1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TIỂU LUẬN CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA ADAM SMITH

14 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 178,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuốn sách của mình, tác giả đã mô tả các tiêu chuẩn đạo đức của hành vi duy trì sự ổn định trong xã hội, và cũng tiết lộ một cách tiếp cận đạo đức và đạo đức để giải quyết công bằn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

- -BÀI TIỂU LUẬN

CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA ADAM SMITH

SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRƯƠNG THỊ MỸ HOA

LỚP :D02

MSSV:030834180081

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: LÊ KIÊN CƯỜNG

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng5 năm 2020

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong xã hội ngày nay, con người chúng ta muốn tồn tại thì cần phải có những nhu cầu như: ăn, uống, ngủ, mặt, … Trong cuộc sống muốn trở thành một nhà kinh tế tài giỏi, chúng ta phải am hiểu những lý thuyết về kinh tế, không những vậy chúng ta cần phải biết phân tích, vận dụng nó một cách hợp lý và nó phải phù hợp với nền kinh tế- xã hội của mỗi đất nước

Chính cái sự quan trọng đó, nên chúng ta không chỉ được học các môn chuyên ngành về kinh tế để bổ sung kiến thức, mà chúng ta còn được học môn Lịch sử các học thuyết kinh

tế Nó là cơ sở để chúng ta tiếp tục nghiên cứu các môn kinh tế khác Các nhà kinh tế, quản trị và hoạch định chính sách phải am hiểu một cách có hệ thống về sự phát triển kinh tế trong lịch sử để có thể vận dụng một cách hợp lí nhất đối với nền kinh tế hiện tại

Do đó việc nghiên cứu các học thuyết kinh tế hết sức là quan trọng và nó sẽ đem lại lợi ích đối với những ai quan tâm đến các vấn đề về kinh tế Vì vậy em xin trình bày về các học thuyết kinh tế của Adam Smith Ông được coi là cha đẻ của lý luận thị trường, tại sao ông được mệnh danh như vậy?

Trong quá trình làm bài, năng lực còn hạn chế nên bài viết sẽ còn nhiều thiếu sót Mong thầy thông cảm cho sự thiếu sót này của em Em xin chân thành cảm ơn

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA ADAM SMITH

A ADAM SMITH 4

I C UỘC ĐỜI CỦA A DAM S MITH 4

II T Ư TƯỞNG TỰ DO KINH TẾ CỦA A DAM S MITH 5

B PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA ADAM SMITH 6

C CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA ADAM SMITH 8

I L Ý LUẬN VỀ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG VÀ LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI 8

II L Ý LUẬN GIÁ TRỊ HÀNG HÓA 9

III L Ý LUẬN VỀ BA GIAI CẤP VÀ BA LOẠI THU NHẬP 10

IV L Ý LUẬN VỀ TIỀN TỆ 10

V L Ý LUẬN VỀ PHÂN PHỐI 11

VI L Ý LUẬN VỀ TƯ BẢN 12

VII L Ý LUẬN VỀ TÁI SẢN XUẤT 12

VIII L Ý LUẬN VỀ “ BÀN TAY VÔ HÌNH ” 12

D ĐÓNG GÓP CỦA HỌC THUYẾT 13 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA ADAM SMITH

A. Adam Smith

I. Cuộc đời của Adam Smith

Adam Smith là một con người trầm lặng, sống một cuộc đời ẩn dật, một con người hiếm khi viết thư tay và đã ra lệnh đốt bỏ một số bản thảo khi gần qua đời Vì vậy người đời về sau chỉ hiểu rõ về những tư tưởng trong kinh tế của Adam Smith hơn

là cuộc đời của ông

Adam Smith sinh ra tại thị trấn nhỏ Kirkcaldy ở Scotland, là con của một viên kiểm soát thuế vụ Không có một nguồn tài liệu nào ghi rõ ngày sinh của ông, họ chỉ biết rằng ông được rửa tội vào ngày 5 tháng 6 năm 1723 tại Kirkcaldy Adam Smith là con trai của Adam Smith trong lần lập gia đình thứ hai với bà Magaret Douglas Adam Smith không bao giờ nhìn thấy cha mình, bởi vì cha ông đã chết trước khi sinh ra ông vài tháng

Nhận được giáo dục trung học tại một trường học địa phương Mẹ ông đã cố gắng truyền cho ông một tình yêu với những cuốn sách Smith tỏ ra thích thú với các hoạt động tinh thần Từ năm 14 tuổi, Adam đã học triết học tại Đại học Glasgow vào thời gian này đã là một trung tâm danh tiếng vào thời kỳ Khai Sáng Giảng dạy tại đây có Giáo sư Francis Hutcheson nổi danh về ngành triết học luân lý và các quan điểm về Kinh tế và Triết học của ông Francis Hutcheson đã ảnh hưởng rất mạnh tới Adam sau này Trong một bức thư viết 15 năm sau, Adam Smith đã nói tới “Tiến sĩ Hutcheson không bao giờ có thể quên được” Ông nhận bằng thạc

sĩ, cũng như học bổng du học Sau 3 năm, Smith vào Oxford College Ông tốt nghiệp năm 1746 Tại Edinburgh, từ năm 1748, với sự hỗ trợ của Lord Kames, Adam đã giảng bài cho sinh viên về kinh tế, văn học và luật

Năm 1750, ông gặp David Hume Hóa ra ông chia sẻ quan điểm của Smith về tôn giáo, triết học, kinh tế và chính trị Họ cùng nhau viết một số tác phẩm mà trong thời kỳ Khai sáng Scotland đóng một vai trò quan trọng

Năm 1751, nhà kinh tế được bổ nhiệm làm giáo sư logic tại Glasgow, giảng bài về kinh tế chính trị, hùng biện và luật pháp Dựa trên các bài giảng, ông đã viết và xuất bản một cuốn sách khoa học vào năm 1759 với tựa đề Lý thuyết về đạo đức cảm giác Nó mang đến cho anh sự nổi tiếng và trở thành tác phẩm nổi tiếng nhất của anh Trong cuốn sách của mình, tác giả đã mô tả các tiêu chuẩn đạo đức của hành vi duy trì sự ổn định trong xã hội, và cũng tiết lộ một cách tiếp cận đạo đức

và đạo đức để giải quyết công bằng giữa mọi người

Năm 1764, Smith du hành tới Pháp với tư cách là con nuôi của Công tước Buckley Ông được trả lương rất cao cho công việc này và Smith đã bỏ công việc của mình ở Glasgow, cống hiến hết mình để viết một cuốn sách mới

Trang 5

Năm 1776, Smith đã ở London và hoàn thành cuốn sách "Nghiên cứu về bản chất

và nguyên nhân của sự giàu có của các dân tộc", mà ông bắt đầu ở Pháp Nó vẫn được coi là nền tảng của giáo dục kinh tế

Năm 1778, Adam Smith chuyển đến Edinburgh Tại đây ông có một công việc là một ủy viên hải quan Ông ấy rất nghiêm túc trong công việc, vì vậy ông ấy thực

tế không có thời gian cho hoạt động khoa học Smith bắt đầu phác thảo cho cuốn sách thứ ba của mình, nhưng ông không có thời gian để viết xong Nhà khoa học

ra lệnh đốt tất cả các bản thảo của mình, cảm thấy rằng cái chết chỉ ở gần đó Xét về phương pháp luộn của Adam Smith, K Marx đã nhận xét: một mặt, Adam smith quan sát các mối liên hệ bên trong, các phạm trù kinh tế Mặt khác Adam lại đặt mối liên hệ đó như mối liên hệ bề ngoài của hiện tượng và do đó, Adam Smith

xa lạ với khoa học Phương pháp luận nghiên cứu của Adam Smith đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các học thuyết kinh tế tư bản sau này Ông được coi là “Cha đẻ của lý luận kinh tế thị trường” hay rộng hơn là cha đẻ của kinh tế học hiện đại

II. Tư tưởng tự do kinh tế của Adam Smith

Điểm xuất phát trong nghiên cứu lý luận kinh tế của Adam Smith là nhân tố con người

Theo Adam smith xã hội là liên minh của những mối quan hệ trao đổi Thiên hướng trao đổi là đặc tính vốn có của con người Chỉ có trao đổi và thông qua thực hiện những việc trao đổi thì con người ta mới cảm thấy thỏa mãn “Hãy đưa tôi cái

mà tôi cần, tôi sẽ đưa cho anh cái mà anh cần”, ông cho rằng có là một thiên hướng phổ biến và tất yếu của xã hội

Adam Smith cho rằng tư tưởng tự do kinh tế (bàn tay vô hình) có nghĩa là: Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân tham gia muốn tối đa hóa lợi nhuận cho mình

Ai cũng muốn thế cho nên vô hình trung đã thúc đẩy sự phát triển và củng cố lợi ích cho cộng đồng Theo Adam Smith, chính quyền mỗi quốc gia không cần can thiệp vào cá nhân và doanh nghiệp, cứ để nó tự do hoạt động kinh doanh Ông kết luận “Sự giàu có của một quốc gia đạt được không phải do những quy định chặt chẽ của nhà nước, mà do bởi tự do kinh doanh” Và tư tưởng này đã chế ngự trong suốt thế kỉ XIX

Lý luận này, hoạt động của mỗi thành viên trong xã hội chỉ mang mục đích bảo vệ lợi ích của riêng mình; thông thường, không có chủ động củng cố lợi ích công cộng và cũng không biết mình đang củng cố lợi ích này ở mức độ nào Tuy nhiên khi đó, hệ thống thị trường và cơ chế giá cả sẽ hoạt động một cách tự phát vì lợi ích của tất cả mọi người như thể có một bàn tay vô hình đẩy thiện ý điều khiển toàn bộ quá trình xã hội và sự điều khiển tự phát này còn có hiệu quả hơn cả khi

có ý định làm việc này

Trang 6

Thuyết của Adam Smith chống lại tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương Vì chủ nghĩa trọng thương yêu cầu có sự tham gia của nhà nước vào kinh tế nhưng Adam thì đi ngược lại với điều đó Lý luận của ông đòi hỏi cho sự tự do kinh doanh, có

sự thích hợp của chủ nghĩa tư bản trong một thời kỳ dài Tuy nhiên sau này, thực

tế đã cho thấy những quan điểm chưa hoàn toàn hợp lí của thuyết này, và người ta vẫn dung đến nhà nước là” bàn tay hữu hình” thông qua luật pháp, thuế và các chính sách kinh tế để điều chỉnh nền kinh tế xã hội kết hợp với cơ chế tự điều chỉnh theo thuyết bàn tay vô hình để thúc đẩy sự phát triển về kinh tế và đất nước

Ta có thể dễ dàng nhận ra được “bàn tay vô hình” trong quy luật cung cầu của thị trường là ở vấn đề kiểm soát giá của các loại hàng hóa Khi giá cả không được tự

do định đoạt bởi quy luật cung cầu hoặc bị ngăn cản thực hiện ở mức thuận mua vừa bán thì mặc nhiên sẽ hình thành nên một thị trường ngầm mà người ta quen gọi là thị trường “chợ đen”, vượt hoàn toàn ra khỏi ý chí của bất cứ cơ quan có thẩm quyền nào Khi được hỏi “Chính sách kinh tế nào phù hợp với trật tự tự nhiên?” Adam Smith đã trả lời: Tự do cạnh tranh Xã hội muốn giàu có thì phải phát triển kinh tế theo tinh thần tự do

B. Phương pháp luận của Adam Smith

Nghiên cứu học thuyết kinh tế của ông chúng ta thấy một đặc điểm khá nổi bật trong phương pháp luận của A Smith là chủ nghĩa cá nhân về phương pháp luận trong cách tiếp cận về các vấn đề kinh tế Đó là những “con người kinh tế” hay các

cá nhân kinh tế Trong hành động cũng như trong các ứng xử kinh tế “con người kinh tế'’ đều xuất phát từ lợi ích cá nhân của họ Lợi ích cá nhân của họ dẫn dắt họ hoạt động và lợi ích cá nhân của họ dẫn dắt họ đến trao đôi hàng hóa, đến các thỏa thuận, các giao ưốc, đến các quan hệ thị trường Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” ông có viêt con người cần sự giúp đỡ của đồng loại, nhưng thật quả là vô ích nếu mong đợi sự giúp đỡ đó chỉ do lòng từ tâm của người khác Tốt hơn là anh phải làm cho nhiều ngươi khác chú ý đến anh và làm như thế nào để người khác thấy là họ củng có lợi khi làm điều gì mà anh ta yêu cầu Bất cứ ai mang lại cho người khác một món lời thì cũng mong được trả lại như vậy Anh cho tôi thứ mà tôi thích, anh sẽ có thứ mà anh yêu cầu, đó chính là ý nghĩa của sự trao đổi” Như vậy, con người kinh tế” của A Smith đó chính là các cá nhân trong xã hội Theo A-Smith, xã hội con ngươi là một liên minh trao đổi và thiên hướng trao đổi là đặc tính vốn có của con người, là một thiên hướng phổ biến và tất yếu của mọi xã hội,

nó tồn tại vĩnh viễn cùng với sự tồn tại của xã hội loài người Theo A Smith, khi tiên hành trao đôi sản phẩm cho nhau, con người ta bị chi phối lợi ích cá nhân và củng chính vì lợi ích cá nhân mà người ta có các quan hệ thị trường Trong khi tiến hành trao đổi con ngưòi kinh tế bị chi phối bởi lợi ích cá nhân, nhưng khi chạy theo lợi ích cá nhân thì con người kinh tê còn chịu sự tác động của “bàn tay vô hình” Với sự tác động này người kinh tế vừa chạy theo tư lợi, lại vừa đồng thời

Trang 7

thực hiện một nhiệm vụ không nằm trong dự kiến cùa họ: là đáp ứng cho lợi ích của người khác và cho lợi ích của xà hội Hơn nữa, nhiêu khi ngươi ta (tức các con người kinh tê) còn đáp ứng cho các lợi ích xã hội còn tốt hơn là người ta có ý định làm điểu đó Thuyết “bàn tay vô hình” ở đây, theo quan điểm của A Smith chính là

sự tác động của các quy luật kinh tê của thị trường, chính các quy luật đó nó chi phôi các quan hệ kinh tê và ông gọi các quan hệ thị trường đó chính là “trật tự tự nhiên” Từ đó ông kêu gọi phải tuân theo “trật tự tự nhiên”, nền kinh tê phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế, tự do cạnh tranh, tự do mậu dịch

Bằng phương pháp luận trừu tượng ông cố gắng phân tích bản chất bên trong của

xã hội tư sản Nhưng ông lại cho rằng nhiệm vụ quan trọng của nền kinh tế cổ điển

là mô tả bức tranh cụ thể của đời sống kinh tế để vạch ra các chính sách kinh tế Điều đó dẫn đến sự tính hai mặt trong phương pháp luận của Adam Smith Mâu thuẫn này dẫn đến mâu thuẫn trong lý luận kinh tế của ông

Cũng từ đây đã đề ra hai trường phái kinh tế khác nhau: trường phái của D Ricardo, K.Marx và trường phái của Say, Malthus…

C. Các học thuyết kinh tế của Adam Smith

I Lý luận về phân công lao động và lợi thế tuyệt đối.

Lý luận về phân công lao động của A Smith chiếm hàng đầu trong các lý luận kinh tế Ông bắt đầu nghiên cứu kinh tế hàng hóa từ việc phân tích vai trò của phân công lao động

C

ạn

T

rao

i P

h

T

h

n

ư

i có

ảT

iết k

iệm

T

ăn trư n

V

iệc làm

S

ô

Trang 8

Ông cho rằng phân công lao động có thể nâng cao năng suất lao động Sở dĩ ông

có kết luận như vậy vì những lý do sau:

- Khi phân công lao động sẽ dẫn đến chuyên môn hóa, trình độ, kỹ xảo, khéo léo, tài năng, tháo vát của công nhân được phát huy và ngày càng tiến bộ, từ đó

sẽ dẫn đến nâng cao năng suất lao động

- Sẽ tiết kiệm được thời gian, không phải di chuyển từ công việc này sang công việc khác

- Tạo điều kiện để áp dụng máy móc, lao động trở nên giản đơn hơn, giảm bớt được sức lao động

- Hiệu suất lao động tăng, năng suất lao động tăng sẽ dẫn đến tăng của cải cho

xã hội, “mức độ giàu có của xã hội tỉ lệ thuận với trình độ phân công xã hội Ông cho rằng trao đổi là nguồn gốc của sự phân công lao động Ông có niềm tin khi trao đổi sản phẩm lao động dư thừa của mình lấy cái phần sản phẩm lao động của người khác mà mình cần đến đã thúc đẩy mỗi con người hiến dâng cả đời mình cho một công việc chuyên môn nhất định và phát triển đến mức hoàn hảo

Từ đó sẽ mang lại những lợi ích cho cá nhân và cho xã hội

Để tăng them của cải của một quốc gia, theo ông có hai cách:

- Một là, tăng năng suất lao động, nhờ phân công lao động chuyên môn hóa

- Hai là, tăng số lượng lao động trực tiếp sản xuất

Ông cho rằng: Sự tiến bộ vĩ đại nhất trong quá trình phát triển sức sản xuất của lao động và tỷ lệ đáng kể của nghệ thuật, kỹ năng và trí thông minh, rõ rang đã được xuất hiện nhờ kết quả của việc phân công lao động

Adam Smith cho rằng chính trao đổi đẻ ra phân công, đông thời trao đổi phụ thuộc vào quy mô thị trường, cho nên phân công lao động phụ thuộc vào quy mô thị trường

Hạn chế của lý luận về phân công lao động của Smith là ông chưa phân biệt được phân công trong nội bộ ngành và phân công lao động xã hội

II Lý luận giá trị hàng hóa.

Lao động là cái đo lường thực sự giá trị trao đổi của mỗi hàng hóa, là một tiêu chuẩn tuyệt đối, là cái duy nhất, chính xác để đo lường giá trị

Ông phân tích lý luận giá trị từ hai định nghĩa:

- Thứ nhất, giá trị do lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa quyết định, lao động là thước đo thực tế mọi giá trị Định nghĩa này của ông đã khắc phục

Trang 9

được những hạn chế của W Petty khi phân tích về vấn đề này, coi lao động không phải là tự nhiên mà là nguồn gốc sinh ra giá trị

- Thứ hai, giá trị do lao động quyết định, mà lao động đó có thể mua bán và đổi lấy hàng hóa Theo ông: Nếu giá cả của một hàng hóa nào đó phù hợp với những điều cần thiết cho việc thanh toán về địa tô, trả lương cho công nhân và lợi nhuận của tư bản được chi phí cho khai thác, chế biến và đưa ra thị trường Ông chỉ ra lượng giá trị hàng hóa tỷ lệ thuận với lượng thời gian hao phí lao động

để sản xuất ra hàng hóa và do hao phí lao động trung bình quyết định

Ông cho rằng nền sản xuất trước chủ nghĩa tư bản giá trị do lao động tạo ra và được tiêu dùng hết, còn trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thì giá trị được phân chia làm ba bộ phận: tiền lượng, lợi nhuận và địa tô; đây là nguồn gốc tạo nên giá trị

Adam Smith phân biệt giá trị sử dụng và giá trị trao đổi và cho rằng giá trị sử dụng hay ích lợi của sản phẩm không liên quan và không quyết định giá trị trao đổi Ông còn phân biệt giá cả tự nhiên với giá cả thị trường và khẳng định, hàng hóa được bán theo giá cả tự nhiên, nếu giá cả đó ngang với mức cần thiết để trả cho tiền lương, lợi nhuận và địa tô Trên thị trường, giá cả hàng hóa luôn thay đổi do tác động của quy luật cung- cầu, nhưng sự thay đổi này xoay quanh giá tự nhiên và luôn có khuynh quay trở lại giá tự nhiên

Tuy nhiên trong lý thuyết giá trị ông còn những hạn chế:

- Chưa nhất quán khi định nghĩa giá trị

- Nhầm lẫn giữa quá trình hình thành giá trị và phân phối giá trị, giữa giá trị hàng hóa với giá trị mới sáng tạo ra

- Bỏ qua yếu tố cần thiết trong cấu thành giá trị hàng hóa là giá trị tư liệu sản xuất Chia giá trị hàng hóa thành ba bộ phận là một sai lầm

III Lý luận về ba giai cấp và ba loại thu nhập.

Trong tác phẩm “Sự giàu có của các quốc gia” xuất bản năm 1776, ông phân chia giai xã hội tư bản thành ba giai cấp cơ bản: giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và giai cấp chiếm hữu ruộng đất, đồng thời ông chia ba loại thu nhập tương ứng với

ba giai cấp đó là lương, lợi nhuận và địa tô

Ông cho rằng trong xã hội tư bản chỉ có tiền lương là thu nhập của lao động, “sản phẩm lao động tạo thành thù lao tự nhiên của lao động hoặc tiền lương tự nhiên” Quan điểm này tuy thống nhất với lý luận giá trị - lao động, song ông coi nhẹ tính chất xã hội và tính chất lịch sử của tiền lương Chính vì vậy những quan niệm của ông khi phân tích về mặt chất của nó đã bị sai lầm

Trang 10

Lý luận về phân chia ba giai cấp và ba loại thu nhập có vị trí quan trọng trong lý luận kinh tế của ông và lịch sử các học thuyết kinh tế Làm sáng tỏ cơ cấu giai cấp trong xã hội tư bản, mô tả quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đóng góp vào sự phát triển khoa học kinh tế

IV Lý luận về tiền tệ.

Adam Simith đã trình bày lịch sử ra đời của tiền tệ thông qua sự phát triển của lịch

sử trao đổi, từ súc vật làm ngang giá đến kim loại vàng, ông đã nhìn thấy sự phát triển của các hình thái giá trị Ông đã chỉ ra bản chất của tiền là hàng hoá

đặc biệt làm chức năng phương tiện lưu thông và đặc biệt coi trọng chức năng này của tiền tệ Nó là phương tiện để khắc phục khó khăn của trao đổi hàng

hóa trực tiếp, là “chiếc bánh xe vĩ đại của lưu thông” Ông là người đầu tiên khuyên dùng tiền giấy thay cho tiền vàng Vì tiền giấy có nhiều ưu điểm và rẻ hơn nhưng lợi ích thì đều như nhau

Adam Smith là người có nhiều đóng góp khi nghiên cứu nguồn gốc và cách sử dụng tiền tệ của các dân tộc trên thế giới Chẳng hạn vỏ sò được sử dụng như tiền

tệ ở Ấn Độ, cá tuyết khô ở Newfoundland, thuốc lá ở Virginia, đồng ở La Mã cổ đại, vàng và bạc được sử dụng ở các quốc gia giàu có

Ông đã có quan điểm đúng về số lượng tiền cần thiết trong lĩnh vực lưu thông là

do giá cả quy định

V Lý luận về phân phối.

Theo Adam Smith có ba nhân tố: tiền công, lợi nhuận, địa tô Tương ứng với thu nhập của ba giai cấp: lao động, tư bản và chủ ruộng đất Tuy nhiên, trong thực tế

có trường hợp ba loại này có thể chỉ là một

- Lý luận tiền lương

Ông quan niệm tiền lương là một phần thu nhập của công nhân làm thuê, là một phần của sản phẩm lao động Ông ủng hộ việc trả tiền lương cao

Hai yếu tố quyết định đến mức tiền lương là cầu về lao động và giá cả trung bình của các tư liệu sinh hoạt, ông cũng đã phân biệt sự khác nhau giữa tiền lương thực

tế và tiền lương danh nghĩa

Theo ông: “Hy vọng êm dịu muốn cải thiện thân phận của mình, đến lúc tuổi già được nghỉ ngơi và có phần tử dật sẽ thúc đẩy người thợ tận lực cố gắng, cho nên bao giờ người ta cũng thấy một người công nhân được trả công cao sẽ hoạt động hơn, lanh lẹ hơn là ở tại những nơi tiền công thấp”

Ngày đăng: 01/10/2021, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w