1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BTHK LUẬT AN SINH XÃ hội

16 78 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 671,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông M là thương binh bị suy giảm 45% khả năng lao động. Tháng 11997, ông M vào làm bảo vệ cho công ty X. Tháng 122020, vết thương chiến tranh tái phát, ông phải vào viện điều trị mất 2 tháng. Sau khi ra viện ông được xác định suy giảm 61% khả năng lao động. Do sức khỏe yếu nên tháng 52021, ông M làm đơn xin nghỉ việc. Lúc này ông đã 57 tuổi, thời gian công tác trong lực lượng vũ trang có tham gia bảo hiểm xã hội được chốt sổ là 5 năm. Anhchị hãy giải quyết quyền lợi cho ông M theo quy định của pháp luật an sinh xã hội hiện hành.

Trang 1

MỤC LỤC ĐỀ BÀI: 2

BÀI LÀM 1

Câu 1: (4 điểm) 1

1.1 Khái niệm 1

1.2 Cơ sở hình thành nguyên tắc 1

1.3 Nội dung nguyên tắc 2

Câu 2: (6 điểm) Giải quyết tình huống 5

2.1 Sự kiện: Ông M là thương binh bị suy giảm 45% khả năng lao động. 5

2.2 Sự kiện: Tháng 1/1997, ông M vào làm bảo vệ cho công ty X Tháng 12/2020, vết thương chiến tranh tái phát, ông phải vào viện điều trị 2 tháng Sau khi ra viện ông được xác định suy giảm 61% khả năng lao động 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 2

ĐỀ BÀI:

Câu 1 (4 điểm): Phân tích nguyên tắc: Mức hưởng bảo hiểm y tế theo mức

độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi và thời gian tham gia bảo hiểm y tế

Câu 2 (6 điểm): Ông M là thương binh bị suy giảm 45% khả năng lao động Tháng 1/1997, ông M vào làm bảo vệ cho công ty X Tháng 12/2020, vết thương chiến tranh tái phát, ông phải vào viện điều trị mất 2 tháng Sau khi ra viện ông được xác định suy giảm 61% khả năng lao động Do sức khỏe yếu nên tháng 5/2021, ông M làm đơn xin nghỉ việc Lúc này ông đã 57 tuổi, thời gian công tác trong lực lượng vũ trang có tham gia bảo hiểm xã hội được chốt sổ là 5 năm Anh/chị hãy giải quyết quyền lợi cho ông M theo quy định của pháp luật an sinh

xã hội hiện hành

Trang 3

BÀI LÀM

Câu 1: (4 điểm)

Để khắc phục những rủi ro, bất hạnh giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình, từ xa xưa, con người đã tự khắc phục, thông qua hình thức dự trữ; đồng thời, người lao động còn được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng, được sự bảo trợ của xã hội Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau và đó cũng chính là những mầm mống sơ khai của an sinh xã hội, và là gốc rễ cho sự phát triển Bảo hiểm y tế sau này Khi tham gia bảo hiểm y tế người tham gia thường quan tâm đến mức đóng và đặc biệt quan tâm đến mức hưởng bảo hiểm y tế Tuy nhiên, không phải người tham gia nào cũng đóng mức phí giống nhau và hưởng như nhau, mà mức hưởng này được quy định trong Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014

như sau: “Mức hưởng bảo hiểm y tế theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong

phạm vi quyền lợi và thời gian tham gia bảo hiểm y tế” Dưới đây là phân tích

của em về nguyên tắc này:

1.1 Khái niệm

- Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật bảo hiểm y tế để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện

- Mức hưởng bảo hiểm y tế là mức kinh phí mà người tham gia bảo hiểm y

tế được bảo hiểm y tế chi trả khi đi khám, chữa bệnh tại bệnh viện có thanh toán bằng bảo hiểm y tế

1.2 Cơ sở hình thành nguyên tắc

Thứ nhất, con người ai cũng có nhu cầu sống khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc Nhưng thực tế cuộc sống cho thấy con người luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra mà không ai lường trước được như rủi ro về sức khỏe Khi rủi ro về sức khỏe xảy ra, người bệnh buộc phải đến cơ sở ý tế để

Trang 4

được khám chữa bệnh Chi phí khám chữa bệnh không phải ai cũng có thể tự lo liệu được, chính vì thế, bảo hiểm y tế là nguồn hỗ trợ tài chính giúp người tham gia khắc phục những khó khăn về kinh tế khi bất ngờ ốm đau, bệnh tật Bởi vì trong quá trình điều trị bệnh chi phí rất tốn kém ảnh hưởng đến ngân sách gia đình, trong khi đó thu nhập của họ bị giảm đáng kể thậm chí mất thu nhập

Thứ hai, mức hưởng bảo hiểm y tế là sự bảo trợ của Nhà nước về chăm sóc y tế dành cho các thành viên tham gia thể hiện bảo hiểm y tế, đó là một chính sách xã hội quan trọng của mỗi quốc gia nằm bảo vệ quyền được chăm sóc y tế của mỗi người dân Bảo về và chăm sóc sức khỏe không phải thuần túy chỉ là trách nhiệm cảu mỗi cá nhân riêng lẻ, mà là trách nhiệm chung của cả cộng động

Thứ ba, bảo hiểm y tế là sự liên kết, chia sẻ mang tính cộng đồng giữa các thành viên trong xã hội Do đối tượng tham gia bảo hiểm y tế là rất rộng, với nhiều thành phần xã hội khác nhau, không thể quy định một mức đóng chung cho tất cả các thành viên Vì vậy mà bảo hiểm y tế ghi nhận nguyên tắc xác định mức đóng theo thu nhập của từng nhóm đối tượng, người có thu nhập cao thì mức đóng cao va ngược lại, cũng có nhóm đối tượng được miễn phí tham gia bảo hiểm y tế Tuy nhiên, khi hưởng bảo hiểm y tế, mức hưởng phải xác định trên cơ sở bệnh lý của mỗi người, với nguyên tắc này bảo hiểm xã hội đang hướng đến bảo vệ nhưng người có thu nhập thấp hơn bởi trên thực tế những người nghèo, người có thu nhập thấp thường là những người hay ốm đau và cần nhiều kinh phí chữa bệnh Như vậy bản chất xã hội của bảo hiểm y tế thể hiện sự trợ giúp mang tính trợ giúp Nhà nước và sự tương hỗ mang tính công đồng bảo hiểm y tế thể hiện bản chất nhân đạo và trình độ văn minh của xã hội phát triển, giúp nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội

1.3 Nội dung nguyên tắc

Trang 5

Mức hưởng bảo hiểm xã hội là một khoản tiền được cơ quan bảo hiểm chi trả để bù đắp thu nhập khi gặp rủi ro làm mất hoặc giảm thu nhập của ngưởi tham gia còn mức hưởng bảo hiểm y tế là kinh phí mà người tham gia bảo hiểm

y tế được bảo hiểm y tế chi trả khi đi khám, chữa bệnh tại bệnh viện có thanh toán bằng bảo hiểm y tế Như vậy không phải ai tham gia bảo hiểm y tế cũng được hưởng quyền lợi như nhau, mà mức hưởng phụ thuộc vào các yếu tố: mức

độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi và thời gian tham gia bảo hiểm y tế

Thứ nhất, mức hưởng theo nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi Theo quy định tại Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế năm 2014 quy định mức hưởng bảo hiểm y tế theo nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi được chia thành 3 nhóm đối tượng chính với tỷ lệ lần lượt được hưởng là: 100%, 95% và 80% chi phí khám chữa bệnh Việc pháp luật phân chia các tỷ lệ cho các đối tượng khác nhau là rất hợp lý vì những đối tượng đặc biệt sẽ được hưởng mức tỷ

lệ cao hơn với các đối tượng bình thường Ví dụ: với mức hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh được áp dụng đối với các đối tượng những người có công với cách mạng, cựu chiến binh bởi đối tượng này họ đã phải chịu những mất mát lớn

về sức khỏe và tinh thần để bảo vệ Tổ quốc, chính vì vây nhà nước phải có những ưu đãi cao hơn cho họ so với người bình thường để động viên và bù đắp cho họ những tổn thất Bên cạnh đó, trẻ em dưới 6 tuổi cũng được chi trả 100% chi phí khám chữa bệnh bởi trẻ em là nhóm đối tượng hay bị ốm đau và phải khám chữa bệnh; đối với người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo cũng được bảo hiêm y tế chi trả 100% chi phí khám chữa bệnh trong phạm vi để tạo điều kiện cho họ được hưởng đi khám, chữa bệnh

Thứ hai, mức hưởng bảo hiểm y tế theo mức độ bệnh tật

Trang 6

Đối với người tham gia khám chữa bệnh thuộc cùng nhóm tỷ lệ chi trả của bảo hiểm thì ai khám và điều trị bệnh nặng hơn và thời gian chữa trị lâu hơn thì được chi trả nhiều hơn so với người bệnh nhẹ và thời gian chữa trị ngắn hơn Ngoài ra theo Nghị định 105/2014/NĐ-CP quy định trường hợp chi phí cho một lần khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế thấp hơn 15% mức lương cơ sở (thấp hơn 208.500 đồng) thì được thanh toán 100% chi phí khám bệnh, đồng nghĩa với việc khi đối tượng khám bệnh không thuộc đối tượng được bảo hiểm y tế chi trả 100% và chi phí khám bệnh cao hơn 208.500 đồng thì người đó không được chi trả 100%

Thứ ba, mức hưởng theo thời gian tham gia bảo hiểm y tế

Theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 22 Luật Bảo hiểm Y tế sửa đổi

2014: “100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham

gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến;” do đó, người tham gia bảo hiểm y tế

lâu năm hơn, cụ thể là từ 5 năm trở lên thì được hưởng mức bảo hiểm y tế lớn hơn người tham gia bảo hiểm y tế dưới 5 năm Với quy định này nhằm khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm y tế để được hưởng chi phí cao hơn khi thực hiện khám, chữa bệnh khi gặp các rủi ro về sức khỏe

Việc tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần luôn là một vấn đề được tất cả các quốc gia quan tâm và xem trọng Trong lĩnh vực y tế, ban đầu, vấn đề chăm sóc sức khỏe, nhu cầu chia sẻ rủi ro khi bệnh tật là nhu cầu tự phát Dần dần, nhu cầu này nhận được sự điều tiết và hỗ trợ từ Nhà nước Qua thời gian phát triển, vấn đề chăm sóc sức khỏe trở thành một vấn đề mang ý nghĩa cộng đồng sâu sắc, một chính sách lớn và quan trọng của Nhà nước Ngày này, chính sách chăm sóc sức khỏe cộng đồng được hầu hết

Trang 7

các quốc gia trên thế giới thực hiện và ghi nhận chủ yếu dưới hình thức bảo hiểm y tế

Câu 2: (6 điểm) Giải quyết tình huống

Theo các số liệu mà hồ sơ đưa ra, cần khẳng định rằng, theo pháp luật An sinh xã hội anh C sẽ được hưởng những quyền lợi an sinh xã hội về bảo hiểm xã hội và ưu đãi xã hội

Cụ thể như sau:

2.1 Sự kiện: Ông M là thương binh bị suy giảm 45% khả năng lao động

- Thứ nhất, ông M là đối tượng được hưởng ưu đãi xã hội

Theo tình huống bài đưa ra, ông M là thương binh bị suy giảm 45% khả năng lao động Do đó, ông M thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi xã hội theo quy định tại điểm e Khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng của ủy ban thường vụ quốc hội số 26/2005/PL-UBTVQQH, điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạnh sửa

đổi năm 2012: “Đối tượng hưởng chế độ ưu đãi quy định tại pháp lệnh ày bao

gồm:

1 Người có công với cách mạng:

… g, Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh”

Xét thấy, ông M thuộc đối tượng đối tượng thương binh vì vậy, anh sẽ được hưởng trợ cấp, phụ cấp đối với loại đối tượng theo quy định tại Khoản 1

Điều 7 Pháp lệnh này “Chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và

thân nhân được thực hiện theo nguyên tắc sau:

1 Người có công với cách mạng thuộc hai đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 2 trở lên được hưởng trợ cấp, phụ cấp đối với từng đối tượng, các chế độ

Trang 8

khác được hưởng mức ưu đãi của một đối tượng, trừ trường hợp quy định tại Khoản 5 Điều 10 và Khoản 5 Điều 33 của Pháp lệnh này”

- Thứ hai, chế độ ưu đãi xã hội và mức hưởng ưu đãi xã hội của ông M

Theo đó, chế độ ưu đãi xã hội mà ông M được hưởng sẽ bao gồm chế độ

ưu đãi đối với thương binh quy định tại Điều 20 Pháp lệnh người có công với

cách mạng năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2012: Chế độ ưu đãi đối với thương

binh bao gồm:

- Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng lao động và loại thương binh;

Trong tình huống này, ông M là thương binh bị suy giảm 45% khả năng lao động do đó mức hưởng trợ cấp hàng tháng của ông M được hưởng được quy định tại Phụ lục II Nghị định 58/2019/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng tương đương với mức trợ cấp hàng tháng là 2.343.000 đồng

- Bảo hiểm y tế; cấp phương tiện trợ giúp, dụng chỉnh hình căn cứ vào thương tât của từng người và khả năng của Nhà nước”

- Được hưởng chế độ ưu tiên, hỗ trợ quy định tại Khoản 5 Điều 4 của Pháp lệnh này; căn cứ vào thương tật và trình độ nghề nghiệp được tạo điều kiện làm việc trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động

- Được ưu tiên giao hoặc cho thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn

ưu đãi để sản xuất, được miễn hoặc giảm thuế, miễn nghĩa vụ lao động công ích

theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào hoàn cảnh của anh, khả năng của Nhà nước và địa phương

Trang 9

2.2 Sự kiện: Tháng 1/1997, ông M vào làm bảo vệ cho công ty X Tháng 12/2020, vết thương chiến tranh tái phát, ông phải vào viện điều trị 2 tháng Sau khi ra viện ông được xác định suy giảm 61% khả năng lao động

2.2.1 Sự kiện ông M vào làm việc cho công ty X từ tháng 1/1997

Ông M vào làm bảo vệ cho công ty X từ tháng 1/1997, theo điểm a Khoản

1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, cho thấy ông M thuộc trường hợp tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi ông M ký hợp đồng lao động với công ty

X Như vậy, đối với trường hợp này ông M tham gia vào quan hệ lao động và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc với dữ kiện đầu bài không nói về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của ông M khi ông làm việc tại công ty M,

do đó, thời gian đóng bảo hiểm được tính từ ngày 1/1/1997

2.2.2 Sự kiện ông M phải nhập viện điều trị 2 tháng do vết thương tái phát vào tháng 12/2020

Thứ nhất, chế độ ốm đau

Một là, theo các phân tích ở trên thì ông M có là đối tượng tham gia bảo

hiểm xã hội bắt buộc nên có được hưởng chế độ ốm đau

Hai là, thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của ông M được tính

từ ngày 01/01/1997 khi ông nhập viện điều trị vết thương chiến tranh tái phát là tháng 12/2020 Bên cạnh đó, thời gian công tác trong lực lượng vũ trang có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được chốt sổ là 5 năm Theo đó tính đến tháng 12/2020 ông M tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được 28 năm 11 tháng và 02 tháng nghỉ chế độ ốm đau của ông M không được đóng bảo hiểm xã hội

Với các tính tiết được nêu ở trên, chế độ ốm đau của ông M được xác định như sau:

Một là, thời gian hưởng chế độ ốm đau,

Trang 10

Ông M là tham gia làm bảo vệ tại công ty X với điều kiện làm việc bình thường và thời gian đóng bảo hiểm xã hội là 28 năm 11 tháng Theo điểm a Khoản 1 Điều 26 Luật BHXH 2014 quy định thời gian tối đa hưởng chế độ ốm

đau trong một năm đối với người lao động “Làm việc trong điều kiện bình

thường thì được hưởng 30 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm; 40 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 60 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên”, tương ứng với thời gian đóng bảo hiểm của ông M là trên 28 năm,

nên thời gian tối đa được hưởng chế độ ốm đau trong 1 năm của ông M là 40 ngày làm việc và thời gian này không bao gồm ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần

Như vậy với 02 tháng điều trị (60 ngày) thời gian hưởng chế độ ốm đau của ông M sẽ chỉ là 40 ngày

Hai là, mức hưởng chế độ ốm đau

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Luật BHXH năm 2014 “người lao

động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại Khoản 1 và điểm a Khoản 2 Điều

26, Điều 27 của Luật này thì mức hưởng tính theo tháng bằng 75% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc”

Đối với trường hợp này ông M được hưởng ở mức bằng 75% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc Ông P bị nhập viện và điều trị vết thương chiến tranh tái phát 12/2020, do không đề cập

cụ thể ngày nên được tính từ ngày đầu tiên của tháng và mức hưởng chế độ ốm đau được tính trên mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng 11/2021 Cụ thể trong trương hợp này, mức hưởng chế độ ốm đau sẽ tính là theo công thức quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH:

Ngày đăng: 08/10/2021, 10:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w