn vị điểm điềutra
- Điểm điều tra là vị trí được bố trí ngẫu nhiên nằm trong khu vực điều tra
Trang 10- Mật độ sinh vật hại là số lượng cá thể sinh vật hại trên một đơn vị diện tích hoặcmột đơn vị đối tượng khảo sát
- Tỷ lệ bệnh là số lượng cá thể bị bệnh tính theo (% ) so với tổng số các cá thể điềutra trong quần thể
- Chỉ số bệnh là đại lượng đặc trưng cho mức độ bị bệnh của cây trồng được biểuthị bằng (%)
- Sinh vật có ích (hoặc thiên địch) là kẻ thù tự nhiên của các loại sinh vật hại
- Điều tra định kì là hoạt động điều tra thường xuyên của cán bộ BVTV trongkhoảng thời gian định trước trên tuyến điều tra thuộc khu vực điều tra nhằm nắmđược diễn biến sinh vật hại cây trồng
- Tuyến điều tra được xác định theo một lịch trình đã định sẵn ở khu vực điều tranhằm thoả mãn các yếu tố điều tra chính của địa phương
- Diện tích nhiễm sinh vật hại là diện tích có mật độ sâu, tỷ lệ bệnh hại từ 50% trởlên theo mức quy định của cục BVTV về mật độ sâu, tỷ lệ bệnh để thống kê diệntích
Trang 11CHƯƠNG II: CƠ SỞ SINH VẬT HỌC VÀ SINH THÁI HỌC CỦA DỰ
TÍNH, DỰ BÁO DỊCH HẠI CÂY TRỒNG NÔNG NGHIỆP
I Ảnh hưởng của các nhân tố bên trong (yếu tố sinh vật học) đến sự biến động
số lượng dịch hại
Những yếu tố sinh vật học của sinh vật hại có rất nhiều song một số yếu tố sauđây có ý nghĩa đối với công tác DTDB các loại dịch hại
1 Ảnh hưởng sức khoẻ của loài dịch hại
+ Các loài dịch hại có sức khoẻ tốt thì khả năng sinh sản, sức sống, tính đề khángcao nhưng một loài dịch haị nhất định thì trong quá trình sống càng về cuối chu kìsống thì thể lực(sức khoẻ) càng giảm
Ví dụ: Đối với sâu hại càng về cuối chu kì sống, sinh lực của sâu giảm thể hiện rõqua(giảm số lượng trứng đẻ) giảm tính đề kháng với điều kiện bất thuận, tăng tỷ lệ
tử vong
+ Đối với sâu hại, chuột hại và nhện hại
- Thường ở tuổi nhỏ thể lực kém hơn tuổi lớn
- ở những loài sâu biến thái hoàn toàn thì giai đoạn nhộng là giai đoạn có sứcchống chịu tốt nhất với mọi điều kiện bất lợi
- Các loại động vật khác nhau có tính miễn dịch khác nhau và trong một loài thìtính miễn dịch lại tỷ lệ thuận với thể lực
- Tính miễn dịch và khả năng sinh sản còn phụ thuộc rất lớn vào nguồn thức ăn
và loại thức ăn
Ví dụ: (Mật hoá > Đường > Nước lã)
+ Đối với nấm bệnh và cỏ dại
- Thường ở giai đoạn mới nảy mầm thì thể lực chống chịu kém hơn các giai đoạnsau
Trang 12- Khả năng hình thành bào tử, quả hạt phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn sinhtrưởng dinh dưỡng
- Sức phát triển của mầm phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng dự trữ trong bào tửnấm hoặc là thân ngầm, hạch nấm, bào tử nấm…
2 Ảnh hưởng của phương thức sống đến sự phát triển của sinh vật hại
- Các loài sinh vật khác nhau thì có các phương thức sống khác nhau Trong quátrình đấu tranh sinh tồn mỗi một loài tự chọn cho mình một phương thức sống tốtnhất, chính nhờ đó mà sinh vật tồn tại được trong thế giới tự nhiên
Ví dụ: ở côn trùng có những loài chủ yếu ăn lá và thích gây hại ngay trên các bộ
phận cây như sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) Có những loài mà sâu non sống
trong đất như bọ hung
- Công tác DTDB cần phải biết được phương thức sống của đối tượng mình cầnnghiên cứu để dự đoán sự phát triển của chúng Đối với những đối tượng sốngtrong thân và trong biểu bì (Rễ, quả, lá) ít chịu tác động của điều kiện môi trườngbên ngoài hơn những loài sống lộ thiên Vì vậy tỷ lệ tử vong sẽ thấp hơn rất nhiều
so với loài sống lộ thiên bên ngoài bề mặt cây khi gặp điều kiện bất thuận và cácloài thiên địch
3 Ảnh hưởng của khả năng sinh sản và tỷ lệ tử vong của dịch hại
+ Giữa cây kí chủ và sinh vật hại có mối tương quan với nhau Sinh vật hại thườnggây hại tối đa cho kí chủ, tại thời điểm này chúng có sức sống và khả năng sinh sảntối đa, chu kì phát triển nhanh, số lứa trong năm nhiều, thì tỷ lệ tử vong thấp
+ Khả năng sinh sản được xác định trước tiên do số con cái trong loài và số trứng
đẻ ra Tỷ số con cái trong loài càng cao và số trứng trung bình chúng đẻ ra càngnhiều thì khả năng tăng số lượng càng nhanh Số lượng trứng (bào tử) sinh rathường phụ thuộc vào dinh dưỡng của sinh vật hại trong thời gian sinh trưởng dinhdưỡng và một phần phụ thuộc vào nguồn thức ăn, với những sinh vật hại có vòng
Trang 13lượng lớn, dễ phát sinh thành dịch Vì vây trong công công tác DTDB cần phải đặcbiệt chú ý đến những loài sinh vật hại có vòng đời ngắn, và sinh sản đơn tính
- Tỷ số giữa con đực và con cái (côn trùng) hay tỉ số (index sexnel) được xác địnhbằng công thức:
i : Chỉ số sinh sản của từng loài ( tỷ số đực và cái)
Ví dụ: Tính khả năng sinh sản của sâu đục thân lúa hai chấm nếu biết mật độ sâu
điều tra là: 6 con /m2 Chỉ số sinh sản của loài là 1/ 2, số lượng trứng đẻ là 50 trứng Vậy Fc = 6 x 1 / 2 x 50 = 150 c/ m2
Từ mật độ ban đầu là 6 c/ m2 sau một thế hệ đã phát triển thành 150 cá thể / m2
- Tỷ số con đực và con cái thay đổi trong quá trình sinh sống phụ thuộc vào nguồnthức ăn Số lượng quần thể trong một loài / 1đơn vị diện tích Khả năng đẻ trứng( sinh sản) cũng vậy
- Một loài côn trùng tuy có khả năng sinh sản lớn nhưng tỷ lệ tử vong cao thì mật
độ chủng quần cũng không cao lên được Nên trong công tác DTDB bên cạnh việctính toán khả năng sinh sản ta cần phải tính tỷ lệ tử vong để dự tính khả năng pháttriển thành dịch của loài dịch hại(sâu hại)
Trang 14- Tỷ lệ tử vong của sâu hại được tính bằng công thức
a a
Mr = Fc x = n i o
100 100 Trong đó Mr : Tử vong của sâu hại
a : Tỷ lệ sâu chết do các nguyên nhân khác nhau
- Tính mật độ của một loài sinh vật hại hiện tại bằng cách lấy khả năng sinh sảncủa sâu hại trừ đi số cá thể tử vong
Pp = Fc - Mr Pp: là mật độ cư trú hiện tại
- Trong thực tế sâu bị chết do nhiều nguyên nhân khác nhau, nếu ta biểu thị tỷ lệcác sâu chết do các nguyên nhân khác nhau bằng: a1 , a2 a3 ta sẽ có mật độ cư
số hiện tại tính theo công thức sau:
100 1 100 1
.
P
a a
a o
i
n
P
Ví dụ: Hãy tính mật độ cư số hiện tại của sâu đục thân nếu biết
Fc = 30con/ m2 trong đó 2 con chết do điều kiện khí hậu không thích hợp,
3 con chết do bị kí sinh
100
3 1 ).(
100
2 1 (
F i
Trang 15Tỷ lệ đực cái của một loài thường không ổn định, nó tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu, điều kiện thức ăn và tuỳ thuộc vào loại dịch hại
Ví dụ : Rệp sáp (pseudococus) khi số lượng và chất lượng thức ăn kém thì tỷ lệ đực
trong quần thể cao, nhưng khi điều kiện thức ăn tốt thì tỷ lệ đực chiếm rất thấp
số lượng dịch hại (sâu hại) sẽ đều đều không gây hại thành dịch Song nếu thời gian
đẻ trứng ngắn, trứng đẻ tập trung sẽ làm cho mật độ sâu ở một thời điểm nào đótăng đột ngột tạo thành đỉnh cao về số lượng sẽ tao nên dịch
II Ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh(nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng)tới sự biến động số lượng của các loài dịch hại
Tác động các nhân tố ngoại cảnh lên các loại dịch hại(côn trùng) mạnh hay yếu
là tuỳ thuộc vào:
- Thời gian tác động(dài hay ngắn)
- Phương thức tác động(trực tiếp hay gián tiếp)
- Giai đoạn phát triển của loài dịch hại
1 Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng đến các loài dịch hại thể hiện qua các quá trình sau+ Nhiệt độ ảnh hưởng tới thời gian sống và tốc độ phát triển của sâu hại
Trang 16- Nhiệt độ giữ vai trò quyết định tốc độ phát triển của dịch hại, quyết định thờigian sống và chu kì phát dục của dịch hại, quyết định tính xâm nhập, khả năng gâyhại của dịch hại trên các loại cây trồng
- Khi nhiệt độ cao đến một giới hạn nhất định thì chu kì phát triển của dịch hạiđược rút ngắn lại và dịch hại sinh sản nhanh hơn
- Ở nhiệt độ cao các quá trình sinh lí, sinh hoá xảy ra trong cơ thể các loại dịchhại diễn ra nhanh hơn
- Mỗi một loài dịch hại để hoàn thành giai đoạn phát triển của mình đều đòi hỏiphải có một lượng nhiệt nhất định, lượng nhiệt đó được biểu thị bằng hằng số tổng
tích ôn (K) Hằng số này được xác định bằng cách cộng các nhiệt độ trung bình
hàng ngày trong suốt thời kì phát triển hoặc nhân nhiệt độ hàng ngày với số ngày
dịch hại hoàn thành giai đoạn phát dục K = C t
Vậy tổng tích ôn K được tính cả những ngày có nhiệt độ nhỏ hơn nhiệt độngưỡng hoạt động của loài dịch hại nghiên cứu, song trong thực tế ở nhiệt độ đódịch hại ngừng phát triển Để khắc phục trường hợp đó người ta đưa ra một đạilượng khác đó là tổng ích ôn hữu hiệu hằng số này dựa trên nguyên tắc :
- Nếu nhiệt độ môi trường lớn hơn nhiệt độ ngưỡng trên của sự phát triển thìdịch hại chết
- Nếu nhiệt độ môi trường thấp hơn nhiệt độ ngưỡng dưới của sự phát triển thìdịch hại ngừng phát triển và kéo dài hoặc xuống thầp cũng bị chết Do đó đưa ratổng tích ôn hữu hiệu
K = Xn (t n - t 0 )
K : Tổng tích ôn hữu hiệu
Xn : Thời gian phát triển
tn : Nhiệt độ môi trường
t0 : Nhiệt độ ngưỡng
Trang 17Ví dụ : Con mọt kho (Canlandra gnarania) sống trong điều kiện nhà máy xay
có nhiệt độ tương đối ổn định là 230c thì nó phát triển 60 ngày Ngưỡng nhiệt độphát triển là 80c Như vậy tổng tích ôn hữu hiệu K= 60 x (23 – 8 ) = 9000c
Cũng con mọt kho như vậy sống trong kho khác có nhiệt độ trung bình là
170c Hãy dự đoán thời gian phát triển của chúng
+ Nhiệt độ ảnh hưởng tới khả năng sinh sản
- Sức sinh sản (độ mắn đẻ và nhịp điệu sinh sản) của dịch hại phụ thuộc rất chặt chẽvào điều kiện nhiệt độ môi trường
- Ngay ở khoảng nhiệt độ hơi nóng hoặc hơi lạnh dịch hại tuy vẫn sinh trưởng songtrở nên bất dục hoặc sinh sản rất kém
Ví dụ: qua thí nghiệm sâu cắn gié (Leucnia Separata) thấy rằng sức sinh sản của
ngài lớn nhất ở nhiệt độ = 19 – 230c ở nhiệt độ 300c sức đẻ giảm đi rõ rệt, còn ởnhiệt độ = 350c ngài hoàn toàn không đẻ
- Sự giao động nhiệt độ ngày và đêm cũng ảnh hưởng tới độ phát dục của dịch hại + Nhiệt độ ảnh hưởng đến đời sống của dịch hại
- Mỗi loại dịch hại thích hoạt động và hoạt động mạnh nhất trong một phạm vinhiệt độ nhất định, điều này chứng tỏ rằng nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn tới sứcsống của dịch hại
5400900
Trang 18- Mỗi loài dịch hại và ngay cả trong cùng một loài dịch hại thì ở mỗi giai đoạn phátdục đều có riêng một cực thuận nhiệt độ của sức sống
Ví dụ: Cực thuận nhiệt độ đối với sức sống của trứng sâu xám (Agrotis ypsilon) là
250c, đối với ấu trùng là 220c, đối với nhộng là 190c
- Khi nhiệt độ môi trường tăng quá cao hoặc xuống quá thấp thì dịch hại giảm sựhoạt động, sau đó khi nhiệt độ tăng cao (hoặc xuống thấp) tới nhiệt độ cực đại (giớihạn nhiệt độ nhất định) thì côn trùng bắt đầu chết
+ Nhiệt độ ảnh hưởng tới tính hám ăn (xâm nhập) của dịch hại
Mỗi một loài dịch hại có tính hám ăn (bào tử nấm nảy mầm) ở một khoảng nhiệt
độ nhất định
Ví dụ : ở nhiệt độ 230c sâu non của bọ hung đen ăn nhiều thức ăn nhất và thức
ăn được hấp thụ nhiều hơn ở nhiệt độ trên 300c
+ Nhiệt độ ảnh hưởng tới vùng phân bố của dịch hại
- Nhiệt độ là yếu tố chính quyết định sự phân bố địa lí của các loại dịch hại
Ví dụ: Ruồi địa trung hải (Ceratitis capitata Wied) không thể phát triển được ở
những nơi mà tổng nhiệt độ không đạt được 2500c
- Những loài dịch hại rộng nhiệt (tính dẻo sinh thái cao) có khả năng phân bố rộnghơn các loại dịch hại hẹp nhiệt
Ví dụ: Rệp hại bông Aphis gossypii Glov là loài rộng nhiệt chúng phân bố rộng
trong các vùng giữa vĩ độ 60 bắc và 40 nam
Ví dụ : Bọ xít dài hại lúa (Leptocorisa varicocnis) ưa thích nhiệt độ tương đối
thấp nên chúng chỉ phân bố nhiều ở vùng rừng núi
Vì vậy với công tác DTDB cần phải biết sự phân bố của dịch hại theo nhiệt độ để
dự đoán sự phát sinh thành dịch của các loài dịch hại ở mỗi vùng để có điều kiệnchủ động phòng trừ
Trang 192 Ẩm độ và lượng mưa
- Trong các nhân tố khí hậu, ẩm độ là nhân tố có tầm quan trọng thứ hai sau nhiệt
độ đối với sự phát triển của dịch hại Tuy nhiên mỗi loài dịch hại yêu cầu một ẩm
độ tối thuận rõ ràng, tại ẩm độ này ta thấy dịch hại phát triển mạnh nhất, khả nănglây lan mạnh nhất Thông thường ẩm độ thấp là điều kiện bất lợi đối với các loạidịch hại
- Trong cơ thể dịch hại cần có một lượng nước rất lớn, là dung môi cần thiết cho sựtiêu hoá, sự đồng hoá các chất dinh dưỡng và bài tiết các chất căn bã
- Dựa vào yêu cầu về giới hạn ẩm độ thích hợp của mỗi loài dịch hại mà người tachia côn trùng thành các nhóm: Nhóm ưa ẩm, nhóm trung bình và nhóm ưa khô Nhóm ưa ẩm: Cần ẩm độ từ 85% đến 100%
Nhóm trung bình: Cần ẩm độ từ 55% đến 85%
Nhóm ưa khô: Cần ẩm độ < 55%
ẩm độ và lượng mưa còn quyết định khả năng tồn tại và vị trí sống của các loại dịchhại (vị trí xâm nhập, vị trí cư trú)
Ví dụ: Bào tử nấm của khô vằn thường xâm nhập vào bẹ lá(vùng gần mặt nước)
sau đó phát triển và lây lan lên phía trên khi gặp nhiệt độ và ẩm độ thuận lợi
- Lượng mưa và ẩm độ (cường độ mưa) ảnh hưởng tới tốc độ phát sinh và tốc độchết, độ mắn đẻ, thời gian tồn tại của các loại dịch hại ảnh hưởng tới hoạt tính, đến
sự phân bố theo sinh cảnh, đến sự hình thành quần thể và sự phân bố địa lí
Ví dụ: Sâu cắn gié nếu ở nhiệt độ 250c và ẩm độ < 60% thì số trứng đẻ chỉ bằng93% so với ẩm độ 90% Nếu ẩm độ 45% thì số trứng đẻ chỉ còn 50,2%
- Lượng mưa còn ảnh hưởng gián tiếp đến đời sống dịch hại như thúc đẩy hoặc kìmhãm sự phát triển của vật kí sinh hoặc ăn thịt côn trùng
- Ngoài ảnh hưởng gián tiếp thông qua ẩm độ không khí lượng mưa có tác độnghết sức mạnh mẽ đến đơì sống dịch hại thông qua ẩm độ đất
Trang 20Ví dụ: Những năm vụ đông xuân đất khô hạn tác hại của sâu xám sẽ giảm xuống rõ
rệt
- Sự tác động của ẩm độ tới côn trùng có liên quan chặt chẽ với các nhân tố khácđặc biệt là nhiệt độ Sự phối hợp tác động của hai yếu tố này thường được thể hiệntrên khí hậu đồ
Vậy trong công tác DTDB việc lập những khí hậu đồ giúp ta có thể xác định đượckhả năng sinh tồn của một loài dịch hại ở một vùng nhất định Xác định được loạidịch hại sẽ xây dựng được quy trình sản xuất và phân bố cây trồng hợp lí Hạn chếthấp nhất thiệt hại do dịch hại gây ra
Ví dụ: sâu sùng bọ hung và một số sâu non khác sống trong đất Nấm sống yếm khí
Trang 21- Ánh sáng còn ảnh hưởng tới tập tính hoạt động của các loại dịch hại Một số loàidịch hại chỉ hoạt động vào lúc ban đêm, một số khác lại hoạt động ban ngày Một
số loại hoạt động mạnh vào lúc hoàng hôn
- Ánh sáng có thể làm thay đổi thời gian phát triển cá thể, tỷ lệ sống, độ mắn đẻhoặc đến sự thụ tinh của trứng và sự đẻ trứng của dịch hại
- Ánh sáng còn ảnh hưởng đến sự hoạt động của dịch hại không lớn như ảnhhưởng của nhiệt độ, độ ẩm nhưng ở chừng mực nhất định ánh sáng cũng ảnh hưởngtới quá trình đình dục và thời gian hoá nhộng của một số loài dịch hại
Vậy trong công tác DTDB cũng cần phải quan tâm tới vai trò của ánh sáng đến sựphát sinh, phát triển của dịch hại Mặt khác dựa vào phản ứng của một số loài dịchhại với ánh sáng để có biện pháp điều tra phát hiện
4.Gió ảnh hưởng tới các loài dịch hại
- Độ bốc hơi nước của dịch hại phụ thuộc chặt vào gió nên ảnh hưởng rõ rệt đến
sự trao đổi nước của dịch hại với môi trường xung quanh
- Gió là môi giới lây lan của các loại dịch hại từ vùng này đến vùng khác, đặc biệt
là các loại dịch hại nhỏ và có lông dài bao phủ
- Những nơi thường có gió mạnh thì côn trùng cánh ngắn hoặc không cánh chiếm
ưu thế Trong DTDB việc tìm hiểu ảnh hưởng của gió đôi khi có ý nghĩa thiết thựctrong việc xác định hướng phân tán của các loại dịch hại trong tự nhiên
- Trong nhiều trường hợp gió quyết định hướng bay của các loại côn trùng
Vậy trong DTDB xác định được hướng gió ta cũng có thể xác định được phươngthức lây lan và hướng lây lan của các loài dịch hại
5 Ảnh hưởng của đất đai
- Hầu hết các loại dịch hại có quan hệ chặt chẽ với đất Đất là nơi tồn tại của cácmầm mống gây bệnh cây
- Đất là nơi cư trú, ẩn nấp của các loại côn trùng (90% côn trùng có quan hệ chặtchẽ với đất)
Trang 22- Tính chất và thành phần đất quyết định sự phân bố của các loại dịch hại
Ví dụ: Sâu xám hại ngô và dế dũi thích phân bố trên lớp cát pha tương đối ẩm, các
loại bọ hung hại gốc mía thích phá hoại mía trồng ở đất ven sông hoặc mía đồi tơixốp, ở đất thịt nặng ít có bọ hung gây hại
- Độ ẩm của đất, chế độ luân canh cây trồng có liên quan chặt chẽ đến các loại dịchhại phát sinh và gây hại trong đất
- Kĩ thuật làm đất và việc bố trí thời vụ có tính chất quan trọng trong việc xây dựngDTDB các loài dịch hại
- Dinh dưỡng trong đất cũng cần cho sự phát triển của dịch hại.Đất bón bằng phânchuồng đặc biệt là phân chuồng hoai mục thì hệ VSV đất nói chung và các loại dịchhại nói riêng phát triển mạnh hơn đất bón phân khoáng (vì bón phân khoáng làmcho đất chai và làm cho PH đất thay đổi)
- Ngoài ra đất còn ảnh hưởng gián tiếp đến dịch hại thông qua thảm thực vật sinhtrưởng trên đất (vì thảm thực vật vừa là nguồn dinh dưỡng và là nơi cư trú của cácloại dịch hại
Vậy trong công tác DTDB chú ý đến chế độ làm đất, khả năng luân canh và trình
độ thâm canh để xác định loài dịch hại gây hại trên từng khu đồng
6 Ảnh hưởng của thức ăn và cây cung cấp thức ăn
- Thành phần thức ăn của dịch hại rất phong phú gồm động vật, thực vật và chấthữu cơ
- Trong tất cả các yếu tố môi trường xung quanh không có gì ảnh hưởng đến cácloài dịch hại một cách mạnh mẽ, phức tạp và sâu sắc như yếu tố thức ăn
- Thức ăn rất cần thiết cho dịch hại để tăng kích thước hoàn thành nhanh chóng các
bộ máy bên trong và bù lại phần năng lượng đã bị mất trong hoạt động sống, đủthức ăn (đủ dinh dưỡng vòng đời sinh sản) của dịch hại cũng rút ngắn lại, khả năngsinh sản của thế hệ sau cũng nhanh chóng và mạnh mẽ hơn
Trang 23- Chất lượng thức ăn còn có thể làm thay đổi tỷ lệ giới tính của côn trùng hoặc thayđổi hình thái của côn trùng
Ví dụ: Như rầy nâu hoặc các loại rệp muội
- Tuỳ theo khả năng cung cấp thức ăn của cây mà có thể dự đoán thời hạn pháttriển, sức sống, khả năng sinh sản, tử vong của các loài dịch hại
- Điều quan trọng trong dự tính là xác định được mối liên quan giữa chu kì pháttriển của dịch hại với giai đoạn phát triển của cây trồng Phải xác định được sự phụthuộc giữa các giai đoạn trong chu kì sống của dịch hại với nguồn thức ăn, đặc biệtquan tâm tới cây trồng vụ trước hoặc sau đều đoán được sự phát sinh và phát triểncủa dịch hại và tạo điều kiện tốt nhất để phòng trừ
- Phải biết được loại dịch hại, khoảng cách dịch hại phát tán và điều kiện phát sinhcủa từng loại dịch hại để chủ động trong việc tiêu diệt trực tiếp dịch hại trên cây bịhại và xác định công thức luân canh hợp lí
- Thiếu thức ăn làm cho dịch hại sinh sản kém, sức sống bị giảm sút, chu kì của loàidịch hại cũng rút ngắn
- Chất lượng thức ăn cũng ảnh hưởng rất lớn đến chu kì phát triển của dịch hại,ngoài ra còn ảnh hưởng đến sức sống, độ mắn đẻ và khả năng phát triển của thế hệsau
Ví dụ: Sâu đục thân hai chấm trên giai đoạn lúa đứng cái làm đòng có trọng lượng
sâu non lớn, tỷ lệ chết thấp và sức sinh sản của ngài cao hơn hẳn so với sâu pháhoại trên mạ
7 Ảnh hưởng của yếu tố thiên địch (chủ yếu là côn trùng)
- Trong thiên nhiên có rất nhiều loại sinh vật tiêu diệt dịch hại bằng cách kí sinhhoặc ăn thịt Lực lượng tự nhiên này gọi là thiên địch Nó có ý nghĩa quan trọngtrong việc khống chế số lượng của các loài dịch hại chủ yếu là sâu hại
- Trong công tác DTDB về sâu hại ta đặc biệt quan tâm về các loài thiên địch cómặt trên đồng ruộng và chúng sinh sản nhiều hay ít
Trang 24- Trong DTDB không chỉ xác định tỷ lệ tử vong mà cần xác định đúng nguyênnhân gây tử vong cho sâu hại từ đó ta có kế hoạch đầu tư phòng trừ lâu dài
- Trong DTDB còn phải xác định được sức ăn của từng loại thiên địch (bắt mồi ănthịt) và tỷ lệ kí sinh hoặc gây bệnh của các loại thiên địch là siêu vi trùng hoặc nấmbệnh
- Trong DTDB phải nắm được loại thiên địch của từng loài dịch hại từ đó ta mới cóphương án bảo tồn và khích lệ thiên địch phát triển
- Mỗi một giai đoạn phát dục của sâu hại chỉ có một số loài thiên địch chính khốngchế chúng Trong thực tế sản xuất thiên địch có các nhóm chính sau:
* Ảnh hưởng của siêu vi trùng đến dịch hại
Khi các loài dịch hại (sâu hại ) do siêu vi trùng gây bệnh thường làm cho các đợtdịch sâu nhanh chóng bước vào thời kì thoái giảm vì siêu vi trùng làm cho sâu hạichết hàng loạt
Ví dụ: Siêu vi trùng gây ra cho côn trùng bệnh đa giác
Malidie polyeridique làm sâu non chết hàng loạt
* Ảnh hưởng của nấm bệnh đối với dịch hại (sâu hại)
Các bệnh do nấm gây ra lan truyền mạnh nhất ở sâu hại làm cho sâu hại chết hàngloạt dẫn đến sâu hại giảm số lượng nhanh
Ví dụ: Nấm kí sinh sâu hại nhiều nhất là nấm Beauveria bassiana nấm này kí
sinh trên bọ hung và bọ vòi voi
* Ảnh hưởng của kí sinh
Các loài ong kí sinh thường xuyên có mặt trên đồng ruộng như (ong đen kéntrắng, ong cự vàng, ong đèn lồng, ong mắt đỏ làm giảm sâu hại một cáchnhanh chóng các loài sâu hại
* Ảnh hưởng của bắt mồi ăn thịt đến sâu hại
+ Nhập kiến vống vào châu Mĩ để trừ sâu hại cam
Trang 25+ Nhập bọ rùa từ châu úc sang châu mỹ để diệt rệp sáp Icerya purchasi
+ Nhập cóc vào để diệt trừ bọ hung đen hại mía
Vậy trong DTDB điều tra thành phần thiên địch có mặt trên đồng ruộng làmột việc làm rất cần thiết là một trong những yếu tố quyết định mật độ dịch hại(sâu hại) có thể phát triển thành dịch hay không, nên chúng ta khi tiến hành điều tratrên đồng ruộng không được bỏ sót bất cứ một loại thiên địch nào
8 Tác động của con người đối với dịch hại
* Ảnh hưởng tiêu cực
+ Con người có ảnh hưởng lớn tới sự sinh sản của dich hại, con người thường cốgắng đảm bảo tạo cho cây trồng một ngoại cảnh tốt nhất cho cây mọc khoẻ vàngược lại tạo điều kiện bất thuận cho dịch hại Tuy nhiên do hoạt động của conngười trong sản xuất lại phá vỡ thế cân bằng trong tự nhiên Có những năm những
vụ dịch hại phát triển mạnh và gây hại lớn làm giảm năng suất vì:
- Con người tạo ra những vùng độc canh rộng lớn giúp cho dịch hại sản sinh hàngloạt
Ví dụ: Như sâu tơ quen thuốc ở những vùng chuyên canh rau bắp cải
- Con người quá lạm dụng thuốc BVTV (hoá học ) đã phá huỷ nghiêm trọng toàn
bộ quần thể sinh vật và tiêu diệt cả dịch hại lẫn thên địch có mặt trong hệ sinh thái
Trang 26- Do thay đổi cơ cấu cây trồng và tác động các biện pháp kĩ thuật tạo điều kiện chocây trồng sinh trưởng, phát triển tốt cũng là môi trường thuận lợi cho dịch hại phátsinh, phát triển
Ví dụ: Bón thúc đạm cho lúa để tăng khả năng đẻ nhánh thì hấp dẫn sâu đục thân
hai chấm, sâu cuốn lá nhỏ nhất là khi bón thừa đạm
- Do một số loài dịch hại chưa được nghiên cưú đầy đủ
- Đã tổ chức được mạng lưới kiểm dịch các cấp (đặc biệt là các cửa khẩu)
- Biện pháp hoá học đã chuyển sang giai đoạn mới như dùng các chế phẩm sinhhọc các hooc môn dẫn dụ
- Trong công tác BVTV đã có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành với nhau đặc biệt
là di truyền giống, công nghệ sinh học
- Đội ngũ cán bộ làm công tác BVTV được đào tạo ngày một chính quy hơn, cáctrang thiết bị phục vụ cho công tác nghiên cứu về lĩnh vực BVTV ngày một đầy đủ
và chính xác hơn
Trang 27CHƯƠNG III: CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ TÍNH DỰ BÁO DỊCH HẠI CÂY
TRỒNG NÔNG NGHIỆP
I Các phương pháp trực tiếp khảo sát và xác định số lượng sâu hại
1 Khảo sát và theo dõi sâu hại trong đất
- Nắm được tình trạng và số lượng sâu hại trong đất là một việc làm quan trọngtrong công tác DTDB
- Công tác DTDB sâu hại trong đất gồm các khâu côn g việc sau:
+ Chuẩn bị đất
+ Cách lấy mẫu
+ Chọn lọc sâu
- Tuỳ theo mục đích của việc theo dõi và nghiên cứu mà người làm công tác DTDB
áp dụng phương pháp đào lấy và rửa mẫu đất cho phù hợp với nhiệm vụ
a Phương pháp đào lấy mẫu đất
- Loại mẫu cạn
Mẫu đất đào không quá 1cm Mục đích là phát hiện theo dõi các loại sâu vàhình thaí sâu ở cạn như châu chấu, sâu non của các loại sâu ăn lá
- Loại mẫu vừa
Lấy mẫu đất đào sâu không quá 45cm chủ yếu là phát hiện và theo dõi sâunon và nhộng của các loài sâu có giai đoạn sâu non sống trong đất như sâu xám, bọhung phá thân và rễ cây trồng
- Loại mẫu sâu
Mẫu đào sâu từ 65 – 200 cm loại mẫu này thường áp dụng với công tácnghiên cứu hoặc phát hiện các loại sâu đi xuống để trú ngụ qua đông
- Kích thước mẫu đất cũng thay đổi tuỳ theo yêu cầu và điều kiện cho phép
+ Loại mẫu vừa lấy là (50 x 50cm)
Trang 28- Mẫu đất lấy trong thời kì cây đang sinh trưởng thường dùng khoan để khoan đất.Khoan có cấu tạo như sau:
+ ống hình trụ dài 30cm đường kính miệng trên là 12cm miệng dưới là 11,5cmbằng hai mảnh sắt ghép lại, giữa hai mảnh chừa một khe hở khoảng 2-3cm, haimảnh sắt không bằng nhau nghiêng thành như xoắn ốc, miệng mài sắc
+ Cán khoan dài 75- 85cm trên cùng có tay cầm dài 40-45cm khoan dùng để lấymẫu sâu từ 1cm - 30cm
- Đối với những loại cây trồng rãnh giữa rộng(như mía, sắn, bắp cải, cà chua ) câyđang sinh trưởng để tránh thiệt hại cho cây người ta thường lấy đất ở giữa hai luốngcây Mẫu lấy đất theo hình chữ nhật (40 x 60cm)
- Mẫu lấy với diện tích lớn (mẫu lớn) thường lấy trong trường hợp muốn tìm hiểutình hình sâu trong đất ở một diện tích bằng với diện tích cung cấp thức ăn cho mộtcây với diện tích mẫu lấylà 0,5m2 đến 2 m2
b Cách lấy mẫu đất
- Để đảm bảo theo tính đồng đều trên toàn bộ mặt ruộng hoặc khu đồng cỏ có thểlấy mẫu theo cách sau:
+ Lấy mẫu theo hình bàn cờ
+ Lấy mẫu theo 5 điểm trên 2 đường chéo
+ Lấy mẫu theo đường dích dắc (rắn bò) nếu đám đất không vuông
- Trong quá trình lấy mẫu nếu ở vị trí nào đó thấy sâu sống tập trung, cần tăng sốlượng mẫu để xác định (mật độ sâu, số lượng ổ trứng,nhộng ) trên m2
- Đối với sâu đa thực thì không chỉ theo dõi sâu trên ruộng sản xuất mà còn theodõi sâu ở các đám đất hoang hoặc bờ ruộng
- Đối vơí đất trồng màu và rau số lượng mẫu thường lấy để theo dõi như sau
+ Trên cánh đồng diện tích nhỏ hơn 10 ha lấy 8 mẫu đất loại (50 x50cm)
Trang 29+ Diện tích 50 -100 ha lấy 16 mẫu
+ Diện tích trên 100 ha cứ tăng thêm 25 ha thì lấy 1 mẫu
- Đào thủ công
+ Lấy thước đo diện tích mẫu sau đó hớt lớp đát ngoài rìa mẫu định lấy rồi trải vảihoặc giấy Đất trong mẫu lấy ra rải đều và bóp vụn từng cục đất Thu tất cả sâu ở
thước lỗ khác nhau để rây lấy sâu trong đất
+ Điều tra sâu trong đất cứ 10 ngày lấy 1 lần mẫu
c Phương pháp rửa mẫu
- Rửa đất cũng có thể tiến hành ngay tại chỗ lấy mẫu trường hợp không rửa mẫu lấytrên đồng được thì cho vào bọc mang về rửa trong phòng, rửa đất trong phòng chỉphù hợp với sâu ở giai đoạn tĩnh (trứng hoặc nhộng)
- Để theo dõi các loại sâu quá bé trong đất người ta hoà đất vào trong nước để quansát và đếm sâu
- Để theo dõi sâu ở các lớp đất khác nhau người ta lấy mẫu theo chiều sâu của lớpđất như dưới 5cm, 5- 15cm, 15- 30cm, 30- 45cm Để riêng từng lớp sau rửa vàphân loại sâu ở mỗi lớp
- Nếu sâu ở giai đoạn tĩnh (trứng hoặc nhộng) mẫu có thể lấy bé sâu ở giai đoạnđộng (sâu non hoặc trưởng thành) mẫu lấy cần phải lớn hơn
- Cách ghi chép:
+ Khi khảo sát xong trên từng cánh đồng trên các lọ thu thập sâu cần dán nhãn.Nhãn được viết bằng bút chì, nhãn phải viết rõ tên từng cánh đồng, ngày theo dõi,giai đoạn sinh trưởng cây trồng, tên người lấy mẫu lớp đất có từng loại dịch hại Nhãn ghi mẫu đất
+ Tên khu đồng…
+ Ngày lấy mẫu…
Trang 30+ Giai đoạn sinh trưởng của cây trồng (nếu có)…
+ Tên người lấy mẫu …
+ Độ sâu lớp đất lấy mẫu…
+ Tên các loại sinh vật hại ở từng lớp đất…
2 Phương pháp điều tra sinh vật hại trên cây trồng
a.Thiết bị và dụng cụ điều tra
+ Dụng cụ điều tra ngoài đồng
- vợt khay, khung, thước dây, thước gỗ 50 cm, băng dính, dao, kéo
- Sổ ghi chép, bút viết, máy tính bỏ tuối, tuối ni lon các cỡ, tuối xách tay
- ống tuýp, hộp petri và các loại hoá chất cần thiết như cồn, phocmon
- Bẫy đèn để bắt trưởng thành, bẫy bã các loại dùng bắt các loại dịch hại khác
b Thiết bị trong phòng
- Kín lúp, kín hiển vi, lam, lamen
- Tủ lạnh, tủ định ôn, ẩm kế tự ghi trong phòng
- Máy khuấy, máy ly tâm, máy lắc, máy rây câc cỡ
c Trang thiêt bi bảo hộ lao động
- Mũ, ủng, áo mưa, găng tay, khẩu trang, áo blu
3 Phương pháp điều tra
a Thời gian điều tra
- Điều tra định kỳ 7 ngày/ lần theo tuyến điều tra, chọn khu vực điều tra cố địnhngay từ đầu vụ vào các ngày thứ 3, thứ 4 hàng tuần
- Điều tra bổ sung tiến hành trước và trong cao điểm xuất hiện sinh vật gây hại
- Yếu tố điều tra, mỗi loại cây chọn đại diện theo giống, thời vụ, địa hình, giaiđoạn sinh trưởng cây trồng
b Khu vực điều tra
+ Đối với lúa
Trang 31- Từ 2 – 5 ha đối với vùng không trọng điểm
+ Đối với rau màu, cây thực phẩm
vùng chọn điểm phải có diện tích từ 2- 5 ha
+ Đối với cây ăn quả, cây công nghiệp
Vùng để chọn điểm điều tra phải có diện tích đạt từ 5 – 10 ha
c Điểm điều tra
Mỗi loại cây trồng chọn đại diện theo giống, thời vụ, chân đất Mỗi yếu tố điềutra chọn ít nhất 10 điểm ngẫu nhiên hoặc phân đều theo đường chéo khu đồng,ruộng, vườn Điểm điều tra cách bờ ít nhất 2m ( lúa và cây ngắn ngày) và 5m hoặc
1 hàng cây (đối với cây dài ngày, cây ăn quả)
d Đơn vị điều tra của mỗi điểm
* Đối với cây lúa
+ Điều tra sâu
điều tra một khung
- Trên lúa cấy điều tra 10 khóm (đối với bọ trĩ đếm 5 dảnh/10 khóm)
+ Điều tra bệnh
- Bệnh trên thân, điều tra 10 dảnh ngẫu nhiên/ điểm
- Bệnh trên lá, điều tra toàn bộ số lá của 5 dảnh ngẫu nhiên trên điểm
* Đối với cây rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày( Lạc, vừng, đậu đỗ, ngô, cácloại rau thuộc họ thập tự có tán lá nhỏ)
+ Điều tra sâu
- Trồng thưa điều tra 1m2/ điểm (với cây trồng có mật độ < 50 cây/ m2 )
cây có mật độ > 50 cây/ m2 )
(Riêng đối với loại chích hút như bọ phấn, bọ rầy, nhện hại thì tính 10 cây,
10 dảnh hoặc 10 lá trên điểm điều tra, tuỳ theo vị trí gây hại của mỗi đối tượng)
Trang 32+ Đối với bệnh hại
- Bệnh trên toàn thân chọn 10 thân ngẫu nhiên / điểm
- Bệnh trên lá chọn 10 lá ngẫu nhiên/ điểm
- Bệnh trên củ, quả chọn 10 củ quả ngẫu nhiên/ điểm
- Bệnh trên rễ chọn 10 cây ngẫu nhiên/ điểm
+ Đối với sâu hại
- Sâu hại cành (cành lá, cành hoa, cành quả) phải điều tra 4 hướng mỗi hướng chon
2 cành ngẫu nhiên/ cây / điểm
- Sâu hại trên thân 10 cây/ điểm
- Sâu hại trên vườn ươm dùng 1 khung/ điểm
+ Đối với bệnh hại
- Bệnh hại thân chọn 10 cây / điểm
- Bệnh hại cành chọn 4 hướng mỗi hướng 2 cành/ cây / điểm điều tra
4 Cách tiến hành điều tra:
Điều tra sâu hại đồng thời điều tra thiên địch, bao gồm
a Ngoài đồng, vườn cây
- Quan sát từ xa đến gần sau đó đếm trực tiếp trên cây, trong trường hợp không làmngoài đồng được thì cắt mẫu về nhà
- Dùng vợt đối với các loại sâu hại và thiên địch hoạt động ở tầng lá trên củacây(bọ xít dài, cào cào, châu chấu ) Mỗi điểm vợt 3 vợt
- Dùng khay đối với lúa cấy để điều tra các loại sâu hại và thiên địch hoạt động ởtầng dưới (rầy nâu, bọ xít mù xanh ) kích thước mỗi khay ( 20 x 20 x 5 cm) đặtnghiêng 1 góc 450 với gốc lúa rồi đập hai đập sau đó đếm số rầy vào khay và nhân
ngay trên dảnh rồi quy ra m2)
Trang 33Theo dõi và phân tích những mẫu vật sâu và thiên địch đã thu được trong quátrình điều tra xác định tỷ lệ kí sinh
- Với kí sinh trứng: Cho vào ống nghiệm (ít nhất 100 quả) đậy nút bông hàng ngàytẩm ẩm, theo dõi phát dục của trứng Nếu trứng bị kí sinh thì sẽ có ong kí sinh vũhoá Nếu trứng không bị kí sinh thì sâu non nở, đếm số ong kí sinh, số sâu non tính
tỷ lệ quả bị kí sinh ( một ong chỉ ký sinh một quả trứng)
- Với sâu non và nhộng trưởng thành: Nuôi ít nhất 20 cá thể mỗi loại sâu non,nhộng trưởng thành và theo dõi tỷ lệ kí sinh
- Theo dõi phát dục của sâu hại (thu 20 cá thể 1 loại sâu) về phòng để phân tuổi(Giai đoạn phát dục của sâu)
Ví dụ: Thu 20 sâu non đục thân 2 chấm (5 t1 , 12 t2 , 3 t3) vậy lứa sâu đang ở tuổi
T2
c Bẫy đèn, bẫy bả
+ Bẫy đèn:
- Nguồn sáng thu bắt tốt nhất là đèn điện 300 - 500W
- Dùng bẫy đèn chủ yếu để thu bắt các ngài thuộc họ ngài sáng(Pyralidae)
- Địa điểm bẫy đèn phải đặt ở khu đồng lúa xa khu dân cư, xa đường giao thôngchính
- Từ đèn ta tính được trưởng thành bay vào đèn trong từng đêm, ghi chép và từ đóquy ra trưởng thành xuất hiện rộ
+ Bẫy bả: Có nhiều loại bã khác nhau và cách làm khác nhau