DANH MỤC BẢNG………………………………………………………………………...2 MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………….3 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DẦU NHỜN 4 1.1. Lịch sử phát triển của dầu nhờn 4 1.2. Thành phần hóa học của dầu nhờn 4 1.3. Các chỉ tiêu cơ bản của dầu nhờn 10 1.4. Công dụng của dầu nhờn 12 CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG DẦU NHỜN VIỆT NAM 14 2.1. Thị trường dầu nhờn trong khu vực 14 2.2. Lịch sử phát triển của thị trường dầu mỡ nhờn tại Việt Nam 14 2.3. Sự cạnh tranh trên thị trường dầu nhờn hiện nay 16 CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CÁC CÔNG TY DẦU NHỜN TẠI VIỆT NAM 18 3.1. Công ty dầu nhờn Petrolimex (PLC) 18 3.2. Liên doanh Castrol Việt Nam 21 3.3. Liên doanh BP Petco 23 3.4. Shell 24 3.5. Caltex 25 3.6. Total 26 3.7. Các công ty trong nước khác 28 CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ, SO SÁNH SẢN PHẦM CỦA CÁC CÔNG TY 31 4.1. Giá thành 31 4.2. Chất lượng sản phẩm 33 4.3. Quy mô thị trường 34 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………..37 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………...38
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG……… 2
MỞ ĐẦU……….3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DẦU NHỜN 4
1.1 Lịch sử phát triển của dầu nhờn 4
1.2 Thành phần hóa học của dầu nhờn 4
1.3 Các chỉ tiêu cơ bản của dầu nhờn 10
1.4 Công dụng của dầu nhờn 12
CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG DẦU NHỜN VIỆT NAM 14
2.1 Thị trường dầu nhờn trong khu vực 14
2.2 Lịch sử phát triển của thị trường dầu mỡ nhờn tại Việt Nam 14
2.3 Sự cạnh tranh trên thị trường dầu nhờn hiện nay 16
CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CÁC CÔNG TY DẦU NHỜN TẠI VIỆT NAM 18
3.1 Công ty dầu nhờn Petrolimex (PLC) 18
3.2 Liên doanh Castrol Việt Nam 21
3.3 Liên doanh BP - Petco 23
3.4 Shell 24
3.5 Caltex 25
3.6 Total 26
3.7 Các công ty trong nước khác 28
CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ, SO SÁNH SẢN PHẦM CỦA CÁC CÔNG TY 31
4.1 Giá thành 31
4.2 Chất lượng sản phẩm 33
4.3 Quy mô thị trường 34
KẾT LUẬN……… 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 38
Trang 2DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Công thức hóa học tổng quát của dầu nhờn động cơ 2
Bảng 2.1 Nhu cầu dầu mỡ nhờn tại thị trường Việt Nam trên thị trường 2
Bảng 2.2 Công suất pha chế của một số doanh nghiệp năm 2000 2
Bảng 4.1 Giá bán một số sản phẩm của PLC 2
Bảng 4.2 Bảng giá dầu nhờn của hãng Castrol 2
Bảng 4.3 Bảng giá dầu nhờn động cơ của PV Oil Lube 2
Bảng 4.4 Bảng giá dầu nhờn động cơ hãng Caltex 2
Trang 3MỞ ĐẦU
Khi ngành công nghiệp chế biến dầu mỏ ra đời, sản phẩm chủ yếu tại các nhà máychế biến dầu mỏ là dầu hỏa, phần còn lại là mazut (chiếm 70 -90%) không được sử dụng vàcoi như là sản phẩm bỏ đi Nhưng sau đó khi công nghiệp phát triển, người ta tìm cách sửdụng dầu này vào mục đích có lợi Lúc đầu người ta lấy cặn dầu mở chưng cất pha thêm vàodầu thảo mộc hoặc mỡ lợn làm dầu bôi trơn Ít lâu sau người ta đã biết cách chế tạo ra dầunhờn
Lịch sử phát triển dầu nhớt Việt nam có thể bắt đầu từ 1952 tại Miền nam Việt nam.Khi Shell và Esso xây dựng nhà máy đầu tiên tại Phú Xuân, Nhà Bè Sài Gòn, hiện nay, là tàisản của Petrolimex Thời gian sau khi thống nhất, nhu cầu xăng dầu của nước ta do Liên Xôcung cấp Từ năm 1992 trở lại đây, khi thị trường mở cửa, các hãng dầu nhờn trên thế giớinhư BP, Castrol, Shell, Esso, Cartex, … đã bắt đầu thâm nhập thị trường Việt Nam
Những năm trước đó, việc kinh doanh loại sản phẩm này cũng đã có rồi song trongthời kỳ kinh tế tập trung bao cấp, đây là một thị trường mang tính độc quyền do Tổng Công
ty xăng dầu đảm nhiệm việc cung cấp, tính cạnh tranh là hầu như không có Cho tới nhữngnăm gần đây, thực hiện chính sách kinh tế mở, tốc độ phát triển kinh tế tăng mạnh kéo theo
sự phát triển mạnh của một số ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh trong đó có dầu mỡ nhờn.Việt Nam đang trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa, do đó thị trường dầu nhờn ởViệt Nam là một miếng bánh rất lớn thu hút rất nhiều những nhà đầu tư trong và ngoài nước,tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực này những năm gần dây
Bài tiêu luận này của em sẽ tìm hiểu về tình hình sản xuất, kinh doanh sản phẩm dầu
mỡ nhờn của các công ty tại Việt Nam Bài tiều luận gồm 4 phần
Chương 1: Tổng quan về dầu nhờn
Chương 2: Thị trường dầu nhờn Việt Nam
Chương 3: Tình hình sản xuất, kinh doanh dầu nhờn của các công ty ở Việt Nam Chương 4: So sánh, đánh giá các sản phầm dầu nhờn
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DẦU NHỜN 1.1 Lịch sử phát triển của dầu nhờn
Cách đây 100 năm, con người chưa có khái niệm về dầu nhờn Tất cả các loại máy móclúc bấy giờ đề được bôi trơn bằng dầu mỡ lợn và sau đó dùng dầu oliu (dầu cây) Khi dầuooliu, khan hiếm, thì người ta chuyển sang sử dụng của dụng các loại dầu thảo mộc khácKhi ngành công nghiệp chế biến dầu mỏ ra đời, sản phẩm chủ yếu tại các nhà máy chếbiến dầu mỏ là dầu hỏa, phần còn lại là mazut (chiếm 70 -90%) không được sử dụng và coinhư là sản phẩm bỏ đi Nhưng sau đó khi công nghiệp phát triển, người ta tìm cách sử dụngdầu này vào mục đích có lợi Lúc đầu người ta lấy cặn dầu mở chưng cất pha thêm vào dầuthảo mộc hoặc mỡ lợn làm dầu bôi trơn Ít lâu sau người ta đã biết cách chế tạo ra dầu nhờn.Năm 1870 – 1871, ở Creem (nga) đã bắt đầu chế tạo dược dầu nhờn từ dầu mỏ Nhà báchọc nổi tiếng Mendeleep là một trong nhưng người đầu tiên chú ý đến việc nghiên cứu sảnxuất dầu nhờn từ dầu mazut Sau đó dầu nhờn đã xuất hiện ở khắp các thị trường Pháp, Anh,
và các nước châu Âu, châu Mỹ và châu Á [1]
Tại Việt Nam những năm trước đây, nhu cầu xăng dầu của nước ta do Liên Xô cung cấp
Từ năm 1992 trở lại đây, khi thị trường mở cửa, các hãng dầu nhờn trên thế giới như BP,Castrol, Shell, Esso, Cartex, … đã bắt đầu thâm nhập thị trường Việt Nam Hiện nay, ngoàiPetrolimex là công ty cung cấp xăng dầu lớn nhất nước ta, còn rất nhiều công ty khác đangnhập sản phẩm về bán
1.2 Thành phần hóa học của dầu nhờn
Dầu nhờn là loại dầu dùng để bôi trơn cho các động cơ Dầu nhờn là hỗn hợp bao gồmdầu gốc và phụ gia, hay người ta thường gọi là dầu nhờn thương phẩm Phụ gia thêm vàovới mục đích là giúp cho dầu nhờn thương phẩm có được những tính chất phù hợp với chỉtiêu đề ra mà dầu gốc không có được [2]
1.2.1 Dầu gốc
Dầu gốc là dầu thu được sau quá trình chế biến, xử lý tổng hợp bằng các quá trình xử lývật lý và hóa học Dầu gốc thông thường gồm có ba loại là: dầu thực vật, dầu khoáng và dầutổng hợp Dầu thực vật chỉ dùng trong một số trường hợp đặc biệt Nó chủ yếu là phối trộn
Trang 5với dầu khoáng hoặc dầu tổng hợp để đạt được một số chức năng nhất định Nhưng ngàynay người ta thường sử dụng dầu khoáng hay dầu tổng hợp là chủ yếu Với tính chất ưu việtnhư giá thành rẻ, sản phẩm đa dạng và phong phú, dầu khoáng đã chiếm một vị trí quantrọng trong lĩnh vực sản xuất dầu nhờn, nhưng dầu tổng hợp cũng được quan tâm nhiều bởitính chất ưu việt của nó”
1.2.1.1 Các hợp chất hydrocacbon
a) Các hợp chất hydrocacbon napthen và paraffin Các nhóm hydro cacbon này được gọi chung là các nhóm hydrocacbon naphten-parafin Đây là nhóm hydrocacbon chủ yếu có trong dầu gốc, từ dầu mỏ Hàm lượng củanhóm này tuỳ thuộc vào bản chất của dầu mỏ và khoảng nhiệt độ sôi chiếm từ 41 đến 86 %.Nhóm hydro cacbon này có cấu trúc chủ yếu là hydro cacbon vòng naphten (vòng 5-6 cạnh),
có kết hợp các nhánh alkyl hoặc izo alkyl và số nguyên tử cacbon trong phân tử có thể từ 20đến 70 cấu trúc vòng có thể ở hai dạng: cấu trúc không ngưng tụ ( phân tử có thể chứa từ 1-
6 vòng), cấu trúc ngưng tụ ( phân tử có thể chứa từ 2-6 vòng ngưng tụ) Cấu trúc nhánh củacác vòng naphten này cũng rất đa dạng chúng khác nhau bởi một số mạch nhánh, chiều dàicủa mạch, mức độ phân nhánh của mạch và vị trí thế của mạch trong vòng Nhómhydrocarbon thơm và napthen thơm
Các hydrocacbon thơm ngoài khác nhau về số lượng vòng thơm, còn khác nhau bởi sốnguyên tử cacbon ở mạch nhánh và vị trí của nhánh trong nhóm này còn phát hiện sự có mặtcủa vòng thơm ngưng tụ đa vòng Một phần của chúng tồn tại ngay trong dầu gốc với tỷ lệtuỳ theo nguồn gốc của dầu mỏ còn một phần được hình thành trong quá trình chưng cất dophản ứng trùng ngưng, trùng hợp dưới tác dụng của nhiệt Một thành phần nữa trong nhómhydrocacbon thơm là một hydrocacbon hỗn hợp naphten-aromat Loại hydrocacbon này làmgiảm phẩm chất của dầu nhờn thương phẩm vì chúng có tính nhớt nhiệt kém và rất dễ bị oxyhoá tạo ra các chất keo nhựa trong qua trình làm việc của động cơ và máy móc
b) Nhóm hydrocacbon rắn Các hydrocacbon rắn có trong nguyên liệu sản xuất dầu nhờn đôi khi lên tới 40 tuỳthuộc bản chất của dầu thô Phần lớn các hợp chất này được loại khỏi dầu bôi trơn nhờ quy
Trang 6trình lọc tách parafin rắn Tuỳ theo kĩ thuật lọc mà nhóm hydrocacbon rắn được tách triệt đểhay không, nhưng dù sao chúng vẫn còn tồn tại trong dầu với hàm lượng rất nhỏ Sự có mặtcủa nhóm hydrocacbon này trong dầu nhờn làm tăng nhiệt độ đông đặc, giảm khả năng sửdụng dầu ở nhiệt độ thấp nhưng lại làm tăng tính ổn định của độ nhớt theo nhiệt độ và tính
Trong quá trình bảo quản và sử dụng, khi tiếp xúc với oxy không khí ở nhiệt độthường hoặc nhiệt độ cao, nhựa đều rất dễ bị oxy hoá tạo nên các sản phẩm có trọng lượngphân tử lớn hơn tuỳ theo mức độ bị oxy hoá Những chất này làm tăng cao độ nhớt và đồngthời tạo cặn không tan đọng lại trong các động cơ đốt trong, nếu hàm lượng chất nhựa bịoxy hoá càng mạnh thì chúng càng tạo ra nhiều loại cacbon, cacboit, cặn cốc, tạo tàn Vì vậyviệc loại bỏ các tạp chất nhựa ra khỏi phân đoạn dầu nhờn trong quá trình sản xuất là mộtkhâu công nghệ rất quan trọng
b) Các hợp chất chứa oxy, lưu huỳnh, nitoNhững hợp chất chứa S nằm lại trong dầu nhờn chủ yếu là lưu huỳnh dạng sunfua khiđược dùng để bôi trơn các động cơ đốt trong sẽ bị cháy tạo thành SO2 và SO3 gây ăn mòncác chi tiết động cơ Những hợp chất chứa oxy, chủ yếu là các hợp chất axit naphtenic cótrong dầu gây ăn mòn các đường ống dẫn dầu, thùng chứa làm bằng các hợp kim của Pb,
Cu, Zn, Sn, Fe Những sản phẩm ăn mòn này lại lắng đọng lại trong dầu, làm bẩn dầu vàgóp phần tạo cặn đóng ở các chi tiết của động cơ
Trang 7Tóm lại, các hơp chất phi hydrocacbon là những hợp chất có hại làm ảnh hưởng đếnchất lượng của dầu gốc Để tăng thời gian sử dụng, cũng như các tính năng sử dụng của dầunhờn người ta phải pha thêm vào dầu gốc các phụ gia khác nhau, tùy thuộc vào từng lĩnhvực cụ thể mà nhà sản xuất sẽ thêm vào các phụ gia tương ứng Do đó thành phần hoá họccủa dầu nhờn rất phức tạp Ví dụ theo [3] dầu nhờn động cơ sử dụng phổ biến trên thế giới
có công thức tổng quát như sau:
Bảng 1.1 Thành phần hóa học tổng quát của dầu nhờn động cơ
- Dễ hòa tan trong dầu
- Không hoặc ít hòa tan trong nước
- Không ảnh hưởng đến tốc độ nhũ hóa của dầu
- Không bị phân hủy bởi nước và kim loại
- Không bị bốc hơi ở điều kiện làm việc của hệ thống dầu nhờn
- Không làm tăng tính hút ẩm của dầu nhờn
- Hoạt tính có thể kiểm tra được
- Không độc, rẻ tiền, dễ kiếm
Các chất phụ gia được trộn vào dầu nhớt
Trang 81.2.2.1 Phụ gia tăng chỉ số nhớt
Phụ gia được sử dụng để làm tăng chỉ số số nhớt là các polymer tan được trong dầu cótác dụng tăng độ nhớt của dầu mỏ, nghĩa là làm cho tốc độ thay đổi độ nhớt của dầu theonhiệt độ giảm đi (tăng chỉ số độ nhớt) cũng như để tạo ra các loại dầu mùa đông Các phụgia này được chia làm hai nhóm: dạng hydrocacbon và dạng este
- Dạng hydrocacbon có các loại: copolymer etylen-Propylen, Polyizobutylen,copolymer styren- butadien do hydro hóa, copolymer styren-izopren
- Dạng ester gồm: polymetacrylat, polyacrylat và các copoly của ester styrenmaleic.Các chất cải thiện chỉ số độ nhớt được sủ dụng rộng rãi nhất hiện nay là các polymer củaetylen-propylen (có thể lên đến 10%) và polyizobutylen (hàm lượng nhỏ 0,2 – 0,5%)
1.2.2.2 Phụ gia chống oxy hóa
Phụ gia này nhằm mục đích làm chậm quá trình ôxy hóa của dầu (tăng độ bền ôxyhóa), khắc phục hiện tượng cháy vòng găng, giảm bớt hiện tượng ăn mòn chi tiết và tạo cặn
Có hai nhóm phụ gia chống ôxy hóa
1.2.2.3 Phụ gia tẩy rửa
Với nồng độ 2 – 10 %, các chất tẩy rửa có thể ngăn cản, loại trừ các cặn không tantrong dầu, cặn sạn, cacbon và các hợp chất chì trên các bộ phận của động cơ đốt trong.Chúng tác dụng bằng cách hấp thụ lên các hạt không tan, giữ chúng lại trong dầu nhằmgiảm tối thiểu cặn lắng và giữ sạch các chi tiết của động cơ Tác nhân quan trọng nhất cótính tẩy rửa là các phụ gia có chứa kim loại, chúng bao gồm: sunphonat, phenolat, salixylat.Phần lớn sunphonat, phenolat và salixilat của canxi hoặc magiê được sử dụng như các chấttẩy rửa chứa kim loại
1.2.2.4 Phụ gia ức chế ăn mòn
Là phụ gia có chức năng làm giảm thiểu việc tạo thành các peoxit hữu cơ, axit và cácthành phần ôxy hóa khác làm xuống cấp dầu động cơ, bảo vệ ổ đỡ và các bề mặt khác nhaukhỏi ăn mòn Có thể nói chất ức chế ăn mòn bổ sung trong thực tế có tác dụng như các chấtchống ôxy hóa Các phụ gia này bao gồm: di-thiophotphat kim loại (đặc biệt là kẽm);sunphonat kim loại và kim loại kiềm cao; và các tác nhân hoạt động bề mặt như các axitbéo, amin, axit ankylsuxinic, clo hóa parafin…
Trang 91.2.2.5 Phụ gia ức chế gỉ
Nếu như động cơ làm việc không có thời gian ngừng lâu thì dầu nhờn làm chức năngchống gỉ tương đối tốt vì khi động cơ ngừng trong thời gian ngắn thì dầu chưa kịp chảy hếtkhỏi các chi tiết Nhưng nếu động cơ ngừng lâu hoặc bảo quản lâu ngày thì xylanh, cổ trụckhuỷu và các chi tiết đánh bóng hoặc mài sẽ bị gỉ Gỉ là sự hình thành sắt hydroxit Fe(OH)2,
là một dạng đặc biệt quan trọng của ăn mòn trên mặt Có nhiều hợp chất được dùng để ứcchế rỉ như: các axit béo, các este của axit napteic và axit béo, các amin hữu cơ, các xà phòngkim loại của axit béo… thường pha vào dầu với tỷ lệ 0,1 – 1%
1.2.2.6 Phụ gia chống mài mòn
Mài mòn là sự tổn thất kim loại giữa các bề mặt chuyển động tương đối với nhau.Yếu tố chính gây mài mòn là do sự tiếp xúc giữa kim loại và kim loại (mài mòn dính) Sự cómặt của các hạt mài (mài mòn hạt) gây ra mài mòn là do ăn mòn hay mài mòn hóa học Đểchống lại sự mài mòn, cần thiết phải cho vào các phụ gia chống mài mòn gồm các nhóm hóachất có chứa hợp chất phôtpho, hợp chất lưu huỳnh, các dẫn xuất béo có khả năng bám dínhtrên bề mặt kim loại nhằm giảm bớt sự cọ xát, tỏa nhiệt trong quá trình làm việc Phụ giachống mài mòn thường có hàm lượng nhỏ khoảng 0,01%
1.2.2.7 Phụ gia biến tính, giảm ma sát
Phụ gia biến tính, giảm ma sát (FM) có chức năng làm tăng độ bền của màng dầu,giữ bề mặt kim loại tách rời nhau, ngăn không cho lớp dầu bị phá hoại trong điều kiện tảitrọng lớn và nhiệt độ cao
Phụ gia biến tính FM làm giảm hệ số ma sát, bảo tồn được năng lượng, tiết kiệmđược 2-3% nhiên liệu cho ôtô Phụ gia FM được sử dụng khi cần tạo ra chuyển động trượt
mà không có rung động và khi cần có hệ số ma sát nhỏ nhất
Phụ gia FM bao gồm nhiều loại hợp chất chứa ôxy, nitơ, lưu huỳnh, molipden, đồng
và các nguyên tố khác Các phhụ gia này làm tăng độ bền của màng dầu chủ yếu do hiệntượng hấp phụ vật lý, nhờ đó làm giảm ma sát Phụ gia này thường được pha với tỷ lệ 0,1 –0,3 %
Trang 101.2.2.8 Phụ gia hạ điểm đông đặc
Ở nhiệt độ thấp thì khả năng lưu động của dầu sẽ giảm, vì vậy cần pha các phụ gia hạđiểm đông đặc nhằm hạ thấp nhiệt độ đông đặc của dầu Cần cho thêm một ít parafin cólượng O.Razolin không quá 1%
1.3 Các chỉ tiêu cơ bản của dầu nhờn
1.3.1 Khối lượng riêng và tỷ trọng
Khối lượng riêng là khối lượng của một đơn vị thể tích của một chất ở nhiệt độ tiêuchuẩn, đo bằng gam/cm3 hay kg/m3 Tỷ trọng là tỷ số giữa khối lượng riêng của một chất
đã cho ở nhiệt độ qui định và khối lượng riêng của nước ở nhiệt độ qui định đó Do vậy tỷtrọng có giá trị đúng bằng khối lượng riêng khi coi trọng lượng của nước ở 40c bằng 1.Trong thế giới tồn tại các hệ thống đo tỷ trọng như sau , , Trong đó các chỉ số trên d là nhiệt
độ của dầu hay sản phẩm dầu trong lúc thí nghiệm, còn chỉ số dưới là nhiệt độ của nước khithử nghiệm Ngoài ra trên thị trường dầu thế giới còn sử dụng độ thay cho tỷ trọng và đượctính như sau:
= -131,5
Khối lượng riêng là một tính chất cơ bản và cùng với những tính chất vật lý khác nó cóđặc trưng cho từng loại phân đoạn dầu mỏ cũng như dùng để đánh giá phần nào chất lượngcủa dầu thô Đối với dầu bôi trơn, khối lượng riêng ít có ý nghĩa để đánh giá chất lượng.Khối lượng riêng của dầu đã qua sử dụng không khác nhau là mấy so với dầu chưa qua sửdụng
Trang 111.3.2 Độ nhớt của dầu nhờn
Độ nhớt của một số phân đoạn dầu nhờn là một đại lượng vật lý đặc trưng cho trở lực
do ma sát nội tại của nó sinh ra khi chuyển động Do vậy độ nhớt có liên quan đến khả năngbôi trơn của dầu nhờn Để thực hiện nhiệm vụ bôi trơn, dầu nhờn có độ nhớt phù hợp, bámchắc lên bề mặt kim loại và không bị đẩy ra ngoài có nghĩa là ma sát nội tại nhỏ
Khi độ nhớt quá lớn sẽ làm giảm công xuất máy do tiêu hao nhiều công để thắng trởlực của dầu, khó khởi động máy, nhất là vào mùa đông nhiệt độ môi trường thấp, giảm khảnăng làm mát máy, làm sạch máy do dầu lưu thông kém
Khi độ nhớt nhỏ, dầu sẽ không tạo được lớp màng bền vững bảo vệ bề mặt các chitiết máy nên làm tăng sự ma sát, đưa đến ma sát nửa lỏng nửa khô gây hư hại máy, giảmcông xuất, tác dụng làm kín kém, lượng dầu hao hụt nhiều trong quá trình sử dụng
Độ nhớt của dầu nhờn phụ thuộc chủ yếu vào thành phần hóa học Các hydrocacbonparafin có độ nhớt thấp hơn so với các loại khác Chiều dài và độ phân nhánh của mạchhydrocacbon càng lớn độ nhớt sẻ tăng lên Các hydrocacbon thơm và naphten có độ nhớtcao Đặc biệt số vòng càng nhiều thì độ nhớt càng lớn Các hydrocacbon hỗn hợp giữa thơm
và naphten có độ nhớt cao nhất
Độ nhớt của dầu nhờn thường được tính bằng Paozơ (P) hay centipaozơ(cP) Đối với
độ nhớt động lực được tính bằng stốc (St) hoặc centi stốc (cS t)
độ Quy ước dầu gốc parafin độ nhớt ít thay đổi theo nhiệt độ, VI=100
1.3.4 Độ ổn định oxy hóa của dầu bôi trơn
Độ ổn định của dầu bôi trơn biểu hiện khả năng cảu dầu chống lại những tác động bênngoài làm thay đổi chất lượng của dầu Dầu có ổn định cao khi thành phần hoá học và tính
Trang 12chất của nó ít thay đổi Thực tế nếu nhiệt độ không vượt quá 30-400 C thì có thể bảo quảndầu từ 5-10 năm mà chất lượng của dầu không thay đổi Sự thay đổi xảy ra trong điều kiện
sử dụng ở động cơ Dưới tác động của không khí, ở nhiệt độ cao 200-3000Ccó tác dụng xúctác kim loại, những thành phần kém ổn định của dầu sẽ tương tác với oxy tạo nên những sảnphẩm khác nhau và tích luỹ trong dầu, làm giảm chất lượng của dầu như tăng trị số axit tổng(TAN) làm tăng hàm lượng nhựa, tạo nhiều chất nhựa bám ở buồng cháy Sự thay đổi thànhphần sẽ làm thay đổi độ nhớt và làm giảm chỉ số độ nhớt của dầu
1.3.5 Kiểm nghiệm ăn mòn tấm đồng
Sự ăn mòn tấm đồng được định nghĩa như sự oxy hóa trên bề mặt các chi tiết, gây tổnthất cho kim loại hay sự tích tụ của các cặn bẩn Ổ trục làm bằng hợp kim đồng, ống lót trụclàm bằng đồng thau, các bộ phận chuyển động làm bằng đồng thau phải được bôi trơn cácloại dầu không ăn mòn Các loại dầu không quan trọng khác như dầu thuỷ lực, dầu hàngkhông, dầu biến thế, dầu cắt gọt kim loại cũng cần phải không gây ăn mòn Vì vậy để xemmột loại dầu có thích hợp cho thiết bị hay không có những kim loại dễ bị ăn mòn hay không,người ta phải tiến hành phép thử ăn mòn mảnh đồng đôí với sản phẩm dầu mỏ bằng phépkiểm nghiệm độ mờ xỉn của mảnh đồng hay kiểm tra chứng chỉ chất lượng của dầu để kếtluận được các tính chất ưu, nhược điểm của dầu
1.4 Công dụng của dầu nhờn
1.4.1 Công dụng làm giảm ma sát
Mục đích cơ bản của dầu nhờn là bôi trơn các bề mặt tiếp xúc của các chi tiết chuyềnđộng nhằm giảm ma sát Máy móc sẽ mòn ngay nếu không có dầu bôi trơn Nếu chọn đúngdầu bôi trơn thì hệ số ma sát sẽ giảm từ 100-1000 lần so với ma sát khô Khi cho dầu vàomáy với một lớp dầu đủ dày, dầu sẽ xen kẽ giữa hai bề mặt, khi chuyển động, chỉ có cácphần tử dầu nhờn trượt lên nhau Do đó máy móc làm việc nhẹ nhàng, ít bị mài mòn, giảmđược công tiêu hao vô ích
1.4.2 Công dụng làm mát
Khi có ma sát thì bề mặt kim loại nóng lên, như vậy một lượng nhiệt đã sinh ra trong quátrình làm việc, lượng nhiệt lớn hay nhỏ phụ thuộc vào hệ số ma sát, tải trọng, tốc độ Tốc độ
Trang 13càng lớn thì lượng nhiệt sinh ra càng nhiều, kim loại sẽ bị nóng làm cho máy móc dễ bịhỏng trong khi làm việc Nhờ trạng thái lỏng, dầu chảy qua các bề mặt ma sát đem theo mộtphần nhiệt truyền ra ngoài làm cho máy móc làm việc tốt.
1.4.3 Công dụng làm sạch
Khi làm việc, bề mặt ma sát sinh ra hạt kim loại mịn, những hạt rắn này sẽ làm cho bềmặt bị xước, hang Ngoài ra, có thể có cát, bụi tạp chất ở ngoài rơi vào bề mặt ma sát, nhờdầu nhờn lưu chuyển tuần hoàn qua bề mặt ma sát, cuốn theo các tạp chất đưa về cacte dầu
và được lắng lọc
1.4.4 Công dụng làm kín
Trong các động cơ, có nhiều chi tiết truyền động cầnphải kín và chính xác như pittông xilanh, nhờ khả năng bám dính tạo màng dầu nhờn có thể góp phần làm kín các khe hở,không cho hơi bị rò rỉ, bảo đảm cho máy móc làm việc bình thường
-1.4.5 Bảo vệ kim loại
Bề mặt máy móc, động cơ khi làm việc thường tiếp xúc với không khí, hơi nước bị thải,làm cho kim loại bị ăn mòn có thể làm thành màng mỏng phủ kín bề mặt kim loại nên ngăncách được với các yếu tố trên, vì vậy kim loại được bảo vệ
Trang 14CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG DẦU NHỜN VIỆT NAM 2.1 Thị trường dầu nhờn trong khu vực
Theo thống kê của Total, nhu cầu về các chất bôi trơn ở khu vực châu Á sẽ tăng 18%
và đạt 20 triệu tấn vào năm 2025, chiếm gần một nửa nhu cầu thế giới Trên cơ sở đó, cácngành công nghiệp dầu mỡ bôi trơn ở châu Á sẽ có mức tăng trưởng 2,5% hàng năm và đạtdoanh thu 70 tỷ USD vào năm 2020
Trong những năm qua, nhu cầu sử dụng dầu nhờn khoảng 3 triệu tấn/năm với mứtăng trưởng hàng năm từ 4 – 8% Song, so với các nước Đông Nam Á, nhu cầu nước ta làthấp, chỉ khoảng 0,04 tấn/năm/đầu người Ở Singapore con só này là 6.0, Hàn Quốc là 0.81,Thái Lan là 0.3 Trên thế giới hàng năm sử dụng và sản xuất khoảng40 triệu tấn mỡ bôi trơnước chừng khoảng 30 tỷ đô la mỹ Ở nước ta nhu cầu dầu bôi trơn chỉ khoảng 100000tấn/năm Trong đó dầu động cơ chiếm khoảng 60 – 70%, còn lại là dầu công nghiệp và cácloại dầu khác Nhu cầu sử dụng ở Miền Bắc 42%, miền Trung 13% và miền Nam là 45%.tăng trường hàng năm 3 – 7% [3]
2.2 Lịch sử phát triển của thị trường dầu mỡ nhờn tại Việt Nam
Lịch sử phát triển dầu nhớt Việt nam có thể bắt đầu từ 1952 tại Miền nam Việt Nam.Khi Shell và Esso xây dựng nhà máy đầu tiên tại Phú Xuân, Nhà Bè Sài Gòn, hiện nay, là tàisản của Petrolimex Thời gian sau khi thống nhất, nguồn dầu nhớt cũng chỉ được cung cấp
từ Liên xô
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng
12-1986, nền kinh tế bắt đầu mở cửa, ngành dầu nhớt có cơ hội phát triển bởi các liên doanhBP-Petrolimex, Shell-Vidamo bắt đầu xây dựng thương hiệu Các đơn vị kinh doanh nướcngoài phải thông qua các đơn vị nhà nước để thâm nhập vào nền kinh tế Dầu nhờn nhậpkhẩu (thực chất là dầu gốc có độ nhớt cao, không có phụ gia) bắt đầu hình thành nền thịtrường dầu nhớt Việt nam như Vilube, Mekonglube, Nikko ở phía nam và Petrolimex, APP
ở phía bắc Một giai đoạn chuyển tiếp quan trọng từ 1994 đến 2002, khi các tập đoàn nhưEsso, Total, Caltex chưa xây dựng được nhà máy tại Việt nam thì họ lại tìm cách xâm nhập
Trang 15thị trường bằng các gia công tại các nhà máy nội địa với các dòng sản phẩm động cơ, thủylực cơ bản.
Sự phát triển ngành dầu nhớt gắn liền với sự phát triển kinh tế trong một thời gian dài
10 năm với tốt độ phát triển GDP trung bình trên 9% Vận tải, công nghiệp… phát triển hìnhthành lên những nhãn hiệu riêng, nhờ sự giúp sức gia công của các nhà máy phía nam, bắtđầu từ 2008 Có sự hỗ trợ bởi giá dầu cao trong giai đoạn 2006-2011, nên giá dầu nhớt caodần định vị đối với các nhãn hiệu tên tuổi Một khoảng trống giá thấp bên dưới vẫn sốngkhỏe bởi các nhãn hiệu nội địa, nhãn hiệu riêng và cả “dầu cỏ” sản xuất từ dầu “tái sinh”qua quá trình “nấu” từ nhớt thải…ở các vùng ven
Bảng 2.2 Nhu cầu dầu mỡ nhờn tại thị trường Việt Nam trên thị trường [3]
Nguyên nhân chính của sự tăng vọt về nhu cầu dầu mỡ nhờn này là do có tốc độ pháttriển kinh tế nhanh kéo theo sự gia tăng của các loại thiết bị máy móc phương tiện có nhucầu bôi trơn Cho tới nay, theo thống kê sơ bộ, hiện nay nước ta có khoảng trên 8 triệu cácloại phương tiện máy móc, thiết bị có nhu cầu bôi trơn, trong đó dầu động cơ đã chiếm tới70%, và dầu công nghiệp chiếm khoảng 15% Theo thời giá khu vực hiện nay, ngoại tệ chitrả để nhập khẩu dầu nhờn hàng năm vào khoảng trên 100 triệu USD
Bảng 2.3 Công suất pha chế của một số doanh nghiệp năm 2000 [3]
Trang 16Shell 15.000 tấn/ năm
Thị trường dầu mỡ nhờn sẽ ngày càng trở nên sôi động hơn trong những năm tới đây,mức độ cạnh tranh giữa các công ty, các hãng sẽ gay gắt hơn
2.3 Sự cạnh tranh trên thị trường dầu nhờn hiện nay
Thị trường dầu nhờn nước ta đang bước vào thời kỳ sôi động Nhu cầu dầu mỡ nhờn sẽcòn tiếp tục tăng trong những năm tới và do vậy thị trường dầu mỡ nhờn vẫn sẽ phát triểnmạnh, kinh doanh loại sản phẩm này vẫn sẽ đem lại nhiều lợi nhuận và do vậy mức độ cạnhtranh ngày càng quyết liệt với sự có mặt của các hãng nổi tiếng trên thế giới và các doanhnghiệp trong nước Hiện nay trên thị trường đã có khoảng trên dưới 20 công ty tham gia thịtrường gồm cả các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữuhạn và các Công ty có vốn đầu tư của nước ngoài Đây là một thị trường tự do cạnh tranh,
sự can thiệp của Nhà nước hầu như là không có, khách hàng có thể tuỳ ý lựa chọn chủngloại cùng như các dịch vụ kỹ thuật thích hợp, giá sản phẩm do thị trường và các công ty tựquyết định Tuy nhiên, thị trường dầu mỡ nhờn cũng đã bộc lộ những khiếm khuyết lớn đòihỏi cần có sự quản lý của Nhà nước
Mặt khác, tình hình phổ biến của thị trường dầu mỡ nhờn hiện nay là sự thiếu hụt thôngtin về chất lượng, chủng loại dầu nhờn tại Việt Nam Các hãng kinh doanh ít đầu tư vào các dịch
vụ hướng dẫn kỹ thuật cho người tiêu dùng Do vậy phần đông người tiêu dùng sử dụng dầu mỡnhờn theo thói quen, hoặc theo lòng tin vào một mác nhãn hiệu nào đó
Được xem là một thị trường thứ cấp, thị trường dầu nhớt phụ thuộc đáng kể vào thịtrường sơ cấp là các loại hình phương tiện giao thông Do vậy, mỗi biến động trên thị trường
sơ cấp đều tác động trực tiếp đến thị trường thứ cấp là dầu nhớt, đến các doanh nghiệp sảnxuất và phân phối dầu nhớt
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, thị trường xe máy Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ.Theo ước tính, tại thời điểm năm 2006, tổng lượng xe máy khoảng 18,6 triệu chiếc Sau 10năm (tính đến 2015), lượng xe máy lưu hành trên cả nước khoảng 43 triệu chiếc Trong 3năm gần đây, tổng dung lượng thị trường xe máy thường ở mức xấp xỉ 3 triệu chiếc mỗinăm và trở thành 1 trong 4 thị trường xe máy lớn nhất thế giới bên cạnh Ấn Độ, Trung Quốc
và Indonesia
Trang 17Trên thực tế, các hãng dầu nhớt nổi tiếng thế giới cũng đã sớm hình dung ra “chiếcbánh” lớn mà thị trường Việt Nam mang lại Do đó, hầu hết các thương hiệu cũng đã nhanhchóng bước chân vào thị trường Việt Nam Chưa kể còn có thương hiệu nội địa cùng việcmột số liên doanh với các hãng sản xuất xe máy cũng phát triển loại nhớt riêng Hiện tại thịtrường Việt Nam hiện diện gần như đầy đủ các nhãn hiệu dầu nhớt lớn của thế giới nhưBP/Castrol, Shell, Chevron… Điều đáng nói hơn là các thương hiệu này đã có nhà máy sảnxuất tại Việt Nam để tiếp tục duy trì vị thế của mình.
Hiện thị trường cũng ghi nhận sự xuất hiện của những nhãn hiệu dầu nhớt riêng,trong đó đáng kể nhất là của các hãng chế tạo xe máy nổi tiếng như Honda, Yamaha… qua
sự xâm nhập thị trường Việt Nam của Nippon Oil với nhà máy tại Hải Phòng Ngoài pha chếnhãn hiệu dầu nhớt riêng cho Honda, Yamaha, Idemitsu… Nippon Oil còn có tham vọngxây dựng thương hiệu dầu nhớt Eneos tại Việt Nam
Năm 2014, thị trường có thêm sự xuất hiện của 2 nhà máy JX Nippon và Idemitsu tạiphía Bắc Nhà máy của JX Nippon Oil & Energy có công suất sản xuất 40.000 tấn/năm, còncủa Idemitsu là 15.000 tấn sản phẩm/năm Tổng cộng, khi hai nhà máy trên đi vào hoạt độngthì năng lực sản xuất, pha chế dầu nhớt nội địa sẽ ở mức 345.000 tấn sản phẩm/năm Hiệnchỉ có BP/Castrol là sử dụng hết công suất sản xuất (50.000 tấn sản phẩm/năm) của nhà máycủa mình, còn dây chuyền sản xuất của tất cả các nhãn hiệu còn lại đều thừa công suất
Theo ước tính của Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, tốc độ tăng trưởng của ngành dầunhớt Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2015 vào khoảng 4,3% Hiện sản lượng tiêu thụ đượcphân bố chủ yếu ở các thành phố lớn và các vùng kinh tế trọng điểm xung quanh Hà Nội vàTP.HCM Với 55% sản lượng tiêu thụ tập trung ở phía Nam, 30% ở phía Bắc và 15% ở miềnTrung và Tây Nguyên, dễ dàng nhận thấy các nhà máy pha chế dầu nhớt của ShellL,BP/Castrol, Total/Mobil, Petrolimex, Vilube/Motul… nằm ở phía Nam, còn Chevron(Caltex), APP và Idemitsu thì có các dự án xây dựng nhà máy tại phía Bắc
Trang 18CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CÁC CÔNG TY DẦU NHỜN
TẠI VIỆT NAM 3.1 Công ty dầu nhờn Petrolimex (PLC)
Tổng Công ty Hóa dầu Petrolimex – CTCP, tiền thân là Công ty Dầu nhờn được thànhlập ngày 09/06/1994 theo Quyết định số 745/TM/TCCB của Bộ Thương Mại Ngày23/12/2003 của Bộ Thương mại là công ty thành viên của Tổng Công ty Xăng dầu ViệtNam Ngày 31/12/2003 Công ty đã tổ chức Đại hội đồng cổ đông thành lập Công ty CP Hóadầu Petrolimex
Năm 2014, PLC báo cáo sản lượng tiêu thụ 55 ngàn Tấn sản phẩm, lợi nhuận ròng (sauthuế) khoảng 8.5 triệu USD (Theo bảng cáo bạch, PLC là một doanh nghiệp niêm yết trênsàn chứng khoán) Thế mạnh của PLC là các quan hệ với các công ty có nguồn gốc “quốcdoanh” và hệ thống hơn 2.000 cây xăng bán lẻ trên toàn quốc PLC vẫn có ưu thế trong cácdòng dầu nhớt động cơ CC/SC, CD…nhưng PLC cũng đã mạnh dạn đầu tư nhiều chothương hiệu dầu nhớt cao cấp với dòng CI4, SM cho động cơ PLC thật sự được ưa chuộngtại miền Trung, Tây nguyên và phía Bắc với phân khúc MCO Thương hiệu ELF Lubmarine
đã được chuyển giao lại cho Total, tuy vậy, Lubmarine vẫn được sản xuất và kinh doanh tạiPLC cũng chiếm một thị phần đáng kể trong phân khúc marine (dầu hàng hải) tại Việt nam
Từ khi Castrol rút lui khỏi phân khúc Dầu Biến thế (Transformer Oil) thì PLC nổi lên lànhà nhập khẩu và kinh doanh dầu biến thế lớn nhất PLC thừa hưởng tất cả các thế mạnh đểlàm một thương hiệu mạnh: kỹ thuật từ BP Petco., hạ tầng kỹ thuật 2 nhà máy tại Phía Bắc
và Nam (Shell trước 1975), tài chính mạnh, hệ thống bán lẻ với 5.000 điểm trên toàn quốc.Thế nhưng là một công ty có nguồn gốc quốc doanh được cổ phần hoá, ngân sách đầu tưcho marketing chưa tương xứng với tiềm năng đó, nhưng dù sao PLC cũng là một ngôi saosáng trong bối cảnh “đất chật, người đông” [4]
3.1.1.1 Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty PLC.
- Kinh doanh các loại dầu mỡ nhờn và các sản phẩm hoá dầu gồm các sản phẩm
Dầu nhờn các loại
Mỡ máy và các loại mỡ bảo quản
Trang 19 Nhựa đường lỏng và nhựa đường phuy
Hoá chất và các sản phẩm hoá dầu khác (trừ nhiên liệu)
- Nhập khẩu, pha chế, bán buôn bán lẻ trên thị trường trong nước va xuất khẩu ra thịtrường nuớc ngoài
- Kinh doanh các thiết bị vật tư kỹ thuật chuyên dùng tronglĩnh vực dầu mỡ nhờn vàcác sản phẩm hoá dầu
- Kinh doanh vận tải phục vụ cho việc bán sản phẩm trên thị trường trong và ngoàinước
3.1.1.2 Các đơn vị trực thuộc công ty
Công ty Dầu nhờn có 3 chi nhánh trực thuộc tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,Hải Phòng và một xí nghiệp tại Hà Nội (Xí nghiệp Dầu nhờn tại Hà Nội)
Chi nhánh Dầu nhờn Thành phố Hồ chí Minh là đơn vị trực thuộc lớn nhất của công
ty Tại chi nhánh này công ty có hệ thống kho cảng làm nhiệm vụ tiếp nhận nguồn hàngnhập khẩu của công ty, có một dây chuyền công nghệ pha chế dầu nhờn với công suất25.000 tấn/năm và dây chuyền công nghể sản xuất, hệ thống bồn bể tồn chứa và cung cấpnhựa đường lỏng với sức chứa 6.000 m3
Chi nhánh Dầu nhờn Thành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động sảnxuất kinh doanh theo nhiệm vu do công ty giao cho trên địa bàn từ tỉnh Khánh Hoà đến Mũi
Cà Mau
Chi nhánh Dầu nhờn Đà Nẵng: Có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động kinh doanh củacông ty dầu nhờn tại các tỉnh thuộc khu vực miền Trung Có hệ thống kho bãi cảng biển tiếpnhận dầu nhờn và nhựa đường phuy
Chi nhánh Dầu nhờn Hải Phòng có dây chuyền công nghệ tiếp nhận nhựa đườnglỏng, hoá chất Nơi đây là đầu mối nhập khẩu trực tiếp và tiếp nhận nguồn hàng pha chế từthành phố Hồ chí Minh đảm bảo nhiệm vụ kinh doanh cho công ty tại các tỉnh phía Bắcthuộc khu vực duyên hải từ Quảng Ninh đến Nghệ Tĩnh
Xí nghiệp dầu nhờn Hà nội với hệ thống kho bãi để tiếp nhận nguồn hàng, xí nghiệpdầu nhờn Hà nội có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động kinh doanh của công ty tại thành phố