Nhóm sắc tố xanh lục - Clorophin Đây là nhóm sắc tố có vai trò quan trọng nhất đối với quang hợp, vì nó có khả năng hấp thụ trực tiếp ánh sáng và biến năng lượng hấp thụ được - năng lượn
Trang 1Thực hành sinh lí
thực vật
(Tài liệu phục vụ huấn luyện học sinh giỏi dự thi Olympic Sinh học)
Phần 1 : Các phương pháp tách chiết sắc tố từ thực vật
1 Các sắc tố quang hợp, tính chất
và vai trò của chúng
Bằng các phương pháp sắc kí và
Trang 2quang phổ hiện đại, ngày nay đã phân biệt 4 nhóm sắc tố tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình quang
hợp ở thực vật và vi khuẩn quang
hợp Đó là các nhóm sắc tố trong
màng tilacoit: nhóm clorophin, nhóm carotenoit, nhóm phycobilin và nhóm sắc tố trong dịch tế bào: nhóm
antoxianin
1.1 Nhóm sắc tố xanh lục -
Clorophin
Đây là nhóm sắc tố có vai trò quan
trọng nhất đối với quang hợp, vì nó có khả năng hấp thụ trực tiếp ánh sáng và biến năng lượng hấp thụ được - năng lượng vật lí thành năng lượng dự trữ trong các hợp chất hữu cơ - năng
lượng hoá học Các nhóm sắc tố khác không làm được chức năng đầy đủ và
Trang 3trực tiếp như vậy
Có nhiều loại clorophin và sự khác
nhau giữa chúng chỉ ở một số chi tiết
về cấu tạo và sau đó là về điểm cực
đại trong quang phổ hấp thụ ánh sáng
Về cấu tạo chung của clorophin, ta
chú ý đến các đặc điểm sau: phân tử clorophin có 4 nhân pyron liên kết với nhau bằng các cầu nối metyl ( - CH = ) để tạo nên vòng porphyrin có
nguyên tử Mg ở giữa liên kết với 4
nguyên tử N của các nhân pyron, có hai nguyên tử H ở nhân pyron thứ tư, nhân này nối với gốc rượu phyton và
có vòng cyclopentan ở nhân pyron thứ
ba với một nguyên tử oxi
Sau đây là công thức tổng quát của
clorophin a và clorophin b:
Clorophin a: C55H72O5N4Mg
Clorophin b: C55H70O6N4Mg
Trang 4Nhìn vào công thức cấu tạo (trong
sách giáo khoa t), ta thấy trong phân
tử clorophin có nhiều nối đôi cách
đều Đó là kiểu nối đôi cộng đồng - kiểu nối đôi thể hiện khả năng hấp thụ mạnh năng lượng ánh sáng và dễ dàng
bị kích thích bởi ánh sáng, cũng như
dễ dàng chuyển năng lượng ánh sáng hấp thụ được cho các phản ứng quang hoá
Về một số tính chất hoá học và vật lí của clorophin:
a Clorophin không tan trong nước, chỉ tan trong các dung môi hữu cơ Vì vậy khi muốn tách clorophin ra khỏi
lá, bắt buộc phải dùng một dung môi hữu cơ như: ête, cồn hay axeton, …
Trang 5b Clorophin là este của axit
dicacboxilic: C32H30ON4Mg(COOH)2 với hai loại rượu là phyton: C20H39OH
và metanol: CH3OH, nên công thức của clorophin có thể viết như sau:
C32H30ON4Mg
COOC20H39
và khi tác dụng với bazơ sẽ xảy ra
phản ứng xà phòng hoá tạo thành
muối clorophinat vẫn có màu xanh Ngược lại khi tác dụng với axit thì
Mg bị H thay thế và hình thành một hợp chất kết tủa có màu nâu
pheophytin
Nếu cho pheophytin tiếp tục tác dụng với một kim loại khác thì kim loại này lại thay thế vị trí của Mg và tạo thành một hợp chất cơ-kim (hữu cơ - kim
loại) có màu xanh rất bền
Trang 6c Sự mất màu của clorophin:
Clorophin trong tế bào không bao giờ
bị mất màu, trừ trường hợp bị phân huỷ trong quá trình hoá già của cơ
quan, cơ thể Bởi vì clorophin nằm
trong phức hệ cáu trúc chặt chẽ với protein và lipoit Nhưng dung dịch
clorophin ngoài ánh sáng và trong
môi trường có O2 thì sự mất màu xảy
ra do clorophin bị oxi hoá dưới tác
dụng của ánh sáng:
Clorophin + hv => Clorophin* (trạng thái kích thích)
Clorophin* + O2 > ClorophinO2
(trạng thái oxi hoá, mất màu)
d Hiện tượng huỳnh quang và lân
quang của clorophin
Khi chiếu ánh sáng vào dung dịch sắc
tố rút từ lá xanh và bằng phương pháp
Trang 7đo huỳnh quang, lân quang, ta thấy
dung dịch này có hiện tượng huỳnh
quang và lân quang Điều đó chứng tỏ
có hiện tượng truyền năng lượng giữa các phân tử clorophin và các loại sắc
tố với nhau Năng lượng của các
photon ánh sáng được clorophin hấp thụ đã kích thích các phân tử
clorophin và các dạng của các phân tử sắc tố đã truyền năng lượng cho nhau tạo nên hiện tượng huỳnh quang và
lân quang (Huỳnh quang là hiện
tượng phát sáng khi chiếu sáng vào
sắc tố và sự phát sáng này tắt ngay khi nguồn chiếu sáng tắt Lân quang là
hiện tượng phát sáng khi chiếu sáng vào sắc tố và sự phát sáng này không tắt ngay khi nguồn sáng đã tắt)
Trang 8e Quang phổ hấp thụ của clorophin Trong bước sóng ánh sáng nhìn thấy (400 nm - 700 nm), có hai vùng hấp thụ của clorophin: vùng xanh tím (430 nm) và vùng đỏ (680nm) Màu xanh đặc trưng của clorophin và cũng là
màu xanh của lá cây chính là kết quả của sự hấp thụ hai vùng quang phổ
xanh tím và đỏ này Vì phổ ánh sáng nhìn thấy (ánh sáng trắng) gồm các
vùng ánh sáng: đỏ, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím Các sắc tố của lá cây hấp thụ các vùng ánh sáng ở đầu và cuối của phổ ánh sáng nhìn thấy để lại ánh sáng vùng lục không hấp thụ
(phản xạ hoặc xuyên qua) Ánh sáng màu lục đập vào mắt ta khi ta nhìn
vào lá cây và thấy lá cây có màu xanh lục (Hình 2)
f Clorophin tham gia trực tiếp vào
Trang 9quá trình quang hợp
Năng lượng tích luỹ được bởi
clorophin khi hấp thụ ánh sáng được chuyển trực tiếp cho các phản ứng
quang hoá để quang phân li H2O giải phóng O2, H+ và electron và sau đó
hình thành 2 sản phẩm vô cùng quan trọng của pha sáng là ATP và
NADPH
1.2 Nhóm sắc tố vàng - Carotenoit Đây là nhóm sắc tố có các màu từ
vàng đến tím đỏ Chúng được cấu tạo theo mạch nối đôi thẳng, gồm 40
nguyên tử C và 56 nguyên tử hidro
(C40H56)
Nhóm carotenoit được chia thành 2 nhóm nhỏ theo cấu trúc hoá học:
Caroten và Xanthophin
* Caroten - C40H56 là một cacbuahidro
Trang 10chưa bão hoà, không tan trong nước
mà chỉ tan trong các dung môi hữu cơ Công thức cấu tạo gồm một mạch
cacbon dài gồm 8 gốc izopren và hai đầu là một hoặc hai vòng ionon
Trong thực vật thường có 3 loại
caroten: anpha, beta, gama caroten
Cắt đôi phân tử beta caroten ta được hai phân tử vitamin A Bước sóng hấp thụ cực đại của caroten ở 446 - 467
nm
* Xanthophin - C40H56On (n : 1- 6) là dẫn xuất (dạng oxi hoá) của caroten
Vì oxi từ 1 đến 6 nên có nhiều loại
xanthophin: Cripthoxanthin (C40H56O ), Lutein (C40H56O2), Violaxanthin
(C40H56O4) Các nguyên tử oxi liên
kết trong các nhóm: hidroxy, cacboxy, axetoxy, metoxy, epoxy,…
Bước sóng hấp thụ của cực đại của
Trang 11xanthophin ở 451 - 481 nm
Người ta còn phân chia nhóm
carotenoit thành hai nhóm nhỏ theo tính chất sinh học:
• Nhóm carotenoit sơ cấp: làm
nhiệm vụ quang hợp hoặc bảo vệ
• Nhóm carotenoit thứ cấp: có trong các cơ quan nh ư: hoa, quả, các cơ
quan hoá già hoặc bị bệnh khi thiếu dinh dưỡng khoáng Chính nhóm này
là nguồn cung cấp vitamin A cho
chúng ta, khi ăn các loại hoa, quả có màu đỏ như: ớt, cà chua, bí ngô, đu
đủ, gấc, …
Về vai trò của nhóm carotenoit, cho đến nay mới chỉ biết như sau:
+ Hấp thụ ánh sáng và bảo vệ
clorophin khi ánh sáng quá cao
+ Xanthphin tham gia quá trình giải phóng oxi thông qua sự biến đổi từ
Trang 12violaxanthin (C40H56O4) thành lutein (C40H56O2)
+ nhóm carotenoit sơ cấp tham gia
vào quá trình quang hợp bằng cách
hấp thụ năng lượng ánh sáng và
truyền năng lượng ánh sáng này cho clorophin và nó có mặt trong hệ thống quang hoá II Như vậy nhóm
carotenoit tham gia gián tiếp vào chức năng quang hợp
+ nhóm carotenoit thứ cấp là nguồn cung cấp vitamin cho cơ thể
Về sự hình thành nhóm carotenoit, có giả thuyết cho rằng: có sự hình thành nhóm carotenoit từ sản phẩm phân
huỷ clorophin ở những cơ quan hoá già hoặc thiếu dinh dưỡng khoáng
Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã phủ nhận giả thuyết này
Trang 131.3 Nhóm sắc tố của Tảo - nhóm
phycobilin
Nhóm sắc tố này rất quan trọng đối với các nhóm thực vật thuỷ sinh sống
ở các vùng nước sâu Đó là nhóm sắc
tố ưa nước, trong tế bào chúng liên
kết với protein nên có tên gọi là
biliprotein hay phycobiliprotein, gồm phycoerythrin (C34H47N4O8) và
phycoxyanin (C34H42N4O9)
Công thức cấu tạo của nhóm sắc tố
này gồm 4 vòng pyron xếp thẳng
(không khép kín) nối với nhau bằng các cầu nối methyl (- CH=)
Quang phổ hấp thụ của nhóm sắc tố này ở vùng ánh sáng màu lục và vàng Phổ hấp thụ cực đại trong dung dịch cloroform của phycoerythrin là 505
nm và của phycoxyanin là 612 nm
Về vai trò của nhóm sắc tố
Trang 14phycobilin: Đã xác nhận rằng: năng lượng ánh sáng do phycobilin hấp thụ được chuyển đến nhóm clorophin để
sử dụng cho quá trình quang hợp với hiệu suất rất cao
Chính vì vậy sự có mặt của nhóm sắc
tố này trong Tảo là sự thích nghi trong quá trình tiến hoá của nhóm thực vật
ở nước
Quá trình sinh tổng hợp nhóm
phycobilin hiện nay chưa biết rõ về
các enzim và các sản phẩm trung
gian
1.4 Nhóm sắc tố dịch bào - Nhóm
antoxianin
Ngoài các nhóm sắc tố làm nhiệm vụ trực tiếp và gián tiếp trong quá trình quang hợp, trong cây xanh còn có các sắc tố dịch bào với các màu sắc khác
Trang 15nhau: đỏ, xanh, tím, …hợp thành
nhóm sắc tố antoxianin
Antoxianin là nhóm sắc tố thuộc loại glucozit trong đó gốc gluco hay gốc gamno liên kết với nhóm màu
agliucon Antoxianin có cấu tạo giống với flavon và catexin
Về vai trò của nhóm antoxianin:
Trong phần lớn trường hợp, quang
phổ hấp thụ của antoxianin bổ sung cho quang phổ hấp thụ của clorophin
Do đó nó tham gia gián tiếp vào quá trình quang hợp Mặt khác khi hấp thụ năng lượng ánh sáng, nó biến năng
lượng photon thành dạng nhiệt năng, sưởi ấm cho cây Điều này giải thích tại sao những hoa vùng lạnh lại có
màu sắc sặc sỡ và tại sao trong đợt gió mùa đông bắc bèo hoa dâu ở ta từ
màu xanh chuyển sang màu tím
Trang 16Antoxianin còn liên quan đến hoạt
động của khí khổng Tóm lại nhóm sắc tố antoxianin trước hết có vai trò tạo nên màu sắc của cánh hoa, đài
hoa, lá đài, sau nữa là nhóm sắc tố thể hiện khả năng chống chịu (chịu rét, chịu hạn, chịu thiếu dinh dưỡng
khoáng,…) và sau cùng là tham gia gián tiếp trong quá trình quang hợp