1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài tiểu luận môn lịch sử hành chính

23 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 83,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề tài: CÁC MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC LƯỠNG ĐẦU TRONG LỊCH SỬ HÀNH CHÍNH VIỆT NAMkhái lược lịch sử các mô hình nhà nước lưỡng đầuđặc điểm chung các mô hình nhà nước lưỡng đầubộ máy và sự phân định quyền hạnnhững hệ quả

Trang 2

Hà Nội, Ngày 24 Tháng 3 Năm 2019

Trang 3

III Các mô hình nhà nước lưỡng đầu trong lịch sử hành chính Việt Nam

1 Thời Hai Bà Trưng và thời Hậu Ngô Vương

a, Khái quát

2 Thời Trần- Hồ- Mạc

a, Khái quát

b, Biểu hiện trên bộ máy nhà nước

c, Sự phân định quyền hạn giữa 2 người đứng đầu nhà nước và các cơ quan giúp việc

3 Thời Lê- Trịnh

a, Khái quát

b, Biểu hiện trên bộ máy nhà nước

c, Sự phân định quyền hạn giữa 2 người đứng đầu và các cơ quan giúp việc

IV Những hệ quả

C KẾT LUẬN

Trang 4

A.PHẦN MỞ ĐẦU

Dòng chảy lịch sử Đại Việt luôn diễn ra cuộc đấu tranh theo hai xu hướng đó là cát cứ và thống nhất lãnh thổ Thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ luôn là ý chí và nguyện vọng của nhân dân Sau khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước (968) cho tới tách Đàng Trong, Đàng Ngoài (1672), thì các triều đại phong kiến nước ta ra sức củng cố bộ máy chính quyền, thống nhất từ trung ương tới địa phương Nhưng đến đầu thế kỷ XVI, khi

mà sự mục nát của nhà Lê đã xuống tới cực điểm và Mạc Đăng Dung giành lấy ngôi vua vào năm 1527 thì đó cũng là sự mở đầu của một thời

kỳ hầu như nội chiến phân liệt triền miên giữa các tập đoàn phong kiến, tuy rằng có xen kẽ một số thời gian ngắn quốc gia được thống nhất tạm thời Từ năm 1599 đến 1786 là một thời kỳ có rất nhiều biến cố lịch sử sôi động, phức tạp và thể chế nhà nước cũng có nhiều nét đặc thù Chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài tồn tại từ năm 1592 đến 1786 với 17 đời vua song song với 12 đời chúa Đây là mô hình “lưỡng đầu ” điển hình trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, điển hình về độ dài của thòi gian tồn tại, điển hình cả về độ sâu của các yếu tố cấu thành của một thể chế lưỡng đầu Mô hình “lưỡng đầu ” thời Lê - Trịnh là chính quyền của hai dòng họ, hai thế lực phong kiến lớn, vừa phải dựa vào nhau để trị nước quản dân vừa mâu thuẫn với nhau về quyền lực và quyền lợi

Mô hình “lưỡng đầu” là một loại hiện tượng lịch sử đặc biệt Cơ chế lưỡng phân của quyền lực tối cao này đã đưa lại những tác động to lớn, phức tạp và lâu dài trong lịch sử Việt Nam Nó đã được không ít nhà nghiên cứu quan tâm và trình bày trong các công trình nghiên cứu của mình.Dựa trên những nghiên cứu đó để phân tích rõ hơn về mô hình nhà nước lưỡng đầu Chúng ta cần chỉ ra những đặc điểm của mô hình dựa trên sự phân tích mô hình qua các thời kì của nó, chỉ ra điểm giống khác nhau qua từng thời kì, giữa các thời kì mô hình lưỡng đầu có những sự cải thiện như thế nào

Trang 5

B.NỘI DUNG

I Khái lược lịch sử

Mô hình lưỡng đầu chế xuất hiện rất sớm trong lịch sử nước ta, lần đầu tiên vào năm 40 sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng với người đứng đầu nhà nước là hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị Trải qua thời Hậu Ngô Vương (Ngô Xương Văn- Ngô Xương Ngập) tới thời Trần Hồ Mạc, rồi thời Trịnh-Nguyễn phân tranh thể chế nhà nước lưỡng đầu dần được hoàn thiện và phát triển Trong quá trình phát triển đó, thể chế lưỡng đầu dần được phát triển với một quy mô tổ chức càng mở rộng và cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ.Đây là một mô hình nhà nước đặc sắc rất ít gặp trong lịch sử phong kiến Phương Đông Trong các nhà nước lưỡng đầu đã từng tồn tại trong lịch sử nước ta, thể chế lưỡng đầu thời Trần, Hồ, Mạc và thể chế lưỡng đầu thời Lê-Trịnh ở đàng Ngoài là hai thể chế lưỡng đầu tiêu biểu nhất cho các nhà nướclưỡng đầu đã từng tồn tại ở nước ta về về cả độ dài của thời gian tồn tại và

cả về độ sâu của các yếu tố cấu thành thể chế đó Tuy nhiên do được hình thành dựa trên những nguyên nhân và điều kiện xã hội khác nhau nên về cấutrúc và bản chất nhà nước có rất nhiều điểm khác biệt

Ở mỗi góc độ nhìn nhận khác nhau ta lại có một cách định nghĩa khác vềthể chế nhà nước lưỡng đầu; tuy nhiên dưới góc độ lịch sử nhà nước và phápluật ta có thể hiểu:

- Thể chế nhà nước (thiết chế nhà nước) là toàn bộ cơ cấu xã hội do pháp luật quy định

- Thể chế lưỡng đầu là chế độ chính trị trong đó có hai người cùng nắm quyền cai trị đất nước

Tuy mô hình nhà nước lưỡng đầu đã xuất hiện từ thời Hai Bà Trưng và sau đó được một số người đứng đầu nhà nước áp dụng, nhưng trong đó điển hình và mà mang những đặc điểm nổi bật nhất của mô hình nhà nước này là nhà nước lưỡng đầu thời Trần, Hồ Mạc và nhà nước lưỡng đầu Lê-Trịnh

II.Đặc điểm chung của mô hình nhà nước lưỡng đầu

1,Định nghĩa:

Trang 6

- Thể chế lưỡng đầu (mô hình nhà nước lưỡng đầu) (còn gọi là thiết chế) là toàn bộ cơ cấu xã hội do pháp luật quy định.Thể “lưỡng đầu chế” là một chế định tiêu biểu và độc đáo trong lịch sử Việt Nam Đó là thể chế mà ở đó tồn tại đồng thời 2 thế lực có địa vị, quyền hạn ngang nhau Nói như Lê Kim Ngân thì “lưỡng đầu chế là một chế độ trong đó có hai nhân viên hoặc một nhân viên và một ủy banđứng đầu nền hành chính, trông coi việc cai trị trên cùng một lãnh thổ”

2 Đặc điểm chung của mô hình nhà nước lưỡng đầu

a, Tính bình đẳng:

Sự bình đẳng của hai vị vua luôn luôn là nguyên tắc của hình thái nhà nước lưỡng đầu Nó thể hiện rõ hai người đứng đầu nhà nước có quyền ngang nhau, ngôi thứ bằng nhau, không người nào nắm uy quyền, ngôi vị cao hơn người nào Ở nhà nước lưỡng đầu thời Lê- Trịnh sự bình đẳng tronghình thái phân nhiệm, ngôi vị và quyền hành được phân làm hai khối lượng tương đương, ngôi vị tối cao nhưng vô quyền do vua Lê ngự trị, nhưng ngôi

vị thứ yếu có thực quyền do chúa Trịnh nắm giữ

b, Tính công hợp:

Không một vị vua nào trong hai vị vua có thể quyết định mà không có sự thỏa thuận của vị kia, một vị vua có thể hành động riêng nhưng chịu sự chi phối bằng quyền phủ quyết của vị kia

c, Tính nhị nguyên:

Ở thể chế nhà nước lưỡng đầu, sự phân chia về cơ bản chất quyền hành là ngang nhau Như vua Lê giữ ngôi vị tối cao nhưng mọi quyền lực lại không nằm trong tay mình Với chúa Trịnh ở vị trí thấp hơn, vị trí thứ yếu nhưng thực quyền lại nằm trọn trong tay, thâu tóm mọi lĩnh vực trong đời sống như: chính trị, kinh tế, quân đội…

III Các mô hình nhà nước lưỡng đầu trong lịch sử hành chinh Việt Nam

1.Thời Hai Bà Trưng và thời Hậu Ngô Vương (Ngô Xương Văn- Ngô Xương

Ngập)

a, Khái quát:

(Chị-em, anh-em cùng nắm quyền)

Trang 7

- Mô hình lưỡng đầu chế xuất hiện rất sớm trong lịch sử nước ta, lần đầu tiên vào năm 40 Mùa xuân năm ấy, hai chị em Trưng Trắc - Trưng Nhị khởinghĩa chống ách độ hộ của nhà Đông Hán, chiếm giữ 65 thành, giải phóng lãnh thổ quốc gia và thiết lập chính quyền tự chủ Hai Bà Trưng cùng xưng vương, cùng làm vua, ăn ở sinh hoạt cùng nơi và cùng nhau trị vì đất nước Vai trò, địa vị của họ trong cuộc khởi nghĩa và trong Chính phủ mới khá bình đẳng Tuy nhiên, theo một số sử liệu thì uy tín, quyền lực của Trưng Trắc lớn hơn Trưng Nhị chút ít (có lẽ do Trưng Trắc là chị và là người đầu tiên phát động khởi nghĩa) Chẳng hạn, sách Thuỷ kinh chú viết: “nghĩa quân công phá châu quận, hàng phục được các Lạc tướng, họ đều suy tôn Trắc làm vua” Thể chế này tồn tại đến mùa xuân năm 43 - tận lúc Hai Bà Trưng mất trong cuộc chiến sức với lực lượng của Viện không cân Mã Hơn

9 thế kỷ sau, mô hình lưỡng đầu chế được tái lập dưới thời Ngô

- Năm 944 Vua Ngô Quyền băng hà, em vợ là Dương Tam Kha nhân cơ hội đó chiếm ngôi Năm 951, dẹp xong Dương Tam Kha, hai con trai Ngô Quyền cùng lên làm nguyên thủ Người anh (Ngô Xương Ngập) xưng Thiên Sách Vương, người em (Ngô Xương Văn) xưng Nam Tấn Vương Họ đoàn kết cùng nhau trị vì đất nước Năm 954, Ngô Xương Ngập mất, Ngô Xương Văn một mình ở ngôi nên thế lực yếu dần, phải nhận sắc phong làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ kiêm Đô hộ của nhà Nam Hán, đồng thời bị các cuộc nổi loạn ở khắp nơi trong nước uy hiếp Năm 965, Ngô Xương Văn tử thương và cơ đồ triều Ngô chấm dứt đó Hai mô hình lưỡng đầu chế trên được thiết lập chủ yếu do tình huynh đệ và do điều kiện lịch sử khách quan (Trưng Trắc-Trưng Nhị cũng phát động, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa; Ngô Xương Ngập - Ngô Xương Văn cùng hợp sức lấy lại vương nghiệp của vua cha Khi mọi sự thành công, họ cùng bình đẳng hưởng kết quả là hoàn toàn xứng đáng, hợp lý) Tuy nhiên, hai mô hình này đều tồn tại trong thời gian ngắn ngủi (chừng 3 năm) và chưa phải là một loại thể chế ổn định

2.Thời nhà Trần- Hồ- Mạc

*Cơ sở hình thành;

- Thể chế lưỡng đầu thời Trần, Hồ, Mạc được hình thành trên cơ sở sự tự nguyện của vua cha sớm truyền ngôi cho con nhằm mục đích duy trì sự

Trang 8

ổn định của đất nước: theo "Đại Việt sử ký toàn thư", các vua Trần khi

"con đã lớn thì cho nối ngôi chính, còn cha lui về cung Thánh Từ, xưng

là thượng hoàng, cùng trông coi chính sự” Sự tự nguyện này chỉ là một truyền thống, một tập quán chính trị được duy trì nhờ nó đã phát huy hiệuquả trong hoàn cảnh lịch sử lúc đó Tuy nhiên, vì chỉ là một tập quán nên

nó có thể bị thay đổi và bị loại bỏ Thời gian ở ngôi Hoàng đế của mỗi vị vua trước khi làm Thượng hoàng không cố định và có khi ngắn hơn thời gian làm Thượng hoàng Đôi khi có giai đoạn thể chế lưỡng đầu bị cách quãng do không có Thượng hoàng mà chỉ có 1 người đứng đầu duy nhất

là vua Riêng thời Mạc chỉ có vị vua đầu tiên là sớm nhường ngôi cho con để hình thành thể chế lưỡng đầu, các vị vua sau của nhà Mạc đã bỏ không theo tập quán này

a, Khái quát:

(Cha-con cùng làm vua)

- Giữa thế kỷ XIII, một mô hình lưỡng đầu chế mới lạ - hầu như chưa từngxuất hiện trong lịch sử các nước, nhất là Trung Hoa (vốn được coi là chế độ kiểu mẫu phương Đông thời bấy giờ) - được thiết lập ở nước ta, tồn tại vững chắc và kéo dài một thế kỷ rưỡi (1258-1407) Đó là mô hình thượng hoàng, hoàng đế: hai cha con cùng làm nguyên thủ Hoàng đế (con) là nguyên thủ thực sự, đứng đầu quốc gia, mang danh nghĩa thiên tử, còn thượng hoàng (cha) là nguyên thủ cố vẫn tối cao, có thực quyền (cả về chính trị lẫn về huyết thống) đối với hoàng đế Vị vua khai nghiệp nhà Trần (Trần Thái Tông) sau 33 năm ở ngôi hoàng đế thì truyền ngôi cho con (Thái tử Trần Hoảng) rồi lên làm thượng hoàng Những vị vua tiếp sau đều theo lệ ấy - cứ làm hoàng đế một thời gian rồi truyền lại ngôi cho thái tử, trở thành thượng hoàng Dù các vua lúc lên ngôi đã trưởng thành hay còn ít tuổi (vua Minh Tông lên ngôi lúc 15 tuổi, Hiếu Tông -10 tuổi, Dụ Tông -6 tuổi, Thuận Tông-11 tuổị ) thì đều có vua chú, vua anh giúp đỡ,việc điều hành quốc gia Hoàng đế càng nhỏ tuổi, ốm yếu, kém tài thì vai trò của thượng hoàng càngquan trọng Theo "Đại Việt sử ký toàn thư", các vua Trần khi "con đã lớn thìcho nối ngôi chính, còn cha lui về cung Thánh Từ, xưng là thượng hoàng, cùng trộng coi chính sự Thực ra, truyền ngôi chỉ để yên việc sau, phòng lúc

Trang 9

vội vàng, chứ mọi chuyện đều do thượng hoàng quyết định Vua kế vị khôngkhác gì hoàng thái tử cả" Tổng cộng thời gian các vua Trần trị vì mà bên trên còn thượng hoàng và thái thượng hoàng là 102 năm (thái thượng hoàng

là cha của thượng hoàng, trước đó đã nhường ngôi cho thượng hoàng) Thượng hoàng và hoàng đế tuy có danh xưng, vai trò, địa vị, quan hệ khác nhau nhưng cùng là nguyên thủ, cùng trị vì quốc gia nên trong sử sách, nhiều khi học được gọi chung là hai vua Chẳng hạn, ca ngợi thượng hoàng Trần Thánh Tông và hoàng đế Trần Nhân Tông qua chiến thắng quân xâm lược Mông Nguyên (1285-1288), trong "Bạch Đằng giang phú", tác giả Trương Hán Siêu viết; Hai vua thánh chừ anh minh Đem nước sông chừ rửa giáp binh Bụi Hồ không dám động chừ ngàn năm thanh bình Còn trong

"Đại việt sử ký toàn thư", Ngô Sỹ Liên cùng các sứ thần triều Hậu Lê cũng dùng từ hai vua khi viết về Hội nghị Diên Hồng tháng chạp năm Giáp Than

1284 ("Giặc Hồ vào cướp là nạn lớn của đất nước Hai vua hiệp mưu, bầy tôihọp bàn ") và về việc duyệt quân chuẩn bị đi đánh Chiêm Thành tháng mười năm Bính Thìn 1376 (" đại duyệt quân thuỷ bộ ở bãi cát sống Bách Hạc, hai vua đích thân làm tướng") Việc thiết lập mô hình thượng hoàng - hoàng đế là một kỹ thuật cai trị khôn khéo, cẩn thận của các vua Trần, vì thái

tử cần có một thời gian làm quen, tập dượt việc triều chính; trong lúc đó thượnghoàng vẫn giữ vai trò lãnh dạo tối cao, quyết định mọi chuyện trọng đại Cách tập dượt này toàn diện hơn so với ở các triều Ngô, đinh, Tiền Lê,

Lý trước đó (chỉ cho thái tử thay vua cha làm quen với một số công việc nhưcầm quân đi diệt giặc, tổ chức đón tiếp sứ thần nước ngoài, giải quyết án kiện ) Mặt khác, truyền ngôi khi vua cha còn sống đảm bảo sự ổn định, suôn sẻ của việc nối ngôi, tránh những rắc rối từng thường xuyên gặp như chuyện các hoàng tử tranh giành ngôi (đẫm máu nhất là những cuộc tranh giành ngôi của các con vua Lê Đại Hành năm 1005, của các con vua Lý Thái

Tổ năm 1028 - sau khi cha họ đột ngột băng hà) hoặc ngôi vua bị chiếm bởi người ngoại tộc (ngôi vua Ngô bị Dương Tam Kha chiếm năm 944 sau khi Ngô Quyền băng hà, ngôi vua Đinh mất vào tay Lê Hoàn năm 980 sau khi Đinh Tiên Hoàng băng hà ) Chế độ thượng hoàng - hoàng đế vừa giống các chế độ phụ chính, nhiếp chính vốn khá phổ biến trong lịch sử (nếu vua còn nhỏ hoặc năng lực kém thì có một vài quan đại thần làm cố vấn, giúp vua trị vì), lại vừa khác hẳn ở chỗ quan hệ huyết thống chặt chẽ (cha-con) và

vị cố vấn vấn có quyền quyết định tối cao (đối với cả vua lẫn quốc gia), trực

Trang 10

tiếp tham gia điều hành bộ máy Nhà nước, đảm bảo sự kế thừa liên tục và vững chắc, ngăn chặn những hiện tượng suy thoái hoặc biến loạn gây bất ổn định chính trị Mô hình thượng hoàng - hoàng đế của nhà Trần còn lặp lại ở các triều đại sau đó

- Đoạt được ngôi nhà Trần (năm 1400), Hồ Quý Ly làm vua 1 năm rồi

nhường ngôi cho con (Hồ Hán Thương), lên làm thượng hoàng đến tận lúc nhà Hồ bị diệt (năm 1407)

- Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Hậu Lê năm 1527, làm vua 3 năm rồi nhường ngôi cho Mạc Đăng Doanh, lên làm thượng hoàng, cùng con trị vì đất nước (1530-1541) Thời Lê Mạc (Lê-Trịnh), Lê Thần Tông cũng làm thượng hoàng (1643-1649) bên cạnh vị vua con là Lê Chân Tông, nhưng môhình lưỡng đầu chế thời kỳ này đã biến đổi sang một hình thức đặc biệt khác: vua Lê - chúa Trịnh

b, Biểu hiện trên bộ máy nhà nước:

Thể chế lưỡng đầu thời Trần, Hồ, Mạc chỉ được thể hiện qua hai cá nhân đứng đầu nhà nước là Thượng hoàng và Vua Qua công việc hoạt động của 2 người đứng đầu mà thể chế lưỡng đầu được xác lập Tuy nhiên chỉ có một cơ cấu tổ chức quan lại duy nhất từ trung ương đến địa phương Tất cả các cơ quan này cùng giúp việc cho cả Thượng hoàng và Hoàng đế

c, Sự phân định quyền hạn giữa hai người đứng đầu nhà nước và các cơ quan giúp việc có liên quan:

-Sự tập trung quyền hạn cao độ vào tay một người:

Trong thời kỳ Trần, Hồ, Mạc: địa vị của hai vua được xem là ngang nhau, giữa hai vua không có quy định pháp luật bắt buộc phải tuân thủ mệnhlệnh của nhau Tuy nhiên, vua con thường nghe theo hướng dẫn của vua cha giống như một người con chịu sự giáo dục của người cha Mặt khác, cũng không có sự phân định quyền hạn riêng rẽ giữa Thượng hoàng và Vua Cả hai vua đều có quyền lực trên mọi lĩnh vực của đất nước, tuy nhiên vua thường không ra mệnh lệnh trái với lệnh của Thượng hoàng và ngược lại

-Sự phân định về quyền hạn giữa các cơ quan giúp việc cho hai người đứng đầu:

Trang 11

Triều đình Trần, Hồ, Mạc hầu như chưa có cơ quan chuyên trách cụ thể trong nhiệm vụ giúp việc cho từng người đứng đầu Người đang chịu sự sai khiến của vua con có thể được vua cha sai khiến.

-Các chức quan và các cơ quan:

Các triều đại Trần, Hồ, Mạc thường chỉ có hai ban là văn ban và võ ban, đến thời này, do chúa Trịnh tin dùng các hoạn quan, nên lập thêm giám ban,

và gọi những người này là tín thần Cách tổ chức quan lại dưới thời Trần,

Hồ, Mạc còn khá đơn giản và số lượng chức quan còn ít

3 Thời Lê- Trịnh

* Cơ sở hình thành

Thể chế lưỡng đầu Lê-Trịnh đã từng bước được luật pháp hoá để trở thành

cơ sở pháp lý vững chắc cho sự tồn tại lâu dài và liên tục của nó Chúa Trịnh

là người nắm quyền thực sự trong tay và quyền này được chính thức thừa nhận trong các văn bản của vua Lê, khởi đầu là Sách văn phong với nội dungVua Lê uỷ quyền chính thức cho Chúa Trịnh trong việc cái quản đất nước Ngoài ra điều này luôn được nhắc đến trong các chiếu lên ngôi của các vua

Lê Ở đó không chỉ nói tới đức độ của các tiên đế mà còn ca ngợi nghiệp trung hưng xã tắc của các tiên vương họ Trịnh, để rồi kết luận: việc trị quốc

an dân vua hoàn toàn nhờ cậy Trịnh vương trông coi

a, Khái quát:

(Vua-chúa cùng làm nguyên thủ)

Trong tất cả các mô hình lưỡng đầu chế kể trên, hai vị nguyên thủ đều có quan hệ huyết thống với nhau, chung mục đích và chung sự nghiệp, do đó hình thức là "lưỡng đầu" nhưng thực ra bản chất chế độ là một Khác hoàn toàn với nó là mô hình vua Lê - chúa Trịnh, tồn tại suốt 240 năm (1546-1786) với nhiều biểu hiện, nhiều diễn biến phức tạp Năm 1527, Mặc Đăng Dung đoạt ngôi vua Lê Quan đại thần nhà Lê là Nguyễn Kim chạy sang Lào, tôn Lê Duy Ninh lên ngôi vua (năm 1532), lãnh đạo lực lượng chống lại nhà Mạc Năm 1545, Nguyễn Kim mất, quyền lực rơi vào tay con rể là Trịnh Kiểm Năm 1546, Trịnh Kiểm cho tổ chức lại triều đình, chuyển về đóng đô ở Vạn Lại (Thộ Xuân- Thanh Hoá) mượn danh nghĩa "phù Lê diệt

Ngày đăng: 12/09/2021, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w