Kiến thức: Văn bản văn học - Cung cấp tri thức có hệ thống về đoạn trích, tác phẩm văn học - Cung cấp tri thức về tác giả, thể loại của văn học Việt Nam - Hiểu được một số hiện tượng nổi[r]
Trang 1BÀI THU HOẠCH MODULE 6 CỦA BDTX NỘI DUNG 3
NĂM 2015
1 Hãy nêu suy nghĩ về các mục tiêu của môn học mà thầy (cô) đang giảng dạy.
Môn Ngữ văn (bao gồm ba phần Văn học, Tiếng Việt, Làm văn) là một môn học nền tảng về kiến thức và công cụ giao tiếp, có vị trí quan trọng trong các môn học, góp phần tạo nên trình độ văn hóa cơ bàn cho con người Dạy và học tốt môn Ngữ văn, chẳng những giúp học sinh có kiến thức, kỹ năng mà còn bồi dưỡng thái
độ, tâm hồn người học, tạo cơ sở để học tốt các nôn học khác, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại, giáo dục tư tưởng, tình cảm cho người công dân tương lai
Như vậy, mục tiêu chung của môn học cần đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau:
1 Kiến thức:
Văn bản văn học
- Cung cấp tri thức có hệ thống về đoạn trích, tác phẩm văn học
- Cung cấp tri thức về tác giả, thể loại của văn học Việt Nam
- Hiểu được một số hiện tượng nổi bật, có giá trị đặc biệt của văn học nước ngoài
- Có kiến thức cơ bản về ngôn ngữ văn học, lịch sử văn học, lí luận văn học
Tiếng Việt
- Ôn luyện các tri thức về từ, câu, biện pháp tu từ
- Học thêm lịch sử tiếng Việt, loại hình, cách sử dụng, văn bản và các phong cách chức năng ngôn ngữ
Làm văn
- Ôn luyện các kiểu văn bản đã học như tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận
- Có kiến thức về quan sát, thể nghiệm, liên tưởng, tưởng tượng, đọc tích lũy kiến thức
- Nắm vững các khái niệm về thao tác lập luận trong văn nghị luận
2 Kỹ năng
Văn bản văn học
- Hình thành năng lực đọc các loại văn bản, năng lực tóm tắt
- Khái quát, đánh giá được nội dung và nghệ thuật của văn bản đã học
- Có kỹ năng nắm bắt thông tin nhanh, nhạy, chuẩn xác, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện đại
Tiếng Việt
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt qua các bài tập về dùng từ, viết câu, đọc hiểu nghĩa của từ, nghĩa của câu, nghĩa đoạn
Trang 2- Sử dụng các biện pháp tu từ và chữa các lỗi về tiếng Việt
- Sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ với bốn kỹ năng cơ bản: đọc, viết, nghe, nói, qua đó mà rèn luyện tư duy
Làm văn
- Rèn luyện năng lực làm văn tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận
- Biết làm một số văn bản hành chính, báo chí, phỏng vấn, quảng cáo…
- Có kỹ năng phát biểu miệng, lập kế hoạch cá nhân
- Hình thành được năng lực chủ động đề xuất ý kiến, phát biểu suy nghĩ của mình về bản than, xã hội văn hóa, văn học
3 Thái độ
- Văn bản văn học : bồi dưỡng nhân cách cho thế hệ trẻ tình yêu tiếng Việt,
văn học, văn hóa, tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại
- Tiếng Việt : giúp học sinh biết yêu quý tiếng Việt, có ý thức giữ gìn, bảo vệ
và phát triển tiếng Việt; góp phần hình thành nhân cách và bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm
- Làm văn : rèn luyện ý thức khoa học và thái độ chủ động, sáng tạo trong làm
văn, cảm thụ cái đẹp, cái hay, cái tốt trong cuộc sống
Môn Ngữ văn không chỉ là môn“bồi dưỡng tâm hồn” màquan trọng hơn là môn“công cụ” để học sinh cóthể vận dụng những kiến thức và kỹ năng đã học ứng dụng vào trong cuộc sống và công việc Vì vậy, quá trình dạy Ngữ văn phải hướng tới lợi ích của người học Chỉ khi nào người học hứng thú và thấy được lợi ích thiết thực của môn học thì mục tiêu dạy học Ngữ văn của các nhà giáo dục vạch ra mới đạt hiệu quả như mong muốn
2 Những lí do mà học sinh thích và không thích môn học của mình Giải thích các lí do đó từ góc độ bản thân.
Môn văn là một trong những môn có vị trí quan trọng ở cấp phổ thông nói
chung và cấp THCS nói riêng Cùng với các môn học khác, môn văn góp phần không nhỏ vào việc rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và nhân cách học sinh Thế nhưng, tại sao học sinh lại quay lưng lại với môn văn?
Sau đây là một số lí do tôi thu nhận được khi khảo sát các em “ Thích hay không thích học văn”
Không thích học văn
1 Nội dung chương trình sách giáo khoa quá dài, kiến thức quá nặng khiến một giờ học văn trở thành một giờ “ban phát tri thức một chiều” vì chỉ có 45 phút
Trang 3để hiểu hết một tác gia lớn hay một tác phẩm lớn là điều quá khó khi để tự học sinh tìm tòi, suy nghĩ
2 Thời khóa biểu cũng là một trong những lí do mà các em chán ghét giờ văn
Đa số cho rằng việc các giờ văn ở các tiết 4;5 khiến các em cảm thấy mệt mỏi
3 Các em không thích học văn vì cho rằng môn Ngữ văn không ứng dụng được trong cuộc sống thực tế Các em không biết học văn để làm gì? Nếu nó không phải là môn thi bắt buộc mà các em phải “có” sao cho “đúng và đủ” với điều kiện tuyển sinh
4 Các thầy cô cho điểm quá khó khăn và khắt khe với các em Trong khi những môn học khác rất dễ có điểm 10 thì dường như điểm 10 với môn văn là chuyện “ khó có thể”
5 Có một số em thì cho rằng tùy vào giáo viên đứng lớp mà các em thích hay không thích môn học ấy
Thích học văn
1 Do các em học không tốt các môn tự nhiên và con đường đi theo các môn xã hội đã được các em lựa chọn
2 Một số em có sẵn năng lực cảm thụ, có khiếu về văn chương nên các em thích học văn Dĩ nhiên con số này không đáng kể, trong 100% thì chỉ có khoảng 20% là yêu văn từ “thuở còn thơ”
Vậy nguyên nhân nào học sinh lại không thích học văn?
1 Về phía học sinh
Thứ nhất: Đối với học sinh yếu kém hầu như các em không chịu đọc tác
phẩm, không tiếp cận tác phẩm, không soạn bài hoặc chép đối phó trước khi đến lớp, có em đọc chưa đúng với yêu cầu: phát âm sai, đọc không đúng với ngữ điệu, đọc thêm hoặc bớt từ
Thứ hai: Phần lớn đều là do các em thiếu năng lực cảm thụ, không hề có sự
rung động trước các hình tượng văn học, trước cái hay, cái đẹp của văn chương
Do một bộ phận không nhỏ học sinh lười suy nghĩ, học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức, không rèn từ, rèn câu, rèn viết mà chỉ học thuộc lòng văn mẫu, bài mẫu và sao chép một cách rập khuôn máy móc theo một bài mẫu hoặc dàn ý có sẵn Khả năng viết bài, tạo lập văn bản giống như việc làm bài của các môn khoa học lịch sử, địa lí
Thứ ba: Một bộ phận học sinh ham chơi, lười biếng, chưa ham thích học tập.
Trong giờ học, các em còn thụ động, chưa mạnh dạn trao đổi, hỏi han do chưa hiểu sâu, chưa nắm được kiến thức, thiếu tự tin, thiếu sự tư duy trước những câu hỏi, những vấn đề mà giáo viên đặt ra mà chủ yếu trông chờ vào bài giảng của thầy cô
Trang 4Thứ tư : Do tâm lí chung của một bộ phận học sinh và phụ huynh bị ảnh hưởng
bởi xu thế phát triển của nền kinh tế hiện đại nên chỉ hướng con cái của mình vào việc học một số môn khoa học tự nhiên, ngoại ngữ , tin học để có lợi cho công việc, cho việc chọn nghề sau này mà ít hoặc không chú trọng đến môn Ngữ văn
2 Về phía giáo viên
Nguyên nhân học sinh học yếu không phải hoàn toàn là ở học sinh mà một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên Đôi khi giáo viên vẫn chưa chú ý quan sát đến các đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh yếu Họ chưa tìm tòi nhiều phương pháp dạy học mới kích thích tính tích cực, chủ động của học sinh và chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến hoàn cảnh gia đình của từng học sinh
Đặc biệt với tôi-những giáo viên chỉ mới chập chững bước vào nghề thì chuyện môn nghiệp vụ sư phạm còn hạn chế rất nhiều khiến giờ học văn đối với các em thật tẻ nhạt
Vậy làm cách nào để học sinh có hứng thú với môn học của mình?
Có những học sinh nói với tôi rằng: “có những bài học chúng em rất thích nghe
cô giảng nhưng có những bài thật sự rất chán” Như vậy, tôi cần kiểm tra lại các bài dạy của mình, học tập, rút kinh nghiệm từ các đồng nghiệp đi trước Khuyến khích, động viên các em chăm soạn bài, phát biểu ý kiến bằng cách cho điểm 10 ở những câu hỏi khó hay điểm cộng ở những câu hỏi dễ Không quên nhắc nhở, kiểm tra những em học sinh yếu kém Cố gắng xây dựng các bài học tích hợp với cuộc sống để các em thấy rằng môn Ngữ văn không hề vô dụng như các em từng nghĩ Đặc biệt là các giáo viên dạy văn cần nhiều hơn nữa sự quan tâm từ phía lãnh đạo nhà trường có một thời khóa biểu hợp lí để các em giảm bớt căng thẳng
và mệt mỏi khi phải học môn văn trong những tiết cuối cùng
MODULE 14
1 MỘT SÔ QUAN ĐIỂM DẠY HỌC TRONG TỔ CHỨC DẠY HỌC TÍCH HỢP
Khái niệm:Tích hợp là một khái niệm rộng, ở mỗi lĩnh vực khoa học khác nhau
cũng được hiểu và ứng dụng khác nhau Trong dạy học, tích hợp được hiểu là sự phối kết hợp các tri thức một số môn học có những nét chính, tương đồng vào một lĩnh vực chung, thường là quanh những chủ đề, những kiến thức nguồn
Các quan điểm trong nội dung dạy học tích hợp
Có bốn quan điểm khác nhau trong việc liên kết, tích hợp các môn học:
- Quan điểm trong “nội bộ môn học" Theo quan điểm này chỉ tập trung chủ yếu vào nội dung của môn học Quan điểm này nhằm duy trì các môn học liêng rẽ
- Quan điểm “đa môn" Quan điểm này theo định hướng những tình huống, những “đề tài", nội dung kiến thức nào đó được xem xét, nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau nghĩa là theo những môn học khác nhau Quan điểm này, những môn học tiếp tục tiếp cận một cách liêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời
Trang 5điểm trong quá trình nghiên cứu các đề tài Như vậy, các môn học chưa thực sự được tích hợp
- Quan điểm “liên môn", trong đó chúng ta đề xuất những tình huống chỉ có thể được tiếp cận một cách hợp lí qua sự soi sáng của nhiều môn học Ở đây chứng ta nhấn mạnh đến sự liên kết giữa các môn học, làm cho chứng tích hợp với nhau đề giải quyết một tình huống cho trước Các quá trình học tập sẽ không được đề cập một cách rời rạc mà phải liên kết với nhau xung quanh những vấn đề phải giải quyết
- Quan điểm “xuyên môn", trong đó chúng ta chủ yếu phát triển những kĩ năng
mà học sinh có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống, chẳng hạn, nêu một giả thiết, đọc thông tin, thông báo thông tin, giải một bài toán Những kĩ năng này chúng ta gọi là những kĩ năng xuyên môn, có thể lĩnh hội được những kĩ năng này trong từng môn học hoặc nhân dịp có những hoạt động chung cho nhiều môn học
2 THIẾT KẾ “KẾ HOẠCH BÀI HỌC THEO HƯỚNG TÍCH HỢP”
Khái niệm kế hoạch dạy học
Một đặc điểm rất cơ bản của giáo dục nhà trường là đuợc tiến hành có mục đích, có kế hoạch, dưới sự chỉ đạo của giáo viên Muốn dạy học đạt hiệu quả cao thì nhất thiết phải có sự chuẩn bị của ngưởi thầy giáo Một trong những khâu chuẩn
bị quan trọng là lập kế hoạch cho chuỗi bài mình sẽ dạy, cho từng bài dạy, trong đó
dự kiến được một cách khá chắc chắn tiết học sẽ bất đầu ra sao, diễn biến và kết quả thế nào
Như vậy, kế hoạch dạy học là bản chương trình công tác do giáo viên soạn thảo
ra bao gồm toàn bộ công việc của thầy và trò trong suốt năm học, trong một học kì, đối với từng chương hoặc một tiết học trên lớp
Ta có thể chia kế hoạch dạy học của giáo viên thành hai loại: Kế hoạch năm học
và kế hoạch bài học (còn gọi là giáo án hay bài soạn)
Thiết kế
Tuần
Tiết
Đọc văn
Lớp dạy:
Ngày dạy:
TỎ LÒNG (Thuật hoài- Phạm Ngũ Lão)
( 1 tiết) A/ MỤC TIÊU BÀI HỌC :
1 Kiến thức:
- Vẻ đẹp của người con trai thời Trần với tầm vóc, tư thế, lí tưởng cao cả, vẻ đẹp của thời đại với khí thế hào hùng, tinh thần quyết chiến quyết thắng
Trang 6- Hình ảnh kì vĩ, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm.
2 Kĩ năng: đọc - hiểu một bài thơ Đường luật.
3 Thái độ: Bồi dưỡng nhân cách , sống có lí tưởng, quyết tâm thực hiện lí
tưởng, biết trân trọng lịch sử_những công lao to lớn của ông cha ta
4 Tích hợp kiến thức liên môn: Lịch sử; Giáo dục công dân
B/ CHUẨN BỊ BÀI HỌC :
1 Giáo viên :
- Phương pháp:
+ Trên cơ đọc phần dịch nghĩa và phần dịch thơ, HS tự phát hiện những điểm khác nhau giữa nguyên văn chữ Hán và bản dịch để hiểu bài thơ sâu sắc hơn + Kết hợp việc giảng bài thơ với tạo không khí lịch sử, tạo mối liên hệ giữa hình tượng trang nam nhi với hình tượng người anh hùng Phạm Ngũ Lão, phát vấn, nêu vấn đề, thuyết trình, giảng bình
- Phương tiện : SGK, SGV, giáo án, một số tranh minh họa
2 Học sinh: soạn bài theo hệ thống câu hỏi trong SGK.
C/ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC :
1.Kiểm tra bài cũ:
- Các thành phần chủ yếu của văn học Việt Nam thời kì từ đầu thế kỉ X đến hết XIX?
- Văn học Việt Nam thời kì từ đầu thế kỉ X đến hết XIX chia làm mấy giai đoạn? Đó là nưhngx giai đoạn nào?
- Nêu những đặc điểm lớn về mặt nội dung và nghệ thuật của thời kì văn học này?
2.Bài mới:
Hoạt động của giáo viên và học sinh Yêu cầu cần đạt
Hoạt động 1: Tìm hiểu chung
- Gọi 1 HS đọc phần Tiểu dẫn trong SGK
và cho biết những nét chính về tác giả Phạm
Ngũ Lão.
Cho HS gạch chân trong SGK
- GV giới thiệu tranh lăng mộ và đền thờ
Phạm Ngũ Lão ở Hưng Yên
- GV tích hợp kiến thức về môn Lịch sử
1 Tái hiện kiến thức lịch sử về nhà Trần: năm
938 chiến thắng quân Nam Hán nhân dân ta đã
khôi phục được nền độc lập tự chủ, dân tộc ta
vùng dậy một sức mạnh khí thế chiến thắng và tạo
ra một giai đoạn lịch sử đầy tự hào: “giai đoạn
phục hưng và phát triển của dân tộc” Nhìn chung
I TÌM HIỂU CHUNG:
1 Tác giả:
- Phạm Ngũ Lão ( 1255 – 1320) quê làng Phù Ủng –h Đường Hào-T Hưng Yên, thuộc tầng lớp bình dân
- Là một vị tướng văn võ song toàn, anh hùng dân tộc, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông
- Tác phẩm: hiện còn 2 bài thơ Tỏ lòng và Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại
Trang 7thời đại Lí Trần là thời đại phát triển rực rỡ nhất
trong lịch sử quốc gia phong kiến tự chủ Đại Việt
Người đặt nền móng cho nhà Trần chính là Trần
Thái Tông nhưng người có công lớn nhất cho sự ra
đời chính thức của nhà Trần chính là Trần Thủ Độ
Trong khoảng 175 năm trị vì, nhà Trần đã lãnh đạo
quân dân Đại Việt lần kháng chiến chống quân
Nguyên thành công vào các năm 1258, 1285,1288
2 Tìm hiểu về giai thoại Phạm Ngũ Lão:người
ta kể lại rằng: Giặc Nguyên –Mông kéo quân sang
xâm lược nước ta Thế giặc rất mạnh, vua Trần
phái quan lại trong triều đi tìm người tài giỏi đánh
giặc cứu nước Trên đường đi tới làng Phù Ủng,
huyện Đường Hào, nay là huyện Ân Thi, tỉnh
Hưng Yên, quan quân nhà vua gặp một người
thanh niên đan sọt giữa đương Quân lính quát,
người ấy không nói gì, không tránh chỗ Quân lính
đâm một nhát vào đùi, người ấy không kêu, không
hề nhúc nhích Biết là người có chí khí Hỏi tại sao
không tránh người ấy thưa vì đang mải nghĩ cách
đáng giặc Nguyên Người ấy không ai khác là
Phạm Ngũ Lão
- GV gợi ý cho HS cách hiểu nhan đề bài
thơ :
Thuật : kể, bày tỏ
Hoài : nỗi lòng
- Gọi 1 HS đọc bài thơ : chú ý đọc diễn cảm,
tự tin, tâm huyết, mạnh mẽ, ngắt nhịp 4/3 GV
hướng dẫn HS tìm hiểu một số từ khó dựa vào chú
thích
- Yêu cầu HS xác định thể thơ và chia bố cục
bài thơ
==> GV giới thiệu 2 cách chia bố cục bài thơ
và thống nhất hướng phân tích
Cách 1 :
Câu khai: hình tượng con người thời Trần
Câu thừa : hình tượng đội quân nhà Trần
Câu chuyển : tâm tình của tác giả
Câu hợp : nỗi hổ thẹn của tác giả
Vương
2 Bài thơ:
- Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt luật Đường; ngắn gọn, đạt đến
độ súc tích cao
- Bố cục : 2 đoạn
Bày tỏ nỗi lòng
Trang 8Cách 2 :
- Tiền giải (2 câu đầu) : Hình ảnh người trai và
khí thế của quân đội nhà Trần
- Hậu giải (2 câu sau) : Quan niệm về chí làm
trai và nỗi lòng của tác giả
==> Phân tích theo cách 2
Hoạt động 2: Đọc hiểu bài thơ
- Chia lớp thành 4 nhóm thảo luận, tìm hiểu
nội dung của bài học
- Nhóm 1 : Chỉ ra điểm khác nhau giữa câu
thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch
? Có gì đáng lưu ý về không gian, thời gian trong
đó con người xuất hiện? Con người ở đây mang
tầm vóc, tư thế như thế nào ?
GV nói rõ về sự khác nhau giữa câu thơ
trong nguyên tác và câu thơ dịch “Hoành sóc” :
cầm ngang ngọn giáo khắc họa được tư thế hiên
ngang, lẫm liệt, vững chãi ==> dịch thành “múa
giáo” : mới chỉ thể hiện độ điêu luyện nhưng thiếu
đi độ cứng rắn, mạnh mẽ
- Nhóm 2 : Em cảm nhận như thế nào về sức
mạnh quân đội nhà Trần qua câu thơ thứ hai ?
-> Hình ảnh tráng sĩ lồng vào trong hình ảnh “ba
quân” mang ý nghĩa khái quát, gợi ra hào khí dân
tộc thời Trần – “hào khí Đông A” (Hào khí Đông
A có thể hiểu là “Hào khí thời Trần, là khí thế
chống giặc ngoại xâm của quân dân nhà Trần,
được đọc theo lối chiết tự Đông A)
- Nhóm 3 : Nợ công danh mà tác giả nói tới
trong bài thơ có thể hiểu theo nghĩa nào sau đây :
+ Thể hiện chí làm trai theo tinh thần Nho giáo
: lập công, lập danh
+ Chưa hoàn thành nghĩa vụ với dân, với nước
II ĐỌC HIỂU BÀI THƠ:
1 Hình ảnh người trai và khí thế của quân đội nhà Trần (2 câu đầu):
- Hình ảnh người trai thời Trần:
+ Tư thế: cầm ngang ngọn
giáo trấn giữ đất nước
“hoành sóc”-> hiên ngang, lẫm liệt, vững chãi
+ Ý thức: luôn thường trực
chiến đấu ở trong dáng điềm tĩnh không chút hao giảm tinh thần “đã mấy thu”
- Bối cảnh không gian ( mở ra theo cả hai chiều : chiều rộng của non sông đất nước, chiều cao lên đến tận sao Ngưu trên trời ), thời gian ( mấy năm rồi ) kì vĩ -> nổi bật con người
kì vĩ
-> Hình ảnh người trai thời Trần mang tầm vóc, tư thế hiên ngang với vẻ đẹp kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ
- Khí thế của quân đội nhà Trần: ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi cả trâu -> so sánh phóng đại :
+ Cụ thể hóa sức mạnh vật chất
+ Khái quát hóa sức mạnh tinh thần
Hình ảnh “ba quân”: hiện lên với sức mạnh của đội quân
Trang 9+ Cả hai nghĩa trên.
GV nói rõ hơn ý này và tích hợp trong nội bộ
môn học từ phân môn Văn bản văn học sang
phân môn làm văn : Quan niệm lập công danh đã
trở thành lí tưởng sống của trang nam nhi thời
phong kiến Nguyễn Công Trứ cũng từng khẳng
định : “ Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có
danh gì với núi sông” Công danh được coi là món
nợ đời phải trả của kẻ làm trai Trả xong nợ công
danh có nghĩa là đã hoàn thành nghĩa vụ với đời,
với dân, với nước Chí làm trai ở thời bấy giờ có
tác dụng cổ vũ con người từ bỏ lối sống tầm
thường, ích kỉ, sẵn sàng hi sinh chiến đấu cho sự
nghiệp lớn lao – sự nghiệp cứu nước, cứu dân để
cùng trời đất “muôn đời bất hủ” Đặt trong hoàn
cảnh lịch sử, xã hội lúc đó, chí làm trai có nội
dung tích cực và có tác dụng to lớn.
Nội dung tích hợp: Từ quan niệm , chí làm
trai trong bài thơ Tỏ lòng suy nghĩ của anh/chị
về lí tưởng sống của thanh niên trong thời đại
ngày nay
- Nhóm 4 : Em biết gì về Vũ hầu? Phân tích
nỗi “thẹn” của tác giả trong câu thơ cuối
Tích hợp kiến thức lịch sử:Khổng Minh - Gia
Cát Lượng là bậc kì tài, một đại quân sư nổi tiếng
tài đức thời Tam Quốc –từ một trai cày đất Nam
Dương đã giúp Lưu Bị lập nên sự nghiệp lớn
GV bình chốt ý : Xưa nay, những người có nhân
cách thường mang trong mình nỗi thẹn Nguyễn
Khuyến trong bài Thu vịnh từng bày tỏ nỗi thẹn
khi nghĩ tới Đào Tiềm - một danh sĩ cao khiết đời
Tấn: “ Nhân hứng cũng vừa toan cất bút Nghĩ ra
đang sôi sục khí thế quyết chiến thắng -> sức mạnh dân tộc
=> Với giọng thơ hào hùng, sảng khoái, hai câu thơ đã phác hoạ nên một bức tranh hoành tráng của một thời vàng son oanh liệt, thể hiện hào khí dân tộc – hào khí Đông A
2 Quan niệm về chí làm trai và nỗi lòng của tác giả:
- Chí làm trai : + Lập công ( để lại sự nghiệp)
+ Lập danh (để lại tiếng thơm)
-> Lí tưởng sống, quan niệm sống tích cực
- Nỗi lòng của tác giả: thẹn
vì chưa có tài mưu lược lớn như
Vũ Hầu để trừ giặc, cứu nước
- > Nỗi thẹn nâng cao nhân cách con người
=> Khát vọng lập công danh
để thỏa “chí nam nhi”, cũng là khát vọng đem tài trí “tận trung báo quốc”
Trang 10lại thẹn với ông Đào” Đó là nỗi thẹn của người
có nhân cách Trong bài Tỏ lòng, PNL thẹn vì
chưa trả xong nợ nước Đó là cái tâm chân thành
và trong sáng của người anh hùng Đó là nỗi hổ
thẹn đầy khiêm tốn và cao cả Nỗi thẹn như vậy
không làm con người thấp bé đi, mà trái lại nâng
cao nhân cách con người
Kết hợp giáo dục HS về lí tưởng sống, rèn
luyện nhân cách bằng cách tích hợp với môn
Giáo dục công dân
GV đặt vấn đề: Qua việc tìm hiểu về chí làm
trai của nhà thơ Phạm Ngũ Lão em có suy nghĩ gì
về việc học tập, rèn luyện nhân cách, hoài bão cho
bản thân nói triêng và thanh niên ngày nay nói
chung?
- HS suy nghĩ, đưa ra ý kiến
- GV lắng nghe ý kiến và giúp học sinh:
+ Bồi dưỡng lòng yêu nước, có ý thức tự hào
với truyền thống yêu nước của dân tộc
+ Nhận thức đúng đắn về vai trò của người tài
giỏi, hình thành ý thức học tập và rèn luyện để trở
thành người sống có lý tưởng và quyết tâm thực
hiện lí tưởng
GV: Nêu những nét nghệ thuật đặc sắc của bài
thơ
HS trả lời
Hoạt động 3: Tổng kết
GV: Giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ?
HS trả lời.
GV chốt lại bài học bằng Ghi nhớ (sgk/116)
3 Nghệ thuật:
- Hình ảnh thơ hoành tráng, thích hợp với việc tái hiện khí thế hào hùng của thời đại và tầm vóc, chí hướng của người anh hùng
- Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, có sự dồn nén cao độ về cảm xúc
III TỔNG KẾT (ghi nhớ/
sgk116)