1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lãi suất và vấn đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay

42 516 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lãi suất và vấn đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay
Người hướng dẫn Cô Nguyễn Hoài Phương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại Đề án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 322 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

L ãi suất là một trong những công cụ rất quan trọg của chính sách tiền tệ quốc gia. Nó tác động hết thảy các khâu sản xuất- tiêu dùng- tích luỹ - đầu tư, góp phần kìm hãm hay tăng trưởng kinh tế. Lãi suất là một phạm trù kinh tế có tính hai mặt, nếu xác định lãi suất hợp lí sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản xuất-lưu thông hàng hoá phát triển và ngược lại. Bởi vậy, lãi suất vừa là công cụ quản lí vĩ mô của Nhà nước, vừa là công cụ điều hành vi mô của các ngân hàng thương mại. Một chính sách lãi suất có hiệu quả là chính sách được áp dụng nhất quán trong một lãnh thổ và được NHNN điều chỉnh chặt chẽ, mềm dẻo theo từng thời kì cho phù hợp với nhu cầu huy động vốn và cung ứng vốn nhằm thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng, phục vụ phát triển kinh tế đất nước, đồng thời đảm bảo được cho hoạt động của các ngân hàng thương mại thực sự có hiệu quả. Tuỳ vào tốc độ phát triển kinh tế và mức độ ổn định tiền tệ mà mỗi quốc gia sẽ đưa ra các phương pháp điều hành và quản lý lãi suất ở các mức khác nhau. Đối với Việt Nam, trong bước chuyển mình từ một nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết quản lí của Nhà nước; trong quá trình hoà nhập cùng sự phát triển của nền kinh tế thế giới, việc xem xét vấn đề lãi suất là rất cần thiết. Chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà Nước đang từng bước tiến dần tới một chính sách lãi suất thị trường. Thay đổi theo hướng tự do hoá, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong nước và mức độ hội nhập với thị trường khu vực và thế giới. Để hiểu rõ hơn các bước đi trong lộ trình đổi mới chính sách lãi suất trong thời gian qua và từ đó có những định hướng phù hợp hơn trong gian đoạn tới. Đề án xin được đề cập đến vấn đề: Lãi suất và vấn đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay. Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề án bao gồm 3 chương: Chương I: Các vấn đề cơ bản về lãi suất và tự do hoá lãi suet Chương II: Tiến trình tự do hoá lãi suất ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua. Chương III: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao việc thực hiện chính sách tự do hoá lãi suất trong thời gian tới

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

L ãi suất là một trong những công cụ rất quan trọg của chính sách tiền

tệ quốc gia Nó tác động hết thảy các khâu sản xuất- tiêu dùng- tích luỹ - đầu

tư, góp phần kìm hãm hay tăng trưởng kinh tế Lãi suất là một phạm trù kinh

tế có tính hai mặt, nếu xác định lãi suất hợp lí sẽ là đòn bẩy quan trọng thúcđẩy sản xuất-lưu thông hàng hoá phát triển và ngược lại Bởi vậy, lãi suất vừa

là công cụ quản lí vĩ mô của Nhà nước, vừa là công cụ điều hành vi mô củacác ngân hàng thương mại Một chính sách lãi suất có hiệu quả là chính sáchđược áp dụng nhất quán trong một lãnh thổ và được NHNN điều chỉnh chặtchẽ, mềm dẻo theo từng thời kì cho phù hợp với nhu cầu huy động vốn vàcung ứng vốn nhằm thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng, phục

vụ phát triển kinh tế đất nước, đồng thời đảm bảo được cho hoạt động của cácngân hàng thương mại thực sự có hiệu quả

Tuỳ vào tốc độ phát triển kinh tế và mức độ ổn định tiền tệ mà mỗi quốc gia

sẽ đưa ra các phương pháp điều hành và quản lý lãi suất ở các mức khác nhau.Đối với Việt Nam, trong bước chuyển mình từ một nền kinh tế tự cung tự cấpsang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết quản lí củaNhà nước; trong quá trình hoà nhập cùng sự phát triển của nền kinh tế thếgiới, việc xem xét vấn đề lãi suất là rất cần thiết Chính sách lãi suất của Ngânhàng Nhà Nước đang từng bước tiến dần tới một chính sách lãi suất thịtrường Thay đổi theo hướng tự do hoá, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hộitrong nước và mức độ hội nhập với thị trường khu vực và thế giới Để hiểu rõhơn các bước đi trong lộ trình đổi mới chính sách lãi suất trong thời gian qua

và từ đó có những định hướng phù hợp hơn trong gian đoạn tới Đề án xin

được đề cập đến vấn đề: Lãi suất và vấn đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề án bao gồm 3 chương:

Chương I: Các vấn đề cơ bản về lãi suất và tự do hoá lãi suet

Chương II: Tiến trình tự do hoá lãi suất ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua.

Chương III: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao việc thực hiện chính sách tự

do hoá lãi suất trong thời gian tới

Với sự hiểu biết còn nhiều hạn chế, đề án không tránh khỏi những thiếusót Vậy em kính mong thầy cô thông cảm và đóng góp ý kiến để đề án đượchoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảocủa cô giáo: Nguyễn Hoài Phương đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề

án này

Trang 2

CHƯƠNG I

CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT VÀ TỰ DO HOÁ LÃI SUẤT

I Tìm hiểu chung về lãi suất

1 Lãi suất và vai trò của lãi suất trong nền kinh tế

1.1 Thế nào là lãi suất?

Lãi suất là một phạm trù kinh tế khách quan, mang tính chất tổng hợp và

đa dạng Nó được hiểu theo nghĩa chung nhất là giá cả của tin dụng – giá cảcủa quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thứctiền tệ hoặc các dạng thức tài sản khác nhau Khi đến hạn, người ta sẽ phảitrả cho người cho vay một khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi

Và tỷ lệ phần trăm giữa só tiền lãi trên số tiền vốn đi vay gọi là lãi suất lãisuất được biểu hiện dưới dạng số tuyệt đối, đó chính là lợi tức tín dụng Nhưvậy lợi tức tín dụng là khoản tiền chi trả cho việc vay mượn quyền sở hữư vàquyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định

1.2

Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường lãi suất giữ vị trí khá quan trọng, nó đươc thểhiện như sau:

1.2.1 Lãi suất là một công cụ kích thích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiền tiết kiệm của các chủ thể kinh tế.

Tiết kiệm là phần thu nhập còn lại sau khi tiêu dùng ở hiên tại của cácchủ thể kinh tế Với việc tạo thu nhập cho người tiết kiệm, lãi suất trở thànhmột nhân tố cơ bản điều tiết tiêu dùng và tiết kiệm Lãi suất cao khuyến khíchngưòi ta hy sinh tiêu dùng hiện tại, tiết kiệm nhiều hơn để có khoản tiêu dùngnhiều hơn trong tương lai và ngược lại Trong một nền kinh tế thị trường tàichính phát triển, các khoản tiết kiệm được thu hút triệt để qua các kênh tàichính trực tiếp và kênh tài chính gián tiếp để tạo nên quỹ vay đáp ứng nhu cầuvốn cho nền kinh tế

1.2.2 Lãi suất là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô.

Với tư cách là giá phải trả cho những số tiền vay để đầu tư hay mua cácvật dụng tiêu dùng, lãi suất tạo nên khoản chi phí của người đi vay Việc sosánh giữa lãi suất phải trả với hiệu quả biên của đồng vốn là căn cứ quantrọng để người kinh doanh đưa ra quyết định đầu tư Một sự gia tăng trong lãisuất sẽ làm giảm khả năng có được những thu nhập khá lớn để bù đắp được sốlãi phải trả và do đó số đầu tư chắc chắn sẽ giảm Cũng có thể lập luận nhưvậy về việc đi vay để tiêu dùng, những người tiêu dùng so sánh số lãi phải trảcho một khoản vay mượn với ý muốn có càng sớm càng tốt một vật dụng nhưmột căn nhà hay là một chiếc ô tô chẳng hạn Những lãi suất cao hơn sẽ làmcho một số người tiêu dùng chờ đợi chứ không mua ngay, và số tiêu dùng dựđịnh sẽ giảm xuống Tổng cầu bao gồm cr các thành phần như cầu đầu tư củadoanh nghiệp và cầu tiêu dùng của cá nhân, của hộ gia đình sẽ thay đổi theo

Vì sự biến động của lãi suất có tác dộng đến đầu tư, đến tiêu dùng nên nó cótác động gián tiếp đến các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô, biểu hiện trong cáctrường hợp sau:

Trang 3

+Lãi suất thấp  khuyến khích đầu tư, khuyến khích tiêu dùngtăng tổngcầu Sản lượng tăng , giá cả tăng, thất ngiệp giảm, nội tệ có xu hướng giảmgiá so với ngoại tệ.

+Lãi suất cao  Hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng  giảm tổng cầu sản lượng giảm , giá cae giảm , thất nghiệp tăng,nội tệ co xu hướng tăng sovới đồng ngoại tệ

Vì có khả năng tác động đến các biến số kinh tế của nền kinh tế vĩ mô nhưtrên nên lãi suất được Chính Phủ các nước làm công cụ có hiệu quả để điềutiết nền kinh tế quốc gia

1.2.3 Lãi suất là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng vốn có hiệu quả.

Lãi suất có tác dụng trong việc phân bổ vốn Đối với những dự án cómức độ rủi ro như nhau, dự án nào có lãi suất cao hơn thường thu hút đượcvốn nhanh hơn, nhiều hơn Còn những dự án nào chứa đựng nhiều rủi ro thìphải trả lãi suất cao mới có khả năng thu hút được vốn Như vậy bằng cáchđưa ra các mức lãi suất khác nhau có thể tạo được sự phân bổ các luồng vốntheo mục đích mong muốn

Trong quan hệ vay vốn, người di vay không phải hoàn trả gốc khi đếnhạn mà còn trả lãi khoản vay, hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi vừa là một đặctrưng của quan hệ tín dụng, vừa là một nguyên tắc tín dụng Bằng việc buộcphải trả lãi đã kích thích các doanh nghiệp nói riêng, kích thích người vay vốnnói chung phải sử dụng vốn có hiệu quả, vốn phải có tác dụng thúc đẩy sảnxuất, kinh doanh, tạo thu nhập để bù đắp chi phí, có lợi nhuận, tạo cơ sở choviêc trả lãi vì tiền lãi thưc chất là một phần lợi nhuận mà người đi vay trả chongươi cho vay

1.2.4 Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng sức khoẻ của nền kinh tế.

Trong giai đoạn đang phát triển của nền kinh tế lãi suất thường có xuhưóng tăng do cung – cầu quỹ cho vay đều tăng lên, trong đó tốc độ tăng củacầu quỷ cho vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay Ngược lại, tronggiai đoạn suy thoái của nền kinh tế, lãi suất thường có xu hướng giảm xuống Lãi suất là biến số thường xuyên biến động trong nền kinh tế, căn cứvào sự biến động đó của lãi suất, người ta có thể dự báo các yếu tố khác củanền kinh tế như : tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát dự tính,mức thiếu hụt ngân sách Người ta cũng có thể dựa vào lãi suất trong một thời

kỳ để dự báo tình hình kinh tế trong tương lai Các dự báo sẽ là cơ sở quantrọng để chủ thể kinh tế đưa ra các quyết định đầu tư, tiêu dùng, các quyếtđịnh kinh doanh phù hợp

1.2.5 Lãi suất là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Khả năng điều tiết nền kinh tế vĩ mô của lãi suất đã làm cho nó trở thànhcông cụ quan trọng để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia:

 Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cũng như thị trường tài chính chưaphát triển, lãi suất được sử dụng làm một công cụ trực tiếp để tác động vàomục tiêu trung gian và qua đó tới mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ.Ngân hàng TW sử dụng loại công cụ này dưới hình thức ấn định trực tiếp lãisuất kinh doanh cho các ngân hàng hoạc qui định khung lãi suất tiền gửi – lãi

Trang 4

suất tiền vay hoặc trần suất tiền vay qua đó khống chế lãi suất cho vay của cácngân hàng theo hướng chặt hoặc nới lỏng tiền tệ.

 Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển, Ngân hàng TW sử dụngcông cụ lãi suất gián tiếp chẳng hạn như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất chovay cầm cố để tác động gián tiếp tói lãi suất thị trường Lãi suất thị trườngthay đổi sẽ tác động tới các biến số kinh tế vĩ mô Ngàynay theo xu hướng tự

do hoá tài chính, cơ chế điều tiết nền kinh tế bằng công cụ lãi suất ngày càngtrở nên phổ biến trên thế giới

Như vậy trong nền kinh tế lãi suất là công cụ kinh tế khá quan trọng làmsao để lãi suất phải phù hợp với lãi suất của các nước trên thế giới trong điềukiện hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề được đặt ra và cần được giải quyết

2

Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất, n guyên tắc và phương pháp xác định lãi suất.

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất

Trong các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước đóng vai trò trungtâm hầu hết tất cả các hoạt đông kinh tế – xã hội Trong các nước này cũngkhông có thị trường tài chính và tài chính kiềm chế là mô hình quản lý tàichính phổ biến Vì lẽ đó, lãi suất trong các nước đó đều do nhà nước qui định,thậm chí một số nước còn qui định đến cả mức chênh lệch giữa lãi suất tiềngửi và lãi suất cho vay ngân hàng Sự biến động của lãi suất trong các điềukiện như vậy phần lớn phụ thuộc và ý chí của chính phủ và không thể dự đoánhay xác lập bất cứ quy luật vận động nào

Trái lại trong nền kinh tế thị trường, nhà nước chỉ đóng vai trò là ngườiđiều tiết vĩ mô, thị trường tài chính và các ngân hàng cũng như các tổ chức tàichính trung gian rất phát triển Hơn nữa đã các nươc này lại theo đuổi tàichính tự do hoá và cơ chế hình thành lãi suất là cơ chế thị trường Lãi suất vìvậy luôn biến động phụ thuộc rất nhiều vao các nhân tố kinh tế vĩ mô cũngnhư nhiều nhân tố khác Sau đây chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu một số nhân tố

cơ bản và quan trọng nhất:

2.1.1 Ảnh hưởng của cung cầu của quỹ cho vay.

Lãi suất cả của cho vay vì vậy bất kỳ sự thay đổi của cung và cầu hoặc

cả cung và cầu quỹ cho vay không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổi mức lãisuất trên thị trường, tuy mức độ biến động của lãi suất cũng ít nhiều phụ thuộcvào các quy định của chính phủ và ngân hàng TW, song đa số các nước cónền kinh tế thị trường đều dựa vào nguyên lý này để xác định lãi suất Từ điềunày cho thấy chúng ta có thể tác động vào cung cầu trên thị trường vốn đểthay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu chiến lược trongtừng thời kỳ: chẳng hạn như thay đổi cơ cấu vốn đầu tư, tập trung vốn đầu tưcho các dự án trọng điểm mặt khác, muốn duy trì sự ổn của lãi suất thì sự ổnđịnh của thị trường vốn phải được đảm bảo vững chắc

2.1.2 Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng.

Khi mức lạm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thòi kỳ nào đó,lãi suất sẽ có xu hướng tăng Điều này có thể giải thích bằng cả hai hướng tiếp

cận: thứ nhất ,xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực va lãi suất danh

nghĩa cho thấy, để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng ,sẽ danh

Trang 5

phần tiết kiệm của mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc những dạng thức tàisản phi tài chính khác (non –financial assets ) như vàng, ngoại tệ mạnh, hoặcđầu tư vốn ra nước ngoài nếu có thể Tất cả các điều này làm giảm cung quỹcho vay và gây áp lực tăng lãi suất của các nhà băng cũng như trên thị trường.

Từ mối quan hệ này cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của việc khắc phụctâm lý lạm phát đối với việc ổn định lãi suet, sự ổn định và tăng trưởng nềnkinh tế

2.1.3 Ảnh hưởng của bội chi ngân sách

Một cách đơn giản nhất, bội chi ngân hàng TW và địa phương trực tiếplàm cho cầu của quỹ cho vay tăng lãi suất Sau nữa bội chi ngân hàng sẽ tácđộng đến tâm lý công chúng về gia tăng mức lạm phát và do vậy sẽ gây áp lựctăng lãi suất Trên một gốc độ khác thông thường khi bội chi ngân sách tăngchính phủ thường gia tăng việc phát hành trái phiếu Lượng cung trái phiếutrên thị trường tăng lên làm cho giá trái phiếu có xu hướng giảm, lãi suất thịtrường vì vậy mà tăng lên Hơn nữa ,tài sản có của các ngân hàng thương mạicũng gia tăng ở khoản mục trái phiếu chính phủ, dự trữ vượt quá giảm, lãisuất ngân hàng cũng sẽ tăng

2.1.4 Những thay đổi về Thuế

Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty luôn tác động đến lãi suấtgiống như khi thuế tác động đến giá cả hàng hoá Nếu các hình thức này tănglên cũng có nghĩa điều tiết đi một phần thu nhập của những cá nhân, tổ chức

cá nhân và tổ choc cung cấp dịch vụ tín dụng hay những người tham gia kinhdoanh chứng khoán Thông thường ai cũng có quan tâm đến thu nhập thực tếhay lợi nhuận sau thuế hơn là thu nhập danh nghĩa Do vậy, để duy trì mộtmức thuận lợi thực tế nhất định họ phải cộng thêm vào lãi suất cho vay nhữngthay đổi của thiếu Điều quan trọng được rút ra từ mối quan hệ này là việc xáclập và điều chỉnh đối với chính sách thuế, nhằm hạn chế những tác độngngoài ý muốn của mổi thay đổi nói trên của thuế

2.1.5 Những thay đổi trong đời sống xã hội

Ngoài những yếu tố được trình bày trên đây, sự thay đổi của lãi suất cònchịu ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về đời sống xã hội khác, Sự phát triểncủa thị trường tài chính với các công cụ tài chính đa dạng phong phú là một ví

dụ Các công cụ này khác nhau không chỉ ở thời gian phương pháp tính và trảlãi, khả năng tiêu thụ mà cả về độ co dãn của giá cả theo lượng cầu củachúng Chính vì vậy mà những thay đổi trong cơ cấu chứng khoán; sự xuấthiện các chứng khoán mới, cũng như phát triển theo cả chiều rộng và chiềusâu của thị trường sơ cấp cũng sẽ tác động thay đổi lãi suất trên thị trường thứcấp Mức độ phát triển của các thể chế tài chính trung gian và gắn liền theo đó

là sự cạnh tranh trong hoạt động cung cấp dịch vụ của các tổ chức này là các

ví dụ khác Hiệu suất sử dụng vốn hay tỷ suất đầu tư cận biên trong nền kinh

tế trong các thời kỳ khác nhau do những thay đổi trong công nghiệp và sựphát triển mang tính chu kỳ của nền kinh tế cũng tác động đến sự thay đổi lãisuất Thêm nữa tình hình về kinh tế, chính trị cũng như những biến động tàichính quốc tế như các khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới; các luồngvốn dầu tư ra,vào các đối với các nước ,đều ít nhiều tác động đến sự thay đổi

Trang 6

của lãi suất của các nước khác Tất cả các vấn đề này gợi ý cho tất cả nhữngnghiên cứu, soạn thảo và điều hành chính sách lãi suất phải có những sự nhìnnhận và đánh giá một cách tổng thể trước khi đưa ra bất kỳ kết luận hoặcquyết định nào liên quan đến lãi suất.

Như vậy trong nền kinh tế lãi suất là công cụ kinh tế khá quan trọng làmsao để lãi suất phải phù hợp với lãi suất của các nước trên thế giới trong điềukiện hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề được đặt ra và cần được giải quyết

2.2

Các nguyên tắc cơ bản để xác định chế độ lãi suất.

Lãi suất tín dụng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

Nguyên tắc 1: Lãi suất phải đồng thời thực hiện được 2 chức năng kích thích, điều tiết hoạt động kinh tế phát triển và là chính sách kinh tế có hiệu quả.

Do lãi suất có ảnh hưởng đến tất cả các quyết định liên quan đến tiềntrong xã hội nên việc xác định một mức lãi suất hợp lí là rất quan trọng Lãisuất có khả năng điều tiết một cách tự nhiên lượng vốn lưu thông từ nơi thừađến nơi thiếu, từ người có vốn sang người cần vốn để đưa vốn vào sử dụngtrong các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh có lợi cho nền kinh tế và xã hội.Mức lãi suất nhỏ hơn mức hợp lí sẽ khiến người vay đánh giá thấp giá trị sửdụng của đồng vốn dẫn đến đầu tư không hiệu quả, lãng phí nguồn vốn, gâythiệt hại cho bản thân người đi vay lẫn người cho vay và hơn nữa, ảnh hưởngđến sự tăng trưởng kinh tế Ngược lại, mức lãi suất cao hơn mức hợp lí tức làđánh giá quá cao giá trị sử dụng của đồng vốn thì chỉ có tác dụng khuyếnkhích người cho vay, làm cho vốn trở nên dư thừa, ứ đọng, không được đầu tưvào sản xuất kinh doanh, không sinh lãi, lúc đó đồng vốn trở thành “ vốn chết

” không còn tác dụng gì nữa Vì vậy, trước khi xác định mức lãi suất phải tínhđến nguyên tắc này đầu tiên

Nguyên tắc 2: Bảo tồn giá trị của vốn, bù đắp được rủi ro, có tích luỹ cho người sở hữu vốn và người sử dụng vốn.

Khi đem vốn vào sử dụng, sau một thời gian nhất định, người sử dụngvốn cũng như người cho vay vốn đều hi vọng vốn ban đầu sẽ tạo ra một lượngtiền lớn hơn tức là có sinh lãi đủ để trang trải các chi phí và để lại một phầnlợi nhuận Đây là lẽ đương nhiên Song trên thực tế không phải đầu tư nàocũng đem lại kết quả tốt đẹp, sẽ có những lúc bị lỗ, thậm chí mất cả vốn banđầu Do đó, lãi suất phải đảm bảo nguyên tắc 2 để người cho vay và người đivay không bị thiệt thòi dù cho việc sử dụng vốn có lúc lãi có lúc lỗ

Nguyên tắc 3: Lãi suất phải được phân định theo thị trường tiền tệ cấp 2.

Sở dĩ lãi suất phải phân định ra vì trên mỗi thị trường, các yếu tố quyết địnhđến mức lãi suất là khác nhau như: chủ thể sở hữu và sử dụng vốn, chi phíhuy động vốn, mức độ rủi ro, uy tín của người vay.v.v Tuy nhiên, lãi suấttrên thị trường cấp 2 có thể dựa vào lãi suất trên thị trường cấp một để định ramức lãi suất phù hợp và lãi suất trên thị trường cấp 1 có thể tăng hay giảm đểtác động vào lãi suất của thị trường cấp 2 Tóm lại, lãi suất trên 2 thị trườngtiền tệ phải khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ và ràng buộc lẫn nhau Thôngthường, lãi suất trên thị trường cấp một nhỏ hơn lãi suất trên thị trường cấp 2

để đảm bảo cho các tổ chức tín dụng sau khi đi vay trên thị trường cấp 1 và

Trang 7

cho vay trên thị trường cấp 2 sẽ thu được một phần lợi nhuận từ chênh lệch lãisuất trên hai thị trường đó.

Nguyên tắc 4: Nguyên tắc này được hình thành trên cơ sở nguyên tắc 1 và 2, trong đó:

o Tỉ lệ lạm phát < Lãi suất đi vay < Lãi suất cho vay < Tỉ suất lợi nhuậnbình quân của nền kinh tế (1)

o Lãi suất ngắn hạn < Lãi suất trung và dài hạn (2)

Bất đẳng thức (1) cho thấy lãi suất phải đảm bảo có lợi cho cả người vay vàngười đi vay đồng thời có tác dụng thúc đẩy sản xuất kinh doanh, phát triểnnền kinh tế Tỉ lệ lạm phát càng thấp và tỉ suất lợi nhuận bình quân của nềnkinh tế càng cao thì càng tốt đối với cả dân cư, tổ chức tín dụng và doanhnghiệp

Trong bất đẳng thức (2) lãi suất rõ ràng phải có tính bù đắp được rủi ro,thời hạn sử dụng vốn càng dài, rủi ro càng cao thì lãi suất càng lớn Vì nếu lãisuất ngắn hạn lớn hơn lãi suất trung và dài hạn thì nó chỉ có lợi cho nhữngngười giàu, lắm tiền gửi vào TCTD, sống dựa vào lãi cao, ngắn ngày, làm mất

đi chức năng cơ bản của các tổ chức tín dụng là “ đi vay để cho vay” và có hạicho nền kinh tế, xã hội và các doanh nghiệp sản xuất

Nguyên tắc 5: Đảm bảo sự biến thiên của lãi suất theo sát sự biến động của thị trường tiền tệ trong nước và tiếp cận thị trường quốc tế.

Lãi suất phản ánh qui luật cung- cầu vốn, do đó nó phải phụ thuộc vào

sự biến động của các luồng vốn trên thị trường Nếu cung vốn đang thừa màlãi suất cứ tăng lên thì những người cần vốn trên thị trường sẽ không vay tiềnnữa, làm cho vốn không được lưu thông, hạn chế sự tăng trưởng của nền kinhtế

Mặt khác, đối với mỗi quốc gia, lãi suất không chỉ phù hợp với thịtrường trong nước mà còn phải vận động ngày càng gần với lãi suất trên thịtrường quốc tế Có như thế, đất nước mới có thể hoà nhập với nền kinh tế thếgiới và có quan hệ bình đẳng với các quốc gia phát triển khác

2.3 Phương pháp xác định lãi suất.

2.3.1 Cơ sở hình thành lãi suất.

Việc tìm ra một cơ sở có thể hoàn toàn tin cậy là không thể có ngayđược Các nước có nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo cũng đã vàđang xây dựng lãi suất theo phương pháp phân tích thông tin của thị trường,với kinh nghiệm và sự uyên thâm trong nghề nghiệp để định lượng một lãisuất phù hợp Trong phần này, chúng ta xem xét các cơ sở mà hầu hết cácnước đang sử dụng cho việc hình thành lãi suất

Tỉ lệ lợi nhuận bình quân và tỉ lệ trượt giá là hai yếu tố quan trọng cấuthành nên lãi suất đồng thời cũng là 2 cơ sở hình thành nên mức lãi suất Lãisuất tín dụng trong cơ chế thị trường bị giới hạn bởi tỉ suất lợi nhuận bìnhquân của nền kinh tế (giới hạn trên) và tỉ lệ lạm phát (giới hạn dưới) Lãi suấtchỉ có thể vận động trong giới hạn đó và phải căn cứ vào 2 yếu tố này cùngvới quy luật cung - cầu vốn để tăng, giảm một cách hợp lí Mặt khác, do nềnkinh tế phụ thuộc rất nhiều vào 2 cơ sở trên nên lãi suất được đặt ra, ngoài

Trang 8

mục đích thu lợi cho một cá nhân, một tổ chức, phải đảm bảo kích thích nềnkinh tế tăng trưởng Do đó, khi xác định lãi suất, người ta phải dựa trên 2 cơ

sở cơ bản này

Cơ sở thứ 3 là ước định một tỉ lệ kích thích Lãi suất cũng giống nhưcác loại giá cả khác, chỉ cần thấp hoặc cao hơn một chút so với các tổ chức tíndụng khác đã có thể thu được nhiều khách hàng hơn, cho vay nhiều hơn hoặcngược lại Như vậy, trên cơ sở một tỉ lệ kích thích, lợi nhuận của TCTD cóthể bị giảm đi nếu tính trên giá trị từng giao dịch song với số lượng giao dịchtăng lên thì lợi nhuận vẫn tăng mà TCTD lại tạo ra được lợi thế cạnh tranh lâudài cho mình

Cơ sở tiếp theo là chỉ tiêu hợp lí về tổng chi phí tín dụng bình quân.Dựa trên chỉ tiêu này, người ta có thể xác định được nhiều chỉ tiêu khác nhưdoanh thu, lợi nhuận, mức lương, mức lãi suất.v.v Nếu tính toán tổng chi phítín dụng bình quân cao hơn nhu cầu thực tế của thị trường sẽ dẫn đến thừavốn, TCTD muốn cho vay được phải giảm lãi suất cho vay Điều này có thểdẫn đến hai hậu quả là giảm lãi suất tiền gửi khiến khách hàng chuyển sanggửi tiền ở các TCTD khác hoặc là giảm lợi nhuận đồng thời giảm tiền lươngcủa cán bộ công nhân viên Nếu chỉ tiêu trên thấp hơn nhu cầu thực tế thì tácđộng ngược lại , TCTD phải nâng cả lãi suất đi vay và lãi suất cho vay lên.Khi lãi suất cho vay tăng, các doanh nghiệp sẽ vay ít hơn cho đầu tư vào sảnxuất kinh doanh khiến cho nền kinh tế tăng trưởng chậm lại Vì vậy, xác địnhchỉ tiêu tổng chi phí tín dụng bình quân hợp lí là rất cần thiết khi hình thànhlãi suất giúp cho TCTD giữ được uy tín với các doanh nghiệp vay vốn và thuhút được nhiều khách hàng gửi tiền

Cơ sở cuối cùng là kinh nghiệm nghề nghiệp của các chuyên gia Lãisuất là một biến số được cấu thành từ rất nhiều biến số khác nhau mà trong đóchủ yếu là những biến số mang tính khách quan Do đó, muốn xác định đượclãi suất phải nắm chắc được các yếu tố cấu thành nó Sự biến động của cácyếu tố này rất phức tạp, do đó cần phải xem xét, phân tích kĩ lưỡng, đòi hỏiphải do các chuyên gia hoạt động lâu năm trong nghề thực hiện

2.3.2 Công thức tổng quát tính lãi suất.

Lãi suất đi vay của ngân hàng.

Lãi suất tiền gửi = < a% tỉ suất lợi nhuận bình quân + tỉ lệ lạm phát.

Trong đó: 0 = < a < 100

Với a = 0% => Lãi suất tiền gửi không kì hạn = Tỉ lệ trượt giá

Với tiền gửi có kì hạn thì kì hạn càng dài, a% càng lớn

Lãi suất cho vay.

Lãi suất cho

vay nói chung =

Lãi suấttiền gửi +

b%Tỉ suất lợinhuận bình quân +

Phụ phítín dụng +

Hệ sốrủi roTrong đó: b% phụ thuộc vào thời hạn vốn được sử dụng, thời hạn càng dài b

% càng lớn

Trang 9

Hệ số rủi ro phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời hạn sử dụng vốn, chủ thểvay vốn, mục đích vay vốn, tính khả thi của dự án đầu tư

II CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỰ DO HOÁ LÃI SUẤT

1 Thế nào là tự do hoá lãi suất ?

Tự do hoá lãi suất là một bộ phận quan trọng của tự do hoá tài chính.

Thực chất của tự do hoá lãi suất chính là cơ chế điều hành lãi suất hoàn toàn

để cho cung cầu vốn trên thị trường xác định lãi suất cân bằng, tức là lãi suấtđược tự do biến động để phản ứng theo các lực lượng cung-cầu vốn trên thịtrường, loại bỏ những áp đặt mang tính hành chính lên sự hình thành của lãisuất Nhà nước không ấn định các mức lãi suất, đồng thời cũng không khốngchế mức lãi suất Các ngân hàng thương mại được quyền xác định và công bốlãi suất kinh doanh của mình để áp dụng trong việc huy động vốn và cho vaycòn Ngân hàng trung ương chỉ can thiệp bằng các công cụ để điều chỉnh chophù hợp chiến lược và mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ phát triển

Trong cơ chế tự do hoá lãi suất, nếu nhà nước hoàn toàn không canthiệp đến hệ thống lãi suất thị trường thì đó là cơ chế tự do hoá lãi suất hoàntoàn (thả nổi lãi suất hoàn toàn) Nếu nhà nước có tham gia can thiệp gián tiếptheo một định hướg xác định thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ thì

đó là cơ chế tự do hoá lãi suất có quản lý Và khi đó NHTƯ tác động tới lãisuất chủ yếu dựa trên các công cụ kiểm soát tiền tệ gián tiếp như nghiệp vụthị trường mở, tái chiết khấu, hợp đồng mua lại, và một phần dựa vào áp đặt

Tự do hoá lãi suất nói riêng và tự do hoá tài chính nói chung có ý nghĩa quantrọng đối với các quốc gia trong giai đoạn phát triển và chuẩn bị hội nhập vaonền kinh tế thế giới trên phương diện vĩ mô lẫn vi mô điều này được thể hiệnnhư sau:

2

Vai trò của tự do hoá lãi suất trong nền kinh Tế

2.1 Xét trên phương diện vĩ mô của nền kinh tế

Trong quá trình hội nhập, Việt Nam đã có những thành công bước đầutrong việc hội nhập với nền kinh tế thế giới sau nhiều năm bị gián đoạn Hiệnnay, chúng ta đã có mối quan hệ với WB, ADB,… và là thành viên củaASEAN từ năm 1997, gia nhập AFTA và đặc biệt mới trở thành một thànhviên chính thức của WTO Bước đầu hoà nhập như vậy chúng ta đã có nhữngthành công lớn, kế tiếp chúng ta đã chuyển đổi một số hoạt động cho phù hợpvới thông lệ quốc tế, trong đó có lĩnh vực tài chính ngân hàng

Như vậy tự do hoá lãi suất chuyển dần sang việc thực hiện các công cụ giántiếp điều hành chính sách lãi suất, giảm sự can thiệp và điều hành bằng các

Trang 10

công cụ tài chính trực tiếp Với cơ chế này, sẽ trả lãi suất đúng vai trò là đònbẩy kích thích nền kinh tế phát triển, kích thích sự tăng trưởng kinh tế.

2.2 Về phương diện vi mô của nền kinh tế :

Tự do hoá lãi suất sẽ thúc đẩy cạnh tranh giữa các ngân hàng thươngmại, các tổ chức tín dụng trong nước và chi nhánh ngân hàng thương mạinước ngoài tại Việt Nam, giúp các ngân hàng trong nước có điều kiện pháttriển đa dạng hoá nghiệp vụ, tiếp cận công nghệ tiên tiến hơn Viêc tự do hoálãi suất cho phép các ngân hàng thương mại chủ động hơn trong việc kinhdoanh tiền tệ, chủ động định ra lãi suất là bao nhiêu để có thể thu hút đượcnguồn vố đáp ứng nhu cầu của thị trường, tạo môi trường cạnh tranh Đồngthời một khi các ngân hàng được quyền ấn định lãi suất, họ sẽ đưa ra phương

án sử dụng vốn tốt nhất và tránh được rủi ro có thể gặp phải Và chính sựcạnh tranh trong hoạt động của các ngân hàng là nhân tố hình thành lãi suấtthị trường

Đối với khách hàng của ngân hàng thương mại đó là các doang nghiệp, cáctầng lớp dân cư sẽ chủ động hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn phù hợp vớiđặc điểm hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời được quyền lựa chọn cácngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng để giao dịch hoạt động Viêccạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại làm cho lãi suất tín dụng có xuhướng hạ thấp, điều này sẽ kích thích các doanh ngiệp và các cá nhân tích cựctriển khai nhiều dự án sản xuất kinh doanh hơn Từ đó sẽ tăng cầu về tíndụng, đây là yếu tố để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

1 Tiến trình tự do hoá lãi suất ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua.

1.1 Giai đoạn trước tháng 3/1988 –Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản

lý nền kinh tế theo phương thức quản lý kế hoạch hoá tập trung

Đặc trưng cơ bản của lãi suất ở thời kỳ nàyđó là áp dụng chính sách lãi suấtbao cấp khá nặng nề, lãi suất được xây dựng thoát ly lãi suất nền kinh tế thếgiới:

+ Lãi suất tiền gửi thấp hơn mức lạm phát

+ Lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động và thấp hơn mức lạm phát.Dẫn đến lãi suất trong thời kỳ nay với tình trạng “lãi giả và lỗ thật’ làm chongân hàng không thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăng cao và lãi suất

Trang 11

thực là số âm Vì vậy tỷ lệ lạm phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa Do vậy đãgây ra những hậu quả:

+ Khả năng huy động vốn đi với yêu cầu rút bớt tiền lưu thông, giải toả áp lựccủa tiền đối với giá cả hàng hoá bị hạn chế nhiều

+ Nhu cầu vay vốn tăng lên không thực chất, tạo lợi nhuận giả tạo cho doanhnghiệp

+ Ngân hàng bao cấp qua lãi suất cho khách hàng, tạo lỗ không đáng có chongân hàng Ngân hàng không thể kinh doanh tiền tệ bình thường theo cơ chếthị trường

1.2 Giai đoạn 1988 - 6/1992-Thời kỳ lãi suất âm

Bước ngoặc trong tiến trình đổi mới, cải cách nền kinh tế Việt Nam tronglĩnh vực tài chính - ngân hàng bắt đầu bằng Nghị định 53/HĐBT ngày26/03/1988 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành (nay là Thủ Tướng Chính Phủ).Nội dung cơ bản của nghị định này là:

Thứ nhất là tách bộ phận quản lý quỹ ngân sách ra khỏi ngân hàng nhà nước

để hình thành nên hệ thống Kho bạc Nhà nước

Thứ hai là tách chức năng kinh doanh ra khỏi hệ thống ngân hàng Nhà nước

giao cho các ngân hàng chuyên doanh

Thứ ba là thành lập thêm hai ngân hàng chuyên doanh mới đó là ngân hàng

Công thương Việt Nam và ngân hàng Nông Nghiệp phát triển nông thôn ViệtNam, cùng với hai ngân hàng trước là Ngoại thương và ngân hàng Đầu TưPhát Triển đảm nhận chức năng kinh doanh thay cho ngân hàng nhà nước Cảbốn ngân hàng này hoạt động dưới hình thức ngân hàng chuyên doanh tronglĩnh vực của mình đến năm 1990 (sau nay đổi thành Ngân hàng thương mại)Với sự phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của ngân hàng nhà nước và cácngân hàng chuyên doanh, đã làm tiền đề cho hai pháp lệnh về: Ngân hàngNhà nước và pháp lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chínhngày 23/05/1989 của Hội đồng nhà nước Hai pháp lệnh này có hiệu lực từngày 01/10/1990 với nội dung chủ yếu:

Xoá hẳn mô hình ngân hàng một cấp và xây dựng mô hình ngân hàng hai cấpphù hợp với mô hình của ngân hàng các nước có nền kinh tế thị trường pháttriển Trong đó NHNNthực hiện chức năng ngân hàng của các ngân hàngquản lý hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại các tổ chức tíndụng trong nền kinh tế, còn ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng thựchiện chức năng kinh doanh trực tiếp về lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàngtrong nền kinh tế Từ pháp lệnh ngân hàng có hiệu lực 01/10/1990 đến ngày01/10/1998 Luật ngân hàng nhà nước và luật các tổ chức tín dụng ra đời và cóhiệu lực cho đến nay đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt độngkinh doanh của hệ thống ngân hàng trong nên kinh tế

Trong giai đoạn này Ngân hàng Nhà nước (NHNN) can thiệp ở mức độ cao

và trực tiếp vào lói suất thụng qua ấn định các mức lói suất tiền gửi (LSTG)

và lói suất cho vay (LSCV) Đầu tiên phải kể đến Quyết định 29NH/QĐ ngày16/03/1989 quy định mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn tới9%/thàng tức là 96%/năm; lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng là

Trang 12

12%/tháng tức là 144%/năm Đây là lần đầu tiên lãi suất cho vay các loại đãđược điều chỉnh cùng hướng với lãi suất tiền gửi Chính những thay đổi về lãisuất này đã góp phần rất quan trọng vào việc chặn đứng lạm phát phi mã vàocuối quý II/1989 và đồng bộ cùng với những cải cách và điều chỉnh khác tạo

ra những động thái mới đưa nền kinh tế từng bước đi vào ổn định và pháttriển Tuy nhiên trong giai đoạn này lạm phát đang ở mức cao nên chính sáchlãi suất chưa thực hiện được lãi suất dương mà vẫn theo lãi suất âm Cơ chếlói suất õm và mang nặng tớnh chất bao cấp được duy trỡ suốt thời kỳ nàyvới: - LSCV đối với doanh nghiệp nhà ước < LSCV đối với doanh nghiệpngoài quốc doanh; - Lói suất danh nghĩa < tỷ lệ lạm phỏt; - LSCV ngắnhạn > LSCV dài hạn;

- LSCV < lãi suất huy động; - LSTG tiết kiệm > LSTG của cỏc tổchức kinh tế;

Năm 1988 với quyết định của hội đồng bộ trưởng ban hành ngay09/03/1988 cho phép tất cả các tổ chức bao gồm các đơn vị ngoài quốc doanhđược vay tiền và huy động từ công chúng Điều này cũng có nghĩa là tát cảcác tổ chức kinh tế dều có thể kinh doanh tiền tệ , ngoài ra các tổ chức huyđộng vốn từ công chúng dưới dạng tiền gửi tiết kiệm để cho vay không phảituân thủ các quy định truyền thống của ngân hàng, như dự trữ bắt buộc hay tỷ

lệ vốn/dư nợ cho vay Trong thời gian này các quỹ tín dụng và hợp tác xã mọclên rất nhiều với tổng con số hơn 7.180 đơn vị Hàng loạt tổ chức tín dụng ởthành thị đua nhau tăng lãi suất để huy động vốn Cả hệ thống rơi vào vòngxoáy tăng lãi suất để huy động vốn nhưng không để ý đến việc cho vay ra thếnào để vừa bảo toàn vốn vừa có lãi cao Bên ngoài xã hôi có hiện tượng đầu

tư rủi ro cao, không có sự kiểm soát nghiêm ngặt nên kết quả nhiều đơn vị sảnxuất không trả được nợ cho các tổ chức tín dụng Đồng thời việc theo đuổi lợinhuận của các quỹ tín dụng bằng cách huy động vốn với lãi suất cao trong bốicảnh không có giám sát và quản lý đã nhanh chóng dẩn tới hành vi lừa đảo,điển hình vào năm 1990 Hậu quả sau đó là sự đổ vỡ của nhiều tổ chức tíndụng Đến cuói năm 1990 tổng số quỹ tín dụng giảm mạnh chỉ còn 160 đơn

vị Người dân mất lòng tin vào hệ thống ngân hàng, họ quyết định rút tiền tiếtkiệm của mình chuyển sang vàng hay đô la Mỹ Tỡnh trạng này làm cholói suất khụng thực hiện được chức năng vốn có của nó; lói suất khụng cũn làđũn bẩy kớch thớch nhu cầu gửi tiền của cụng chỳng, phỏt huy tớnh hiệu quảtrong quỏ trỡnh sử dụng vốn và đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng Khả nănghuy động vốn đi đôi với yêu cầu rút bớt tiền trong lưu thông đã gây áp lực lêngiá cả hàng hoá; Nhu cầu vốn phát riển không thực chất, tạo lợi nhuận giả tạocho ngân hàng làm cho hệ thống ngân hàng không thể kinh doanh tiền tệ mộtcách bình thường theo cơ chế thị trường

1.3 Giai đoạn cuối năm 1992 – chuyển từ lãi suất âm sang lãi suất dương.

Khi lạm phát được kiềm chế và đẩy lùi tương đối thấp thì mới có điềukiện thực hiện lãi suất dương, tức là lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huyđộng và lãi suất tiền gửi cao hơn lạm phát Tháng 10/1992 NHNN bắt đầutừng bước thực hiện lãi suất dương và đến tháng 3/1993 thì lãi suất dương

Trang 13

hoàn toàn , nhưng NHNN vẫn quy định các mức lãi suất tiền gửi ,cho vay đốivới doanh nghiệp nhà nước thấp hơn doanh nghiệp ngoài quốc doanh.lãi suấtcho vay ngắn hạn cao hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn, lãi suất tiền gửitiết kiệm cao hơn lãi suất tiền gửi chủa các tổ chức kinh tế Từ đó gây ra sựcanh tranh không bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp

1.4 Giai đoạn 1993 – 1995- Giai đoạn vừa quy định các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể, vừa cho vay theo lãi suất thoả thuận

NHNN đó cú nhiều bước điều chỉnh trong điều hành chính sách lóisuất, cho phép các tổ chức tín dụng cho vay theo lãi suất thoả thuận cượt mứccho vay cụ thể(Quyết định 184/QĐ ngày 28/09/1993): - Xoá bỏ về cơ bản

sự chênh lệch lói suất cho vay giữa cỏc thành phần kinh tế, thay vỡ ấn địnhlói suất cụ thể bằng quản lý lói suất theo một khung, bao gồm lói suất tốithiểu về tiền gửi và lói suất tối đa về tiền vay.Cụ thể lãi suất cho vay vớidoanh nghiệp nhà nước là 1,8%/tháng, lãi suất cho vay với khu vực kinh tếngoài quốc doanh cao nhất là 2,1%/tháng - NHNN cho phép Ngân hàngthương mại (NHTM) được thoả thuận lói suất với khỏch hàng (ỏp dụng trongtrường hợp huy động vốn bằng phát hành kỳ phiếu- lói suất huy động có thểcao hơn lói suất tiết kiệm cựng kỳ hạn 0,2%/tháng và cho vay cao hơn mứctrần 2,1%/ tháng);Nếu vốn huy động tiền tiết kiệm và tiền gửi theo các lãi suấtquy định mà không đủ để cho vay thì các tổ chức tín dụng được phép pháthành kỳ phiếu với lãi suất cao hơn lói suất tiết kiệm cựng kỳ hạn 0,2%/thỏng

và cho vay với mức lãi suất cao hơn mức 2,1%/ tháng trên cơ sỡ thoả rhuậnvới khách hàng heo phương châm : ngân hàng kinh doanh được và kháchhàng chấp nhận được Cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận có người gọi đó là

“Tự do hoá lãi suất một lần nữa”

Trên thực tế, khoảng 30-60 % tổng dư nợ lúc bấy giờ là từ các khoản cho vaybằng lãi suất thoả thuận mà phần lớn là cho vay doanh nghiệp ngoài quốcdoanh và hộ nông dân, với lãi suất phổ biến là 2,3% - 3,5 % tháng Các ngânhàng đạt mức chênh lệch giỡa lãi suất cho vay và lãi suất huy động rất cao,phổ biến từ 0,7% - 1% tháng Với cơ chế lãi suất thoả thuận, có thể hiểu là đã

tự do hoá một phần lãi suất, hoặc đó là cơ chế cho vay với lãi suất “cứng” điđôi với một biên độ dao động nhất định

Trong lãi suất thoả thuận , mức chênh lệch giữa sàn (tiền gửi ) và trần(cho vay) rất lớn khoảng 0,7% - 1,0%/tháng, làm cho các ngân hàng thươngmại có nức lợi nhuận quá cao trong khi doanh nghiệp và hộ nông dân (chiếmkhoảng 30-60% tổng dư nợ) gặp nhiều khó khăn.Từ thực tế này, tại kỳ họplần thứ 8, quốc hội khoá IX(08/1995)đã đi đến thống nhất cùng cới việc bỏthuế doanh thu trong hoạt động tín dụng ngân hàng, đã yêu cầu ngân hàng tiếtkiệm chi phí hoạt động và khống chế mức chênh lệch giữa lãi suất huy độngvốn và lãi suất cho vay bình quân là 0,35%/tháng

Đối với lãi suất ngoại tệ, NHNN quy định trần lãi suất cho vay, còn lãi suấthuy động vốn do các ngân hàng thương mại tự quyết định trên cơ sở lãi suấtthị trường quốc tế và cung cầu vốn ngoại tệ trên thị trường tiền tệ trong nướcquyết định

Những ưu điểm của chính sách lãi suất trong thời gian này:

Trang 14

Trong thời gian này lãi suất đó bắt đầu được sử dụng như một công cụ củaCSTT Những thay đổi trên thể hiện chính sách lói suất đó được cải cách theohướng linh hoạt hơn và phù hợp hơn với cơ chế thị trường Sự thay đổi từ việc

ấn định các mức lói suất cụ thể sang quy định trần và sàn lói suất, cho phộpcỏc TCTD chủ động, tự quyết định mức lói cụ thể của đơn vị mỡnh, hạn chếđến mức thấp nhất sự can thiệp trực tiếp của NHNN Đây là bước chuyển biếnquan trọng để tiến tới quá trỡnh tự do hoỏ lói suất

Mặc dù vậy, cơ chế lãi suất tín dụng trong thời ky này vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định:

+ Quá trình điều hành cơ chế lãi suất còn thiếu linh hoạt,chưa điều chỉnh đểphù hợp với tăng trưỏng và lạm phát

+ Lãi suất cho vay còn quá cao với hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp.Điều này có thể nhận thấy khi tỷ suất lợi nhuận của ngành công nôngnghiệp từ 1992 – 1995 là 5,15 – 12% trong khi đó lãi suất cho vay bình quân

ở mức 12 – 2%/năm

+ Lãi suất cho vay trung và dàI hạn còn thấp hơn lãi suất cho vay ngắnhạnTCTD không mạnh dạn mở rộng cho vay trung và dàI hạn do sợ rủiro.ĐIều này khong phù hợ với cơ chế thi trường

+ Lãi suất đồng Việt Nam và ngoại tệ còn khoảng cách chênh lệch quálớn.Điều này gây bất lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu

+ Bên cạnh cơ chế khung lãi suất là cơ chế cho vay theo lãi suất thoả thuậnbằng nguồn vốn huy dộng kỳ phiếu,tráI phiếu của NHTM Do vậy, nhiềuTCTD nhất là các NHTM cổ phần cho vay bằng các nguồn vốn khác cũng ápdụng cỏ chế lãi suất thoả thuận, đẩy mặt bằng lãi suất lên cao vượt quá khunglãi suất cho vay quy định của NHNN

+ Cơ chế này vẫn khống chế trực tiếp lói suất trờn thị trường, làm giảm tácdụng kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh của cỏc ngõn hang về mộtkhía cạnh nào đó, các ngân hàng vẫn phải chịu cả lãi suất tiền gửi và lãi suấtcho vay(cho dù mức chênh lệch lãi suất thực tế có thể khác nhau giữa cácngân hàng tuỳ thuộc vào cơ cấu chi phí cụ thể)

BẢNG 1: LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ CHO VAY 1993 – 1995

0,71,41,72,0

0,71,41,72,0

2 Lãi suất cho vay

- ngắn hạn

-Dài hạn

2,11,7

2,11,7

2,11,7

Trang 15

1.2 Giai đoạn từ năm 1996 đến tháng 7 năm 2000 – Thực hiện chính cáh lãi suất tín dụnh và quản lý chênh lệch giữa lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra.

NHNN tiếp tục ấn định mức lói suất tỏi cấp vốn và cú những đổi mới căn bản

về điều hành lói suất: - Thay vỡ qui định khung lói suất tối thiểu về tiềngửi - lói suất tối đa về tiền vay, NHNN chỉ qui định các mức lói suất “trần”theo thời hạn cho vay và khống chế chờnh lệch giữa lói suất cho vay và lóisuất huy động vốn bỡnh quõn là 0,35%/thỏng (4,2%/năm) để khắc phục tỡnhtrạng hầu hết cỏc ngõn hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khicác doanh nghiệp lại gặp khó khăn về tài chính (khi thực hiện cơ chế lói suấtthoả thuận ở giai đoạn trước)

- Bỏ quy định về sàn lãi suất đối với tiền gửi của các tổ chức kinh tế và dân

cư tại TCTD.Các lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể do các TCTD ấn định trên

cơ sở trần lãi suất cho vay,chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi bìnhquân là 0,35%/tháng và cung cầ vốn của rừng TCCD Có sự phân biệt giữa lãisuất cho vay ngắn hạn và trung, dàI hạn; Có sự phân biệt lãi suất cho vay ởkhu vực thành thị và nông thôn

- Trần lãi suất cho vay ngoại tệ được đIều chỉnh phù hợp với biếnđọng lãi suất trên thị trưòng quốc tế và cung cầu ngoại tệ trong nước

Theo cơ chế điều hành lãi suất tín dụng nói trên từ năm 1996 – 7/2000 NHNNliên tục đIều chỉnh lãi suất cho vay của các TCTD đối với nền kinh tế phù hợpvới chỉ số lạm phát và cung cầu vốn từng thời điểm cụ thể:

Trong năm 1996 NHNN đã có 4 lần đIều chỉnh trần lãi suất VND, lãi suấthuy động vốn cuối năm 1996 giảm 8,4%/năm, lãi suất cho vay giảm 10%/năm

so với lãi suất năm 1995 Với lãi suất cho vay khu vực nông thôn được quydịnh cao hơn lãi suất cho vay ở khu vực thành thị Điều này đã có tác dụngđiều chuyển các luồng vốn dư thừa từ thành thị về nông thôn Cơ chế lãi suấtmới đã rút ngắn chênh lệch giữa lãi suất nội tệ và lãi suất ngoịa tệ (xem bảng

- Cho vay trung ,dàI hạn 1,75 1,65 1,55 1,35

2 Trần lãi suất cho vay

khu vực nông thôn

3 Cho vay của HTXTD

và QTDND

II Cho vay ngoại tệ 9,50 9,50 9,50 9,50

III.Chênh lệch giữa lãi O,35 O,35 0,35 0,35

Trang 16

suất cho vay và lãi suất

huy động bình quân

 Trong năm1997,là năm có nhiều biến động với nền kinh tế khu vực và thếgiới Đặc biệt là cuộc khủng hoảng tàI chính – Tiền tệ châu á được khởi đầubằng sự thả nổi đông Bạt của Chính phủ TháI Lan đã ảnh hưởng phần nào đếnnền kinh tế Việt Nam.Cơ chế lãi suất tín dụng tiếp tục được đIều chỉnh theohướng duy trì lãi suất cho vay ở mức thấp nhất tạo đIều kiện mở rộng tín dụngđối với nền kinh tế NHNN đó thay đổi hỡnh thức qui định lói suất tỏi cấpvốn, chuyển sang qui định mức lói suất cụ thể Mức lói suất tỏi cấp vốn cũngđược điều chỉnh giảm xuống trong thời gian này (từ 1,1% năm 1997 xuống0,7%/tháng từ 4/9/ 99) để phù hợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung- cầu vốntrên thị trường và thực hiện giải pháp kích cầu về đầu tư của Chính phủ

Đến cuối tháng 1/1998, NHNN tiếp tục thực hiện việc kiểm soát lãi suấttrên thị trường tiền tệ bằng cơ chế trần lói suất cho vay, xoá bỏ qui định chênhlệch lói suất cho vay và lãi suất huy động Cựng với nới lỏng sự kiểm soỏt lóisuất, NHNN liờn tục điều chỉnh trần lói suất cho vay theo hướng giảm cơ cấutrần và mức khống chế, đặc biệt trong năm các năm 1998, 1999.Xoá bỏ phânbiệt giữa lãi suất cho vay thành thị và nông thôn, lãi suất tiền gửi tiếp tụcđược tự do hoá Kết quả là đến cuối năm 1998 tín dụng cho nền kinh tế tăng16,4%, số dư tiền gửi tăng 19,1% so với cùng kỳ năm 1997 (thể hiện ở bảng).Nhằm góp phần tăng cường hoạt động quản lý ngoại hói , hạn chề việc tổchức kinh tế nắm giữ ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi,từ tháng 09/1998 NHNN

đã quy định lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD Cụ thể như sau:

-Tiền gửi không kỳ hạn: 0,5%/năm

-Tiền gửi có kỳ hạn đến 06 tháng: 3%/năm

-Tiền gửi có kỳ hạn trên 06 tháng: 3,5%/năm

Năm 1999 là năm đánh dấu mốc quan trọng trong hoạt động ngân hàng, đây

là thời điểm bắt đầu thực hiện luật NHNN và Luật các TCTD Tình hình kinh

tế vĩ mô có một số biến dộng mang tính đặc trưng: tỷ lệ lạm phát là con số

âm, tốc độ tăng trưởng kinh tế bị chững lại, sức mua của nền kinh tế giảm.Xuất phát từ tình hình thực tế đó và đảm bảo cân đối cung _ cầu tín dụng,đồng thời tạo cho các tổ chức tín dụng linh hoạt hơn để định ra các mức lãisuất huy động và cho vay thì cơ chế lãi suất trần trước đây sẽ được thay thếbằng lãi suất cơ bản Tuy nhiên tại thời điểm này do chưa xác định rõ cơ chếđIều hành lãi suất cơ bản như thế nào nên năm 1999 vẫn được thực hiện theolãi suất trần (các mức lãi suất trần cho vay được thể hiện trong bảng)

Để bổ sung thờm cụng cụ điều hành lói suất, thỏng 11/1999 NHNN đưa vào

sử dụng nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá cho các NHTM,lói suất tỏi chiết khấu được qui định ở mức thấp hơn 0,05%/thỏng so lói suấttỏi cấp vốn;

Tháng 7/2000, NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ thị trường mở, lói suấtthị trường mở được hỡnh thành qua cỏc phiờn giao dịch

Những ưu điểm của chính sách trần lãi suất

Trang 17

+ Việc điều chỉnh chính sách lói suất như trên nhằm tiến tới việc duytrỡ một trần lói suất cho vay, tạo điều kiện để áp dụng mức lói suất cơ bản vàtừng bước tự do hoá lói suất, bước đầu đã thực hiện tự do hoá lãi suất huyđộng(lãi suất đầu vào của các NHTM) và linh hoạt trần lãi suất cho vay(lãisuất đầu ra) Cơ chế này đã góp phần trong việc kích cầu thúc đẩy đầu tư vàtiêu dùng, duy trì tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát và ổnn định sứcmua của VND trong sự tương quan của đồng tiền trong khu vực do có khủnghoảng tiền tệ năm 1997 – 1998 ở các nước Đông Nam á.

+ Điều hành lãi suất theo trần khuyền khích các TCTD trong việc cạnh

tranh lành mạnh và tăng cường vai trò chủ đạo trong kinh doanh tiền tệ, chủđộng trong việc điều hoà quan hệ cung – cầu vốn kinh doanh bằng công cụ lãisuất một cách nhạy bén theo cơ chế thị trường

+Việc quy định cho vay theo trần lãi suất tạo ra mặt bằng chung về lãisuất trong phạm vi cả nước, xoá bỏ tình trạng cho vay theo lãi suất thoả thuận,vượt xa các mức lãi suất do NHNN quy định trước đó Đảm bảo được vai tròquản lý nhà nước của NHNN vè lãi suất và tạo điều kiện thuận lợi cho côngtác thanh tra, kiểm ta, giám sát việc thực hiện chính sách lãi suất của NHNN

+ Các TCTD không cho vay với lãi suất vượt trần điều này đã bảo vệđược lợi ích cho người vay, tạo mặt bằng về phân phối lợi nhuận giữa cácthành phần kinh tế và người gửi tiền

+ Lãi suất ngoịa tệ được điều chỉnh kịp thời phù hợp với lãi suất thịtrường quốc tế giảm thiểu chênh lệch lãi suất cho vay nội tệ và lãi suất chovay ngoại tệ

Tuy nhiên ảnh hưởng của cơ chế trần lói suất đối với nền kinh tế Việt Nam còn nhiều hạn chế:

+ Cơ chế trần lãi suất là một biện pháp can thiệp hành chính của nhànước, làm cho lãi suất nhiều khi không phản ánh đúng quan hệ cung – cầuvốn trên thị trường, hạn chế mức độ cạnh trnah, hạn chế việc huy động và chovay vốn dàI hạn (do bị khống chế bởi trần lãi suất); Việc phân bổ nguồn vốntín dụng theo lĩnh vực kinh tế và địa bàn lãnh thổ gặp khó khăn

+Việc quy định chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động là0,35%/tháng trong thời kỳ đầu đã gò bó tính chủ động linh hoạt trong kinhdoanh của các TCTD, khó xử lý linh hoạt, hài hoà mối quan hệ về lợi ích giữangười gửi tiền và người đi vay Cơ chế điều hành này đã làm hạn chế việchình thành và phát triển các công cụ tàI chính trên thị trường, vì các TCTD ápdụng phổ biến là lãi suất cố định, chưa có thước đo để áp dụng lãi suất linhhoạt

+ Trần lãi suất được điều chỉnh theo xu hướng giảm thầp để hỗ trợ chohoạt động đầu tư, sản xuất, kinhdoanh nhưng lại làm cho chênh lẹch giữa lãisuất cho vay và huy động của các TCTD bị giảm thấp (dưới 0,2%/tháng),nhiều TCTD gặp khó khăn trong kinh doanh

+ ảnh hưởng của cơ chế lãi suất trần lên tổng cầu còn hạn chế Cú hai

lý do: trước hết, việc giảm phát trong thời gian từ 1996 xuất phát từ sự suy

giảm các yếu tố sản xuất liên quan đến tổng cung nhiều hơn tổng cầu, vỡ thế

các chính sách vĩ mô tác động vào tổng cầu sẽ chỉ đem lại hiệu quả hạn chế;

Trang 18

thứ hai, sự điều chỉnh lói suất thường là chậm so với thị trường, nên mất đi lợi

thế bất ngờ của sự thay đổi lói suất Hơn nữa việc sử dụng các công cụ giántiếp khác chưa thực sự có hiệu quả; việc điều hành trần lói suất vẫn là mộtbiện phỏp can thiệp hành chớnh của Nhà nước do vậy đó hạn chế tớnh chủđộng, linh hoạt trong kinh doanh của các TCTD, hạn chế việc hỡnh thành vàphỏt triển của cỏc cụng cụ tài chớnh, cú nguy cơ làm suy yếu năng lực tàichính của TCTD

+ Cơ chế tràn lãi suất áp dụng cho cả đồng Việt Nam và ngoại tệ, làmcho quan hệ giữa lãi suất đồng Việt Nam với lãi suất ngoịa tệ trong nước, lãisuất nội tệ trong nước với lãi suất trên thị trường quốc tế trở nên kém linhhoạt, cản trở việc huy động vốn từ nước ngoài và sự thua thiệt cho doanhnghiệp và TCTD Việt Nam

Trang 19

BẢNG 3: TỔNG HỢP LÃI SUẤT CHO VAY 1996 – 7/2000.

LS thực(% năm)

CPI(% năm)

* Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đồng Việt Nam:

NHNN công bố lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay của các NHTT áp dụng đốivới khách hàng tốt nhất (có chất lượng và uy tính) và một biên độ thích hợpthể hiện bằng số phần trăm (%) tuyệt đối Lãi suất cho vay và huy động củaTCTD gắn với lãi suất cơ bản của NHNN Theo đó, lãi suất cho vay củaTCTD cao nhất = lãi suất cơ bản + biên độ (%)

Biên độ trên được quy định hợp lý để đảm bảo cho các TCTD ấn định lãi suấtmột cách linh hoạt, phù hợp với diều kiện kinh doanh và mức độ rủi ro cụ thểđồng thời NHNN kiểm soát được lãi suất cho vay Biên độ không phân biệt

Trang 20

đối với lãi suất áp dụng giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa các loạihình TCTD (trừ QTDDN cơ sở) mà chỉ có sự phân biệt lãi suất ngắn hạn vàlãi suất trung, dàI hạn Biên độ trên bao gồm cảc các khoản phí liên quan đếncác khoản vay nhằm tránh việc TCTD lợi dụng thu phí để nâng lãi suất chovay lên quá mức biên độ cho phép.

Theo nuyên tắc trên, NHNN đã công bố lãi suất cơ bản trong những tháng cònlại của năm 2000 như sau:

+ Lãi suất cơ bản là 0,75%/tháng

+ Biên độ trên đối với lãi suất cho vay ngắn hạn là 0,30%/tháng

+ Biên độ trên đối với lãi suất cho vay trung, dàI hạn là 0,5%/tháng

Năm 2001, NHNN tiếp tục đổi mới cơ chế điều hành lãi suất theo hướng điềuchỉnh lãi suất cơ bản một cách linh hoạt Lãi suất cơ bản được xác định trên

cơ sở bám sát tín hiệu thị trường, đáp ứng mục tiêu của chính sách tiền tệ,đảm bảo sự kiểm soát của NHNN và từng bước hướng tới tự do hoá lãi suet.Trong năm này, NHNN đã chủ động điều chỉnh giảm liên tục lãi suất cơ bảnđối với cho vay bằng đồng Việt Nam từ 0,75%/tháng thời điểm đầu nămxuống còn 0,6%/tháng tại thời điểm cuối năm(giảm 0,15%/tháng) Các mứcbiên độ trên đối với lãi suất cơ bản không thay đổi so với biên độ lãi suất hàngtháng năm 2000(đối với lãi suất cho vay ngắn hạn là 0,3%/tháng; với lãi suấtcho vay trung, dài hạn là 0.5%/tháng)

BẢNG 5: LÃI SUẤT CƠ BẢN THÁNG 8/2000 – 7/2002

* Cơ chế điề hành lãi suất ngoại tệ:

Lãi suất ngoại tệ thị trường trong nước quan hệ chặt chẽ với lãi suất trên thịtrường quốc tế Mức lãi suất hình thành trên thị trường tiền tệ quố tế (LIBOR,SIBOR) là các lãi suất chủ yếu được điều chỉnh theo quan hệ cung – cầu củathị trường tiền tệ quốc tế Như vậy cơ chế điều hành lãi suất ngoại tệ được đổimời heo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng vẫn có sự kiểm soát củaNhà nước.Cụ thể:

 Lãi suất cho vay ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống) không vượt quá mứcSIBOR kỳ hạn 3 tháng + 1,0%/năm

 Lãi suất cho vay trung dàI hạn (từ 1 năm trở lên) không vượt quá mứcSIBOR kỳ hạn 6 tháng + 2,5%/năm

 lãi suất cho vay các loại ngoại khác do chiếm tỷ lệ nhỏ trong hoạt độngtiền gửi và tín dụng trên thị trường nên cho phép các NHTM tự xem xét quyếtđịnh lãi suất tiền gửi, lãi suất huy động và cho vay của các ngoại tệ này trên

cơ sở thị trường quốc tế và cung - cầu vốn tín dụng của từng ngoại tệ trongnước

Trang 21

 Vào thỏng 11/2001, trần lói suất cho vay ngoại tệ được xóa bỏ, từ đócho phép những người vay ngoại tệ trong nước có thể thương lượng lói suấtvới cỏc ngõn hàng nội địa và ngân hàng nước ngoài.

đã diễn biến đầy bất ngờ Giai đoạn nay NHNN đã cho phép thực hiên thoảthuận với ngoại tệ USD Đây là một bước đột phá hết sức quan trọng trongtiến trình tự do hoá lãi suất ở Việt Nam

Trong giai đoạn này cơ chế lãi suất cơ bản kèm biên độ của đồng Việt Namvẫn áp dụng như cũ:

Bảng 6: Lãi suất tiền gửi USD của cá nhân và tiền gửi EUR trong những tháng đầu năm 2002 tại một số NHTM:

Tỷ lệ phần trăm/năm

Tiền gửikhông kỳhạn

Tiền gửi không kỳ hạnDưới 6 tháng Trêntháng 6 1) Tiền gửi đô la Mỹ cá

Ngày đăng: 24/07/2013, 19:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 1: LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ CHO VAY 1993 – 1995 - Lãi suất và vấn đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay
BẢNG 1 LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ CHO VAY 1993 – 1995 (Trang 14)
BẢNG 2: TRẦN LÃI SUẤT CHO VAY NĂM 1996 - Lãi suất và vấn đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay
BẢNG 2 TRẦN LÃI SUẤT CHO VAY NĂM 1996 (Trang 15)
BẢNG 4: CHỈ SỐ TIẾT  KIỆM,  LÃI SUẤT DANH NGHĨA TRUNG BÌNH, LÃI SUẤT THỰC - Lãi suất và vấn đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay
BẢNG 4 CHỈ SỐ TIẾT KIỆM, LÃI SUẤT DANH NGHĨA TRUNG BÌNH, LÃI SUẤT THỰC (Trang 19)
BẢNG 3: TỔNG HỢP LÃI SUẤT CHO VAY 1996 – 7/2000. - Lãi suất và vấn đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay
BẢNG 3 TỔNG HỢP LÃI SUẤT CHO VAY 1996 – 7/2000 (Trang 19)
BẢNG 5: LÃI SUẤT CƠ BẢN THÁNG 8/2000 – 7/2002 - Lãi suất và vấn đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay
BẢNG 5 LÃI SUẤT CƠ BẢN THÁNG 8/2000 – 7/2002 (Trang 20)
Bảng 6: Lãi suất tiền gửi USD của cá nhân và tiền gửi EUR trong những tháng đầu năm 2002 tại một số NHTM: - Lãi suất và vấn đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay
Bảng 6 Lãi suất tiền gửi USD của cá nhân và tiền gửi EUR trong những tháng đầu năm 2002 tại một số NHTM: (Trang 21)
Hỡnh 1: Từ trần lói suất đến lói suất cơ bản rồi tự do hóa lói suất, 1998-2002 - Lãi suất và vấn đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay
nh 1: Từ trần lói suất đến lói suất cơ bản rồi tự do hóa lói suất, 1998-2002 (Trang 22)
Bảng 7: Chờnh lệch lói suất huy động và cho vay VND và USD - Lãi suất và vấn đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay
Bảng 7 Chờnh lệch lói suất huy động và cho vay VND và USD (Trang 25)
BẢNG 8: LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO VAY - Lãi suất và vấn đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay
BẢNG 8 LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO VAY (Trang 26)
BẢNG 10: DIỄN BIẾN LÃI SUẤT TRONG NĂM 2005 - Lãi suất và vấn đề tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay
BẢNG 10 DIỄN BIẾN LÃI SUẤT TRONG NĂM 2005 (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w