1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Giáo trình sinh lý động vật

80 28 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sinh Lý Máu
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Sinh Lý Động Vật
Thể loại Bài Giảng
Năm xuất bản 2007
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 : SINH LÝ MÁU I. VAI TRÒ CÙA MÁU II. HUYẾT TƯƠNG III. HỒNG CẦU IV. BẠCH CẦU V. TIỂU CẦU Máu là một chất lỏng màu đỏ lưu thông trong hệ tuần hoàn, thuộc loại mô liên kết đặc biệt có chất cơ bản là huyết tương và tế bào máu gồm có hồng cầu , bạch cầu và tiểu cầu. 1.Ðặc điểm lý hóa : Ðộ quánh gấp 5 lần nước cất. Ðộ quánh này phụ thuộc vào lượng huyết cầu và prôtein trong huyết tương . Tỉ trọng máu toàn phần lớn hơn nước, phụ thuộc vào số lượng hồng cầu và mỗi loài động vật (bảng mô tả phía dưới( Bảng 1. Tỉ trọng máu của một sốì loài động vật Người Việt Nam, tỉ trọng riêng của hồng cầu là 1,090 và của huyết tương là 1,028. I. VAI TRÒ CỦA MÁU TOP Sinh ly mau Page 1 of 11 http:www.ctu.edu.vncoursewaressuphamsinhlydongvatchuong1.htm 7162007Bảng 2. Tỉ trọng máu của một sốì loài động vật Áp xuất thẩm thấu của máu toàn phần bằng 7,5 atmotphe, chủ yếu do muối khoáng trong máu tạo ra. Protein trong huyết tương chỉ tạo một phần nhỏ gọi là áp xuất keo có trị số 25 mmhg, tuy nhỏ nhưng nó quyết định sự phân phối nước cho cơ thể . Máu là nguồn gốc tạo các dịch lỏng khác như : Dịch bạch huyết, dịch kẽ tế bào, dịch não tủy, dịch màng bụng, màng phổi, màng khớp...Tất cả các dịch đó tạo thành nội môi , trong đó máu là thành phần quan trọng nhất . 2. Chức năng của máu Chức năng hô hấp : máu vận chuyển O2 từ phổi đến các tế bào và CO2 từ tế bào về phổi . Chức năng dinh dưỡng: các chất dinh dưỡng như axit amin, glucose, axit béo và vitamin được hấp thu từ ống tiêu hóa vào máu và được máu vận chuyển đến các mô cung cấp cho hoạt động sống của tế bào . Chức năng đào thải: máu lấy các chất cặn bã, các sản phẩm chuyển hóa của tế bào, CO2 từ các mô chuyển đến thận, phổi ... để bài tiết ra ngoài . Chức năng bảo vệ: nhờ qúa trình thực bào và qúa trình miễn dịch của các bạch cầu . Chức năng điều nhiệt: máu làm nhiệm vụ vận chuyển nhiệt, giữ nhiệt độ cơ thể chỉ thay đổi trong một phạm vi hẹp. Máu điều nhiệt nhờ các đặc tính như tỉ nhiệt của nước, khả năng dẫn nhiệt cao ... 3.Thành phần của máu Ðể máu trong ống nghiệm có thêm chất kháng đông rồi để lắng hoặc quay li tâm, máu sẽ phân làm 2 lớp, lớp trên là huyết tương màu vàng nhạt (55 60% thể tích máu ), phía dưới Sinh ly mau Page 2 of 11 http:www.ctu.edu.vncoursewaressuphamsinhlydongvatchuong1.htm 7162007là hồng cầu màu đỏ thẫm, phủ 1 lớp mỏng bạch cầu và tiểu cầu ( 40 45% thể tích máu ). Hình 1.1. Thành phần máu lắng 1. Thành phần : Nước: chiếm khoảng 90%, là dung môi cơ bản để hòa tan các chất . Các chất hòa tan: gồm các ion vô cơ và muối, protein huyết tương, các chất dinh dưỡng hữu cơ, các sản phẩm có nitơ, các sản phẩm đặc biệt được chuyên chở và các khí hòa tan. Protein huyết tương: chiếm 79% trọng lượng huyết tương gồm 3 loại chính : fibrinogen, albumin, globulin, hầu hết được tổng hợp từ gan. Các protein này có vai trò quan trọng trong việc xác định áp xuất thẩm thấu, sự trao đổi chất, cân bằng nước, ổn định pH và kiểm soát độ nhớt của huyết tương. Thêm vào đó fibrinogen và 1 số globulin có vai trò trong sự đông máu, một số globulin khác tham gia phản ứng miễn nhiễm. Các chất hữu cơ trong huyết tương: bao gồm glucose, các chất béo, phospholipid, acid amin, acid lăctic và cholesteron. Một số được hấp thu từ ruột, một số đi vào máu từ gan. Axit lactic là sản phẩm của sự đường phân, chúng được chuyên chở từ máu vào gan, tại đây một số được dùng để tái tổng hợp carbohydrat, một số sau đó được oxit hóa thành CO2 và H2O. Cholesteron là tiền chất của hầu hết các hợp chất steroid quan trọng trong cơ thể. Các chất thải có nitơ: chủ yếu dưới dạng urea, 1 số ít amonia và acid uric, chúng được chuyển qua đường thận . Các sản phẩm chuyên chở: đặc biệt là hormon, có vai trò quan trọng trong việc điều khiển các chức năng sống. Các chất khí hòa tan: Nitơ được khuếch tán từ phổi vào máu, chúng trơ về mặt sinh lí. O2 được hòa tan đưới dạng oxyhemoglobin và CO2 được hòa tan dưới dạng axit carbonic . 2. Áp xuất thẩm thấu ASTT của máu: Áp xuất thẩm thấu của máu ở các loài thú do các muối trong huyết tương tạo nên II. HUYẾT TƯƠNG TOP Sinh ly mau Page 3 of 11 http:www.ctu.edu.vncoursewaressuphamsinhlydongvatchuong1.htm 7162007(chủ yếu là Nacl ) , ở người khoảng 7,6 8,1 Atmotphe. Khi pha chế dung dịch sinh lí cần đảm bảo thẩm áp tương đương của máu đem pha chế. Sự ổn định ASTT máu có ý nghĩa sinh lý quan trọng. Nếu ASTT của hồng cầu và huyết tương bằng nhau hồng cầu giữ nguyên hình dạng và kích thước. Trong dung dịch nhược trương, có áp xuất thẩm thấu thấp hơn ASTT của hồng cầu, nước sẽ thấm vào trong hồng cầu làm bể hồng cầu. Trong dung dịch ưu trương, có áp xuất thẩm thấu cao hơn ASTT của hồng cầu, nước trong hồng cầu sẽ thấm ra ngoài, hồng cầu bị teo lại và cũng bị hủy. Như vậy trong cả 2 trường hợp máu đều bị phá hủy Ðó là hiện tượng tiêu huyết. Hiện tượng tiêu huyết còn xảy ra khi máu tiếp xúc với clorofooc, ether, cồn, tia cực tím, tia X, các chất phóng xạ, độc tố của vi trùng , giun sán, nọc nhện, ong, bọ cạp, rắn độc... Cân bằng ion trong máu: Ðể các tế bào máu không bị phá hủy, khi đặt chúng trong môi trường khác máu của chúng, ta có thể pha dung dịch sinh lí với các muối Nacl, glucose, sucrose có ASTT tương đương với ASTT máu của mỗi lòai động vật. Tuy nhiên muốn các dung dịch đó duy trì sự sống thay máu đến một mức nào đó, cần thêm một tỉ lệ nhất định các chất hòa tan như các ion: Na+, K+, Ca2+.v.v.. Thành phần khác nhau của một số dung dịch đã tạo nên tên gọi khác nhau của các dung dịch sinh lí như: Ringer, lock, tyrod. Nồng độ dung dịch muối NaCl làm cho hồng cầu bắt đầu vỡ đó là nồng độ tiêu huyết giới hạn , tương ứng với sức đề kháng tối thiểu của hồng cầu. Ở nồng độ mà toàn bộ hồng cầu bị phá vỡ ứng với sức đề kháng tối đa. Aïp xuất thẩm thấu máu của động vật có vú tương đương với dung dịch muối 0,9%, của động vật biến nhiệt là 0,65%. 3. Phản ứng máu: Sinh ly mau Page 4 of 11 http:www.ctu.edu.vncoursewaressuphamsinhlydongvatchuong1.htm 7162007Thành phần có hình chủ yếu của máu là hồng cầu. Kích thước hồng cầu thay đổi tùy loài và không tỉ lệ với kích thước của động vật (Hình 1.2). Hồng cầu người Việt nam dày khoảng 2 3 micromet, đường kính 7,45 7,47 micromet. Tổng toàn bộ diện tích hồng cầu khoảng 3.000 3200 m2 (Lớn hơn 1.600 lần diện tích da). Hồng cầu động vật bậc cao đều mất nhân, nhờ đó có chỗ chứa Hb. Hình 1.2. Tỉ lệ kích thước hồng cầu một số động vật Hình 1.3. Cấu trúc nhóm Hem 1. Số lượng, thành phần: Số lượng hồng cầu thay đổi tùy loài, được tính bằng triệumm3 máu. III. HỒNG CẦU TOP Sinh ly mau Page 5 of 11 http:www.ctu.edu.vncoursewaressuphamsinhlydongvatchuong1.htm 7162007Bảng 3. Số lượng hồng cầu của một sốì loài động vật (triệumm3) Hồng cầu chứa 63,3% là nước, 36,7% chất đặc Trong đó có 95% là huyết sắc tố hemoglobin (Hb( đảm nhận chức năng sinh lý chủ yếu của hồng cầu. Trong 100 mml máu người Việt Nam có khoảng 13,83g Hb, máu các động vật thường ít hơn: Heo: 11,512,2; Trâu: 6,510; Bò: 12; Gà: 12,7; vịt: 13,5. Hb là hợp chất dễ tan trong nước, gồm 1 phân tử globin kết hợp với 4 phân tử hem, mỗi phân tử hem gồm 4 nhóm pyrol chứa nitơ, giữa là Fe có hóa trị 2 (Hình 1.3). Một phân tử Hb có thể gắn với 4 phân tử oxy. Ðây là phản ứng gắn oxy vào nguyên tử Fe++, chứ không phải là phản ứng oxy hóa, nên sắt vẫn có hóa trị 2. Trung bình 100ml máu có 13,38 16 g Hb gắn tối đa 20 ml oxy. Hem còn phản ứng với Nacl tạo thành clorua hem, gọi là Hemin. Phản ứng này được dùng trong y học pháp lý tìm các vết máu khô, chỉ cần nhỏ muối ăn và dấm acetic lên hiện vật, rồi hơ qua lửa, nếu đúng là máu, sẽ xuất hiện những tinh thể Hemin màu đỏ nâu, thấy được dưới kính hiển vi. Ðộng vật khác nhau, có nhóm hem giống nhau nhưng globin thì khác, nên tinh thể Hemin khác nhau, có thể đoán được máu của loài nào. Sắc tố Hb dùng để xây dựng mọi sắc tố trong cơ thể ( da, nước tiểu, phân...). Trong hồng cầu còn chứa một số enzim quan trọng như: anhydraza cacbonic, catalaza và một số muối khoáng chủ yếu là kali. 2. Nhóm máu và sự truyền máu: Năm 1900 Landsteiner và cộng sự nhận thấy hiện tượng ngưng kết hồng cầu còn xảy ra khi trộn máu của các cá thể trong cùng 1 loài. Ðó là hiện tượng đồng ngưng kết, từ đó Landsteiner tìm ra các kháng nguyên và các kháng thể đặc hiệu của nhóm hồng cầu và phân loại nhóm hồng cầu Gọi là nhóm máu. Ðựa trên sự phân loại này người ta đề ra những qui luật chặt chẽ trong truyền máu. Theo Landsteiner, trên màng hồng cầu có những kháng nguyên gọi là ngưng kết nguyên. Sinh ly mau Page 6 of 11 http:www.ctu.edu.vncoursewaressuphamsinhlydongvatchuong1.htm 7162007Có 2 loại ngưng kết nguyên A và B. Bản chất của ngưng kết nguyên là polysacarid có mặt trên bề mặt hồng cầu tưö những giai đoạn sớm của bào thai. Ðồng thời trong huyết tương có những kháng thể đặc hiệu của nhóm máu Gọi là ngưng kết tố. Nhóm máu theo hệ ABO: có 2 loại ngưng kết tố đó là Anti A và Anti B. Khi có mặt Anti A, hồng cầu mang kháng nguyên A sẽ ngưng kết với nhau thành từng đám (Cũng như vậy tương tự như Anti B). Bản chất của kháng thể là globulin do bào tương sản xuất. Khi đứa trẻ mới ra đời nồng độ kháng thể hầu như bằng 0. Sau đó nồng độ kháng thể tăng rất nhanh và đạt mức tối đa ở lứa tuổi 910 rồi giảm dần. Tùy theo trên màng hồng cầu có kháng nguyên A, B hoặc cả A và B hay không có kháng nguyên nào mà Landsteiner phân làm 4 nhóm: Tính di truyền của các kháng nguyên nhóm máu: đó là những gen đồng dạng thuộc 3 kíp A, B và O, trong đó gen O hầu như không hoạt động nên không sinh kháng nguyên O trên hồng cầu, ngược lại gen A và B sinh những kháng nguyên A và B rất mạnh. Nếu 2 gen loại A trên một cặp nhiễm sắc thể (NST) thì hồng cầu sẽ có kháng nguyên A. Nếu 1 gen trên một nhiễm sắc thể là A và trên NST kia của cặp là B, thì hồng cầu có cả kháng nguyên A và B. Tính di truyền của nhóm máu được áp dụng trong y pháp để góp phần xác định Ai không phải là cha của đứa trẻ . Ứïng dụng trong truyền máu: để đảm bảo an toàn cho người cho và người nhận, tốt nhất phải tránh sao cho kháng nguyên và kháng thể tương ứng không gặp nhau, nghĩa là phải lấy máu đúng nhóm truyền cho nhau, tuy nhiên trong một số trường hợp người ta có thể truyền máu khác nhóm với điều kiện đảm bảo sao cho hồng cầu người cho không bị ngưng kết bởi kháng thể trong huyết tương người nhận. Nguyên tắc truyền máu có thể được tóm tắt bằng sơ đồ sau: Sơ đồ trên cho thấy người mang nhóm máu O có thể cho máu bất cứ người mang nhóm máu nào; còn người mang nhóm máu AB thì lại nhận bất cứ nhóm máu nào truyền cho họ. Hệ thống nhóm máu Rh: Năm 1939, Landsteiner và Wiener đã tìm ra hệ thống nhóm máu Rh bằng cách gây miễn dịch cho thỏ với hồng cầu khỉ Maccacus rhesus. Sau đó đem trộn huyết thanh của thỏ với máu người đã lấy ra khỏi cơ thể, làm ngưng kết 85% số người được thử. Ðiều này có nghĩa là hồng cầu của những người này chứa kháng nguyên giống như kháng Sinh ly mau Page 7 of 11 http:www.ctu.edu.vncoursewaressuphamsinhlydongvatchuong1.htm 7162007nguyên hồng cầu khỉ Gọi là kháng nguyên Rh(+) , còn những người mà hồng cầu của họ không bị ngưng kết với huyết thanh thỏ là những người không có kháng nguyên Rh Gọi là Rh (). Sự khác nhau cơ bản giữa 2 hệ thống ABO và Rh là trong hệ thống ABO kháng thể được sinh ra 1 cách tự nhiên, trong khi kháng thể của hệ Rh được sinh ra theo kiểu miễn dịch. Cho đến nay người ta đã xác định được 6 kháng nguyên của hệ Rh là: C, D, E và c, d, e. mỗi người sẽ có 1 trong 2 kháng nguyên của 3 cặp kháng nguyên kể trên. Chỉ có những kháng nguyên C, D, E mới có khả năng kích thích sinh kháng thể Anti Rh. Tai biến trong truyền máu theo hệ Rh thường là: Trong sản khoa nếu mẹ là Rh(), bố là Rh(+). Khi người mẹ có thai, hồng cầu của bào thai sẽ là Rh(+) kích thích cơ thể mẹ sản xuất kháng thể anti Rh, lần có thai đầu ít có tai biến cho thai nhi, nhưng lần sau, nếu thai vẫn là Rh(+) kháng thể anti Rh sẽ từ mẹ truyền qua con theo đường nhau thai và làm ngưng kết hồng cầu của thai. Tùy theo mức độ ngưng kết đưa đến sẩy thai hay thai chết. Trong truyền máu thì lần đầu tiên không xảy ra tai biến gì, nhưng cơ thể người nhận sẽ sản xuất kháng thể gây tai biến ở những lần truyền sau. Bạch cầu là những tế bào máu có khả năng vận động, chúng giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây nhiễm khuẩn và nhiễm độc bằng qúa trình thực bào hoặc bằng qúa trình miễn dịch. 1. Công thức bạch cầu: Căn cứ vào sự khác nhau về hình dáng và cấu trúc, người ta chia bạch cầu thành 5 loại, có tỉ lệ nhất định Gọi là công thức bạch cầu. Ở người Việt nam tỉ lệ này như sau: 2. Số lượng hồng cầu: Số lượng bạch cầu thường ít hơn cả nghìn lần so với hồng cầu .Bạch cầu cũng được tính bằng ngàn trên 1mm3 máu. Bạch cầu tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mãn tính, sau khi ăn hoặc đang mang thai. Bạch cầu giảm trong trường hợp bị nhiễm độc, nhiễm xạ, suy tủy hoặc tuổi già . IV.BẠCH CẦU TOP Sinh ly mau Page 8 of 11 http:www.ctu.edu.vncoursewaressuphamsinhlydongvatchuong1.htm 7162007Bảng 4. Số lượng bạch cầu của một sốì loài động vật (ngànmm3) 3.Chức năng bạch cầu: Bạch cầu trung tính và bạch cầu mono có thể kết giả túc để nuốt vi trùng, vi khuẩn, các thể lạ, những tế bào chết hoặc tế bào cần loại bỏ, rồi tiết men để tiêu hóa chúng. Mặt khác, bạch cầu còn tiết các men tiêu hóa protid, các chất diệt khuẩn và các chất chống lại các sản phẩm có hại do mầm bệnh tiết ra:

Trang 1

CHƯƠNG 1 : SINH LÝ MÁU

I VAI TRÒ CÙA MÁU

II HUYẾT TƯƠNG

- Ðộ quánh gấp 5 lần nước cất Ðộ quánh này phụ thuộc vào lượng huyết cầu và prôtein trong huyết tương

- Tỉ trọng máu toàn phần lớn hơn nước, phụ thuộc vào số lượng hồng cầu và mỗi loài động vật (bảng mô tả phía dưới(

Bảng 1 Tỉ trọng máu của một sốì loài động vật Người Việt Nam, tỉ trọng riêng của hồng cầu là 1,090 và của huyết tương là 1,028

Page 1 of 11Sinh ly mau

Trang 2

Bảng 2 Tỉ trọng máu của một sốì loài động vật

- Áp xuất thẩm thấu của máu toàn phần bằng 7,5 atmotphe, chủ yếu do muối khoáng trong máu tạo ra Protein trong huyết tương chỉ tạo một phần nhỏ gọi là áp xuất keo - có trị số

25 mmhg, tuy nhỏ nhưng nó quyết định sự phân phối nước cho cơ thể

Máu là nguồn gốc tạo các dịch lỏng khác như : Dịch bạch huyết, dịch kẽ tế bào, dịch não tủy, dịch màng bụng, màng phổi, màng khớp Tất cả các dịch đó tạo thành nội môi , trong đó máu là thành phần quan trọng nhất

2 Chức năng của máu

- Chức năng hô hấp : máu vận chuyển O2 từ phổi đến các tế bào và CO2 từ tế bào

về phổi

- Chức năng dinh dưỡng: các chất dinh dưỡng như axit amin, glucose, axit béo và vitamin được hấp thu từ ống tiêu hóa vào máu và được máu vận chuyển đến các mô cung cấp cho hoạt động sống của tế bào

- Chức năng đào thải: máu lấy các chất cặn bã, các sản phẩm chuyển hóa của tế bào, CO2

từ các mô chuyển đến thận, phổi để bài tiết ra ngoài

- Chức năng bảo vệ: nhờ qúa trình thực bào và qúa trình miễn dịch của các bạch cầu

- Chức năng điều nhiệt: máu làm nhiệm vụ vận chuyển nhiệt, giữ nhiệt độ cơ thể chỉ thay đổi trong một phạm vi hẹp Máu điều nhiệt nhờ các đặc tính như tỉ nhiệt của nước, khả năng dẫn nhiệt cao

3.Thành phần của máu

Ðể máu trong ống nghiệm có thêm chất kháng đông rồi để lắng hoặc quay li tâm, máu

sẽ phân làm 2 lớp, lớp trên là huyết tương màu vàng nhạt (55 - 60% thể tích máu ), phía dưới

Page 2 of 11Sinh ly mau

Trang 3

là hồng cầu màu đỏ thẫm, phủ 1 lớp mỏng bạch cầu và tiểu cầu ( 40 - 45% thể tích máu )

Hình 1.1 Thành phần máu lắng

1 Thành phần :

Nước: chiếm khoảng 90%, là dung môi cơ bản để hòa tan các chất

Các chất hòa tan: gồm các ion vô cơ và muối, protein huyết tương, các chất dinh dưỡng hữu cơ, các sản phẩm có nitơ, các sản phẩm đặc biệt được chuyên chở và các khí hòa tan

Protein huyết tương: chiếm 7-9% trọng lượng huyết tương gồm 3 loại chính : fibrinogen, albumin, globulin, hầu hết được tổng hợp từ gan Các protein này có vai trò quan trọng trong việc xác định áp xuất thẩm thấu, sự trao đổi chất, cân bằng nước, ổn định pH và kiểm soát độ nhớt của huyết tương Thêm vào đó fibrinogen và 1 số globulin có vai trò trong sự đông máu, một số globulin khác tham gia phản ứng miễn nhiễm

Các chất hữu cơ trong huyết tương: bao gồm glucose, các chất béo, phospholipid, acid amin, acid lăctic và cholesteron Một số được hấp thu từ ruột, một số đi vào máu từ gan Axit lactic là sản phẩm của sự đường phân, chúng được chuyên chở từ máu vào gan, tại đây một số được dùng để tái tổng hợp carbohydrat, một số sau đó được oxit hóa thành CO2 và H2O Cholesteron là tiền chất của hầu hết các hợp chất steroid quan trọng trong cơ thể

Các chất thải có nitơ: chủ yếu dưới dạng urea, 1 số ít amonia và acid uric, chúng được chuyển qua đường thận

Các sản phẩm chuyên chở: đặc biệt là hormon, có vai trò quan trọng trong việc điều khiển các chức năng sống

Các chất khí hòa tan: Nitơ được khuếch tán từ phổi vào máu, chúng trơ về mặt sinh lí O2 được hòa tan đưới dạng oxyhemoglobin và CO2 được hòa tan dưới dạng axit carbonic

2 Áp xuất thẩm thấu ASTT của máu:

Áp xuất thẩm thấu của máu ở các loài thú do các muối trong huyết tương tạo nên

Page 3 of 11Sinh ly mau

Trang 4

(chủ yếu là Nacl ) , ở người khoảng 7,6- 8,1 Atmotphe Khi pha chế dung dịch sinh lí cần đảm bảo thẩm áp tương đương của máu đem pha chế Sự ổn định ASTT máu cĩ ý nghĩa sinh lý quan trọng Nếu ASTT của hồng cầu và huyết tương bằng nhau hồng cầu giữ nguyên hình dạng và kích thước Trong dung dịch nhược trương, cĩ áp xuất thẩm thấu thấp hơn ASTT của hồng cầu, nước sẽ thấm vào trong hồng cầu làm bể hồng cầu Trong dung dịch ưu trương, cĩ áp xuất thẩm thấu cao hơn ASTT của hồng cầu, nước trong hồng cầu sẽ thấm ra ngồi, hồng cầu bị teo lại và cũng bị hủy Như vậy trong cả 2 trường hợp máu đều bị phá hủy - Ðĩ là hiện tượng tiêu huyết Hiện tượng tiêu huyết cịn xảy ra khi máu tiếp xúc với clorofooc, ether, cồn, tia cực tím, tia

X, các chất phĩng xạ, độc tố của vi trùng , giun sán, nọc nhện, ong, bọ cạp, rắn độc

Cân bằng ion trong máu:

Ðể các tế bào máu khơng bị phá hủy, khi đặt chúng trong mơi trường khác máu của chúng,

ta cĩ thể pha dung dịch sinh lí với các muối Nacl, glucose, sucrose cĩ ASTT tương đương với ASTT máu của mỗi lịai động vật Tuy nhiên muốn các dung dịch đĩ duy trì sự sống thay máu đến một mức nào đĩ, cần thêm một tỉ lệ nhất định các chất hịa tan như các ion: Na+, K+, Ca2+.v.v Thành phần khác nhau của một số dung dịch đã tạo nên tên gọi khác nhau của các dung dịch sinh lí như: Ringer, lock, tyrod Nồng độ dung dịch muối NaCl làm cho hồng cầu bắt đầu vỡ - đĩ là nồng độ tiêu huyết giới hạn , tương ứng với sức đề kháng tối thiểu của hồng cầu Ở nồng độ mà tồn bộ hồng cầu bị phá vỡ ứng với sức đề kháng tối đa Aïp xuất thẩm thấu máu của động vật cĩ vú tương đương với dung dịch muối 0,9%, của động vật biến nhiệt là 0,65%

3 Phản ứng máu:

Page 4 of 11Sinh ly mau

Trang 5

Thành phần có hình chủ yếu của máu là hồng cầu Kích thước hồng cầu thay đổi tùy loài

và không tỉ lệ với kích thước của động vật (Hình 1.2) Hồng cầu người Việt nam dày khoảng

23 micromet, đường kính 7,45 7,47 micromet Tổng toàn bộ diện tích hồng cầu khoảng 23.000

-3200 m2 (Lớn hơn 1.600 lần diện tích da) Hồng cầu động vật bậc cao đều mất nhân, nhờ đó có chỗ chứa Hb

Số lượng hồng cầu thay đổi tùy loài, được tính bằng triệu/mm3 máu

Page 5 of 11Sinh ly mau

Trang 6

Bảng 3 Số lượng hồng cầu của một sốì loài động vật (triệu/mm3)

Hồng cầu chứa 63,3% là nước, 36,7% chất đặc - Trong đó có 95% là huyết sắc tố hemoglobin (Hb( đảm nhận chức năng sinh lý chủ yếu của hồng cầu Trong 100 mml máu người Việt Nam có khoảng 13,83g Hb, máu các động vật thường ít hơn: Heo: 11,5-12,2; Trâu: 6,5-10; Bò: 12; Gà: 12,7; vịt: 13,5 Hb là hợp chất dễ tan trong nước, gồm 1 phân tử globin kết hợp với 4 phân tử hem, mỗi phân tử hem gồm 4 nhóm pyrol chứa nitơ, giữa là Fe có hóa trị 2 (Hình 1.3) Một phân tử Hb có thể gắn với 4 phân tử oxy Ðây là phản ứng gắn oxy vào nguyên

tử Fe++, chứ không phải là phản ứng oxy hóa, nên sắt vẫn có hóa trị 2 Trung bình 100ml máu

có 13,38 - 16 g Hb gắn tối đa 20 ml oxy

Hem còn phản ứng với Nacl tạo thành clorua - hem, gọi là Hemin Phản ứng này được dùng trong y học pháp lý tìm các vết máu khô, chỉ cần nhỏ muối ăn và dấm acetic lên hiện vật, rồi hơ qua lửa, nếu đúng là máu, sẽ xuất hiện những tinh thể Hemin màu đỏ - nâu, thấy được dưới kính hiển vi Ðộng vật khác nhau, có nhóm hem giống nhau nhưng globin thì khác, nên tinh thể Hemin khác nhau, có thể đoán được máu của loài nào Sắc tố Hb dùng để xây dựng mọi sắc tố trong cơ thể ( da, nước tiểu, phân )

Trong hồng cầu còn chứa một số enzim quan trọng như: anhydraza cacbonic, catalaza và một số muối khoáng chủ yếu là kali

2 Nhóm máu và sự truyền máu:

Năm 1900 Landsteiner và cộng sự nhận thấy hiện tượng ngưng kết hồng cầu còn xảy ra khi trộn máu của các cá thể trong cùng 1 loài Ðó là hiện tượng đồng ngưng kết, từ đó Landsteiner tìm ra các kháng nguyên và các kháng thể đặc hiệu của nhóm hồng cầu và phân loại nhóm hồng cầu- Gọi là nhóm máu Ðựa trên sự phân loại này người ta đề ra những qui luật chặt chẽ trong truyền máu

Page 6 of 11Sinh ly mau

Trang 7

Có 2 loại ngưng kết nguyên A và B Bản chất của ngưng kết nguyên là polysacarid có mặt trên

bề mặt hồng cầu tưö những giai đoạn sớm của bào thai Ðồng thời trong huyết tương có những kháng thể đặc hiệu của nhóm máu - Gọi là ngưng kết tố

Nhóm máu theo hệ ABO: có 2 loại ngưng kết tố đó là Anti A và Anti B Khi có mặt Anti A, hồng cầu mang kháng nguyên A sẽ ngưng kết với nhau thành từng đám (Cũng như vậy tương tự như Anti B) Bản chất của kháng thể là globulin do bào tương sản xuất Khi đứa trẻ mới ra đời nồng độ kháng thể hầu như bằng 0 Sau đó nồng độ kháng thể tăng rất nhanh và đạt mức tối đa ở lứa tuổi 9-10 rồi giảm dần

Tùy theo trên màng hồng cầu có kháng nguyên A, B hoặc cả A và B hay không có kháng nguyên nào mà Landsteiner phân làm 4 nhóm:

Tính di truyền của các kháng nguyên nhóm máu: đó là những gen đồng dạng thuộc 3 kíp

A, B và O, trong đó gen O hầu như không hoạt động nên không sinh kháng nguyên O trên hồng cầu, ngược lại gen A và B sinh những kháng nguyên A và B rất mạnh Nếu 2 gen loại A trên một cặp nhiễm sắc thể (NST) thì hồng cầu sẽ có kháng nguyên A Nếu 1 gen trên một nhiễm sắc thể là A và trên NST kia của cặp là B, thì hồng cầu có cả kháng nguyên A và B Tính di truyền của nhóm máu được áp dụng trong y pháp để góp phần xác định Ai không phải là cha của đứa trẻ

Ứïng dụng trong truyền máu: để đảm bảo an toàn cho người cho và người nhận, tốt nhất phải tránh sao cho kháng nguyên và kháng thể tương ứng không gặp nhau, nghĩa là phải lấy máu đúng nhóm truyền cho nhau, tuy nhiên trong một số trường hợp người ta có thể truyền máu khác nhóm với điều kiện đảm bảo sao cho hồng cầu người cho không bị ngưng kết bởi kháng thể trong huyết tương người nhận

Nguyên tắc truyền máu có thể được tóm tắt bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ trên cho thấy người mang nhóm máu O có thể cho máu bất cứ người mang nhóm máu nào; còn người mang nhóm máu AB thì lại nhận bất cứ nhóm máu nào truyền cho họ

Hệ thống nhóm máu Rh: Năm 1939, Landsteiner và Wiener đã tìm ra hệ thống nhóm máu Rh bằng cách gây miễn dịch cho thỏ với hồng cầu khỉ Maccacus rhesus Sau đó đem trộn huyết thanh của thỏ với máu người đã lấy ra khỏi cơ thể, làm ngưng kết 85% số người được thử Ðiều này có nghĩa là hồng cầu của những người này chứa kháng nguyên giống như kháng

Page 7 of 11Sinh ly mau

Trang 8

nguyên hồng cầu khỉ - Gọi là kháng nguyên Rh(+) , còn những người mà hồng cầu của họ không bị ngưng kết với huyết thanh thỏ là những người không có kháng nguyên Rh- Gọi là Rh(-)

Sự khác nhau cơ bản giữa 2 hệ thống ABO và Rh là trong hệ thống ABO kháng thể được sinh ra 1 cách tự nhiên, trong khi kháng thể của hệ Rh được sinh ra theo kiểu miễn dịch Cho đến nay người ta đã xác định được 6 kháng nguyên của hệ Rh là: C, D, E và c, d, e mỗi người

sẽ có 1 trong 2 kháng nguyên của 3 cặp kháng nguyên kể trên Chỉ có những kháng nguyên C,

D, E mới có khả năng kích thích sinh kháng thể Anti Rh Tai biến trong truyền máu theo hệ Rh thường là: Trong sản khoa nếu mẹ là Rh(-), bố là Rh(+) Khi người mẹ có thai, hồng cầu của bào thai sẽ là Rh(+) kích thích cơ thể mẹ sản xuất kháng thể anti Rh, lần có thai đầu ít có tai biến cho thai nhi, nhưng lần sau, nếu thai vẫn là Rh(+) kháng thể anti Rh sẽ từ mẹ truyền qua con theo đường nhau thai và làm ngưng kết hồng cầu của thai Tùy theo mức độ ngưng kết đưa đến sẩy thai hay thai chết Trong truyền máu thì lần đầu tiên không xảy ra tai biến gì, nhưng cơ thể người nhận sẽ sản xuất kháng thể gây tai biến ở những lần truyền sau

Bạch cầu là những tế bào máu có khả năng vận động, chúng giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây nhiễm khuẩn và nhiễm độc bằng qúa trình thực bào hoặc bằng qúa trình miễn dịch

1 Công thức bạch cầu:

Căn cứ vào sự khác nhau về hình dáng và cấu trúc, người ta chia bạch cầu thành 5 loại,

có tỉ lệ nhất định - Gọi là công thức bạch cầu Ở người Việt nam tỉ lệ này như sau:

2 Số lượng hồng cầu:

Số lượng bạch cầu thường ít hơn cả nghìn lần so với hồng cầu Bạch cầu cũng được tính bằng ngàn trên 1mm3 máu Bạch cầu tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mãn tính, sau khi ăn hoặc đang mang thai Bạch cầu giảm trong trường hợp bị nhiễm độc, nhiễm xạ, suy tủy hoặc tuổi già

Page 8 of 11Sinh ly mau

Trang 9

Bảng 4 Số lượng bạch cầu của một sốì loài động vật (ngàn/mm3) 3.Chức năng bạch cầu:

Bạch cầu trung tính và bạch cầu mono có thể kết giả túc để nuốt vi trùng, vi khuẩn, các thể lạ, những tế bào chết hoặc tế bào cần loại bỏ, rồi tiết men để tiêu hóa chúng

Mặt khác, bạch cầu còn tiết các men tiêu hóa protid, các chất diệt khuẩn và các chất chống lại các sản phẩm có hại do mầm bệnh tiết ra:

- Các chất kháng độc : trung hòa độc tố trùng uốn ván, bạch hầu, nọc rắn

- Aglutinin làm ngưng kết tế bào khác loài, vi khuẩn phản ứng này dùng để chuẩn đoán sẩy thai, xoắn trùng

- Precitipin làm kết tủa các protein lạ hòa tan Mỗi precipitin chỉ làm ngưng kết 1 loại protein nên được dùng để định tính các protein nghi vấn

- Citolizin hòa tan tế bào và vi khuẩn

- Bạch cầu còn sản xuất globulin beta, nhất là globulin gama, kháng thể chống vi trùng Những tế bào bạch cầu, nhất là các đại thực bào, tế bào B, T, NK và tế bào mast giữ vai trò quan trọng nhất trong đáp ứng miễn nhiễm

Phản ứng tự vệ tương đối chậm và không có tính chọn lọc, hầu như có ở tất cả động vật

do các đại thực bào tiêu hóa vi khuẩn và các tế bào chết Những đại thực bào này bị lôi cuốn bởi các hóa chất phóng thích từ các mô bị bệnh hoặc các tế bào lạ; tại đó chúng tạo ra sự viêm

và một chất nước của tế bào chết và các mảnh vỡ khác cùng với xác bạch cầu tạo thành mủ

Hệ miễn nhiễm có tính chuyên biệt cao hơn ở động vật có xương; bao gồm 2 hệ thống: miễn nhiễm qua thể dịch và miễn nhiễm qua trung gian tế bào Hai hệ thống hoạt động chung

để phá hủy các kháng nguyên (antigen) thường là những chất bên ngoài xâm nhập vào cơ thể như: vi khuẩn, mầm bệnh v.v

Hệ thống miễn nhiễm thể dịch bảo vệ cơ thể chống lại các kháng nguyên thông qua sự tiết các kháng thể (antibody( làm phân hủy các kháng nguyên trên bề mặt vi khuẩn , nấm, virus, cũng như các chất độc tự do trong máu và huyết tương Lympho bào B tiết kháng thể; các đại thực bào, lympho bào NK và các phản ứng phá hủy mầm bệnh

Hệ thống miễn nhiễm qua trung gian tế bào trực tiếp phá hủy các vi khuẩn, hoặc những mầm bệnh như virus, qua việc sản xuất những tế bào chuyên biệt như tế bào cytotoxic

T, tế bào giúp đỡ và đàn áp T sẽ thực hiện đáp ứng miễn nhiễm qua hệ thống trung gian tế bào tấn công vào các vật lạ xâm nhập vào tế bào

Tiểu cầu là những thể nhỏ, hình dáng không ổn định, không có nhân, đường kính từ 2- 4 micromet, số lượng 200.000 - 400.000/1 mm3 máu, tăng khi bữa ăn có nhiều thịt, lúc chảy máu

và khi bị dị ứng Tiểu cầu giảm trong bệnh thiếu máu ác tính, ban xuất huyết, choáng, khi bị phóng xạ

Page 9 of 11Sinh ly mau

Trang 10

Chức năng chính của tiểu cầu: Tiểu cầu giải phóng tromboplastin để gây đông máu Tiểu cầu còn có đặc tính ngưng lại thành cục khi gặp vật thô ráp và vật lạ, nhờ đó góp phần đóng các vết thương Khi vỡ , tiểu cầu giải phóng serotonin gây co mạch để cầm máu

Sự đông máu là sự thích nghi tiến hóa cho sự sửa chữa cấp thời của hệ tuần hoàn và để ngăn cản sự mất qúa độ dịch cơ thể khi mạch máu bị tổn thương Sự đáp ứng tức thời bằng cách mạch máu khép lại, làm cho máu chảy chậm, các tiểu cầu ở vùng này dính vào nhau và dính vào mô tổn thương, tạo 1 đám tiểu cầu bị ngưng kết Ðám tiểu cầu được ổn định bằng 1 mạng lưới các sợi được tạo ra quanh tiểu cầu, các tế bào khác có thể đan xen vào các sợi làm căng cục máu (Hình 1.5)

Các sợi tạo ra do sự hợp thành từ các protein fibrin sợi fibrin được thành lập trong qúa trình đông máu khi 1 protein tan trong huyết tương là fibrinogen được biến đổi thành fibrin không hòa tan

Qúa trình đông máu bắt đầu khi bề mặt của mạch máu bị tổn thương phóng thích 1 chất gọi là thromboplastin, chất này kết hợp với các protein Phức hợp này biến đổi protein của huyết tương là prothrombin thành thrombin ion Ca2+ và một phospholipid chuyên biệt trên bề mặt tiểu cầu cần thiết cho qúa trình xảy ra Bước cuối cùng của qúa trình là thrombin biến đổi fibrinogen thành fibrin

Qúa trình này gồm hàng loạt phản ứng được tóm tắt bằng sơ đồ sau:

Qúa trình đông máu với sự tham gia của nhiều yếu tố, thiếu 1 trong các yếu tố cần thiết cho qúa trình đông máu, toàn bộ chuỗi phản ứng có thể bị hỏng Thí dụ người mắc bệnh máu khó đông (Hemophilia) thiếu yếu tố thứ VIII là 1 protein cần cho sự biến đổi prothrombin thành thombin, làm máu không đông được, do đó ngay cả một vết nứt nhỏ cũng làm cho người bệnh chảy máu đến chết

Page 10 of 11Sinh ly mau

Trang 11

Bảng 4 Các yếu tố đông máu Qúa trình đông máu: Diễn ra qua 3 giai đoạn

- Giai đoạn thành lập thromboplastin

- Giai đoạn thành lập thrombin

- Giai đoạn thành lập fibrin

Kết thúc giai đoạn này là sự hình thành cục máu đông, các sợi nối với nhau bằng những dây hydro lỏng lẻo nên cục đông không bền Dưới tác dụng của yếu tố XIII dây nối hydro được thay thế bằng dây nối đồng hóa trị tạo thành mạng lưới fibrin bền vững

Khi máu được lấy ra khỏi cơ thể và giữ trong ống nghiệm thì sự đông máu là do yếu tố XII và tiểu cầu với thành ống nghiệm Thời gian đông máu trong ống nghiệm kéo dài 5-7 phút (So với trong mạch chỉ vài giây) Tiểu cầu có vai trò rất quan trọng trong hiện tượng co cục máu, vì vậy tiểu cầu giảm về mặt số lượng và chất lượng sẽ làm cho thời gian co cục máu bị kéo dài

Page 11 of 11Sinh ly mau

Trang 12

BÀI MỞ ĐẦU : VỊ TRÍ VÀ NHIỆM VỤ CỦA SINH LÝ HỌC

I VỊ TRÍ CỦA SINH LÝ HỌC

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

III TẦM QUAN TRỌNG CỦA SINH LÝ

Sinh lý học là khoa học nghiên cứu các biểu hiện của sự sống trên động vật và người trong mối quan hệ với môi trường sống

Nhiệm vụ của sinh lý học: Mô tả hiện tượng, tiến tới giải thích cơ chê,ú phát hiện qui luật điều khiển sự sống động vật và người nhằm ngăn ngừa các rối loạn chức năng sinh lý, mặt khác tác động lên các chức năng có lợi cho con người

Sinh lý sử dụng thành tựu của các khoa học khác để phát triển, đồng thời cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học khác

1 Sinh lý liên hệ với sinh học :

Sinh lý gắn liền với giải phẫu, hình thái, phân loại, mô học và tế bào học.Ví dụ: Khả năng bơi của đỉa phụ thuộc vào mức hoàn chỉnh của hệ cơ

Sinh lý với phôi sinh học và học thuyết tiến hóa: như sự hình thành ống thần kinh trong phôi có liên hệ với chức năng các phần khác nhau của não.Lao động sáng tạo trí tuệ con người

có liên quan tới dáng đứng thẳng và giải phóng bàn tay lao động

Sinh lý với sinh thái và địa lý động vật : các nhân tố môi trường thay đổi theo qui luật, làm các hệ thống sống biến đổi theo một cách thụ động Ví dụ chu kỳ ngày đêm, làm cho sinh vật thức ngủ Quê hương của cá rô phi là châu phi xích đạo, thích hợp ở Việt Nam vào mùa nóng , vì vậy muốn đưa vào nuôi ở Việt Nam vào mùa lạnh thì phải thuần hóa

Sinh lý với di truyền học: hiểu các quy luật di truyền qua nhiễm sắc thể và qua gen , có thể giải thích hiện tượng sinh lý như nguyên nhân chết non của thai khi mang nhóm máu Rh+ của cha trong bụng mẹ Rh-

2 Sinh lý với Toán , Lý , Hóa :

Số liệu về chỉ tiêu sinh lý sử lý bằng thống kê sinh học Hô hấp là qúa trình thiêu đốt Tuần hòan theo các định luật thủy động Mắt là một hệ thống quang học Công thức hóa hoạt

Page 1 of 3Bai mo dau: Vi tri va nhiem vu cua sinh ly hoc

Trang 13

( HN Quốc tế 1964 Moskva(, phát triển tự động hóa tay chân

1 Các bước nghiên cứu :

Bước 1 : Quan sát và mô tả hiện tượng

Bước 2 : Ðặt giả thuyết nhằm phỏng đoán bản chất và cơ chế của hiện tượng

Bước 3 : Tiến hành thực nghiệm để kiểm tra giả thuyết đã đặt ra

Bước 4 : Nêu kết luận và xác định qui luật

Ví dụ : Páplop nghiên cứu khả năng tiết dịch vị của chó :

- Bước 1 : Khi chó ăn tiết dịch vị, vậy dich vị tiết ra từ đâu?

- Bước 2 : Giả thuyết : Thức ăn chạm lưỡi, dây TK lưỡi báo lên não - Não truyền lệnh xuống dạ dày, chó tiết dịch vị Sau đó thực hiện các bước 3 và 4 Trong 4 bước nghiên cứu , quan sát hoạt động sống có tính quyết định

2 Phương pháp mổ :

- Mổ cấp diễn : Ví dụ mổ thỏ sống xem nhu động ruột, mổ ếch xem cử động tim - Mổ trường diễn : Bữa ăn giả của chó

3 Ðối tượng nghiên cứu :

3.1 Nguyên tắc chọn đối tượng :

- Nguyên tắc điển hình : Chọn những loài phù hợp nhất Ðối tượng chọn thí nghiệm là những động vật quen thuộc như: Êúch , chuột lang , chuột bạch , thỏ , chó , khỉ, mực ống

- Nguyên tắc an toàn : Thí nghiệm tiến hành trên động vật để làm sáng tỏ những vấn đề sinh lý trên người Ví dụ: Chuyến bay của chó Laika trên tàu Spoutnik-2 ngày 3/11/1957 3.2 Phân cấp đối tượng :

Sinh lý phân tử -> Sinh lý tế bào -> Sinh lý cơ quan -> Sinh lý cơ thể

1.Về mặt lý luận :

Ðối với triết học : Ðánh tan truyền thuyết tôn giáo và mê tín dị đoan về bản chât của hiện tượng sinh lý ( Châu Âu thế kỷ 5 -15 , suốt trong thời kỳ 1000 năm của đêm dài trung cổ Servet đã bị thiêu sống trên dàn hỏa taị Geneve năm 1553 vì bí mật mổ thây người để nghiên cứu)

Page 2 of 3Bai mo dau: Vi tri va nhiem vu cua sinh ly hoc

Trang 14

2 Về mặt thựctiễn :

Sinh lý bắt nguồn từ thực tiễn và quay lại phục vụ thực tiễn

- Trong chăn nuôi : Sử dụng kiến thức về phản xạ có điều kiện thông qua môi trường sống, sinh lý thích nghi có thể mabg lại lợi nhuận kinh tế

- Trong y tế : Những người thày thuốc giỏi , đều giỏi về sinh lý Hypocrat- Hy lạp, Galien - La mã , Hoa đà - Trung quốc, Hải thượng lãn ông Lê Hữu Trác- Việt nam

- Trong sản xuất : Thể dục giữa giờ làm tăng năng suất lao động

- Trong giáo dục: Sinh lý thần kinh là cơ sở tâm lý học và sư phạm

Page 3 of 3Bai mo dau: Vi tri va nhiem vu cua sinh ly hoc

Trang 15

CHƯƠNG 2 : SINH LÝ TUẦN HOÀN

I Ý NGHĨA SINH HỌC VÒNG TUẦN HOÀN

II SINH LÝ TIM

bị tổn thương

2 Vòng tuần hoàn máu:

Ở các động vật bậc thấp O2, thức ăn và chất trao đổi chỉ chuyển dịch 1 cách thụ động trong các nhánh của hệ tiêu hóa nhờ cử động cơ thể

Ở động vật bậc cao, đã có 1 hệ thống chuyên chở là - hệ tuần hoàn Hệ tuần hoàn tiến bộ của thú (kể cả ngườiï) gồm: Tim, động mạch, mao mạch và tĩnh mạch Máu ra đi từ tâm thất trái theo động mạch chủ và trở về tim theo tĩnh mạch chủ ở tâm nhĩ phải- Ðó là vòng tuần hoàn lớn Máu từ tâm nhĩ phải dồn xuống tâm thất phải, rồi đổ vào động mạch phổi, mao mạch phổi, tĩnh mạch phổi, cuối cùng đổ vào tâm nhĩ trái- Ðó là vòng tuần hoàn nhỏ Máu vòng tuần hoàn lớn phân phát O2, thức ăn cho mọi tế bào và thu nhận CO2, chất thải để mang đi Máu còn đem các sản phẩm như hormone của nhóm tế bào này đến nhóm tế bào khác, nhờ đó thực hiện sự liên lạc thể dịch giữa các bộ phận Ở động vật đồng nhiệt, máu còn đem hơi ấm từ cơ quan tạo nhiệt như gan đi khắp cơ thể nhờ đó đảm bảo sự ổn định của thân nhiệt Máu vòng tuần hoàn nhỏ được đưa đến phổi để thải CO2, hơi nước và lấy thêm O2 mới (Hình 2.1)

3 Hệ bạch huyết:

Các động vật có xương sống có 1 hệ đặc biệt gọi là - Hệ bạch huyết giữ nhiệm vụ đưa nước và các chất hòa tan từ mô về máu Hệ bạch huyết gồm 1 mạng lưới các mao mạch được phân bố rộng rãi khắp các phần của cơ thể Các mạch này gồm các tĩnh mạch và các mao mạch bạch huyết Các mao mạch bạch huyết là những mạch nhỏ bịt đầu, nằm ở các khoảng gian bào Dịch mô, các protein và các chất khác được hấp thu vào mao mạch bạch huyết Các mao mạch tập trung lại thành các tĩnh mạch bạch huyết nhỏ, sau đó tiếp tục hợp thành các tĩnh mạch bạch huyết lớn hơn và cuối cùng là 2 ống bạch huyết rất lớn đổ vào tĩnh mạch lớn của hệ tuần hoàn

Page 1 of 8Sinh ly tuan hoan

Trang 16

máu ở phần trên của ngực, gần tim (Hình 2.2(

Các protein rò rỉ cũng được thấm theo đường này bằng cách khuyếch tán vào các mao mạch bạch huyết để đưa về máu Qúa trình này quan trọng trong việc duy trì cân bằng áp xuất thẩm thấu giữa máu và dịch mô

Ngoài ra hệ bạch huyết còn tiến hành nhiều chức năng khác như tham gia vào hệ miễn nhiễm phá hủy các vi sinh vật từ ngoài xâm nhập, hạch bạch huyết là nơi trú ẩn của nhiều tế bào bạch cầu thực bào khi bạch huyết di chuyển qua hạch, nó được lọc và những phần tử như các tế bào chết, các mảnh vỡ tế bào, các tế bào ung thư và các vi khuẩn bị nhốt lại và bị phá hủy bởi các tế bào thực bào Chuyển động của bạch huyết giống như chuyển động của máu trong tĩnh mạch, là kết qủa của sự thay đổi của áp suất được kích thích bởi cử động hô hấp và

sự co của các cơ vân ép lên thành mạch đẩy bạch huyết về phía trước theo van 1 chiều

Hình 2.1 vòng tuần hoàn Hình 2.2 Hệ bạch huyết

1 Ðặc tính sinh lý chủ yếu của cơ tim

1.1 Tính hưng phấn của cơ tim:

- Cơ tim hưng phấn theo nguyên tắc không hoặc tất cả, khi kích thích vào cơ tim với cường độ thấp (chưa tới ngưỡng) thì cơ tim hoàn toàn không đáp ứng Khi tăng cường độ kích thích đến ngường, thì cơ tim đáp ứng với biên độ tối đa Nếu tiếp tục tăng cường độ kích thích lên trên ngưỡng, thì cơ tim cũng chỉ đáp ứng như kích thích ngưỡng Hiện tượng không hoặc tất cả giúp cơ tim hoạt động nhịp nhàng, bền bỉ và kéo dài

- Tính trơ trong thời gian tim hưng phấn, gọi là pha trơ tuyệt đối của cơ tim Nhờ vậy mà

cơ tim chỉ co bóp đơn , không co tetanos như cơ vân Nguyên nhân là trong thời kỳ này tim đã hưng phấn do nhận kích thích từ hạch xoang nhĩ lại phải nhận một kích thích từ bên ngoài, cơ tim không đáp ứng Nếu kích thích vào tim đang giãn, tim sẽ đáp ứng bằng một lần co phụ gọi

là ngoại thu tâm hay co bóp ngoại lệ sau đó tim giãn và nghỉ bù lâu hơn để đáp ứng tiếp theo nhịp co sau Nguyên nhân nghỉ bù vì xung động từ hạch xoang nhĩ phát ra rơi đúng vào pha trơ tuyệt đối của ngoại thu tâm, nên nhịp co bóp bình thường không có nữa, mà phải chờ nhịp co bóp tiếp theo do hạch xoang nhĩ kích thích

Ðặc tính sinh lý đó của cơ tim có thể được giải thích trên cơ sở cấu trúc cơ tim theo kiểu đan xen hợp bào, có cầu nguyên sinh chất nối giữa các sợi, nên toàn bộ qủa tim như một tế bào, một sợi cơ độc nhất, nên khi cường độ kích thích đủ ngưỡng thì toàn bộ cơ tim đều co

Trang 17

nhiệt độ cơ thể sống

Năm 1902 kuliapco nuôi 10 qủa tim trẻ em chết trên 20 giờ , đã làm sống lại 7 qủa Năm

1912 Carel ở pháp cắt rời tim của phôi gà, nuôi sống gần 30 năm Sở dĩ tim có tính tự động là

vì trong thành tim, có các tổ chức đặc biệt - Gọi là hệ dẫn truyền (hạch tự động) gồm những nút

- Bó His đi từ nút nhĩ thất tới vách liên thất thì chia làm 2 nhánh, phải và trái chạy dưới nội tâm mạc tới 2 tâm thất, ở đó chia thành những nhánh nhỏ chạy giữa các sợi cơ tim tạo thành lưới Purkinje

Ứng với từng khoảng thời gian nhất định nút xoang phát xung động Xung động lan tới tâm nhĩ làm tâm nhĩ co bóp Tiếp đó xung động lan đến nút nhĩ thất, bó His, Các nhánh của bó His rồi theo lưới Purkinje lan đến toàn bộ cơ tâm thất Sau khi co bóp tâm thất giãn thụ động, trong khi tâm nhĩ cũng đang thụ động giãn, tức là trương tâm toàn bộ cho đến khi nút xoang phát xung động mới khởi động chu kỳ tiếp theo

Bình thường chỉ có nút xoang phát xung động điều khiển sự co bóp toàn bộ tim Khi nút xoang tổn thương, nút nhĩ thất mới phát xung thay thế với tần số thấp hơn, tức là nhịp đập chậm hơn Bó His và lưới Purkinje không có khả năng phát xung, chỉ dẫn xung từ các hạch đến các tế bào cơ tim

Ngoài sự điều khiển của hạch tự động, tim còn chịu sự điều hòa của hệ thần kinh tự động bao gồm hệ giao cảm và đối giao cảm

2 Chu kỳ tim

Tim đập nhịp nhàng suốt đời kể từ tháng thứ 3 lúc nằm trong bụng me Nhờ thứ tự co bóp của các buồng tim và sự có mặt của các van tim, chỉ cho máu dồn theo 1 chiều, nên máu mới chảy thành vòng Chu kỳ tim kéo dài khoảng 0,8 giây, trong đó tâm nhĩ co 0,1 giây và giãn 0,7 giây Tâm thất co (Ngay sau tâm nhĩ co 0,3 giây và giãn 0,7 giây (Nếu nhịp tim là 75 lần/ phút), bằng sơ đồ :

Trang 18

Như vậy thời gian giãn chung là 0,4 giây Nhìn toàn bộ chu kỳ tim, thì tim nghỉ ngơi nhiều hơn là làm việc, vì vậy tim đập suốt đời không biết mệt

Bằng tâm động ký người ta đã ghi lại chu kỳ co bóp đều đặn với các đỉnh co khác nhau của sự co giãn các ngăn tim

3 Năng suất tim:

Nhịp tim:

Nhịp tim người Việt nam là 70- 80 lần /phút (nam) , 75- 85 lần / phút (nữ) 90-110 lần /phút ( Trẻ em 5-10 tuổi)

Nhịp tim thay đổi theo lứa tuổi Lúc ngủ nhịp tim giảm 20% so với lúc thức Nhịp tim Nữ

có kinh nguyệt và có thai tăng 5-10 nhịp/phút so với lúc bình thường Mùa hè, khi nóng nhịp tim tăng 5-10 nhịp/ phút so với mùa đông, khi rét Trong ngày, nhịp tim buổi sáng chậm hơn buổi chiều và ban đêm

Nhịp tim của 1 số động vật (lần đập/phút): Voi: 25- 40; Trâu: 40-50; nghé:45-55; 70; Chuột: 720 - 780; Mèo: 110-130; Chó:70- 80; Dơi: 600-900; Gà: 240- 400

Bò:50-Thể tích co tim:

Thể tích co tim là thể tích máu mỗi lần tim co đưa vào mạch Tim người mỗi lần co dồn vào hệ mạch khoảng 70 ml máu, ngựa 850 ml,bò 580 ml, cừu 55 ml, chó 14 ml Năng suất tim được tính bằng thể tích-phút, tức là số lần đập của tim trong 1 phút nhân với thể tích máu được dồn đi qua mỗi lần co Tim người có thể tích phút là: 70ml 70= 4.900ml

Năng suất tim còn đo bằng công tim W, tức năng lựơng do tim co bóp sinh ra một phần biến thành công cơ học để khắc phục áp lực động mạch và duy trì tốc độ dòng máu chảy trong

hệ mạch.Công của tâm thất lúc co tính theo công thức:

Trong đó: W: công cơ học

Trang 19

khắc phục huyết áp của động mạch, công để duy trì máu chảy chiếm một phần rất nhỏ, nên có thể được tính:

Sóng P là sóng khử cực của hai tâm nhĩ Biên độ 0,15- 0,2mv (<2mm), thời gian 0,1 giây Ðoạn P- Q biểu thị hưng phấn truyền từ tâm nhĩ sang tâm thất, thời gian 0,12 - 0,20 giây

Phức hợp QRS thể hiện trạng thái khử cực của tâm thất Thời gian 0,07 giây Q có biên

độ nhỏ hơn hoặc bằng 0,3 mv (1- 2mm), thời gian 0,03 giây S: Biên độ và thời gian gần như Q R: Biên độ có thể đến 2 mv ( 9 mm hoặc nhỏ hơn 20mm) Ðoạn S - T nằm ngang biểu thị toàn

bộ tâm thất đã hưng phấn , nên không có sự chênh lệch điện thế

Sóng T là sóng tái cực của tâm thất Biên độ dưới 0,5 mv, thời gian 0,2 giây

Khoảng PQ là thời gian dẫn truyền xung động từ tâm nhĩ đến tâm thất, dài 0,15 giây

Trong điện tâm đồ chuẩn, mỗi sóng chiếm một thời gian và độ cao nhất định Nếu tim bị bệnh thì các sóng này thay đổi, dựa vào đó để chuẩn đoán các bệnh về tim

1.Tính chất sinh lý của động mạch: Tính đàn hồi và tính co thắt

- Tính đàn hồi là tính chất của động mạch làm cho nó có khả năng trở về dạng ban đầu mỗi khi biến dạng Tính đàn hồi do sợi đàn hồi trong thành mạch đảm nhận Khi máu vào động

Page 5 of 8Sinh ly tuan hoan

Trang 20

mạch thì mạch giãn ra, nhưng khi máu ra khỏi thì mạch co trở lại Tính đàn hồi làm cho máu chảy liên tục, mặc dù tim co bóp tống máu vào động mạch từng đợt và làm tăng lưu lượng máu đối với mỗi đợt co bóp của tim, nhờ đó tiết kiệm năng lượng

- Tính co thắt là khả năng của động mạch co lại cho lòng mạch hẹp đi, giảm lượng máu

đi qua Tính chất này làm cho động mạch thay đổi thiết diện điều hòa lượng máu đến cơ quan, tính co thắt do cơ trơn ở thành mạch đảm nhận

2 Ðặc điểm máu chảy trong mạch:

Tốc độ dòng máu tỉ lệ nghịch với bề mặt cắt ngang mạch, bề mặt càng lớn tốc độ dòng máu càng chậm Khi các động mạch phân nhánh thành các động mạch nhỏ, rồi thành các mao mạch, tổng bề mặt cắt ngang tăng lên và tốc độ dòng máu chậm lại Máu chảy trong mạch có những đặc điểm khác nước chảy trong đường ống:

- Máu chảy trong động mạch có đường kính lớn nhanh hơn các động mạch có đường kính nhỏ Ðặc điểm này khác với nước chảy trong đường ống, vì sự phân nhánh của động mạch làm cho tổng đường kính các động mạch nhỏ lớn hơn đường kính của động mạch xuất phát Tĩnh mạch nhỏ máu cũng chảy chậm hơn các tĩnh mạch lớn hơn

- Máu chảy trong động mạch với tốc độ không đều, tâm thu máu chảy nhanh hơn tâm trương

- Máu chảy trong mạch có hiện tượng phân dòng, hồng cầu di chuyển ở giữa dòng và chảy nhanh vì có tỉ trọng lớn, huyết tương ở xung quanh chảy chậm hơn do có sự ma sát với thành mạch

3 Huyết áp động mạch và qui luật tuần hoàn máu trong mạch:

Tuần hoàn máu có thể coi là kết qủa của 2 lực đối lập nhau: Lực đẩy máu của tim và lực cản của động mạch, trong đó lực đẩy máu của tim đã thắng nên máu chảy trong động mạch với

1 áp lực gọi là - Huyết áp Ở người, huyết áp động mạch trong hệ tuần hoàn máu thường được

đo ở phần trên cánh tay Vào giai đoạn nghỉ, ở người nam trưởng thành huyết áp tối đa lúc tim

co là 120 mmHg và huyết áp tối thiểu lúc tim giãn là 80 mmHg Huyết áp giảm liên tục khi máu di chuyển càng xa tim Huyết áp cao nhất ở động mạch chủ trong phần nối với tim, giảm đều ở những phần xa hơn động mạch chủ và các nhánh động mạch, giảm rất nhanh ở các động mạch nhỏ và mao mạch Nó tiếp tục giảm dần trong tĩnh mạch và thấp nhất ở tĩnh mạch gần tim Một khuynh độ như thế của áp suất là cần thiết nếu máu chảy liên tục vì chất dịch chỉ có thể di chuyển từ vùng có áp suất cao đến vùng có áp suất thấp hơn

Huyết áp trung bình trong tĩnh mạch rất thấp, khoảng 2 mmHg ở tĩnh mạch cửa tim nên phải có sự hỗ trợ của qúa trình hô hấp Khi hít vào, cơ hoành co, lồng ngực mở rộng ép lên xoang bụng, áp suất âm làm cho tĩnh mạch ở ngực mở rộng, kéo máu vào và đẩy máu về tim Máu chỉ có thể di chuyển một chiều về tim do trong tĩnh mạch có các van tổ chim ngăn máu chảy ngược

Page 6 of 8Sinh ly tuan hoan

Trang 21

1 Ðiều hòa hoạ động tim:

Hoạt động tim thường xuyên được điều hòa phù hợp với yêu cầu cung cấp máu cho hoạt động cơ thể, bởi những yếu tố từ bên ngoài và yếu tố ngay tại tim

- Hệ giao cảm: Từ sừng bên chất xám các đoạn tủy sống lưng 1-3, một số sợi xuất phát

từ đoạn tủy sống cổ 1-7 đi đến hạch sao (sợi trước hạch) Các sợi sau hạch đi đến nút xoang, nút nhĩ thất, bó His Kích thích sợi giao cảm gây tác dụng ngược lại với kích thích dây X như: Tim đập nhanh, tăng lực co bóp, tăng tốc độ dẫn truyền, tăng trương lực cơ tim

- Chất truyền đạt thần kinh: Những sợi thần kinh thực vật tác dụng lên tim qua những hóa chất do các đầu mút của sợi sau hạch tiết ra, hệ giao cảm tiết noradrenalin, hệ phó giao cảm tiết acetylcholin

Vai trò các phản xạ:

- Phản xạ giảm áp: Do áp suất tăng ở quai động mạch chủ, xung động theo dây cyon về hành não, kích thích dây X làm tim đập chậm và huyết áp giảm.Áp suất tăng ở đông mạch cảnh thì xung theo dây Hering về hành não, kích thích dây X cũng làm tim đập chậm, huyết áp giảm

- Phản xạ tim - tim: Máu dồn về tim nhiều, ức chế dây X làm tim đập nhanh, thanh toán máu ứ đọng

- Phản xạ mắt - tim: Éïp vào 2 nhãn cầu, kích thích dây X làm tim đập chậm

- Phản xạ Goltz: Ðánh mạnh vào vùng thượng vị, xung động theo dây tạng lên hành nào,kích thích dây X làm tim ngừng đập

Page 7 of 8Sinh ly tuan hoan

Trang 22

1.2 Ngay tại tim: Qui luật Starling

lực co bóp của tim tỉ lệ thuận với chiều dài sợi cơ tim trước khi co Khi tăng lượng máu về tim, máu ứ trong tâm thất làm cơ tim bị căng và tâm thất co mạnh hơn ở chu kỳ sau

2 Ðiều hòa hoạt động mạch:

Ðường kính mạch thay đổi nhờ tác động của các dây thần kinh vận mạch Năm

1842, Walter phát hiện ở ếch, mạch co khi dây giao cảm đến mạch bị kích thích Năm 1851, Bernard cắt dây giao cảm ở cổ thỏ, thì thấy mạch tai phía bị cắt nở to, kích thích đoạn còn dính với tai mạch co lại Các dây co mạch xuất phát từ các tế bào thần kinh nằm trong các hạch giao cảm ở dọc sống lưng gây co mạch da, hốc bụng, thận, phổi

Các dây giãn mạch không dễ xác định như dây giao cảm vì nguồn gốc không đồng nhất, một số chạy chung với dây giao cảm trong các dây thần kinh pha như: các nhánh vai và đùi, một số nhỏ thuộc hệ đối giao cảm như: dây lưỡi, dây chậu Phần còn lại hầu hết dây giãn mạch phát sinh từ tủy, nhưng không chạy đến các cơ quan theo rễ trước (như các dây vận động), mà theo rễ sau

Trung khu thần kinh phụ trách điều hòa đường kính mạch nằm trong hành tủy, ở vùng bút lông Trung khu co mạch nằm ngay bên nhân của dây thần kinh mặt, còn trung khu giãn mạch thì nằm ở đáy não thất IV

Các chất gây co mạch như: Adrenalin do tuyến thượng thận tiết ra, vasopresin do thùy sau tuyến yên tiết ra Các chất gây giãn mạch như: Acetylcholin, histamin - là một sản phẩm phân hủy protid, sinh ra trong dạ dày, ruột, cơ Sự tích tụ axit, nhất là H2CO3 có thể gây giãn mạch cục bộ

Sự luyện tập tăng quay vòng máu do tim phụ trách và sự phân bố ưu tiên máu đến cơ quan làm việc do mạch đảm nhận

Các cảm thụ với áp xuất ở xoang động mạch cảnh và ở quai động mạch chủ giữ vai trò chính trong tuần hoàm mạch Thể cảm thụ với áp xuất ở xoang cảnh, xung theo dây thần kinh Hering, đến dây thiệt hầu rồi về hành tủy Từ các thụ cảm ở quai động mạch chủ, xung theo dây Cyon về đến hành não

Page 8 of 8Sinh ly tuan hoan

Trang 23

CHƯƠNG 3 : SINH LÝ HÔ HẤP

I TẦM QUAN TRỌNG CỦA HÔ HẤP

II SỰ HÔ HẤP NGOÀI

III SỰ TRAO ĐỔI KHÍ

1.Ý nghĩa sinh học:

Hô hấp là sự trao đổi khí liên tục giữa cơ thể sống với môi trường xung quanh Trong cơ thể luôn có sự oxyt hóa chất dinh dưỡng để sản xuất nhiệt, công, các sản phẩm mới , nhờ O2 lấy trong môi trường Sản phẩm cuối cùng của trao đổi chất là CO2 và H2O cùng một số hợp chất khác, về sau sẽ bị thải ra ngoài cơ thể Việc lấy O2 và thải CO2, H2O là một nhu cầu thiết yếu của sự sống Sinh vật càng cao, càng khó chịu đựng sự đói O2 và sự ứ đọng CO2, H2O Các động vật cao, nhất là người, nếu hô hấp gián đoạn chỉ vài phút sau là chết

2.Tiến hóa của hệ hô hấp:

Trên cơ thể động vật, bộ phận để cho O2 từ môi trường ngoài khuếch tán vào trong

tế bào và CO2 khuếch tán ra khỏi tế bào được gọi là - Bề mặt hô hấp

Ở động vật đơn bào và đa bào nhỏ như thủy tức, giun dẹp, đỉa phiến, sự trao đổi khí thực hiện trực tiếp qua màng tế bào và màng cơ thể Ngay ở thú hô hấp qua da và một phần qua ống tiêu hóa vẫn còn chiếm 1-2% trao đổi khí

Với các động vật có tổ chức cao, hệ hô hấp chuyên trách xuất hiện, chủ yếu gồm 3 kiểu: Mang,khí quản và phổi

(Mang: Là phần uốn cong ra ngoài của bề mặt cơ thể được chuyên hóa cho sưü trao đổi khí Ở một số ÐV không xương như: Sao biển, mang có hình dạng đơn giản và được phân bố gần như trên toàn bề mặt cơ thể Ở giun đốt mang được mở ra ở một số đốt thân hoặc có hình lông chim tập hợp thành đám ở đầu hoặc đuôi Ở sò, tôm và nhiều ÐV khác mang được giới hạn ở một vùng cơ thể Ở 1 số loài như: Sâu bọ, tôm cua và ấu trùng ở nước cũng có mang với nhiều hình dạng khác nhau Sự trao đổi không khí qua mang khi nước đi qua bề mặt hô hấp hiệu qủa đến mức làm cho mang có thể lấy 80% O2 hòa tan trong nước Do O2 hòa tan trong nước ít, vì vậy cần phải có sự thông khí Dòng nước chảy qua mang liên tục để thông khí làm cho ÐV có mang phải dành một số năng lượng nhất định cho sự thông khí

(Ôúng khí: Là 1 hệ thống ống phân nhánh khắp cơ thể côn trùng Các ống nhỏ nhất tiếp xúc với bề mặt của hầu hết tế bào, nơi đây khí được trao đổi bởi sự khuếch tán qua lớp biểu mô

ẩm ướt lót ở đầu tận cùng của hệ thống ống khí Tất cả các tế bào của cơ thể đều bộc lộ trong

Page 1 of 7Sinh ly ho hap

Trang 24

môi trường hô hấp, nên hệ tuần hoàn mở của côn trùng không tham gia vào việc vận chuyển O2 và CO2 Sự chuyển động nhịp nhàng của cơ thể để đóng và mở các ống khí- Là sự thông khí

Phổi: Ðộng vật từ bò sát trở lên thở bằng phổi, kể cả ba ba, rùa biển và các loài thú đã quay trở lại ở nước như cá voi, cá heo Lúc đầu phổi được hình thành từ một chỗ lõm sâu của

hệ tiêu hóa, nhưng ở thú và người hệ hô hấp đã tách khỏi hệ tiêu hóa chỉ còn giao nhau ở phần đầu

Ở người: Không khí đi vào phổi qua 1 hệ thống ống phân nhánh Khí đi vào hệ thống này qua mũi, chúng được lọc bởi các lông mũi, được sưởi ấm, làm ẩm ướt khi đi ngang qua xoang mũi Xoang mũi dẫn vào hầu, rồi đến thanh quản có vách bằng sụn (Thanh quản còn là

cơ quan phát âm( Từ thanh quản, không khí đi ngang qua khí quản vào phế quản và vào phổi

Trong phổi, phế quản phân nhánh nhiều lần thành các ống nhỏ hơn gọi là tiểu phế quản Lớp biểu mô bên trong các phế quản được bao phủ bởi các tiêm mao và 1 lớp màng nhầy mỏng Chất nhầy giữ bụi, hạt phấn và các chất bẩn khác, nhờ chuyển động của tiêm mao đẩy chất nhầy xuống yết hầu, tại đây chúng được nuốt vào thực quản Qúa trình này giúp làm sạch đường hô hấp Cuối cùng các phế quản nhỏ nhất đi vào các phế nang (Hình 3.1(

Lớp biểu mô mỏng của hàng triệu phế nang trong phổi giữ vai trò như một bề mặt hô hấp O2 trong không khí sẽ được hòa tan trong lớp màng ẩm và khuếch tán qua biểu mô đi vào lưới mao mạch xung quanh phế nang CO2khuếch tán từ các mao mạch qua biểu mô của phế nang rồi đi vào không khí.Các cơ hô hấp như cơ liên sườn, cơ hoành tạo áp xuất âm giúp cho sưü thông khí

Tăng chiều trước sau và chiều ngang: Ở tư thế nghỉ ngơi, các xương sườn chếch ra trước và xuống dưới, khi các cơ hít vào co lại, xương sườn quay xung quanh 1 trục đi qua 2 điểm khớp với đốt sống và chuyển từ tư thế chếch xuống sang tư thế ngang hơn, do đó tăng đường kính trước sau và đường kính ngang của lồng ngực Hình 3.2

Page 2 of 7Sinh ly ho hap

Trang 25

 Ðộng tác thở ra:

-Thở ra bình thường: Là động tác thụ động vì không đòi hỏi năng lượng co cơ Khi các

cơ hít vào như cơ hoành, cơ liên sườn ngoài giãn, đồng thời cơ liên sườn trong co theo phương ngược lại với cơ liên sường ngoài, lồng ngực trở về vị trí cũ dưới tác dụng của sức đàn hồi ngực phổi và sức chống đối của các tạng bụng làm xương sườn hạ xuống, cơ hoành lồi lên, giảm dung tích lồng ngực, đẩy không khí ra ngoài

- Thở ra cố gắng: Có sự hỗ trợ của các cơ thành bụng Những cơ này khi co lại kéo các xương sườn xuống thấp hơn, dồn cơ hoành lồi lên ngực, đây là động tác tích cực, đòi hỏi tiêu tốn năng lượng

Ðộng vật có 3 phương thức thở: thở ngực, động tác hít vào chủ yếu do tác dụng của cơ liên sườn ngoài Thở bụng do tác dụng của cơ hoành Thở ngực bụng, do phối hợp cơ hoành

và cơ liên sườn

2 Nhịp hô hấp

4 Thể tích hô hấp

Thể tích hô hấp là thể tích khí trao đổi khi hô hấp

Dung tích sống là thể tích khí huy động được sau 1 lần hít vào gắng sức và thở ra gắng hết sức Nó là thể tích tối đa có thể trao đổi trong 1 lần hô hấp,do đó phần nào biểu hiện thể lực

Page 3 of 7Sinh ly ho hap

Trang 26

Dung tích sống của người trưởng thành 2,5-3 lít ở nữ và 3,5- 4 lít ở nam

- Khí lưu thông:Thể tích khí hít vào và thở ra bình thường, ở Người khoảng 500ml

- Khí bổ sung: Hít gắng sức thêm, khoảng 1500ml

- Khí dự phòng: Thở ra gắng sức, khoảng 1500ml

Dung tích sống của ngựa: 26-30 lít, của chó 350-400ml

Khi thở ra tận lực trong phổi vẫn còn 22,1% khí đọng lại ở các đường hô hấp gọi là khí cặn

5 Sự điều tiết hô hấp

5.1 Cơ chế thần kinh:

Các tế bào thần kinh vận động cơ hô hấp nằm trong sừng trước của chất xám tủy:

- Tế bào của dây ngực - bụng phụ trách cơ hoành nằm trong đoạn cổ 3 và 4

- Dây liên sườn xuất phát từ các đoạn ngực của tủy sống

- Trung khu hô hấp nằm ở hành tủy, gần đáy của não thất IV, cạnh cấu tạo chóp bút lông

- Trung tâm ức chế hô hấp (trung tâm ngừng thở( nằm trên cầu não có tác dụng điều hòa hô hấp, bằng tác động có chu kỳ ức chế trung khu hít vào để trung khu thở ra phát huy tác dụng Hình 3.3

 Ðiều tiết bằng phản xạ:

Khi ta hít vào, xung động được truyền từ trung khu hít vào trên hành não theo các sợi vận động tới cơ hoành và cơ liên sườn để nâng xương sườn lên, đồng thời xung động lên cầu não tới trung khu điều hòa hô hấp nằm ở cầu não, từ trung tâm này có luồng xung động đi xuống ức chế trung tâm thở ra, gây động tác hít vào

Khi trung tâm thở ra phát xung, thì trung tâm hít vào bị ức chế Khi hít vào, phổi căng khí thì các xung thần kinh từ các thụ quan ở thành phế nang và các cơ hô hấp theo đường dẫn truyền thần kinh hướng tâm về hành tủy, sẽ ức chế trung khu hít vào và kích thích trung khu thở ra Kết qủa là cơ hoành

và cơ liên sườn ngoài giãn, thể tích lồng ngực thu hẹp lại ép phổi xẹp xuống gây động tác thở ra Khi thở

ra, phổi xẹp xuống, các xung thần kinh từ các thụ quan trở về gây ức chế trung khu thở ra và kích thích trung khu hít vào Sự thở ra và hít vào thực hiện một cách tự động kế tiếp nhau theo cơ chế tự điều hòa, không cần có sự kiểm soát của vỏ não

Khi màng nhày hốc mũi bị kích thích, gây phản xạ co phế quản hoặc động tác hít vào sâu và chậm, sau đó thở ra rất mạnh và nhanh (hắt hơi( Kích thích màng nhày khí quản gây phản xạ tống mạnh

Page 4 of 7Sinh ly ho hap

Trang 27

5.2.Cơ chế hóa học điều hòa hô hấp:

- Vai trò CO2 : Khi nồng độ co2 tăng (hoặc acíd carbonic(, làm cho hô hấp tăng lên, khi tăng qúa nồng độ co2 gây trịêu chứng ngộ độc như nhức đầu, buồn nôn, rối loạn tuần hòan, mê

Ở trẻ sơ sinh do tuần hoàn thai bị cắt, cơ thể không thải được co2 , đồng thời do trẻ cử động, CO2 trong máu tăng kích thích trung tâm hít vào gây động tác hô hấp đầu tiên của đứa trẻ

- Vai trò O2: Khi nồng độ O2 trong máu xuống thấp có tác dụng tăng thông khí, lúc đầu chỉ tăng biên độ, sau tăng cả tần số

Khi lượng khí CO2 tăng cao hay lượng O2 giảm thấp, tác động lên các thụ quan hóa học ở xoang động mạch cảnh sẽ truyền xung động về trung tâm hô hấp ở hành tủy, gây phản xạ tăng hô hấp Ngược lại, huyết áp tăng ở xoang động mạch cánh và quai động mạch làm giảm hô hấp

Luồng thần kinh từ vỏ não làm cho ta có thể điều chỉnh cử động hô hấp theo ý muốn Khi một vùng của vỏ não đang hưng phấn mạnh, vùng này sẽ phát xung ức chế các vùng xung quanh, trong đó có

cả trung tâm hô hấp Ví dụ hô hấp giảm khi tập trung làm toán Ðau, cảm xúc, sợ hãi sẽ gây nên những luồng thần kinh đi từ vỏ não, hệ viền, vùng dưới đồi làm thay đổi hô hấp (hình 3.4)

Hình 3.4 Sơ đồ điều hòa hô hấp

1 Sự trao đổi khí ở phổi

Sự trao đổi khí được diễn ra trên bề mặt hô hấp Ở người có khoảng 700 triệu phế bào với diện tích chung là 103,5 m2 ở nữ và 130 m2 ở nam, lớp mô bì của phế bào rất mỏng khoảng 0,004 mm Diện tích chung của mao mạch tiếp xúc với phế bào rất lớn - khoảng 6000 m2

 Phân áp khí (áp xuất từng phần)

Không khí ở phế bào thường bão hòa hơi nước do:

- Áp xuất của không khí là 760 mmHg

- Áp xuất từng phần của hơi nước là 50 mmHg

- Áp xuất riêng của không khí trong phế bào (Cả khí thở ra( là

760-50= 710mmHg

 Tỷ lệ % của khí hô hấp ở người:

Page 5 of 7Sinh ly ho hap

Trang 28

 Sự trao đổi khí ở phế bào và máu:

Khí khuyếch tán từ nơi có phân áp cao đến nơi có phân áp thấp Chênh lệch phân áp của mỗi nơi

sẽ qui định chiều di chuyển của khí Máu động mạch phổi có PO2 = 40mHg và PCO2 = 46mHg

PO2 ở phế nang cao hơn trong máu do động mạch phổi đem vào và bằng:

Tốc độ khuyếch tán CO2 gấp 25 lần so với O2 Trung bình khi chênh lệch 1 mmHg thì 1 phút

có khoảng 25 - 60 mml O2 vào máu

Trạng thái bình thường của cơ thể cần 250 300 mml O2/ phút, vì vậy chỉ cần chênh 5

-10 mmHg là đủ

 Sự trao đổi khí ở tổ chức và máu:

Máu sau khi trao đổi tại phế nang mang theo PO2 khoảng 100 mmHg và

PCO2 khoảng 40 mmHg về tâm nhĩ trái theo vòng tuần hoàn lớn đi đến tổ chức cơ thể

Tại các mô sự trao đổi khí tiếp tục xảy ra theo mức độ chênh lệch phân áp Ở mô PO2 khoảng 0 - 20 mmHg, PCO2 khoảng 60 mmHg O2 sẽ từ máu vào mô và CO2 , ngược lại đi từ

mô vào máu (Hình 3.5(

Hình 3.5 Sơ đồ trao đổi khí

Page 6 of 7Sinh ly ho hap

Trang 29

 Sắc tố hô hấp với sự chuyên chở khí:

Hemoglobin chứa sắt, làm máu có màu đỏ Hemocyanin (thường gặp ở chân khớp, thân mềm(, chứa đồng làm máu có màu xanh

Trong hồng cầu:

Page 7 of 7Sinh ly ho hap

Trang 30

CHƯƠNG 4 : SINH LÝ TIÊU HÓA

I TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ TIÊU HÓA THỨC ĂN

II ỐNG TIÊU HÓA VÀ SỰ TIÊU HÓA CƠ HỌC

III TIÊU HÓA HÓA HỌC

IV SỰ HẤP THỤ CÁC CHẤT QUA ĐƯỜNG TIÊU HÓA

Tiêu hóa là cung cấp cho môi trường trong, những chất dinh dưỡng lấy từ thức ăn dưới dạng dùng được cho các nhu cầu của cơ thể

Hệ tiêu hóa phân biệt thành hai khu vực :

- Khu vực tiêu hóa thức ăn : Gồm ống tiêu hóa để chứa và vận chuyển thức ăn, và tuyến tiêu hóa để tiết dịch tiêu hóa, biến đổi thức ăn thành chất dinh dưỡng

- Khu vực tích trữ: Gan và mỡ để tích trữ và cung cấp dần thức ăn theo nhu cầu của cơ thể

Sự hấp thu thức ăn qua ống tiêu hóa kéo dài trong 6 giờ đồng hồ trong khi cơ thể tiêu dùng thức ăn liên tục mỗi giờ khoảng 6 kcal Vì vậy, cơ thể phải có 1 hệ tích trữ

1 Chức năng chung của cơ quan tiêu hóa : Gồm 3 chức năng chính :

- Chế tiết : Các tuyến tiêu hóa sản xuất và bài tiết các dịch thể như : nước bọt, dịch vị, dịch tụy

- Vận động : Do cơ trơn của ống tiêu hóa thực hiện để chuyển thức ăn từ phần này sang phần khác của ống tiêu hóa

- Hấp thu : Nhờ màng nhầy ở các bộ phận ống tiêu hóa chuyển các chất dinh dưỡng vào máu

2 Sự biến đổi thức ăn trong ống tiêu hóa :

- Biến đổi về mặt vật lý: Nhai, nghiền, nuốt và nhào trộn thức ăn

- Biến đổi hóa học : Nhờ các enzim do cơ thể tiết ra và do thức ăn mang vào:

Page 1 of 14Sinh ly tieu hoa

Trang 31

Nhóm tiêu protid : pepsin, tripsin, kimotripsin

Nhóm tiêu glucid : amilase, maltase

Nhóm tiêu lipid : lipase

- Biến đổi vi sinh vật : Do các vi sinh vật sống trong đường tiêu hóa như : nấm, tiêm mao trùng, vi khuẩn chúng tiết men trực tiếp tham gia vào qúa trình tiêu hóa thức ăn Sự tham gia của vi sinh vật có ý nghĩa to lớn đặc biệt đối với động vật nhai lại như : trâu, bò, cừu, dê

3 Ðại cương về ống tiêu hóa, đường tiêu hóa

3.1 Sơ lược lịch sử tiến hóa :

- Sinh vật đơn bào : Tiêu hóa nội bào nhờ men tiết từ tiêu thể (lyzosome) Các sản phẩm được hấp thu qua màng hoặc thu nhận theo kiểu thực bào (tương tự như kiểu bạch cầu) Các chất thải cũng được thải qua màng

- Túi tiêu hóa : Ở ruột khoang xuất hiện túi tiêu hóa, đặc biệt chưa có hậu môn Túi thông với bên ngoài qua một lỗ thủng Nhờ đó, thức ăn được nhận vào và chất bã được thải ra

- Ôúng tiêu hóa : Từ da gai trở lên, ống có thành riêng biệt, thông với bên ngoài qua miệng và hậu môn Ôúng càng tiến hóa thì phần miệng càng thêm nhiều phần phụ như : Xúc tu, hàm, cơ nhai, tuyến nước bọt Và, ống cũng được chia làm nhiều phần như : hầu, thực quản, dạ dày, ruột

3.2 Sự hoàn chỉnh dần của hệ tiêu hóa :

- Miệng : Do phần ngoại phôi bì hình thành biểu mô; trung phôi bì hình thành các cơ; nội phôi bì hình thành các tuyến

- Hầu : Ruột hầu sinh bong bóng ở cá và phổi ở động vật

- Thực quản và dạ dày : Ở chim thì đoạn giữa của thực quản phình ra thành diều Trong giai đoạn hoạt động sinh dục thì diều tiết ra chất béo được gọi là Sữa chim câu- Do tác dụng của hormone tuyến yên là prolactine (giống như hormone tiết sữa của đông vật) Sữa chim câu

do cả chim đực và cái nhả ra nuôi chim con Phần cuối của ống thực quản có phần phình ra và được gọi là dạ dày ( ở chim thì gọi là mề- hình 4.1) Các loài động vật nhai lại thì dạ dày được phân thành 4 túi : ba túi phía trước gọi là dạ dày trước, gồm : dạ cỏ, tổ ong, lá sách Túi thứ 4 gọi là dạ múi khế, nơi đây thực sự có tuyến tiêu hóa (Hình 4.2)

- Ruột : Ruột ở thú được phân ra 2 phần ruột non và ruột già Riêng loài nhai lại, có thêm manh tràng rất phát triển, nơi đây vô số các vi khuẩn mọc trên các giá đỡ bằng cellulose

và tự nuôi dưỡng bằng các cặn bã protein chưa được hấp phụ để tự sinh sôi nảy nở

3.3 Hệ tiêu hóa của người: Ống tiêu hóa đi xuyên qua cơ thể từ miệng tới hậu môn

và có thể chia thành 5 đoạn chính: Miệng, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già Thành của ống tiêu hóa gồm 4 lớp (Hình 4.3( Trong 4 lớp đó có đám rối thần kinh Meissner và Auerbach Các tuyến tiêu hóa gồm: Tuyến nước bọt, gan và tuyến tụy; sản phẩm tiết được dẫn theo các ống

Page 2 of 14Sinh ly tieu hoa

Trang 32

tiết đổ vào ống tiêu hóa Ngoài các tuyến này, ngay trong niêm mạc của ống tiêu hóa có nhiều tuyến nhỏ , mà sản phẩm bài tiết được đổ thẳng vào ống tiêu hóa

Hình 4.3 Bốn lớp mô của ống tiêu hóa động vật có xương sống

Sự hoàn chỉnh dần của ống tiêu hóa là sự phân đoạn về cấu trúc và chức năng, cùng với

hệ thống tuyến tiết men tiêu hóa (Hình 4.5)

Hình 4.5 Sơ đồ tiến hóa của hệ tiêu hóa động vật

1 Tiêu hóa tại miệng : Nhờ động tác nhai, thức ăn được cắt, xé, nghiền

Răng cửa- cắt; răng nanh- xé; răng hàm và răng tiền hàm- nghiền Cùng với qúa trình trên thức

ăn được trộn lẫn nước bọt

Ðộng tác nhai nhờ sự co bóp của cơ nhai và sự vận động phối hợp của lưỡi và má Ðộng vật ăn thịt, nhai là nhờ sự vận động lên xuống của hàm dưới Ðộng vật ăn cỏ, lại là sự vận động qua lại của hàm dưới Bình quân 1 ngày bò sữa nhai 42000 lần

Ðộng tác nuốt: Sau khi nhai, thức ăn được viên thành viên nhỏ để nuốt; viên thức ăn nằm trên lưỡi, lưỡi thụt lại đưa viên thức ăn vào thực quản qua ngã tư hầu; nhờ có lưỡi gà và tiểu thiệt, thức ăn rơi đúng vào thực quản Ðộng tác nuốt lúc đầu là phản xạ có điều kiện, khi vào đến ngã tư hầu là phản xạ không điều kiện Nhu động trong thực quản làm viên thức ăn được đẩy xuống phía dưới (Hình 4.6) Thức ăn lỏng di chuyển trong thực quản 2- 3 giây, thức ăn đặc 7- 8 giây

Page 3 of 14Sinh ly tieu hoa

Trang 33

Hình 4.6 Sơ đồ động tác nhai và nuốt

2 Tiêu hóa tại dạ dày:

2.1 Ðóng mở tâm vị:

Tâm vị không có cơ thắt,mà cơ vòng rất dày Thức ăn chạm vào tâm vị, kích thích làm

mở tâm vị Viên thức ăn đi qua, tâm vị đóng lại Ngoài ra sự co của cơ hoành cũng hỗ trợ cho thức ăn đi qua tâm vị

- Co bóp đẩy: sau một số lần co bóp trộn thì lại có một lần co bóp đẩy Co bóp đẩy còn phụ thuộc vào sự đóng mở môn vị

2.4 Ðiều hòa hoạt động co bóp dạ dày:

- Hoạt động của dạ dày bị chi phối bởi đám rối Auerbach nằm giữa các lớp cơ của dạ dày, bó Meissner nằm dưới niêm mạc

- Dây X có tác dụng kích thích đám rối, làm tăng hoạt động cơ học của dạ dày Cắt bỏ dây X gây chứng đầy bụng

- Các sợi cảm giác đưa cảm giác đói, no, đau lên não đi theo dây X

Page 4 of 14Sinh ly tieu hoa

Trang 34

- Các chất dịch: Adrenalin gây giảm nhu động, acetylcholin gây tăng nhu động

3 Tiêu hóa tại ruột:

3.1 Cử động của ruột non: Ruột non có 3 loạ.i cử động

- Cử động qủa lắc: Sự co của cơ dọc làm cho khúc ruột uốn lượn, đẩy thức ăn di chuyển trong ruột Ðoạn đầu của ruột 20 lần/ phút; đoạn dưới 5- 10 lần/phút

- Cử động co vòng từng đoạn: Sự co của cơ vòng thắt từng đoạn, cứ 10 giây 1 đợt, có tác dụng nhào trộn thức ăn và thấm các dịch tiêu hóa

- Cử động nhu động: Phối hợp cả cơ dọc và cơ vòng có hướng đi từ trên xuống phía ruột già, có tác dụng làm thức ăn đi xuống phía dưới 3 cm/ phút

Các cử động xảy ra theo thứ tự: Cơ dọc co, rút ngắn đoạn ruột Cơ vòng co, lúc đó cơ dọc

bị ức chế và cuối cùng là 2 cơ phối hợp

- Ðiều hòa cử động của ruột: Thần kinh phó giao cảm tăng nhu động, giao cảm ức chế Các chất dịch: Acetylcholin, histamin, gastrin tăng nhu động; adrenalin giảm nhu động

3.2 Cử động của ruột già:

- Cử động nhu động và phản nhu động: đầu tiên xảy ra ở đoạn lên, có tác dụng rút bớt nước, sau đó phân được đưa sang đoạn ngang và đoạn xuống

- Nhu động tống phân: 2- 3 lần/ ngày tống phân xuống trực tràng

- Ðộng tác đại tiện: Khi phân đầy trực tràng, cùng với động tác tống phân tác dụng lên cơ thắt trên của hậu môn có tác dụng kích thích niêm mạc gây phản xạ đại tiện Trung tâm gây phản xạ đại tiện nằm ở tủy sống- đốt cùng 3,4,5 và điều khiển cơ thắt vân đại tiện theo ý muốn

có sự can thiệp của vùng vận động trên não bộ

1 Tiêu hóa tại miệng:

1.1 Tuyến nước bọt và cơ chế bài tiết:

Người và động vật có 3 đôi tuyến: Mang tai, dưới lưỡi và dưới hàm Thành phần dịch tiết của 3 tuyến không giống nhau

- Tuyến mang tai: Loãng, có nhiều men tiêu tinh bột;

- Tuyến dưới lưỡi: Ðặc, có nhiều chất nhày, ít men tiêu hóa;

- Tuyến dưới hàm: Tỉ lệ chất nhầy và men tương đương nhau

 Trung tâm tiết nước bọt:

Page 5 of 14Sinh ly tieu hoa

Trang 35

- Trung tâm phó giao cảm nằm ở hành tủy Nhân nước bọt trên điều khiển bài tiết của tuyến dưới hàm và dưới lưỡi Nhân nước bọt dưới điều khiển bài tiết tuyến mang tai (Hình 4.8)

- Trung tâm giao cảm nằm ở sừng bên của tủy sống từ đoạn lưng đến đoạn thắt lưng, có tác dụng giảm sự tiết

Trung tâm tiết nước bọt có thể bị kích thích bởi những trung tâm cao hơn, đặc biệt là trung khu thèm ăn ở vùng dưới đồi Phản xạ có điều kiện gây tiết nước bọt do bữa ăn gây ra mỗi khi nhìn, ngửi hoặc nghĩ tới thức ăn ưa thích Nước bọt cũng được bài tiết mỗi khi đoạn dưới của thực quản bị kích thích (hóc hoặc viêm thực quản(, khi phúc mạc bị kích thích (có thai(, trung tâm nôn bị kích thích cũng gây tiết nước bọt

1.3 Ðặc tính và tác dụng tiêu hóa của nước bọt:

 Ðặc tính: Nước bọt là một hỗn hợp không màu sắc, có khi loãng hoặc sánh như sữa Ðộ sánh phụ thuộc vào hàm lượng protein chứa trong nước bọt một ngày 1 người tiết khoảng 1- 1,2 lít

- Tỉ trọng thay đổi trong phạm vi 1,002- 1,009

Trang 36

lên men

- Men tiêu hóa của nước bọt có tác dụng phân giải tinh bột thành đường:

2.Tiêu hóa ở dạ dày(Thức ăn lưu lại dạ dày 6- 8 giờ(:

2.1 Tuyến dạ dày và cơ chế tiết:

 Tuyến dạ dày:

Ở dạ dày có khoảng 30- 35 triệu tế bào làm nhiệm vụ ngoại tiết Những tế bào tuyến này nằm ở thân và đáy dạ dày và một phần ở hang vị, chúng chia thành 4 loại (hình 4.9):

- Tế bào niêm dịch (bì): Bài tiết chất nhày và muối khoáng khác;

- Tế bào chính: Tiết men tiêu hóa;

- viền (bên): Tiết HCl;

và phó giao cảm, sợi phó giao cảm tăng tiết dịch vị, sợi giao cảm ức chế tiết dịch vị hoặc ít tiết Ngoài ra còn có pha tiết dịch vị theo phản xạ có điều kiện khi người và động vật nhìn hoặc ngửi thức ăn, gọi là dịch vị châm mồi hay dịch vị thèm ăn Pha này có liên quan với các phân tích quan thị giác, khứu giác

- Pha tiết dịch do tiếp xúc: Dạ dày tiết dịch vị khi thức ăn chạm vào dạ dày (hoặc sự va chạm cơ giới, không phải là thức ăn)

Page 7 of 14Sinh ly tieu hoa

Trang 37

aa vào đến tá tràng và thấm vào máu, kích thích tuyến dạ dày bài tiết dịch vị Gastrin do niêm mạc hạ vị tiết vào máu, đến dạ dày kích thích tế bào chính tiết enzim Enterogastrin do niêm mạc tá tràng tiết ra, theo máu về dạ dày tăng tiết dịch vị Histamin là sản phẩn phân giải axitamin, làm tăng tiết dịch vị giàu HCL, ít enzim

2.2 Thành phần và tác dụng của dịch vị:

 Thành phần dịch vị: Dịch vị thuần khiết là chất lỏng không có màu, trong suốt, pH = 0,9

- 1, có thành phần:

- Nước: 95%

- Muối khoáng, đặc biệt là HCl

- Men: pepsin, men sữa- prezua, lipase

- Hormon: Gastrin

 Tác dụng của dịch vị:

+ Chất nhày: Nhóm này gồm nhiều chất như: glycoprotid và muco-polysaccarit , có tác dụng trung hòa 1 phần HCl và pepsin kết tủa tạo thành một vành đai kiềm bao phủ toàn bộ niêm mạc dạ dày

+ HCL:- Làm tăng hoạt tính pepsin của dịch vị bằng cách tạo pH cần thiết để hoạt hóa pepsinogen

- Phá vỡ mô liên kết bao bọc quanh các sợi cơ có trong thức ăn giúp tiêu hóa protein dễ dàng

- Hòa tan Nucleoprotit tạo điều kiện cho pepsin phân giải

- HCl còn có tác dụng sát khuẩn và tiêu hóa cellulose còn non

- Góp phần vào cơ chế đóng mở môn vị và tâm vị

+ Men tiêu hóa:

Pepsin được bài tiết dưới dạng pepsinogen, sau đó được hoạt hóa thành pepsin, dưới tác dụng của HCl

Page 8 of 14Sinh ly tieu hoa

Trang 38

3 Tiêu hóa tại ruột non:

3.1 Bài tiết các dịch tiêu hóa của tuyến tụy và gan:

Dịch tụy và mật theo ống dẫn đổ vào tá tràng, trên bề mặt niêm mạc ruột có các tế bào tiết dịch ruột

 Tuyến tụy ngoại tiết:

Hình 4.10 Sơ đồ cấu tạo tuyến tụy ngoại tiết

Dịch tụy do tế bào tuyến tụy tiết ra, thu góp vào ống chính và đổ vào tá tràng Tế bào nang bài tiết men tiêu hóa, tế bào trung tâm nang bài tiết nước và NaHCO3(Hình 4.10) Tuyến tụy bắt đầu tiết dịch 3- 8 phút sau khi ăn và tiếp tục 6- 18 giờ tùy thành phần thức ăn

Trung khu bài tiết dịch tụy ở hành tủy, xung truyền về từ thụ quan ở miệng và hầu, xung truyền ra theo dây thân kinh X

Ngoài ra cơ chế thể dịch chi phối tiết dịch tụy: Ðộ acid của vị trấp vào tá tràng gây tiết Secretin, chất này theo máu tới kích thích nang tụy bài tiêt nước và NaHCO3 Sản phẩm tiêu hóa của protein và lipid khi vào tá tràng gây tiết Pacreozymin, chất này gây tiết men của dịch tụy đồng thời gây co túi mật, bài xuất mật vào tá tràng

+ Thành phần và tác dụng của dịch tụy:

- Nhóm tiêu protein: Trypsin, Kymotrypsin, Cacboxypolypeptidase

Trypsin được tiết dưới dạng trypsinogen và được hoạt hóa bởi enterokinase của dịch ruột, cắt đứt liên kết peptid mà nhóm -CO thuộc aa kiềm Bản thân trypsin còn hoạt hóa các enzym

Page 9 of 14Sinh ly tieu hoa

Trang 39

Kymotrypsin cũng được tiết dưới dạng kymotrypsinogen và được hoạt hóa bởi trypsin, cắt liên kết peptid mà nhóm -CO thuộc aa có nhân thơm

Cacboxypolypeptidase được bài tiết dưới dạng Procacboxypylypeptidase và được hoạt hóa nhờ trypsin

- Nhóm enzym tiêu hóa lipid: Lipase, Photpholipase, Cholesterol- esterase

- Nhóm tiêu hóa gluxit: Amylase, maltase

- Tác dụng của NaHCO3: Tạo pH cần thiết cho các enzym dịch tụy

Trang 40

Hình 4.11 Sơ đồ bài xuất mật

Mật do gan bài tiết có màu vàng nhạt, sau đó cô đặc khoảng 10 lần, có màu xanh - đen

Phản xạ thải mật thông qua dây X và thần kinh giao cảm Dây X làm co bóp túi mật, giãn

cơ vòng ống dẫn mật Thần kinh giao cảm gây giãn túi mật, co cơ vòng (Hình 4.11) Ngoài ra

vị trấp vào tá tràng gây tiết Cholecystokinin, chất này gây co bóp túi mật

+ Thành phần và tác dụng của mật: Sắc tố mật, muối mật

- Sắc tố mật: Bilirubin, bilivecdin là sản phẩm thoái hóa của huyết cầu tô,ú

không có tác dụng tiêu hóa, nhuộm vàng những chất chứa nó

- Muối mật: Glycolat- Na, Faurocolat- Na

Hoạt hóa lipase;

Làm dễ dàng hấp thu các sản phẩm tiêu hóa của lipid;

Cần thiết cho việc hấp thu vitamin tan trong lípid như VTM A, D, E, K;

Trung hòa acid dạ dày và tăng cường hoạt động nhu động của ruột

3.2 Dịch ruột:

Hình 4.12 Sự xếp nếp của thành ruột non

Niêm mạc ruột có những xếp nếp hình luống, trên các xếp nếp hình luống có rất nhiều nhung mao (Lông ruột), làm tăng diện tích tiếp xúc của ruột (Hình 4.12) Trên nhung mao có những lông nhỏ hơn gọi là vi nhung mao (khoảng) 3000 cái/1 tế bào) Trên niêm mạc ruột có hàng chục triệu tuyến, là những tế bào ở trạng thái phân bào bong ra một cách thường xuyên và giải phóng các enzym tiêu hóa vào lòng ruột Có 4 loại tế bào tiết dịch (Hình 4.13):

- Tế bào đài: tiết chất nhày

- Tế bào tuyến:Liberkuhn nằm ở đáy của tầng niêm mạc, là những tuyến đơn mà thành của chúng được cấu tạo từ tế bào đài- Tiết chất nhầy, tế bào hấp thu- tiết nhiều enzym disacharid và dipeptidase; tế bào đường ruột M (Membranuos epithelial cell( thu nhận kháng nguyên và chuyển kháng nguyên cho tế bào lympho ở phía dưới; Tế bào pancth tiết lyzozym; tế bào nội tiết đường ruột phủ trong các tuyến liberkuhn có khả năng tổng hợp và chế tiết các pôlypeptid với phân tử lượng thấp Tuyến brunner nằm dưới lớp niêm mạc là loại tuyến kiểu túi phân nhánh tiết dịch nhầy kiềm tính giúp bảo niêm mạc là loại tuyến kiểu túi phân nhánh tiết

Page 11 of 14Sinh ly tieu hoa

Ngày đăng: 15/09/2021, 14:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tỉ trọng máu của một sốì lồi động vật - Giáo trình sinh lý động vật
Bảng 1. Tỉ trọng máu của một sốì lồi động vật (Trang 1)
Bảng 2. Tỉ trọng máu của một sốì lồi động vật - Giáo trình sinh lý động vật
Bảng 2. Tỉ trọng máu của một sốì lồi động vật (Trang 2)
Bảng 3. Số lượng hồng cầu của một sốì lồi động vật (triệu/mm3) - Giáo trình sinh lý động vật
Bảng 3. Số lượng hồng cầu của một sốì lồi động vật (triệu/mm3) (Trang 6)
Căn cứ vào sự khác nhau về hình dáng và cấu trúc, người ta chia bạch cầu thành 5 loại, cĩ tỉ lệ nhất định - Gọi là cơng thức bạch cầu - Giáo trình sinh lý động vật
n cứ vào sự khác nhau về hình dáng và cấu trúc, người ta chia bạch cầu thành 5 loại, cĩ tỉ lệ nhất định - Gọi là cơng thức bạch cầu (Trang 8)
Bảng 4. Các yếu tố đơng máu Qúa trình đơng máu:  Diễn ra qua 3 giai đoạn   - Giáo trình sinh lý động vật
Bảng 4. Các yếu tố đơng máu Qúa trình đơng máu: Diễn ra qua 3 giai đoạn (Trang 11)
Hình 3.5 Sơ đồ trao đổi khí - Giáo trình sinh lý động vật
Hình 3.5 Sơ đồ trao đổi khí (Trang 28)
Hình 4.9. Sơ đồ các tếbào tiết của màng nhầy dạ dày Cơ chế tiết dịch vị:   - Giáo trình sinh lý động vật
Hình 4.9. Sơ đồ các tếbào tiết của màng nhầy dạ dày Cơ chế tiết dịch vị: (Trang 36)
Hình 4.10. Sơ đồ cấu tạo tuyến tụy ngoại tiết - Giáo trình sinh lý động vật
Hình 4.10. Sơ đồ cấu tạo tuyến tụy ngoại tiết (Trang 38)
Hình 4.13. Sơ đồ cấu tạo tá tràng và nhung mao ruột non  Thành phần và tác dụng của dịch ruột:   - Giáo trình sinh lý động vật
Hình 4.13. Sơ đồ cấu tạo tá tràng và nhung mao ruột non Thành phần và tác dụng của dịch ruột: (Trang 41)
Theo bảng dưới đây: - Giáo trình sinh lý động vật
heo bảng dưới đây: (Trang 55)
. Lớp tếbào biểu mơ của thành xoang Bowman (Hình 7.1) - Giáo trình sinh lý động vật
p tếbào biểu mơ của thành xoang Bowman (Hình 7.1) (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w