1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Benh do nganh chan khop P1

15 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ quan sinh dục đực có 1 đôi tinh hoàn, đại bộ phận ở đốt ngực thứ nhất, phía trước tuyến tinh kéo dài thành ống dẫn tinh, đến lá giữa của dạ dày bẻ quặt ra sau đi qua các đốt ngực đến [r]

Trang 1

CHƯƠNG 4 BỆNH DO NGÀNH

CHÂN KHỚP ATHROPODA

Đặc điểm chung của ngành chân khớp Athropoda

Động vật ngành chân khớp có số lượng giống loài rất lớn, phân bố rất rộng

trong không khí, trong nước và trong đất, nên hình dạng cấu tạo rất đa dạng,

tuy vậy cũng có một số đặc điểm chung như cơ thể được tạo nên bởi các đốt dị hình, có đối xứng 2 bên, giữa các dốt có các khớp nối nên rất linh hoạt Ký sinh gây bệnh ở động vật thủy sản là các giống loài chân khớp sống dưới nước

thuộc lớp giáp xác (Crustacae)

Lớp giáp xác Crustacea bao gồm những động vật chân khớp sống dưới nước,

có số lượng giống loài cũng rất phong phú Cơ thể của giáp xác phân đốt, các

đốt có kích thước và hình dạng khác nhau Cơ thể chia làm 3 phần: Đầu, ngực, bụng, có các đôi phần phần phụ phân đốt, giữa các đốt có các khớp nối làm cho

các đốt rất linh động Cơ thể được bao bằng vỏ kitin do đó, sự tăng trưởng của giáp xác phải qua sự lột xác, biến thái, vỏ kitin cũ thay đi, vỏ kitin mới được

hình thành Cơ quan tiêu hoá phát triển, một số đã có dạ dày

Giáp xác sống trong nước biển, nước lợ và nước ngọt Có thể bò dưới đáy, sống

trong các tầng nước hay sống trôi nổi phù du, phần lớn có lợi cho con người và các động vật thủy sản khác Có nhiều giống loài như tôm he, tôm hùm, cua là các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế của con người, một số giống loài lại là thức

ăn rất giàu dinh dưỡng của động vật thủy sản nói chung như một số giáp xác

phù du và sống đáy, nhưng một số giống loài lại có hại, trực tiếp ký sinh gây

bệnh ở cá, một số ít ở tôm cua nuôi, gây bệnh ảnh hưởng đến sinh trưởng và

sinh sản, có thể làm cho cá chết hàng loạt Giáp xác ký sinh trên cá chủ yếu

thuộc 3 bộ: bộ chân chèo (Copepoda),bộ mang đuôi (Branchiura), và bộ chân đều (Isopoda)

Bảng 9: Số lượng giống loài động vật chân chèo ký sinh ở động vật thủy sản

Việt Nam

giống

Số loài

Vật chủ

Lớp Crustacea J.Lamarck, 1801

1 Họ Ergasilidae Thorell, 1859 4 12 Cá nước ngọt, nước biển

Trang 2

2 Họ Caligidae Wilson, 1905 1 2 Cá nước ngọt, nước biển

3 Họ Dichelesthiidae M.Edwards, 1840 1 2 Cá nước ngọt, cá biển

4 Họ Lernaeidae Wilson, 1917 1 6 Cá nước ngọt, nước biển

5 Họ Argulidae Miiller, 1785 1 4 Cá nước ngọt, nước biển

biển

1 BỆNH DO BỘ CHÂN CHÈO

COPEPODA KÝ SINH.

1.1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo

Trang 3

Chiều dài biến động trong trong khoảng 0.3-3.2 mm nhưng đa phần có chiều dài nhỏ hơn 2.0 mm Cơ thể có màu nâu hay hơi xám, những loài sống ở vùng triều có màu sáng hơn, có thể có màu tím hay đỏ Màu sắc là do sự phân

bố của các hạt màu caroten có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại tác hại của ánh sáng Cơ thể tương đối thuần nhất về cấu tạo, sự khác biệt giữa các loài được nhận dạng qua sự khác biệt của các đôi phụ bộ

Hình 97 Các dạng phổ biến của Copepoda

A – Cyclopoida; B – Calanoida; C – Harpacticoida

Lớp phụ Copepoda chia thành hai bộ là Eucopepoda và Branchiura trong

đó có 6 bộ phụ là Caligoida, Lernaeopodoida, Arguloida (sống ký sinh) và

Calanoida, Cyclopoida, Harpacticoida sống tự do Nhóm sống ký sinh có B: Calanoida và C: Harpacticoida hình dạng rất biến đổi và thích nghi với điều

kiện ký sinh Nhóm sống tự do có cơ thể phân đốt, hình dài hay hình trụ và chia thành 3 phần là đầu, ngực và bụng

1.1.1 Cấu tạo ngoài

Vùng ngực có 7 đốt nhưng đốt thứ 1 và có thể đốt thứ 2 kết hợp với phần đầu nằm trong vỏ giáp Có thể hai đôi chân ngực thứ 4 và thứ 5 hay thứ 5 và thứ 6 hợp lại thành 1 đốt Phần bụng có từ 3-5 đốt, thường thì có 4 đốt Đốt ngực cuối và đốt bụng đầu tiên dính lại với nhau Mỗi đốt có hình trụ ngắn và cứng, các đốt nối vơi nhau bằng một vòng mềm dẻo và ngắn Khớp nối làm con vật cử động dễ dàng là khớp phân biệt giữa phần đầu và thân Phần thân gồm

có các đốt bụng và đốt ngực thứ 7 (có khi là đốt thứ 6) Phần đầu thật sự có 5

đôi phụ bộ đó là: râu A1 (antennules), râu A2 (antennae), hàm trên (maxillae)

1 và hàm trên 2, hàm dưới (mandibles) Đốt ngực đầu tiên dính với đầu có một

Trang 4

đôi chân hàm (maxillipeds) và từng đốt ngực còn lại mang một đôi chân bơi

Trong một vài loài ở đốt ngực thứ 7 tiêu giảm và đốt này không còn phần phụ

Hình 98 Phân bố các đốt trên bộ phụ của Copepoda

1.1.1.1 Phần phụ đầu: rất biến đổi tùy theo chức năng Râu A1 dài và chỉ

có một nhánh, bao gồm 25 đốt, đây là cơ quan cảm giác nhưng cũng có thể

dùng để vận động Cả hai râu A1 con đực của Cyclopoida và Harpacticoida là

cơ quan sinh dục dùng trong lúc bắt cặp Riêng Calanoida chỉ có râu A1 bên phải làm nhiệm vụ sinh dục Râu A2 ngắn hơn, có 2 hay 1 nhánh có vai trò quan trọng trong việc cãm giác, riêng ở Harpacticoida các râu này có thể dùng

để nắm bắt được Các đôi hàm biến đổi để lấy thức ăn

1.1.1.2 Phần phụ ngực: các đôi chân ngực biến đổi từ lúc bắt đầu cho đến hai đôi chân cuối Nhóm sống tự do đôi chân thứ 6 luôn thiếu ở con cái hay biến đổi chỉ còn dạng sơ khai (ở con đực) Đôi chân số 5 giảm hay tiêu giảm ở nhóm

Cyclopoida và Harpacticoida, nhưng ở Calanoida thì đôi chân này phát triển

cân đối ở con cái và bất đối xứng ở con đực, khí đó nó biến đổi thành cái móc

Trang 5

Hình 100 Các phần phụ của Haparticoida

1.1.1.3 Chạc đuôi: Đốt cuối cùng chẻ hai tạo ra hai nhánh đuôi Cấu trúc

của nó đơn giản có hình trụ không phân nhánh và cũng không giống với phần phụ nào ở đầu và ngực Thông thường trên cơ thể con vật có 5 dạng tơ mãnh mai phát triển từ bộ vỏ ngoài đó là (1) râu khứu giác và (2) bốn dạng khác nằm

ở phần phụ của copepoda như gai lớn, gai nhỏ, tơ ngắn hay tơ dài Các phần phụ này có chức năng khác nhau tùy theo nơi sống của nó, thường giúp con vật bơi, bò hay lấy thức ăn, cũng có khi cãm giác Ngoài ra phần tơ dài ở đuôi có tác động cân bằng hay ổn định khi bơi lội

1 1.2 Cấu tạo trong

Việc nghiên cứu về cấu tạo bên trong của Copepoda rất khó khăn vì có

một hệ cơ rất phức tạp

1.1.2.1 Hệ tuần hoàn : xoang tim chỉ có ở bộ phụ calanoida, còn các bộ phụ

khác có vòng tuần hoàn đơn giản gồm các mạch máu từ hệ tiêu hoá, hệ vận động và các phụ bộ đi về xoang tim

1.1.2.2 Hệ hô hấp : sự trao đổi O2 và CO2 xảy ra trên bề mặt cơ thể và một vài

nơi như phần cuối của ống tiêu hóa được hút và đẩy bởi hệ cơ bên ngoài

1.1.2.3 Hệ bài tiết: chất thải được thải ra qua tuyến ở hàm trên gần phía đầu,

tuy vậy phần sau của đoạn ruột cuối cũng có chức năng bài tiết

1.1.2.4 Hệ thần kinh: tập hợp lại ở phần đầu, một mặt làm nhiệm vụ cãm giác

thấy rỏ tập trung lại thành điểm mắt Theo Stricker (1975) quan sát dưới máy scan điện tử thấy được sự tập trung của các nút cãm giác và tơ cảm giác trên

thân của Copepoda.

Trang 6

1.2 Các hình thức sinh sản và chu kỳ

phát triển.

1 2.1 Các hình thức sinh sản

Tập tính sinh sản hầu như giống nhau ở nhóm copepoda sống tự do, nhưng các loài khác nhau có thời kỳ sinh sản khác nhau Nhưng lại có rất ít số liệu về tập tính sinh sản của nhóm harpacticoida.

Con đực dùng râu A2 và chân ngực V ôm lấy con cái , thời gian ôm nhau vài phút, hoặc có khi đến vài ngày Con đực ôm con cái trước khi con cái lột xác

để thành thục Con đực của Calanoida có lỗ cãm giác nằm trên đốt sinh dục bất đối xứng, trong khi ôm nhau con đực sẽ đưa tinh trùng vào túi chưa tinh của con cái nhờ sự hổ trợ của chân ngực

Sự thụ tinh thật sự xảy ra khi hai cá thể đã tách rời nhau và con cái đẻ trứng, quá trình này hoàn thành trong vài phút hay cả tháng sau khi bắt cặp Trứng thụ tinh sẽ được giữ trên mình con cái trong 1 hay 2 túi trứng cho đến khi nở thành ấu trùng, khi trứng vừa nở thì nhóm trứng khác bắt đầu sinh ra và tiếp tục được thụ tinh

1.2.2 Chu kỳ phát triển

Trong chu kỳ sống của Copepoda, thông thường có 4 dạng hình thái là:

Trứng, 6 giai đoạn ấu trùng nauplius, 5 giai đoạn copepodid

và trưởng thành

T

Hình 101 Các giai đoạn phát

triển của Cyclopoida

rứng của Copepoda nở thành

ấu trùng nhỏ, hoạt động gọi là

Trang 7

nauplius Chúng có 3 đôi phụ bộ để sau đó biến thành râu A1, A2 và hàm dưới Khi lột xác sang giai đoạn II, chúng chỉ có thêm hàm trên Có 4 giai đoạn ấu trùng và 5 giai đoạn tiền trưởng thành khi biến thành con trưởng thành có khả năng sinh sản Sau mỗi lần lột xác, con vật lớn lên và dài hơn đồng thời có thêm phụ bộ Thí dụ như Nauplius IV có đủ các phụ bộ của đôi chân thứ 2, Copepodid I có 4 đốt ngực và có phụ bộ ở đôi chân thứ 4 Cyclopoida có 5 giai đoạn nauplius còn Harpacticoida có 4 hoặc 5 giai đoạn Thời gian để hoàn thành một chu kỳ sống từ trứng cho đến khi sinh sản biến động tùy theo loài và điều kiện môi trường

3 MỘT SỐ BỆNH DO COPEPODA GÂY RA TRÊN ĐỘNG VẬT THỦY SẢN

3.1 Bệnh do giáp xác thuộc họ Ergasilidae ký sinh ở cá

3.1.1 Tác nhân gây bệnh

3.1.1.1 Phân loại

Lớp Crustacea J.Lamarck ,1801

Bộ Copepoda M.Milne Edwards,1834-1840

Họ Ergasilidae Thorell,1859

Giống Ergasilus Nordmann,1832, gây bệnh Ergasilosis ở cá

Giống Sinergasilus Yin,1949, gây bệnh Sinergasilosis ở cá

Giống Neoergassilus, gây bệnh Neoergassilosis ở cá

Giống Paraergassilus,gây bệnh Paraergassilosis ở cá

3.1.1.2 Đặc điểm cấu tạo

a) Giống Ergacilus

Cơ thể chia làm 3 phần: đầu, ngực, bụng

Phần đầu: có hình tam giác hoặc nửa hình trứng Phần đầu và đốt ngực thứ 1

hợp lại thành phần đầu ngực Chính giữa mặt bụng của phần đầu là mắt đơn Đầu có 6 đôi phần phụ: đôi râu (anten) thứ nhất có 5-6 đốt, trên các đốt có các lông cứng, giống copepoda sống tự do Đôi anten thứ 2 có 5 đốt, ở con đực, đôi

râu này giống đôi anten thứ 2 của Copepoda sống tự do, ở con cái, đôi anten

thứ 2 phát triển thành dạng móc bám, để bám vào tổ chức của ký chủ khi ký

Trang 8

sinh Một đôi răng hàm lớn, 2 đôi răng hàm nhỏ và một đôi chân hàm Miệng ở mặt bụng của đầu

Phần ngực: có 6 đốt Đốt thứ nhất dính với phần đầu, từ đốt ngực thứ 2 - thứ 5

có kích thước nhỏ dần từ trước ra sau, đốt thứ 5 nhỏ nhất, thường bị đốt thứ 4 che khuất 1 phần, đốt thứ 6 hơi phình ra lớn hơn đốt hơn thứ 5, đây là đốt sinh dục, có 2 lỗ đẻ trứng ở mặt lưng của đốt Tại đốt sinh dục của con cái thường được gắn với 2 túi trứng, hình dạng túi trứng cũng là 1 căn cứ để phân loại

Ergasilidae Phần ngực có 5 đôi chân bơi 2 nhánh, mỗi nhánh có 3 đốt, riêng

chân bơi thứ 4, nhánh ngoài hoặc nhánh trong thường thiếu 1 đốt, đôi thứ 5 chỉ

có 1 nhánh Trên chân bơi cũng có nhiều lông cứng

Phần bụng: có 3 đốt ngắn và nhỏ hơn rất nhiều so với các đốt ngực Sau cùng

là đuôi, đuôi chẻ nhánh , cuối đuôi có các lông cứng dài

Cơ quan tiêu hoá có miệng, tiếp theo là thực quản ngắn thông với dạ dày Dạ dày lớn ở vị trí từ giáp đầu ngực và nhỏ dần đến giữa đốt ngực thứ nhất thì thắt lại đó là ranh giới giữa ruột và dạ dày Ruột về phía sau nhỏ dần, cuối cùng là hậu môn ở đốt bụng thứ 3

Cơ quan sinh dục của Ergasilus phân tính, con đực và con cái riêng biệt Cơ

quan sinh dục con cái có buồng trứng hình chữ V ở phần đầu ngực tiếp theo là

tử cung, ban đầu là một ống thẳng, sau do số lượng trứng tăng lên, nên tử cung cũng phình to và gấp cong chiếm gần hết xoang giữa phần đầu ngực, 2 ống dẫn trứng nhỏ trong suốt và thường bắt đầu ở đốt ngực thứ 2, nối với tử cung, chạy dọc xuống lỗ đẻ trứng ở đốt sinh sản Tuyến nhờn có 1 đôi nhỏ dài ở mặt lưng phần ngực, chạy đến gần lỗ đẻ trứng, thì thông với ống dẫn trứng Túi thụ tinh

ở mặt lưng từ đốt ngực thứ 2 kéo dài đến đốt sinh sản, mỗi bên có 1 ống nhỏ thông với ống dẫn trứng Lỗ đẻ trứng ở 2 bên mặt lưng đốt sinh sản Khi trứng đến gần lỗ đẻ sẽ được tinh trùng trong túi thụ tinh, thụ tinh cho trứng Trứng thụ tinh sẽ qua lỗ đẻ ra ngoài và tuyến nhờn sẽ tiết chất nhờn tạo nên túi chứa các trứng đã thụ tinh Số lượng trứng trong mỗi túi nhiều hay ít phụ thuộc theo

loài như E.breani có 18-20 trứng; E.parasiluri có 350-400 trứng.

Cơ quan sinh dục đực có 1 đôi tinh hoàn, đại bộ phận ở đốt ngực thứ nhất, phía trước tuyến tinh kéo dài thành ống dẫn tinh, đến lá giữa của dạ dày bẻ quặt

ra sau đi qua các đốt ngực đến đốt sinh sản phồng to thành túi chứa tinh, bên trong túi chứa tinh có kẹp tinh, bên trong có nhiều tinh trùng hoạt động mạnh

Lúc giao phối con đực Ergasilus đưa kẹp tinh ra ngoài cơ thể qua lỗ ở mặt

bụng đốt sinh sản, treo trên lỗ âm đạo con cái Mặt lưng ống dẫn tinh có 1 đôi tuyến nhờn

Ký sinh ở cá nuôi Việt Nam thường gặp 5 loài: Ergasilus scalaris;

E.parasiluri; E.thailandensis; E.philippinensis; E.anchoratus Nhưng thường

nhất là 2 loài Ergasilus thailandensis và Ergasilus philippinensis

Trang 9

Hình 102 .A-Ergasilus thailandensis Capart,1943 (1-mặt lưng; 2-mặt bên);

B- Ergasilus philippinensis Velasquez,1951 (1-mặt lưng; 2-mặt bên)

Hình 103 Một số đặc điểm cấu tạo của Ergarsilus

Trang 10

Hình 104 Cấu tạo cơ quan miệng Ergasilus

1 Răng hàm nhỏ thứ 2; 2 Răng hàm lớn; 3 Răng hàm nhỏ thứ; 4 Phiến hàm; 5 Râu răng

hàm lớn; 6 Môi dưới

b) Giống Neoergasilus

Giống Neoergasilus ký sinh trên cá thường gặp loài Neoergasilosis

japonicus (Harada,1930) Yin,1956 và N longispinosus Yin,1956

Neoergasilosis japonicus cơ thể dài 6,5-8,5mm, đầu hình tam giác, 2 bên có 2

sóng nổi lên Ngực có 6 đốt Đốt thứ nhất đặc biệt lớn, biên sau thành hình cung tròn, ngoài ra 4 đốt nhỏ dần, đốt thứ

5 rất nhỏ, bị đốt thứ 4 che khuất Chiều rộng đốt thứ 5 gấp 5 lần chiều dài Đốt sinh sản bị phình to, rộng, lớn hơn chiều dài Túi trứng ở giữa thô,

2 đầu nhỏ dần Chiều dài túi trứng bằng 0,5-2/3 chiều dài

cơ thể, có 4-5 hàng trứng, số lượng trứng không nhiều Đôi chân bơi thứ nhất đặc biệt lớn, đoạn cuối của 2 nhánh trong

và ngoài dài đến đốt ngực thứ

5, biên sau đốt gốc có răng hình tam giác kéo dài ra phía sau đến giữa 2 nhánh trong và

Trang 11

ngoài Gần phần gốc nhánh trong có 1 hàng răng nhỏ hình tam giác Biên ngoài của nhánh ngoài đốt thứ 2 hướng về sau mọc thành “ngón cái” dạng túi, bề mặt trơn tru, dài bằng 1/3 đốt thứ 3 của nhánh ngoài

T

Hình 105 Neoergasilus japonicus

heo Hà Ký,1969 trên cá nuôi ở Việt nam thường gặp

Neoergasilosis japonicus và Neoergasilosis longispinocus ký

sinh trên cá diếc, cá trê và, một số loài cá khác

c) Giống Sinergasilus:

C

Hình 106 Neoergasilus longispinocus

ơ thể Sinergasilus: Cấu tạo cơ thể

về cơ bản giống với Ergassilus

nhưng có một số đặc điểm khác nhau như sau: Cơ thể chia làm 3 phần: Đầu, ngực, bụng Phần đầu không dính với đốt ngực, giữa phần đầu và đốt ngực thứ nhất có đốt giả nhỏ và ngắn hơn các đốt bình thường Phần ngực cũng có 6 đốt ngực, nhưng từ đốt ngực thứ nhất đến đốt thứ 4 có kích thước gần bằng nhau hoặc có thể hơi cong về mặt bụng, cho nên nhìn mặt lưng đốt thứ 5 bị che khuất 1 phần hoặc toàn bộ Đốt thứ 6 là đốt sinh sản có 5 đôi chân bơi, đôi chân bơi thứ 4 nhánh ngoài hoặc nhánh trong thiếu mất 1 đốt, đôi chân bơi thứ 5 chỉ có 1 nhánh nhỏ Phần bụng có 3 đốt, giữa các đốt bụng có các đốt giả phần cuối có đuôi chẻ nhánh tạo thành mạng đuôi, cuối đuôi có các lông cứng dài Cơ quan tiêu hoá, cơ quan bài tiết, sinh dục tương tự giống

Ergasilus

Ký sinh trên cá nước ngọt Việt Nam thường gặp 2 loài sau: Sinergasilus lien và

Sinergasilus major

Trang 12

d

Hình 100 A Sinergasilus lien B Sinergasilus major

) Giống Paraergasilus

P

Hình 107 A Paraergasilus brevidigitus B Paraergasilus medius

araergasilus có đặc điểm của giống Ergasilus, ngoài ra có sự sai khác chủ yếu: con cái Paraergasilus phần cuối đôi anten thứ 2 có 3 móng nhỏ, nhọn Vỏ kitin hai bên đầu hướng về phía sau kéo dài thành gai Paraergasilus ký sinh trên niêm mạc xoang

mũi, mang của nhiều loài cá nước ngọt: cá trắm, cá diếc, cá chép tỷ lệ và cường độ cảm nhiễm thấp, tác hại không lớn.Cá nuôi ở Việt Nam thường gặp 2 loài:

Paraergasilus medius ; P brevidigitus

Ngày đăng: 14/09/2021, 15:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w