Xây dựng Nhà -02
Trang 2NHIỆM VỤ ĐƯỢC GIAO
- ĐÀO ĐẤT
- THIẾT KẾ VÁN KHUÔN ĐÀI, GIẰNG MÓNG
- THI CÔNG BÊ TÔNG CỐT THÉP MÓNG
II / PHẦN THÂN: - THIẾT KẾ VÁN KHUÔN CỘT, DẦM, SÀN, VÁCH
- THI CÔNG BTCT PHẦNTHÂN
- CÔNG TÁC XÂY VÀ HOÀN THIỆN
III / TỔ CHỨC THI CÔNG:
- LẬP TIẾN ĐỘ THI CÔNG
IV / THIẾT KỂ TỔNG MẶT BẰNG:
- THIẾT KẾ TỔNG MẶT BẰNG XÂY DỰNG
V / CÁC BẢN VẼ KEM THEO :
- THI CÔNG MÓNG, ĐÀO ĐẤT CÔNG TRÌNH TC-01
- THI CÔNG ĐÀO ĐẤT HỐ MÓNG, ĐỔ BT MÓNG TC-02
- THI CÔNG THÂN CÔNG TRÌNH TC-03
- TIẾN ĐỘ THI CÔNG TC-04
- TỔNG MẶT BẰNG THI CÔNG TC-05
CHƯƠNG I : LẬP BIỆN PHÁP THI CÔNG PHẦN NGẦM
I THIẾT KẾ LẬP BIỆN PHÁP THI CÔNG CỌC BTCT
Trang 43,14 1,54
× = 92,20 m3
+ Lượng cốt thép cho 1 cọc D = 1500mm gồm1 lồng thép dài 22.7 m có 22Φ22 làm cốt chủ và 1 lồng thépdài 23.55m có 11Φ22 làm cốt chủ đaiΦ10a300
Trang 5+ Lượng đất khoan cho 1 cọc : Cọc D1500 ⇒ Vd = (46,25+12.15)× 4
.D2
π = 108,1 m3
+ Khối lượng Betonit: theo định mức khối lượng Bentonit cho 1m3 dung dịch là 39,26 KG/m3 trcng quá trình khoan dung dịch luôn luôn lấp đầy hố khoan nên lượng betonit cần thiết là:
108,1x39,26 = 4244 KGBảng tổng hợp khối lượng vật liệu làm cọc
TT Tên vật liệu Đơn vị Khối lượng Tổng k.lượng
1.2 Tính toán chọn máy thi công
1.2.1 Chọn máy thi công cọc khoan nhồi
Chọn máy khoan cọc:
Dựa trên chiều sâu hố khoan, đường kính hố khoan > chọn máy Hitachi mã hiệu KH-125 có các thông số kĩ thuật:
- Đường kính lỗ khoan : <2000 mm
- Chiều sâu khoan tối đa : 80 m
- Tốc độ máy quay của máy : 20 vòng/phút
- Mômen quay: 40-51 KNm
- Trọng lượng máy 47 T
- Áp lực lên đất : 0.09 Mpa
Trang 6Máy khoan KH-125
1.2.2 Chọn xe vận chuyển bê tông thương phẩm
Khối lượng bê tông cần vận chuyển lớn nhất được tính cho một cọc đường kính D1500 là 92,2
m3 Giả thiết bê tông được vận chuyển cách công trường 15km Dựa vào quãng đường vận chuyển và khối lượng bê tông cần vận chuyển ta chọn xe ôtô vận chuyển có mã hiệu SB-92B có các thông số kĩ thuật sau:
- Dung tích thùng trộn: q = 6m3
- Dung tích thùng nước: q’ = 0.75 m3
Trang 7- Công suất động cơ: 40 KW.
- Tốc độ quay của thùng trộn: 9-14.5 vòng/phút
- Độ cao đổ vật liệu vào: 3,5 m
- Thời gian đổ bêtông ra: 6 phút
- trọng lượng xe: 21.85 Tấn
- Vận tốc trung bình: 45 km/h
+ Thời gian cần thiết để hoàn thành công việc vận chuyển bê tông từ lúc lấy ở nhà máy cho đến khi
đổ bê tông vào máy bơm bê tông là:
- Thời gian lấy bê tông từ nhà máy: 6 phút
- Thời gian vận chuyển bê tông trên đường:15/45=0.333h=20 phút
- Thời gian đổ bê tông ra: 6 phút
- Tổng thời gian :32’ = 0,533 h
+ Số chuyến ôtô cần vận chuyển bê tông: n = 92,2.1,1/6= 9,2 = 17chuyến
1.2.3 Chọn máy bơm bê tông
Cơ sở để chọn máy bơm bê tông :
- Căn cứ vào khối lượng bê tông cần thiết của một phân đoạn thi công
- Căn cứ vào tổng mặt bằng thi công công trình
- Khoảng cách từ trạm trộn bê tông đến công trình, đường sá vận chuyển,
- Dựa vào năng suất máy bơm thực tế trên thị trường
Chọn máy bơm loại: BSA 1004E, có các thông số kỹ thuật sau:
+ Năng suất kỹ thuật : 30 (m3/h)
+ Dung tích phễu chứa : 300 (lít)+ Công suất động cơ : 3,8 (kW) + Đường kính ống bơm : 180 (mm)
+ Trọng lượng máy : 2,5 (Tấn)
+ áp lực bơm : 75 (bar)
+ Hành trình pittông : 1000 (mm) Năng suất 1 ca làm việc là P = 8.30.0,9 = 216 m3/ca Trong đó 0,9 là hệ số sử dụng thời gian
1.2.4 Chọn máy xúc
- Đất cần đào là đất lấp thuộc nhóm đất cấp 1 và sét pha thuộc nhóm đất cấp 2, khối lượng đào lớn nên ta chọn máy xúc gầu nghịch dẫn động thuỷ lực loại: E-140, có các thông số kỹ thuật:
+ Dung tích gầu : 0,63 m3.+ Bán kính làm việc : Rmax = 7,78 m
+ Chiều cao nâng gầu : hmax = 2,2 m
+ Chiều sâu hố đào : Hmax = 4,7 m
+ Trọng lượng máy : 5,1 T
+ Chiều rộng : 2,1 m
Trang 8+ Khoảng cách từ tâm đến mép ngoài : a = 2,81 m.
+ Chiều cao máy : c = 2,46 m
1.2.5 Các loại máy khác
Ngoài các máy móc chính như trên ta phải sử dụng các loại máy như sau:
- Sử dụng 2 máy hàn CT-22 sử dụng để cắt cốt thép và hàn tại bãi gia công thép và sử dụng một máy hàn khác tại mặt bằng thi công để hàn các lồng thép lại với nhau
Máy trộn bentonite theo nguyên lý khuấy bằng áp lực nước do bơm ly tâm Chọn loại BE−30A
có các thông số kỹ thuật sau:
Đặc trưng Đơn vị Giá trịDung tích thùng trộn m3 3.0
- Dùng xe ZTL - MMZ585L làm phương tiện vận chuyển mùn khoan ra khỏi công trường
Bảng thống kê máy thiết bị thi công
B Thiết bị phụ trợ
13
Trang 91.3 THUYẾT MINH BIỆN PHÁP KĨ THUẬT THI CÔNG CỌC KHOAN NHỒI
Dựa vào điều kiện địa chất công trình và điều kiện thi công cho phép, ta sử dụng phương pháp khoan tạo lỗ bằng phương pháp khoan guồng xoắn, vách hố khoan được giữ ổn định bằng dung dịch bentonite
1.3.1 Công tác chuẩn bị
Để có thể thực hiện việc thi công cọc khoan nhồi đạt kết quả tốt, ít ảnh hưởng tới môi trường xung quanh, đảm bảo chất lượng cọc cũng như tiến độ thi công nhất thiết phải thực hiện công tác chuyển bị Công tác chuyển bị cẩn thận chu đáo thì công trình thi công càng ít gặp vướng mắc do đó giảm nhanh được tiến độ, thi công liên tục Cần thực hiện nghiêm chỉnh và kỹ lưỡng các khâu chuẩn
- Kiểm tra nguồn nguyên liệu, vật tư thi công
- Xem xét khả năng gây ảnh hưởng đến khu vực và công trình lân cận, đưa ra biện pháp sử lý thích hợp
- Ngoài ra còn phải chuyển bị thật kỹ lưỡng các vật liệu chính:
+ Bê tông: Bê tông dùng cho cọc khoan nhồi là bêtông thương phẩm mác 300 Độ sụt nón cụt của bê tông yêu cầu trong khoảng 15-18 mm Việc cung cấp vữa bê tông phải liên tục sao cho
có thể khống chế thời gian đổ bêtông 1 cọc là 4 h
+ Cốt thép: Phải sử dụng theo đúng chủng loại mẫu mã được quy định trong thiết kế Cốt thép được gia công buộc, dựng thành các lồng thép, các lồng được vận chuyển đặt lên giá gần với
vị trí lắp đặt để thuận tiện cho khi hạ lồng cốt thép
Trang 10+ Dung dịch bentonite: Trong thi công cọc khoan nhồi dung dich bentonite ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cọc Cao trình dung dịch thấp, bị loãng, tách nước dễ dẫn tới sập thành hố khoan, đứt cọc bê tông Dung dich bentonite đặc, hàm lượng cát nhiều làm mất sức chịu tải của mũi cọc Vì vậy phải chuyển bị dung dịch bentonite có các chỉ tiêu và chất lượng đúng yêu cầu Các đặc tính kỹ thuật của Bentonite để đưa vào sử dụng là:
Độ ẩm: 9 ÷ 11%
Độ trương nở: 14 ÷ 16 ml/g
Khối lượng riêng: 2,1 t/m3
Độ pH của keo với 5%: 9,8 ÷ 10,5
Nước sử dụng để trộn Bentonite là nước
sạch, nước máy, liều lượng pha trộn từ 30 ÷ 50kg
Bentonite/m3, chất bổ sung để điều chỉnh độ pH:
NaHCO3 hoặc tương tự
1.3.2 Định vị tim cọc
Đây là công việc quan trọng ảnh hưởng đến vị
trí và khoảng cách các cột của công trình, là công
việc định vị trí công trình từ bản vẽ thiết kế đưa ra thực địa căn cứ vào bản đồ định vị công trình do văn phòng kiến trúc hoặc cơ quan tương đương cấp, lập mốc giới công trình Các mốc này phải được
cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và chấp nhận
Từ mặt bằng định vị móng cọc của nhà thiết kế, lập hệ thống định vị và lưới khống chế cho công trình theo các trục: gồm các trục chính, trục cơ bản, trục dọc, trục ngang và điểm dóng gửi vào các công trình lân cận hoặc đóng các cọc mốc bằng cọc thép dài 2m, ngập sâu vào trong đất 1m và nằm ngoài phạm vi thi công
Từ hệ thống trục định vị đã lập, dùng máy kinh vĩ ngắm theo hai phương X,Y của công trình để xác định hai trục theo hai phương của tim cọc Dùng dây kẻ theo hai phương này và giao điểm của
Trang 11chúng là vị trí tim cọc Để kiểm tra tim cọc trong quá trình thi công, từ tim cọc đo ra khoảng 2m cùng theo hai phương trên, đóng các cọc gỗ hoặc thép có sơn đỏ làm mốc kiểm tra.
1.3.3 Hạ ống vách
Ống vách là một ống bằng thép có đường kính lớn hơn đường kính gầu khoan khoảng 100mm, dài 6m được đặt ở phần trên miệng hố khoan và lên khỏi mặt đất 0,6m Ống vách dẫn hướng có tác dụng:
- Định vị và dẫn hướng cho máy khoan tạo cho mũi khoan đi thẳng theo trục cọc
- Giữ ổn định cho hố khoan, đảm bảo không bị sập thành phía trên hố khoan Chống các tác động phía trên mặt đất trong qua trình thi công dễ gây lở vách hố khoan hoặc biến dạng hố khoan
- Ngoài ra, ống vách còn làm điểm tựa đỡ tạm và thao tác cho việc buộc nối và thao tác cốt thép, khi hạ lồng thép, lắp dựng và tháo dỡ ống đổ bê tông …
- Ống vách được thu hồi lại sau khi đổ bê tông cọc nhồi xong
Ống vách được hạ xuống bằng nhiều phương pháp:
- Phương pháp rung: Sử dụng búa rung thông dụng thường hạ 6m ống vách trong vòng 10 phút
nhưng quá trình rung ảnh hưởng đến toàn bộ khu vực lân cận Để khắc phục hiện tượng trên trước khi
hạ ống vách ngưòi ta đào sẵn một hố sâu khoảng 2,5 đến 3m nhằm để bóc bỏ lớp đất cứng trên bề mặt nền đất Biện pháp này làm giảm thời gian rung của búa xuống còn 2÷3 phút và giảm ảnh hưởng đến công trình lân cận
- Phương pháp ép: Người ta sử dụng máy ép để ép ống vách xuống độ sâu cần thiết, phương pháp
này chánh được rung động nhưng thiết bị ép và tải lại cồng kềnh, khó khăn cho việc thi công và bố trí mặt bằng
- Phương pháp thông dụng hiện nay là sử dụng chính máy khoan với gầu có lắp thêm đai cắt
để mở rộng đường kính, khoan một lỗ có đường kính khoan mồi bằng đường kính ngoài của ống vách đến hết độ sâu của ống vách sử dụng cần cẩu hoặc máy đào đưa ống vách vào vị trí, hạ ống vách xuống đúng cao trình cần thiết, cũng có thể dùng cần Kelly Bar để gõ nhẹ lên ống vách, điều chỉnh độ thẳng đứng và đưa ống vách đến vị trí Sau khi đặt ống vách xong phải chèn chặt ống vách bằng đất sét kết hợp kiểm tra, điều chỉnh tim ống vách trùng với tim cọc Nêm chặt cố định ống vách, không cho ống vách dịch chuyển trong quá trình khoan
Yêu cầu: ống vách kín khít, mặt trong và ngoài nhẵn phẳng, tránh bùn, cát lẫn vào
1.3.4 Khoan tạo lỗ
- Do dung dich bentonite có tầm ảnh hưởng quan trọng tới quá trình thi công nên trước khi khoan phải kiểm tra lại chất lượng và hệ thống cung cấp bentonite
- Kiểm tra lại các thiết bị khoan, cần khoan, dây cáp, gầu đào
- Điều chỉnh độ nằm ngang của máy khoan và độ thẳng đứng của cần khoan bằng máy kinh vĩ (kiểm tra theo 2 phương vuông góc)
- Chọn máy khoan Hitachi - KH125
- Cần máy khoan có cấu tạo gồm 3 ống lồng vào nhau và chuyền được chuyển động xoay Ống trong cùng gắn với gầu khoan, ống ngoài cùng gắn với động cơ xoay của máy khoan
Trang 12- Để xác định chiều sâu hố khoan người ta dùng 1 quả dọi đáy đường kính 5cm buộc vào đầu thước dây thả xuống để đo Trong suốt quá trình đào người ta kiểm tra độ thẳng đứng của cọc thông qua cần khoan.
- Trong khi khoan ta sẽ sử dụng các loại gầu khoan để khoan các lớp đất có địa chất khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất:
+ Khi khoan lớp đất cát sỏi dùng gầu thùng
+ Khi khoan lớp đất sét, sét rắn dùng gầu khoan kiểu guồng xoắn
1.3.5 Xác định độ sâu hố khoan
Để kiểm tra chiều sâu hố khoan, dùng loại dây mềm dài ít thấm nước có chia độ đến cm Một đầu được cố định vào tang quay, một đầu gắn quả rọi chừng 1 kg Thả dây mềm xuống từ từ, khi quả rọi chạm bề mặt lớp bùn khoan căn cứ số đọc trên dây ta xác định được chiều sâu từ miệng ống vách đến đáy hố khoan Trong thực tế để xác định chính xác điểm dừng, khi khoan người ta lấy mẫu cho từng địa tầng khác nhau và phần cuối cùng nên lấy mẫu cho từng gầu khoan
Quá trình khoan không thể đưa hết đất ra khỏi lỗ khoan, nhất là khi thay các mũi khoan phá các lớp đất cứng Do đó, người giám sát phải kiểm tra chiều sâu và độ sạch của hố khoan, nếu chưa đạt yêu cầu dùng gầu vét để vét sạch đất đá rơi trong đáy hố khoan
Tiến hành kiểm tra lại chiều sâu hố khoan, lượng bùn đất còn đọng lại đáy lỗ trước khi tiến hành bước tiếp theo
Chú ý: Trong quá trình khoan tạo lỗ, cần ghi chép đầy đủ các số liệu, có thể kèm theo chụp hình các lớp đất, chiều sâu hố khoan để làm số liệu cho việc kiểm tra, kiểm định, bàn giao cũng như làm
cơ sở cho các hồ sơ sau này
1.3.6 Hạ lồng cốt thép
Cốt thép được buộc sẵn thành từng lồng, vận chuyển và đặt lên giá từng hố khoan Sau khi kiểm tra hố khoan nếu lớp bùn cát lắng dưới đáy hố khoan không quá 10 cm thì tiến hành hạ lồng cốt thép Cốt thép được hạ xuống lỗ khoan từng lồng một, treo tạm thời lên miệng ống vách bằng cách ngáng qua các đai tăng cường buộc sẵn Dùng cẩu đưa các lồng thép tiếp theo tới nối với lòng dưới và tiếp tục hạ xuống tới khi hạ xong Lồng cốt thép được cố định vào miệng ống bằng 4 thanh thép φ16 hàn vào khung cốt thép trên cùng và treo vào thành ống vách hoặc có thể hàn 4 φ16 vào thành ống Khi thi công hạ cốt thép dùng cần cẩu
Trang 13Ống đổ bê tông được lắp dần từ dưới lên Để lắp ống đổ bê tông người ta dùng một hệ giá đỡ đặc biệt có cấu tạo như thang thép đặt qua miệng ống vách, trên thang có hai nửa vành khuyên có bản lề Khi hai nửa này sập xuống sẽ tạo thành vòng tròn ôm khít lấy thân ống đổ bê tông Miệng mỗi đoạn ống đổ có đường kính to hơn và được giữ lại trên hai nửa vành khuyên đó và như vậy ống đổ bê tông được treo trên miệng ống vách qua giá đặc biệt này.
Đáy dưới của ống đổ bê tông được đặt cách đáy hố khoan 20 ÷ 30 cm để tránh tắc ống do đất đá dưới đáy hó khoan nút lại
1.3.8 Xử lý cặn lắng đáy hố khoan
Trong công nghệ khoan ướt các hạt mịn, cát lơ lửng trong dung dịch Bentônite lắng xuống tạo thành lớp bùn đất, lớp này ảnh hưởng tới khả năng chịu tải của cọc Do quá trinh hạ lồng cốt thép và lắp ống đổ bê tông các hạt cát tiếp tục lắng xuống đáy hố khoan nên sau khi lắp ống đổ bê tông xong
Ren nèi èng
Trang 14ta đo lại chiều sâu đáy hố khoan, nếu lớp lắng này lớn hơn 10 cm so với khi kết thúc khoan thì phải tiến hành xử lý cặn.
Có hai phương pháp xử lý cặn lắng đáy hố khoan trong thi công cọc khoan nhồi đó là: Phương pháp thổi rửa dùng khí nén và phương pháp tuần hoàn dung dịch Bentonite
-Phương pháp thổi rửa dùng khí nén (air-lift)
Trong phương pháp này người ta dùng ngay ống đổ bê tông làm ống xử lý cặn lắng Sau khi lắp xong ống đổ bê tông người ta lắp đầu thổi rửa lên đầu trên của ống đổ, đầu thổi rửa có hai cửa, một cửa được nối với ống dẫn φ 150 để thu hồi dung dịch Bentonite và bùn đất từ đáy hố khoan về thiết bị lọc dung dịch Một cửa khác được thả ống khí nén φ45, ống này dài bằng khoảng 80% chiều dài cọc
Khi bắt đầu thổi rửa, khí nén được thổi qua đường ống φ45 nằm bên trong ống đổ bê tông với áp lực khoảng 7 kG/cm2, áp lực này được giữ liên tục Khí nén ra khỏi ống khi nén φ45 quay lại thoát lên trên ống đổ tạo thành một áp lực hút ở đáy ống đổ đưa dung dịch Bentonite và bùn đất, cát lắng theo ống đổ bê ông đến máy lọc dung dịch Quá trình thổi rửa đáy hố khoan này phải liên tục cấp bù dung dịch Bentonite cho cọc để đảm bảo cao trình dung dịch Bentonite không thay đổi
Thời gian thổi rửa bằng phương pháp air lift thường kéo dài 20 ÷ 30 phút Sau đó ngừng cấp khí nén, dùng thước đo độ sâu Nếu độ sâu được đảm bảo, cặn lắng nhỏ hơn 10 cm thì kiểm tra dung dịch Bentônite lấy ra từ đáy lỗ khoan Lòng hố khoan được coi là sạch khi dung dịch Bentônite thoã mãn các điều kiện:
Trang 15Trong phương pháp này ngưòi ta sử dụng một máy bơm bùn Tubin công suất khoảng 40 ÷60 m3/h treo vào một sợi cáp và dùng cần cẩu hạ xuống đáy hố khoan nhưng luôn luôn nằm trong ống đổ bê tông Một đường ống có đường kính khoảng 80÷100 mm được gắn vào đầu trên của bơm và được cố định vào cáp treo máy bơm, ống này đưa dung dịch Bentonite về máy lọc trong quá trình luân chuyển dung dịch Bentonite luôn luôn được cấp vào miệng hố khoan Đến khi dung dịch Bentonite đưa ra đạt chỉ tiêu sạch và đạt độ lắng đạt yêu cầu ≤ 10 cm thì có thể kết thúc công đoạn luân chuyển Bentonite.
1.3.9 Đổ bê tông cọc
Để đổ bê tông cọc khoan nhồi ta dùng phương pháp vữa dâng kết hợp vơi rút ống đổ Trước khi
đổ bê tông người ta đặt một quả cầu xốp (hoặc nút bấc) có đường kính bằng đường kính trong của ống đổ, nút ngay đầu trên của ống đổ để ngăn cách bê tông và dung dịch Bentônite trong ống đổ, sau này nút bấc đó sẽ nổi lên và được thu hồi
Trong quá trình đổ bê tông ống đổ được rút dần lên nhưng đảm bảo sao cho ống luôn luôn ngập trong vữa bê tông tối thiểu 2m Công việc này phải được theo dõi sát sao vì nếu sai sót cọc sẽ lập tức
bị hỏng vì đứt, bê tông cọc sẽ không còn được liên tục
Đổ bê tông vào đầy phễu, cắt sợi giây thép treo nút, bê tông đẩy nút bấc xuống và tràn vào đáy lỗ khoan Mẻ đầu tiên theo quả cầu chảy ra ngoài nhờ nâng ống cách đáy 20cm Tốc độ cung cấp bê tông ở phễu cũng phải được giữ điều độ, phù hợp với vận tốc di chuyển trong ống Không nhanh quá gây tràn ra ngoài, chậm quá cũng gây nhiều hậu quả xấu, dòng bê tông có thể bị gián đoạn
Khi đổ bê tông vào hố khoan thì dung dịch Bentônite sẽ trào ra lỗ khoan, do đó phải thu hồi Bentonite liên tục sao cho dung dịch không chảy ra quanh chỗ thi công Tốc độ thu hồi dung dịch cũng phải phù hợp với tốc độ cấp bê tông Nếu thu hồi chậm quá dung dịch sẽ tràn ra ngoài Nếu thu hồi nhanh qua thì áp lực giữ thành bị giảm gây ra sập vách hố khoan
Quá trình đổ bê tông được khống chế trong vòng 4 giờ Để kết thúc quá trình đổ bê tông cần xác định cao trình cuối cùng của bê tông Do phần trên của bê tông thường lẫn vào bùn đất nên chất lượng xấu cần đập bỏ sau này, do đó cần xác định cao trình thật của bê tông chất lượng tốt trừ đi khoảng 1 m phía trên Ngoài ra phải tính toán tới việc khi rút ống vách bê tông sẽ bị tụt xuống do đường kính ống vách to hơn lỗ khoan Nếu bê tông cọc cuối cùng thấp hơn cao trình thiết kế phải tiến hành nối cọc Ngược lại, nếu cao hơn quá nhiều dẫn tới đập bỏ nhiều gây tốn kém do đó việc ngừng
đổ bê tông do nhà thầu đề xuất và giám sát hiện trường chấp nhận
Kết thúc đổ bê tông thì ống đổ được rút ra khỏi cọc, các đoạn ống được rửa sạch xếp vào nơi quy định
Trang 161.3.11 Kiểm tra chất lượng cọc sau khi thi công
Công tác này nhằm đánh giá chất lượng bê tông cọc tại hiện trường, phát hiện các khuyết tật và
xử lý cọc bị hư hỏng nếu có Ở đây người ta dùng 4 phương pháp để kiểm tra chất lượng cọc nhồi:
phương pháp này là thử độ lún của cọc ở tải trọng thiết kế, xác định tải trọng giới hạn của cọc hoặc kiểm tra cường độ bê tông cọc Nén tĩnh được thực hiện với kích thuỷ lực và hệ thống đối trọng hay
hệ thống cọc neo Quy trình thực hiện thí nghiệm trên theo quy phạm Anh: BS 8004- 1986 Các bước tiến hành :
- Cấp tăng tải trọng bằng 25% so với tải dự kiến
- Độ lún giới hạn sau 1 giờ nhỏ hơn 0,25 mm mới cho phép tăng lên cấp tải mới
- Tăng đến tải trọng thiết kế dự kiến, quan sát độ lún cho đến khi độ lún <0.25mm/h
- Giảm tải về 0 và quan sát độ phục hồi của cọc với tốc độ <0.25mm/h hoặc trong 6 giờ
- Tiếp tục tăng cấp tải đến 1,25 lần tải trọng thiết kế, giữ trong 3 giờ
- Tăng tải 1,5 lần so với tải thiết kế và giữ tải trong vòng 24÷40h
- Giảm tải theo từng cấp, tại cấp bằng 0 tiến hành quan trắc trong 6h hoặc để độ phục hồi của cọc nhỏ hơn 0,25mm/h Trên cơ sở thử tải cọc, biểu đồ độ lún của đầu cọc, sức chịu tải của cọc được xác định và tải trọng xác định với riêng từng cọc Phương pháp này ngoài ưu điểm có độ tin cậy cao, độ sâu giới hạn thử tải không hạn chế thì có nhược điểm là thời gian chuẩn bị lâu, kinh phí lớn không mang tính đại diện cao (chỉ thử được 1-2 cọc ở hiện trường)
và khuyết tật của khối bê tông bằng siêu âm qua các lỗ chờ sẵn trong cọc
Cơ sở của phương pháp này là lý thuyết truyền sóng ứng suất trong thanh đàn hồi Sóng này tạo ra khi búa đập vào đầu cọc, truyền từ đỉnh cọc tới mũi cọc với tốc độ phụ thuộc vào chất lượng bê tông cọc Khi gặp thay đổi của kháng trở cơ học, một phần sóng ứng suất được phản hồi quay trở lại đầu cọc Cường độ và dạng của sóng phản hồi phụ thuộc vào bản chất và mức độ thay đổi của kháng trở
cơ học
Thiết bị thí nghiệm: Búa tạo chấn động 2 kg, đầu đo gia tốc của đầu cọc, các bộ phận ghi và đọc kết quả Trong quá trình thí nghiệm, đầu đo gia tốc của cọc được gắn vào đầu cọc, sau đó dùng búa nhỏ đập vào đầu cọc tạo sóng ứng suất, kết quả đo được phân tích bằng máy tính Các chương trình
xử lý làm việc theo nguyên tắc điều chỉnh các thông số cơ học của cọc và của đất nền xung quanh sao cho biểu đồ sóng ứng suất xác định theo tính toán trùng hợp với biểu đồ đo được trong thí nghiệm Công tác thí nghiệm tại hiện trường khá nhanh (20p/cọc) Đây là phương pháp đang được thực hiện rộng rãi do quy trình thực hiện đơn giản, thời gian thí nghiệm nhanh, giá thành thấp Tuy nhiên độ sâu của cọc bị hạn chế (30 lần đường kính cọc, 24m hoặc 30m) Hơn nữa do xung chấn động nhỏ nên khi gặp khuyết tật lớn, sóng bị giảm yếu nhiều nên ít có khả năng phát hiện những khuyết tật ở độ sâu lớn hơn
50- 150 mm từ những độ sâu khác nhau Cũng có thể lấy mẫu liên tục theo chiều sâu Quan sát mẫu tại hiện trường cho phép đánh giá sơ bộ chất lượng bê tông cọc
• Ưu điểm: Chất lượng bê tông cọc được xác định chính xác bằng phương pháp trực tiếp
Trang 17• Nhược điểm: Số lượng mũi khoan nhiều ảnh hưởng đến sự làm việc của cọc, giá thành cao, tốn thời gian.
d Kiểm tra bằng siêu âm:
ThiÕt bÞ thu ThiÕt bÞ ph¸t
siªu ©m kiÓm tra
Đây là một trong các phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất Phương pháp này đánh giá chất lượng bê tông và khuyết tật của cọc thông qua quan hệ tốc độ truyền sóng và cường độ bê tông
Để kiểm tra bằng phương pháp này người ta buộc sẵn 4 ống thép hình vào lồng thép trước khi hạ lồng thép Sau khi đổ bê tông xong ta dùng thiết bị phát siêu âm thả vào trong một lỗ Cứ 5 cm thì đo
1 lần và ghi kết quả Dựa vào kết quả đo được mà phân tích chất lượng của bê tông
• Ưu điểm: Nhanh, giá thành thấp, kết quả chính xác hơn rất nhiều so với phương pháp đo sóng âm, chiều sâu không bị hạn chế
• Nhược điểm: Tín hiệu không quét được qua vành ngoài của cọc nên không biết được có bị hở cốt thép hay không
Kiểm tra lại trục cọc: dựa vào các mốc đã có sẵn, dùng máy hoặc thước dóng lại các trục để kiểm tra
Các sai số cho phép về lỗ cọc khoan nhồi
Trang 18-Đường kính cọc : 0,1D và ≤ -50 mm
-Độ thẳng đứng : 1%
-Sai số về vị trí: D/6 và không được lớn hơn 100
Bảng khối lượng kiểm tra chất lượng bê tông cọc:
Thông số kiểm tra Phương pháp kiểm tra Tỷ lệ kiểm tra min(%)
Cường độ bê tông
thân cọc
- Thí nghiệm mẫu lúc đổ bê tông
- Thí nghiệm trên lõi lúc khoan
- Theo tốc độ khoan (khoan thổi không lấy lõi)
- Súng bật nẩy hoặc siêu âm đối với bê tông đầu cọc
2 %
35
1.4 Tổ chức thi công cọc khoan nhồi
- Thi công cọc nhồi đảm bảo nguyên tắc:
+ Khoan, thi công từ trong ra ngoài
+ Thiết bị đi lại không làm ảnh hưởng tới cọc mới thi công
+ Công tác định vị các cọc được dễ dàng không bị các phương tiện thi công làm mất dấu
+ Thiết kế đầy đủ hệ thống cấp, thu hồi và xử lý dung dịch Bentonite bằng các hệ thống ống cứng
và mềm đặt sát chân công trình
- Kiểm tra chất lượng cọc: Ta có thể lựa chọn 1 hoặc kết hợp các phương pháp kiểm tra chất lượng
cọc đã được nêu ở mục 1.3.11.
1.4.1 Tính thời gian thi công cho 1 cọc
- Lắp mũi khoan, di chuyển máy 20 phút
- Thời gian hạ vách: ta đào mồi 6m hết 30 phút, sau đó đặt ống vách và điều chỉnh hết 20 phút
- Sau khi đặt ống vách ta tiếp tục khoan sâu đến độ sâu -42,6m Năng suất khoan 10 phút/1m thời gian khoan là (43,8 - 6).10 = 378 phút
- Thời gian hạ lồng thép: Dùng móc phụ của cần khoan hoặc dùng cần cẩu thả lồng thép xuống điều chỉnh và cố định 30 phút
- Thời gian thổi rửa: xử lý lắng cặn gồm 2 bước, bước 1 sau khi khoan xong và bước 2 trước khi đổ
bê tông
Bước1 lấy 15 phút
Bước 2 lấy 30 phút
Trang 19- Thời gian đổ bê tông cọc: tốc độ đổ 0,6m3/phút
Thể tích cọc52,2 4
.D2
π = 92,2m3
Do đường kính thực tế lớn hơn đường kính cọc do vậy dự trù lượng tăng thêm 10% ⇒Thể tích bê tông cần đổ là: 92,2×1,1 = 101,5m3
Vậy thời gian đổ bê tông tông là 101.5 / 0,6 = 169phút
Vậy tổng thời gian đổ 1 cọc là 20+30+20+378+30+(15+30)+162 = 694 phút = 11.6giờ
Dự trù để hoàn thành 1 cọc khoan nhồi hết 10 giờ = 1,5 ca
Dùng 2 máy bơm bê tông để phục vụ 2 máy khoan cọc nhồi Vì máy bơm bê tông hay bị tắc nên
ta dự phòng 1 máy bơm nữa Vậy phải dùng tất cả là 3 máy bơm
Với mỗi cọc nhồi phải dùng 17 chuyến xe chở bê tông (xem mục 1.2.2)
+ Năng suất máy bơm là: 30m3/h⇒ 1 giờ cần 30 m3 bê tông
+ Mà 1 chuyến xe chở được 6 m3 bê tông, vậy số chuyến xe cần phải thực hiện trong 1 giờ là: 30/6 = 5 chuyến
+ Chu kì 1 chuyến xe (bao gồm: lấy bê tông, chở đến công trường, trút bê tông ra, trở lại nhà máy): 6 + 15/40.60 + 6 + 15/40.60 = 57 phút ≈ 1 giờ
+ Vậy số xe cần để vận chuyển bê tông là: 5/1 = 5 xe
Mà trong 1 ngày ta thi công 2 cọc, do đó ta phải dùng 5.2 = 10 xe ô tô vận chuyển bê tông
1.4.3 Tính số nhân công
Theo định mức dự toán XDCB, số nhân công phục vụ cho 1m3 bê tông bao gồm các công việc: chuẩn bị, kiểm tra lỗ khoan và lồng cốt thép, lắp đặt ống đổ bê tông, giữ và nâng dẫn ống đổ là:1,1 giờ công/m3(Nhân công bậc 3,5/7) Do đó số công đổ bê tông cọc: 2x101,5/8 = 25.4 (công) Ta thi công 1,5 ca 1 ngày nên số công nhân cần thiết cho 1 cọc bê tông là 17 công nhân
Ngoài ra còn cần công nhân để làm các việc khác như sau:
- Phục vụ trải tôn, hạ ống vách, … : 4 công nhân
- Phục vụ trộn và cung cấp ben : 2.2 = 4 công nhân
- Thợ hàn: định vị khung thép, hàn, sửa : 1.2 = 2 công nhân
- Thợ điện : đường điện khu vực thi công : 1 công nhân
- Cân chỉnh 2 máy kinh vĩ : 2 kỹ sư và 2 công nhân
Tổng số người phục vụ trên công trường là: 32 người
1.5 AN TOÀN LAO ĐỘNG KHI THI CÔNG CỌC KHOAN NHỒI
- Đặc điểm:
Trang 20+ Công trình thi công đất là chủ yếu, lượng máy móc cơ giới, đặc biệt là máy hạng nặng như
khoan, cẩu nhiều
+ Do công việc chính là khoan tạo lỗ nên nguy hiểm, mặt khác bùn đất đào nên nếu không vận chuyển kịp sẽ gây những bãi lầy khó khăn cho việc vận chuyển
+ Khối lượng cần phải cẩu nhiều, vật cẩu là những vật khá nặng
+ Điện sử dụng trên công trường là điện 3 pha, mặt khác dây cáp được kéo dưới mặt đất tới các vị trí sử dụng nên rất nguy hiểm đối với nền công trường là bùn nhão dễ gây sự cố nghiêm trọng nếu dây cáp hở
- Biện pháp:
+ Phổ biến kiến thức và an toàn lao động, nội quy của công trường cho công nhân
+ Kiểm tra an toàn máy móc trước khi đưa vào sử dụng
+ Kiểm tra an toàn về điện cho các máy móc thiết bị
+ Chỉ đưa máy móc vào công trường khi đã được kiểm định
+ Có hàng rào ngăn cách, biển báo, biển chỉ dẫn
+ Kiểm tra thiết bị, máy móc, an toàn vệ sinh cá nhân, dụng cụ phòng hộ lao động, chỗ làm việc
để tránh tai nạn xảy ra
+ Với những máy làm việc trên công trường tại chỗ như máy khoan cần dọn tuyến công tác sạch sẽ để máy vào vị trí công tác thuận lợi Vị trí máy đứng phải luôn được rải các tấm tôn
để tránh sa lầy cũng như đảm bảo độ nằm ngang của máy
+ Các máy có tay cần khá dài do đó nếu đứng gần nhau quá dễ gây va chạm nguy hiểm
+ Cần có các biển báo hiệu tại khu vực đang thi công hay mới thi công xong
+ Công nhân cần được trang bị đầy đủ thiết bị bảo hộ lao động: mũ, ủng, găng tay, quần áo, kính hàn
1.6 VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
Quá trình thi công cọc khoan nhồi thường có nhiều phế thải: đất mùn khi khoan lỗ, dung dịch giữ thành đã bị biến chất không thể sử dụng lại, hoặc vương vãi ra sau khi thi công Tất cả những thứ này cùng với sự đi lại của máy móc và của công nhân khiến mặt bằng thi công cọc nhồi rất bẩn và lầy lội, cho nên khi xử lí phế thải phải tuân thủ các qui tắc đề ra như sau:
- Dùng xe hút bùn, xe ben có đặt thêm thùng chứa bùn lên xe để làm phương tiện vận chuyển bùn
- Tất cả những thiết bị tham gia vào qui trình khoan tạo lỗ, đổ bê tông cọc, khi rời công trường đều phải được làm vệ sinh bằng cách dùng vòi nước áp lực mạnh xịt rửa
- Trong công trường ở những nơi lầy lội, thấp trũng thì cần phải được tôn cao, đường đi lại của ô
tô có thể được đặt những thép tấm
Trên thực tế, không thể nào triệt tiêu tiếng ồn mà chỉ có thể tìm mọi cách để giảm nguồn gây ra tiếng ồn và làm giảm lượng tiếng ồn:
- Xây tường bao quanh hiện trường thi công
- Trong khi chờ, đổ bê tông, phải chú ý khống chế tiếng ồn khi quay thùng trộn
- Bơm bê tông cũng sinh ra tiếng ồn và chấn động, vì vậy phải nghiên cứu chỗ đặt bơm và lợi dụng tường để giảm âm
Trang 21I.2- Kỹ thuật thi công tường trong đất :
I.2.1- Phương án thi công tường trong đất :
- Hiện tại, theo biện pháp thi công, có 2 loại tường trong đất là tường đổ tại chỗ và tường lắp ghép Tường vây dạng lắp ghép thường được sử dụng cho những công trình có khối lượng tường trong đất lớn, có những đoạn tường dài với kết cấu điển hình, thường sử dụng khi đã có nhà máy bêtông cốt thép đúc sẵn gần đó để tiết kiệm chi phí đầu tư Tường lắp ghép thường đòi hỏi phải xử lý chỗ chống thấm trận trọng hơn Hiện nay việc sử dụng tường lắp ghép là chưa khả thi vì không có nhà máy sản xuất cấu kiện panel tường đúc sẵn như vậy Mặt khác việc vận chuyển các tấm tường lớn trong điều kiện thi công trong thành phố là khó khăn và phải làm vào ban đêm
- Về dạng tường vây đổ tại chỗ: so với dạng lắp ghép ưu điểm của dạng tường này là thi công dễ dàng trong điều kiện thành phố trật hẹp, hệ thống máy thi công không phức tạp và tốn kém như ở dạng lắp ghép, khả năng chống thấm cho tường được giải quyết khá triệt để Tuy nhiên thời gian thi công chậm, thường gây ô nhiễm môi trường lớn trong quá trình thi công (lắp cẩu lồng cốt thép, đổ bêtông, thải rửa betonite …) đòi hỏi phải có những biện pháp khắc phục
- Trên cơ sở những phân tích như trên, trong pham vi đồ án em quyết định sử dụng phương án tường vây bằng bêtông cốt thép đổ tại chỗ Kết hợp sử dụng công nghệ, máy, vật liệu thi công của công nghệ thi công cọc Barrette phần móng
- Biện pháp thi công tường trong đất đổ tại chỗ hiện nay chỉ phân biệt nhau chủ yếu ở công việc xử lý chống thấm cho tường vây ở vị trí liên kết các tấm panen tường Trên cở sở này có thể phân ra các dạng thi công mối nối cho tường vây gồm có:
+ Mối nối dạng ống nối đầu hay hộp nối đầu
+ Mối nối dạng đan lồng cốt thép và sử dụng bản thép để chống thấm
+ Mối nối dùng gioăng chống thấm CWS
- Trong phạm vi đồ án em lựa chọn phương án dùng mối nối bằng gioăng chống thấm CWS với các đặc điểm cơ bản sau:
+ Nguyên tắc của biện pháp này là tạo ra một màng ngăn nước được đặt vào giữa hai panen tường Màng ngăn có thể được làm bằng nhiều vật liệu khác nhau như thép, cao su, chất dẻo… trong
đó thông dụng và hiệu quả nhất tại nước ta hiện nay là biện pháp dùng gioăng chống thấm CWS và
bộ gá lắp của hãng Bachy Soletanche cung cấp
+ Lắp dựng và tháo dỡ khớp nối CWS: Trước khi luân chuyển dung dịch bentonite, các khớp nối CWS được lắp dựng tại đầu các đoạn tường đã đào xong Các đoạn tường khởi đầu có khớp nối
ở 2 đầu, các đoạn tường tiếp chỉ có khớp nối tại một đầu và các đoạn tường đóng không có khớp nối Khớp nối CWS gồm các tấm rời được liên kết với nhau bằng bulông trong quá trình hạ xuống hố đào Khớp nối được hạ xuống quá cốt đáy tầng hầm vài mét hoặc vào tầng ít thấm Một hoặc hai thanh chắn nước bằng cao su đặc gắn vào khớp nối (hình vẽ) Người ta có thể dùng chính các máy đào để lắp dựng và tháo dỡ khớp nối CWS Khi đào hố đào mới bên cạnh khớp CWS cũng được sử dụng để dẫn hướng cho gầu đào một cách hữu hiệu Sau khi tháo khớp nối, một nửa phần gioăng chống thấm nằm lại trong phần tường đã đổ bêtông, nửa còn lại sẽ được thi công nằm trong bêtông của panel tường liền kề
Trang 22+ Cấu tạo khái quát của biện pháp này được trình bày như hình vẽ
I.2.2- Quy trình thi công tường trong đất :
- Công tác chuẩn bị mặt bằng và định vị tường vây
- Định vị và thi công tường dẫn cho tường vây
- Đào tạo lỗ cho panel 1, kết hợp cung cấp, xử lý tuần hoàn dung dịch Bentonite cho hố đào
- Kiểm tra độ sâu, nạo vét hố đào
- Chế tạo và hạ lồng cốt thép
- Hạ ống đổ bêtông (ống Trime) và thổi rửa bùn cặn
- Đổ bêtông cho panel 1 theo phương pháp vữa dâng
- Tiếp tục quá trình trên cho panel thứ 2 cách panel 1 khoảng bằng độ dài 1 tấm panel (thi công một cách một) Tiếp tục quá trình thi công trên cho một vòng chu vi tường vây quanh công trình Quay máy một vòng, trở lại thi công tấm panel ở giữa hai tấm panel đã thi công trước đó
Trang 23- Phá bỏ tường dẫn
- Kiểm tra chất lượng bêtông của tường vây
I.2.3- Kỹ thuật thi công tường trong đất :
I.2.3.1- Công tác chuẩn bị :
- Nghiên cứu kỹ các bản vẽ thiết kế, tài liệu địa chất công trình và các yêu cầu kỹ thuật chi tiết cho tường vây
- Chuẩn bị máy móc : máy cơ sở, gầu đào chuyên dụng, cần cẩu, máy trôn betonite…
- Lập phương án tổ chức thi công: chia tường thành các modun (các panel tường), lập thứ tự thi công các modun này
- Nghiên cứu thiết kế mặt bằng thi công, coi mặt bằng thi công có phần tĩnh, phần động theo thời gian như thứ tự thi công cọc, tường, đường di chuyển của máy đào, đường cấp và thu hồi dung dịch bentonite, đường vận chuyển bêtông và cốt thép đến cọc, đường vận chuyển đất đào ra khỏi công trường, các công trình tạm, giải pháp cung cấp điện nước và hệ thống thoát nước… đảm bảo cho máy móc đủ không gian lắp dựng, di chuyển, làm việc cũng như năng suất hiệu quả của công việc và vệ sinh môi trường
- Phải điều tra nắm vững các vật kiến trúc ngầm, các ảnh hưởng qua lại của các vật thể này và công trường, và các giải pháp xử lý
- Kiểm tra nguồn nguyên liệu, vật tư thi công
- Xem xét sự ảnh hưởng của xã hội, người dân xung quanh với công trường và những người làm việc trong công trường dự kiến và tìm giải pháp cho một số yếu tố bất lợi có thể xảy ra
I.2.3.2- Định vị và thi công tường dẫn :
- Đây là công việc hết sức quan trọng, cần phải làm cẩn thận và chính xác để xác định đúng các yếu tố: trục, tim của toàn công trường và vị trí chính xác của các giao điểm, các trục trên cơ sở đó ta xác định chính xác vị trí tim cốt từng cọc và tường… theo đúng bản vẽ thiết kế Cụ thể theo trình tự sau:
a/ Lựa chọn cho tường dẫn:
- Có 2 loại tường dẫn chính là: tường dẫn đổ bêtông tại chỗ và tường dẫn lắp ghép Biện pháp lắp ghép thường dùng cho công trường lớn, nhiều đoạn tường dẫn có thể chia ra thành các mô đun điển hình để thuận tiện cho việc lắp ghép và các đoạn này cũng đã được chế tạo sẵn từ trước để đảm bảo tiến độ công trình Biện pháp này thi công nhanh chóng, hiệu quả nhưng phải có đầy đủ máy móc thi công và phương tiện vận chuyển Phương án đổ tại chỗ có lâu hơn và tốn công sức hơn như trong công trình nhỏ thì lại hiệu quả hơn và dễ xử lý những vị trí gấp khúc của tường rất dễ dàng
- Trong phạm vi đồ án, công trình có quy mô trung bình, lựa chọn dùng tường dẫn bằng bêtông cốt thép đổ tại chỗ để thi công đơn giản
b/ Định vị :
Trang 24- Từ mặt bằng định vị phần móng, lập hệ thống định vị và lưới khống chế cho công trình theo hệ toạ
độ Oxy Các lưới này được chuyển rời và cố định vào các công trình lân cận hoặc lập thành các mốc định vị, cụ thể là trên các bờ tường, cột điện, cột bêtông Các mốc này được rào chắn và bảo vệ cẩn thận, được kiểm tra liên tục để phòng xê dịch do va chạm và lún gây ra
- Tim tường được định vị bằng máy kinh vĩ theo hai phương vuông góc nhau, sau đó phát triển ra các phương bao quanh công trình
c/ Thi công tường dẫn :
- Tường dẫn có vai trò trong việc: dẫn hướng cho gầu đào khi đào lỗ Neo giữ lồng cốt thép tạo, tạo chỗ đi lại cho công nhân trong quá trình nối lồng cốt thép và đổ bêtông Chịu lực tác động bề mặt, ngăn nước mưa, nước mặt hoặc đất đá nhỏ trên mặt đất lăn vào trong hố đào Giúp định vị tim cốt cho tường chắn và giữ ổn định cho lớp bề mặt của hố đào
- Có nhiều hình thức cấu tạo tường dẫn Do lớp đất số 1 là đất lấp, không quá yếu, mực nước ngầm ở sâu, ta chọn hình thức tường dẫn bêtông cốt thép đổ tại chỗ sau để thi công đơn giản mà vẫn đảm bảo hiệu quả làm việc của tường dẫn:
- Trình tự thi công tường dẫn:
+ Xác định vị trí tường dẫn và tường chắn trên mặt bằng, định vị và dẫn ra ngoài trên hệ thống cọc ngựa và nẹp ngựa
+ Đổ bêtông tường dẫn, tháo ván khuôn sau đó 1 ngày
+ Đổ đất đầm chặt phía trong tường dẫn hoặc phải có các thanh chống để giữ ổn định thành
I.2.3.3- Đào tạo lỗ :
a/ Phân chia tường thành các tấm panel :
- Khi thi công tường trong đất, trước hết phải phân chia tường theo chiều dài thành nhiều đoạn thi công với một độ dài nào đó để phù hợp với năng lực, tính chất kỹ thuật máy móc kỹ thuật hiện có
- Việc lựa chọn độ dài đoạn panel, về mặt lý thuyết, trừ khi nó nhỏ kích thước độ dài của máy đào thì không thể thi công được còn mọi độ dài có thể thi công được Mặt khác, panel tường lại càng dài
Trang 25càng tốt vì như vậy sẽ giảm được mối nối của tường nên có thể nâng cao khả năng chống thấm và
tính toàn khối của tường Nhưng trên thực tế độ dài đoạn panel lại chịu sự hạn chế của nhiều yếu tố:
+ Điều kiện địa chất: khi lớp đất không ổn định, đề phòng sụt lở thành hố đào, phải rút ngắn độ
dài đoạn hào, nhằm rút ngắn thời gian đào một tấm panel
+ Tải trọng mặt đất: nếu xung quanh có công trình xây dựng cao to, hoặc tải trọng mặt đất lớn thì
cũng cần giảm chiều dài đoạn đào
+ Khả năng nâng của cần trục: căn cứ vào khả năng nâng của cần trục để dự tính trọng lượng và
kích thước của lồng cốt thép, từ đó tính ra chiều dài đoạn đào
+ Khả năng cung cấp bêtông trong một đơn vị thời gian
+ Dung tích thùng đựng dung dịch bentonite: thông thường dung tích của thùng không nhỏ hơn
hai lần dung tích của mỗi đoạn đào
+ Vị trí các mối nối: nên tránh những góc quay hoặc chỗ nối tiếp với kết cấu bên trong nhằm đảm
bảo cho tường trong đất có tính chỉnh thể tương đối cao
- Việc chia môdun tường vây được thực hiện trên cơ sở lựa chọn hình thức thi công và kích thước tổng thể của tường theo hai phương Dự kiến quá trình phân chia môdun tường vây như sau:
+ Đối với điểm góc tường: kích thước panel tường lấy 1d (d là bề rộng của gầu đào, lấy d=2,5m) theo một phương Theo phương còn lại có thể lấy lớn hơn Ta ấn định kích thước 1d của các điểm góc nằm hoàn toàn trong cạnh ngắn của tường vây
+ Đối với các điểm giữa, quá trình thi công tường được tiến hành một cách một, liên tiếp giữa các panel tường Theo chỉ dẫn trong tài liệu “ Chỉ dẫn thiết kế và thi công cọc Barrette, tường trong đất, neo trong đất” của GS.Nguyễn Văn Quảng, bề rộng mỗi panel tường thi công theo phương án này có thể lấy (1- 2)d Ta dùng
bề rộng panel điển hình là 2.d = 5m
- Trong quá trình thi công, bề rộng của panel tường có thể xê dịch theo độ chính xác của gầu đào và sự dễ dàng trong thi công Do đó việc phân chia một cách chính xác theo lý thuyết bề rộng panel có ý nghĩa định vị và dự trù quá trình tổ chức thi công Thực tế thi công cho phép có sai số Chi tiết kích thước và trình tự thi công panel tường xem trong bản vẽ TC - 01
b/ Chuẩn bị dung dịch bentonite :
- Đây là công việc rất quan trọng trong quá trình đào và đổ bêtông cho tường Công việc này phải
được chuẩn bị trước khi bắt đầu đào lỗ Tác dụng của sét là làm chắc thành, lôi theo cát, làm lạnh và
làm trơn, trong đó tác dụng làm chắc thành là quan trọng nhất
- Dung dịch sét giữ thành dùng cho tường vây chủ yếu là sét bentonite, thành phần cho trong bảng
CMC
Na2CO3, FCIBột tinh thạch nặng
6 −8100
0 − 0.05
0 − 0.05
Trang 26Vật liệu chống thấm Đá, mạt cưa, sợi hoá học Dùng khi cần
Dùng khi cần
- Tính năng của dung dịch bentonite trước lúc sử dụng phải có đặc tính sau:
Hạng mục Chỉ tiêu tính năng Phương pháp kiểm tra
nước) < 30ml/30ph Dụng cụ đo lượng mất nước
6 Độ dày của áo sét 1- 3mm/ 30 phút Dụng cụ đo lượng mất nước
- Đổ dung dịch betonite mới được vào bể chứa bằng thép (thường là các container thép) hoặc xây gạch, hoặc bằng cao su có khung thép hoặc silô
- Dung dịch betonite được sử dụng một cách tuần hoàn Gầu đào xuống sâu đến đâu thì phải bổ sung dung dịch khoan ngay cho đầy hố Trong khi đào dung dịch betonite bị nhiễm bẩn (do đất, cát) làm giảm khả năng ổn định thành hố đào nên cần được thay thế Dung dịch betonite trong hố sẽ được bơm tới bể lọc, trạm xử lý để khử các tạp chất sau đó sẽ được quay vòng sử dụng tiếp Có thể dùng loại bơm chìm đặt ở đáy hố hoặc bơm hút có màng lọc để trên mặt đất
- Dung dịch sau khi xử lý để tiếp tục sử dụng phải có những đặc tính sau: