1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

tìm hiểu về dân tộc Chăm

63 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 561,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tìm hiểu về nguồn gốc, phong tục tập quán, văn hóa lối sống, trang phục truyền thống của người dân tộc Chăm. Cảm ơn quý đọc giả đã tham khảo...Chúc bạn có ngày mới tốt lành :33333333333333333333333333

Trang 1

Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam Giảng viên: TS Nguyễn Anh Cường

Tìm Hiểu Về Dân Tộc Chăm

Thành viên nhóm 10 (Donald Chăm):

- Trần Minh Hiếu (C) - Vũ Thị Chiều

- Nguyễn Trọng Phú - Chu Thị Phương Linh

- Nguyễn Xuân Minh - Trần Thị Diễm

- Cầm Trọng Hoàng - Tòng Thị Tiên

- Lý Đức Thiện

Trang 2

MỤC LỤC

I, TÌM HIỂU CHUNG .tr 2-4

II, KINH TÊ tr 4-9

III, VĂN HÓA VẬT THỂ tr 9-27

IV, VĂN HÓA PHI VẬT THỂ tr 27-45

V, VĂN HÓA – XÃ HỘI tr 45-49

VI, PHONG TỤC TẬP QUÁN tr 49-60

VII, XU THÊ BIÊN ĐỔItr 60-62

VIII, TƯ LIỆU THAM KHẢO tr 63

I, TÌM HIỂU CHUNG

1, Tên gọi:

- Người Chăm, hay còn được gọi là người Chàm, Chiêm, Chiêm Thành,… là

một trong 54 dân tộc Việt Nam

2, Dân số, phân bố:

- Theo số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, dân tộc Chăm có

khoảng 179.000 người

- Người Chăm cư trú chủ yếu ở duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và

vùng đồng bằng sông Cửu Long (chủ yếu ở An Giang) Người Chăm tập

trung đông nhất ở 2 tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận với khoảng 87.000

người Người Chăm ở 2 tỉnh này được chia thành những cộng đồng tôn giáo

khác nhau: người Chăm theo đạo Bà-la-môn và người Chăm Bà-ni Còn những người Chăm ở Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ chủ yếu theo đạo Hồi

(chủ yếu sống tại An Giang, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh), gọi là

Chăm Islam Ngoài ra còn có khoảng 21.000 người Chăm Hroi (người Chăm

Trang 3

theo tín ngưỡng nguyên thủy riêng) sống tại phía Tây 2 tỉnh Bình Định vàPhú Yên

3, Lịch sử hình thành:

- Huyền thoại kể rằng khi thần Shiva khiển tướng Nataraja múa một điệu múa,

toàn thể vũ trụ sẽ hủy diệt và tạo nên vũ trụ mới Trong vòng quay vô cùngtận của thời gian, sự chấm dứt cũng là khởi điểm cho sự bắt đầu Và đó cũng

là lịch sử của nhiều quốc gia, dân tộc, trong đó có dân tộc Chăm Trong dòngmiên viễn của lịch sử, người Chăm như một mùa hoa kéo dài hơn ngàn nămđể rồi hương sắc của mùa hoa đó còn lan tỏa cho đến ngày nay

- Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nguồn gốc xa xưa của đồng bào là cư dân cô

Sa Huỳnh GS Ngô Đức Thịnh lại cho rằng vào những thế kỷ giáp Côngnguyên, do mở rộng môi trường sinh sống ban đầu, một bộ phận nào đó của

cư dân Sa Huỳnh đã lên Đắk Lắk, Tây Nguyên cộng cư với các cư dân nóingôn ngữ Nam Á vốn sinh sống lâu đời ở đó Sau này, cùng với nhữngchuyển biến kinh tế-xã hội và nhất là sự ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, một bộphận cư dân Sa Huỳnh ven biển đã tiến sang xã hội có giai cấp, hình thànhnên vương quốc Chăm pa, còn những bộ phận cư dân vùng núi và caonguyên nằm xa vùng ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa Ấn Độ, trình độ pháttriển thấp hơn, sau này hình thành nên những cộng đồng người như Ê-đê,Gia-rai, Chu-ru,

- Trước thế kỷ 2, vùng đất của người Chiêm Thành cô được biết đến với cái tên Hồ Tôn (trong sách “Lĩnh Nam trích quái”) 111 TCN, nhà Hán thôn tính

nước Nam Việt, nhà Hán chia Nam Việt thành 6 quận, đồng thời lập thêm 3quận mới, trong đó có Nhật Nam Dưới thời cai trị của nhà Hán, Chăm pa làhuyện Tượng Lâm, thuộc quận Nhật Nam

- Năm 192, nhân dân Tượng Lâm nôi dậy, Khu Liên trở thành Quốc vương

đầu tiên của một quốc gia người Chăm độc lập tên là Lâm Ấp Trong suốt 16

thế kỷ tồn tại của mình, Chăm pa (Chiêm Thành) có mối quan hệ bang giaonhiều thăng trầm với những triều đại phong kiến Việt Nam Chăm pa dần dần

sáp nhập lãnh thô vào Việt Nam, nhất là kể từ thế kỷ 15 Năm 1471, Hoàng

đế Lê Thánh Tông thân chinh cầm quân đi đánh Chiêm, thành Đồ Bàn(Vijaya) bị san phẳng, vùng đất nay là 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và

Trang 4

Bình Định sáp nhập vào Đại Việt 1611, dưới thời chúa Nguyễn Hoàng, vùng đất nay là Phú Yên sáp nhập vào Đại Việt 1653, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, vùng đất nay là Khánh Hòa sáp nhập vào Đại Việt 1693, dưới thời chúa

Nguyễn Phúc Chu, vùng đất nay là Ninh Thuận, Bình Thuận sáp nhập vàoĐại Việt, chúa Nguyễn cho lập Thuận Thành trấn ở đây tuy nhiên người

Chăm vẫn được hưởng chế độ tự trị 1832, Minh Mạng đem quân đánh

Thuận Thành trấn, vương quốc Chiêm Thành sụp đô

- Vùng cư trú cổ nhất của người Chăm ở Việt Nam là tỉnh Ninh Thuận và

Bình Thuận, nơi đây còn duy trì nhiều nét sinh hoạt kinh tế, văn hóa truyền

thống, phần lớn phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo xưa Tiểu quốcPanduranga (Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay) cũng là tiểu quốc Chăm tồntại lâu nhất

- Qua tài liệu lịch sử, người Chăm ở Nam Bộ ngày nay do 3 nhóm hợp thành:

nhóm từ Nam Trung Bộ vào, nhóm người Chăm nguyên là lính trấn biên của nhà Nguyễn, nhóm Chăm Nam Bộ theo Hồi giáo

II, KINH TÊ

- Hoạt động kinh tế của dân tộc Chăm đa dạng, do cư trú ở những vùng miền

khác nhau, môi trường sinh sống khác nhau Hai hoạt động sản xuất chính

của người Chăm là nông nghiệp và thủ công nghiệp

1, Nông nghiệp

- Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng

lúa nước Nghề lúa nước cần nhiều nước, thế nhưng 2 tỉnh này lại là 2 tỉnh cólượng mưa thấp nhất cả nước do đặc điểm địa hình Trong quá trình định cư ởđây, để tiến hành làm ruộng một cách hiệu quả, nhất là tại đồng bằng Phan

Rang (Ninh Thuận), đồng bào nơi đây đã có những thành tựu đáng kể trong việc chinh phục vùng đất thiên nhiên khô hạn này để làm nông Tương

truyền, vua Poklonggirai (1151-1205) đã cho xây dựng đập Nha Trinh vàokhoảng thế kỷ 12 – một hệ thống gồm 1 đập trên sông Cái dài 385m, cao 5m

và rộng 3m, bốn đập nhỏ và hai con mương: mương Cái (dài 60km) và

Trang 5

mương Đực (dài 50km) Hệ thống thủy lợi này cung cấp nước cho trên 1 vạn

ha đất gieo trồng

- Đối với cư dân trồng lúa nước, tư liệu sản xuất quan trọng nhất là đất đai.

Trước đây, hầu hết ruộng đất do chính quyền phong kiến và quan lại nắm giữ

Ở cấp độ làng, người Chăm có một số cơ ruộng gọi là ruộng hương điền, điều

này giống như ruộng công của làng xã trong các triều đại phong kiến ViệtNam

- Ruộng của người Chàm được chia thành 3 loại: thủy điền (hamu thoòn) –

loại ruộng ở vùng đồng sâu, đất thấp, thường là vùng lũng thấp xen kẽ giữa

các vạt đồi núi chạy lan từ chân dãy Trường Sơn ra biển , ruộng trầm thủy

(hamu ya) – ruộng quanh năm có nước và ruộng sơn điền (hamu rilon) –

ruộng khai khẩn ở vạt đồi, chân dãy núi

- Canh tác lúa của người Chăm được thực hiện dựa vào hệ thống nông lịch và

chịu chi phối bởi rất nhiều tín ngưỡng dân gian trong sản xuất Nông lịch củađồng bào chia một năm thành 12 tháng, tháng chẵn 29 ngày, tháng lẻ 30 ngày.Sau 3 năm lại có một năm tiểu nhận, sau 36 năm lại có một năm đại nhuận,tháng nhuận có 29 ngày Theo tín ngưỡng dân gian, đồng bào cho rằng ngàymùng 1 và một số ngày cuối tháng là những ngày xấu nên không tô chức cáchoạt động kinh tế

- Kỹ thuật canh tác lúa nước của người Chăm cũng tương tự như người Kinh,

gồm các công đoạn: cày vỡ, cày sâu, cày lật đất, bừa ải, rải phân, trang trục,gieo mạ, cấy lúa, làm cỏ, chăm sóc, thu hoạch Sự khác biệt chỉ thể hiện trithức về giống, bảo quản và gieo trồng hạt giống Tùy theo mùa vụ, loại đấtruộng cũng như sự chiêm ngẫm thời tiết, đồng bào lại có sự lựa chọn giốngcây khác nhau

- Người Chăm Hroi sinh sống bằng nghề làm nương rẫy ở vùng cao và ruộng

nước ở vùng thấp Đồng bào làm nương theo phương pháp cô truyền: phátcây, đốt, trỉa, khi làm ruộng, đồng bào dùng hai con bò để kéo Gia súc đượcnuôi nhiều nhất là bò

Trang 6

2, Thủ công

Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận có hai nghề thủ công truyền thống,

đó là nghề gốm với tiêu biểu là làng gốm Bàu Trúc (Ninh Thuận) và nghềdệt với đại diện là làng Mỹ Nghiệp (Ninh Phước, Ninh Thuận)

a, Nghề gốm

- Vật liệu làm gốm của người Chăm là đất sét lấy từ sông Quao, đem về đập

nhỏ và trộn với cát mịn nhào nhuyễn Lượng cát được trộn vào tuỳ thuộc theokích thước và công dụng của mỗi loại sản phẩm Gốm Bàu Trúc do đó hoàntoàn khác so với gốm của những nơi khác

- Sản phẩm gốm được nung lộ thiên ở nhiệt độ khoảng 500-6000 độ C trong 6

giờ với củi, rơm và trấu, sau đó được lấy ra để phun màu (loại màu này đượcchiết xuất từ cây rừng) rồi được tiếp tục nung lại trong 2 giờ Kiểu nung lộthiên giúp người Chăm tự do trong việc chọn màu cho gốm, mặc dù phụthuộc vào tự nhiên Gốm Bàu Trúc vì thế có màu đặc trưng vàng đỏ, đỏ hồng,đen xám, vệt nâu, tạo thành các sản phẩm gốm độc đáo với tính độc bản cao

Nghề gốm của người Chăm không sử dụng bàn xoay Đây là yếu tố quan

trọng để nghề làm gốm của người Chăm nôi tiếng, vang xa

- Hoa văn trang trí trên gốm Bàu Trúc là những đường khắc vạch hình sông

nước, chấm vỏ sò và thực vật; có cả hoa văn móng tay trên vai cô gốm rấtmộc mạc, gần gũi, nhẹ nhàng

- Ngày 21 tháng 10 hàng năm (nhằm ngày mùng 3 tháng 7 Chăm lịch) là ngàygiỗ tô nghề của đồng bào Chăm tại làng Bàu Trúc (ông Poklong Chanh)

b, Nghề dệt

- Lịch sử ghi lại rằng trước kia làng có tên Chăm là Ca Klaing, tên tiếng Việt làMỹ Nghiệp Thế kỷ XVII, bà mẹ xứ sở Pô Inư Nưga đã đến vùng đất này,nhận thấy khí hậu nơi đây thích hợp với việc trồng bông lấy tơ dệt vải Bà đã

truyền lại nghề cho Ong Xa và bà Chaleng là hai vợ chồng đang sinh sống ở

làng Từ đó, cùng với làng gốm Bàu Trúc, Mỹ Nghiệp đã được phát triển đếntận ngày nay

Trang 7

- Nghề dệt là một nghề thủ công truyền thống của người Chăm Nghề dệt thô

cẩm ở Mỹ Nghiệp được phát triển từ nghề dệt truyền thống của người Chămtại Ninh Thuận Ấn tượng nhất của làng nghề chính là các sản phẩm được

làm hoàn toàn thủ công, lưu giữ đời này sang đời khác bằng hình thức "mẹ truyền con nối" Phụ nữ làm nhiệm vụ chính dệt vải, đàn ông sẽ nhận trách

nhiệm cắt may thô cẩm thành sản phẩm

- Nguyên liệu chính làm nên thương hiệu dệt Mỹ Nghiệp chính là cây bông vải được trồng tại chính địa phương Sau đó, phải trải qua rất nhiều công

đoạn: bông sau khi thu hoạch được tách hạt, se sợi, cuộn, ngâm, dập, nhuộm,

hồ, chải, đánh bóng rồi đem phơi Khâu nhuộm được coi là quan trọng nhất,

đòi hỏi kinh nghiệm, thẩm mỹ cao để pha màu sao cho đa dạng mà vẫn hàihòa

- Thô cẩm Mỹ Nghiệp chọn màu đen là màu chủ đạo, màu nền cho tấm vải.

Tất cả các màu đều được làm từ lá, vỏ cây rừng, như màu đen lấy từ lá câychùm bầu đem ngâm bùn non, màu đỏ từ mủ cây cánh kiến, màu xanh từ lávỏ cây tràm Để làm ra được tấm thô cẩm có màu sắc rực rỡ, toát lên đượcnhững tinh hoa văn hóa truyền thống Chăm đặc sắc là cả một quá trình côngphu của những người phụ nữ làng Mỹ Nghiệp Các biểu tượng hoa văn mangđậm bản sắc dân tộc Chăm: hình quả trám, hình rồng cách điệu, thần đèn,thần Shiva và gần đây đã phát triển có thêm hình voi Tây Nguyên, hoa maicủa người Kinh

- Ở Châu Đốc (An Giang) và TP Hồ Chí Minh, nghề dệt cũng khá phát triển.

Người Chăm làm nghề dệt ở đây đã học hỏi kinh nghiệm dệt của người Khmer và người Hoa để cải tiến khung dệt cô truyền và nâng cao chất lượng

sản phẩm dệt

3, Chăn nuôi

- Chăn nuôi là hoạt động kinh tế phụ trợ trong nông nghiệp, đồng thời bô trợ

cho hoạt động nông nghiệp những khâu sản xuất quan trọng cần tới sức kéonhư cày bừa, chuyên chở,

- Hoạt động chăn nuôi của người Chăm, đặc biệt ở miền Trung còn chịu ảnhhưởng nhiều từ luật tục và tôn giáo Luật tục quy định 3 tội nặng nhất của

Trang 8

con người là: chém trâu, đốt nhà, lấy vợ người khác Do đó, gia súc nuôi để

trở thành hàng hóa chứ không trực tiếp giết mô Họ kiêng nuôi con nghé đen

của con trâu mẹ trắng, nhưng lại coi việc con trâu mẹ đen đẻ ra nghé con trắng là một điềm lành, mang lại may mắn cho gia chủ Trong mua bán gia

súc cũng có những kiêng kỵ, họ không mua những con vật có khiếm khuyếtvề cơ thể

- Người Chăm Bà-la-môn không ăn thịt bo vì họ cho rằng con bò là vật linh

theo truyền thuyết bò thần Nađin của các vị thần Vishnu và Uma, nhưng họ

vẫn nuôi bo để bán

- Đối với người Chăm Bà-ni với Chăm Hồi giáo, lợn là con vật hiện thân cho sự ngu si, dốt nát, kinh tởm nên không ăn, không nuôi, không dung chứa hình ảnh con lợn trong cộng đồng

4, Săn bắn, hái lượm

- Giống như hầu hết các cộng đồng tộc người hoạt động kinh tế săn bắn hái

lượm không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế của người Chăm ở Việt Nam Tuynhiên còn tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi vùng mà hoạt động này diễn ranhiều hay ít Hái lượm là công việc của người phụ nữ cũng như trẻ em trongtừng hộ gia đình người Chăm Săn bắn là việc của người đàn ông, giúp cungcấp lương thực thực phẩm, bán lấy tiền góp phần cải thiện cuộc sống, bảo vệcác khu trồng trọt của con người Tài săn bắn của đàn ông người Chăm H’roicũng được coi là một thước đo giá trị

- Người Chăm Hroi có tục “suốt cá” rất đặc sắc Người Chăm Phú Yên thì đào

củ tlắt, trong khi người Chăm Bình Định lại lấy vỏ cây chơnung và vỏ câyđơn, sau đó, họ giã nát những loại thực vật này, vây chặn một khúc sông suốirồi bỏ “suốt” ở đầu nguồn Cá say thuốc, nôi trắng trên mặt nước

- Ngày nay hoạt động săn bắn đã giảm thiểu do rừng suy kiệt nhưng hoạt động

hái lượm vẫn được duy trì để phục vụ nhu cầu chất đốt

Trang 9

- Đánh bắt cá là hoạt động kinh tế chủ yếu của người Chăm miền Tây Nam

Bộ, ngư trường chính của họ là hai bên bờ sông Hậu và các chi lưu Là hoạt

động chiếm trọn thời gian trong một năm và được chia làm ba vụ cá, vụ mùa

mưa, vụ nước đô và vụ màu Hoạt động kinh tế đánh bắt cá trên sông hayđồng ruộng đóng vai trò phụ trợ ít ỏi trong hệ cơ cấu kinh tế của người Chăm

ở miền Trung Cho tới bây giờ hoạt động đánh bắt cá của người Chăm ở miềnTây Nam Bộ có sự biến đôi rõ rệt Tuy nhiên, người Chăm ở miền Trung lạikhông có truyền thống đánh bắt cá trong khi địa bàn sinh sống của họ là vùngduyên hải, cho dù qua tài liệu lịch sử để lại ghi chép, họ là những cư dânthiện nghệ nghề biển Đội chiến thuyền của Chăm pa từng là nỗi ám ảnh củanhững quốc gia láng giềng

5, Kinh doanh

- Ở TP Hồ Chí Minh có một bộ phận người Chăm chuyên sinh sống bằng nghề

buôn bán Họ buôn bán nhỏ các mặt hàng: vải, quần áo trẻ em, mỹ phẩm, một

số khác làm thợ hàn, lái xe,

- Nhìn chung, từ lâu đời, những thương lái Chăm đã có quan hệ đôi chác, buôn

bán với các dân tộc ở Tây Nguyên, các dân tộc Kinh, Lào và Cam-pu-chia vàmột số nước Đông Nam Á Một địa điểm địa hình nói lên sự phát triển buônbán của người Chăm là Đại Chiêm hải khẩu trên cửa sông Thu Bồn (QuảngNam)

III, VĂN HÓA VẬT THỂ

1, Nhà ơ

a, Nhà ở Chăm Ninh Thuận – Bình Thuận

- Nhà ở của đồng bào Chăm tại Ninh Thuận, Bình Thuận là nhà trệt Vật liệu

làm nhà chủ yếu là gỗ, tre nứa, đá kê chân cột và mái nhà lợp ngói, lợp lábuông, lá dừa hoặc rơm, rạ Nhà giàu thường làm ván sàn còn nhà nghèo chủyếu ở luôn trên nền đất được nện kỹ và nén chặt

+ Khuôn viên nhà ở truyền thống của người Chăm không chỉ có một ngôinhà mà số lượng nhà trong khuôn viên phụ thuộc vào việc gia đình đó có

mấy người phụ nữ đã kết hôn Ngoài ra số lượng ngôi nhà trong khuôn viên

Trang 10

còn phụ thuộc vào việc gia đình đó thuộc tầng lớp nào trong xã hội Trong

gia đình tầng lớp chức sắc quý tộc, khuôn viên sẽ có đủ 7 ngôi nhà, còn tầng lớp dân nghèo thường chỉ có 5 ngôi nhà

+ Trong 7 ngôi nhà của tầng lớp chức sắc quý tộc bắt buộc phải có 5 ngôi

nhà ở Đầu tiên, quan trọng nhất là nhà bếp (thang ging) – linh hồn của toàn

bộ ngôi nhà – ngôi nhà được xây đầu tiên, sau đó đến nhà tục (thang

yơ)-nơi dành cho đôi vợ chồng mới cưới ở Đây là ngôi nhà quan trọng của

người Chăm vì mọi nghi lễ của gia đình (tang ma, cưới hỏi…) đều diễn ra

nơi đây Người Chăm quan niệm nhà bếp là nơi tượng trưng cho sự sinh sôi

nảy nở Trong bếp, đồng bào đặt 3 hòn đá tượng trưng cho 3 vị Táo quân.Việc thờ cúng sẽ do người phụ nữ đảm nhận

+ Tiếp đó là nhà ngang (thang lâm)- nơi bố mẹ và các anh chị em chưa vợ,

chưa chồng ở Mái của nhà ngang thường có 2 lớp, lớp ở phía dưới làm bằngđất trộn với rơm Kiến trúc mái 2 lớp này có tác dụng chống nóng và chống

hỏa hoạn cho căn nhà Trong ngôi nhà thang lâm, có một vật dụng giống

như cái rương để cất giữ của cải, tiền bạc, những món đồ quý giá Đó cũng

là nơi ngủ nghỉ của ông chủ nhà Khi cần lấy món đồ nào đó được giữ trongrương thì người Chăm phải chọn ngày tốt, bởi theo quan niệm của đồng bào,ngày không tốt thì lấy 1 thôi sẽ đi theo 10

+ Sau nhà ngang là nhà song hay còn gọi là nhà kề (thang mư yâu) Đây là

ngôi nhà mà vợ chồng người chị gái đầu sẽ ở khi cô em gái thứ hai lấy

chồng, nhường lại ngôi nhà tục cho vợ chồng em gái Người Chăm kiêng làm cửa của nhà kề đối diện với cửa của nhà cao cẳng vì đồng bào tin rằng

điều này tượng trưng cho sự đấu khẩu, gây nên bất hòa trong gia đình

+ Cuối cùng là đến nhà cao cẳng (thang tông)- ngôi nhà dành cho những

thành viên gia đình trên 50 tuôi, người có chức sắc Đối với tầng lớp chứcsắc quý tộc thì có thêm 2 ngôi nhà nữa là nhà để công cụ cày bừa cuốc xẻng

và nhà để cối xay, cối giã

+ Trong những ngôi nhà đó thì nhà tục (thang yơ) là nhà quan trọng Nhà

tục tượng trưng cho cơ thể con người Gian đầu tiên tượng trưng cho cái đầu, là nơi tiếp khách, cúng bái Gian thứ 2 tượng trưng cho lồng ngực, là

Trang 11

nơi tô chức lễ cưới và nơi ở của vợ chồng mới cưới Gian nhỏ bên trong

cùng tượng trưng cho cái bụng, là nơi chứa thóc của gia đình Người Chăm

tin rằng cánh cửa của nhà tục thông đến nhà kề tượng trưng cho cái mũi, cánh cửa khác thông đến nhà bếp tượng trưng cho cái miệng

+ Vẫn kiến trúc ngôi nhà ấy, vẫn được dựng ở vị trí ấy trong khuôn viên, vẫn

là nơi diễn ra những nghi lễ trong gia đình như cưới hỏi, cúng gia tiên,

nhưng các tầng lớp khác thì gọi là thang yơ, còn nhà của người dân nghèo

thì gọi là nhà lũng Cũng tương tự như tên gọi của nhà ngang sẽ là thang

cần (đối với tầng lớp dân nghèo) thay vì gọi thang lâm như các gia đình

chức sắc quý tộc…

+ Trong các ngôi nhà ấy, nhà bếp (thang ging) và nhà tục (thang yơ)- nơi

cặp vợ chồng sinh con đẻ cái, cử hành các nghi lễ, tục lệ ma chay luôn là 2

ngôi nhà được cất dựng đầu tiên với mong muốn sự ấm no đủ đầy Nhà

nghiên cứu văn hóa dân tộc Chăm Sử Văn Ngọc từng ví, 5 ngôi nhà chínhcủa người Chăm thể hiện như 5 ngón tay trên một bàn tay hoặc thể hiện chongũ hành

b, Nhà ở Chăm An Giang

- Nhà ở truyền thống của người Chăm Islam là nhà sàn Người Chăm ở đây

theo đạo Islam nên trên nhà cửa thường có những họa tiết trang trí mang tínhthẩm mỹ của đạo Islam Khi dựng xong nhà, họ dán lên cửa 2 lá bùa – haicâu Kinh Thánh trong kinh Qur’an để trừ quỷ “saytron”

Trang 12

+ Vì thuộc vùng chịu ảnh hưởng lũ sông Mekong, một năm ngập khoảng 6 tháng, ngập sâu khoảng 2-3m, nên họ thường ở nhà sàn, cột cao từ 3-4m Mặtkhác, do khí hậu ôn hòa, nước lũ không chảy xiết mà ngập mênh mông nênnhà cửa của họ thường được gia cố chắc chắn phần cột, sàn

+ Điều đặc biệt các cửa nhà thường có ngạch cao và vòm thấp, người đi vàothường phải cúi đầu, ra ý khiêm cung với gia chủ Điều này có nét tươngđồng với nhà ở truyền thống nông thôn đồng bằng Bắc Bộ xưa kia

+ Người Chăm coi cây cột thiêng giữa nhà là quan trọng nhất

+ Về cách tô chức mặt bằng sinh hoạt: nhà sàn người Chăm ở An Giang phôbiến là một tô hợp: nhà chính (nhà trên) và nhà phụ (nhà bếp) đều là nhà sàn.Nhà bếp thường nhỏ hơn nhà chính và được làm song song với nhà chínhhoặc chếch về phía sau một chút Nhà bếp có cầu thang riêng để phụ nữ qualại không phải qua nhà trên Nhà chính: từ cầu thang chính qua hàng hiên(hoặc sàn lộ thiên) bước vào cửa chính là phòng khách và còn là nơi nghỉ củađàn ông Phòng khách chiếm 1/3 gian nhà Khách ngồi ngay trên sàn hoặctrên chiếu trải gần cửa ra vào Tại gian này có một chỗ ở góc trong nhà đượclát bằng phên thưa dùng làm nơi rửa thi hài người chết (theo phong tục tang

lễ Hồi giáo) Phòng khách được ngăn với phần nhà trong bằng vách ván vàluôn che rèm Khi có khách, phụ nữ trong nhà chỉ dừng lại sau vách ngăn này

và không được ra ngoài Khách cũng vậy, không được qua cửa để vào bêntrong

Trang 13

+ Vốn là người Chăm theo Hồi giáo, giáo luật không cho phép trang trí bằngcác ảnh và tượng nên người Chăm Islam trang trí bằng các họa tiết, hoa vănchạm trô

+ Do gốc là người Chăm Nam Trung Bộ di cư đến An Giang, ngôi nhà củangười Chăm ở đây vẫn còn giữ nét mẫu hệ thông qua hiện tượng thờ cúngtrầu, cau nơi cột cái (tính mẫu hệ) trong nhà sàn Mặt khác, mặt tiền nhà

người Chăm – phía đầu hồi nhà cũng là đầu cây đòn dông luôn vuông góc

với dòng sông rạch hay đường lộ Đồng bào giải thích rằng, người Chăm vốn

sống trên sông, trên biển, đầu đòn dông như mũi thuyền Nếu quay đầu đòndông theo hướng nước chảy thì mọi tài lộc sẽ chảy đi mất

Ngôi nhà thân thương đó, trải qua thời gian đã hun đúc và lưu giữ những giátrị tinh thần, là nơi chứng kiến bao chuyện buồn vui của nhiều thế hệ Ngôinhà ấy phản ánh lối sống, quan niệm thẩm mỹ, tư tưởng xã hội của ngườiChàm

2, Công trình kiến trúc

1, Các đền tháp (Chăm Bà-la-môn)

- Người Chăm để lại cho đời nhiều di sản văn hóa quý giá mà tiêu biểu là

những đền tháp gạch độc đáo và những tác phẩm điêu khắc tuyệt mỹ Nềnvăn minh Ấn Độ sớm hình thành và tạo nên những thành tựu rực rỡ, khi cáctôn giáo Ấn Độ lan truyền đến những khu vực khác thì nghệ thuật Ấn Độcũng lan tràn theo vào các xứ đó Chăm pa cũng đón nhận dòng văn minh Ấn

Độ Một điều dễ nhận thấy, kiến trúc đi cùng tôn giáo Như các quốc giatrong khu vực Đông Nam Á cùng chịu ảnh hưởng văn minh Ấn Độ, vật liệu

cơ bản và chủ yếu để xây dựng đền tháp là gạch và đá Có thể nói, Champa làbậc thầy về kĩ thuật chế tác gạch, trải qua bao thế kỉ, những tháp gạchChampa vẫn còn tươi rói, màu sắc ánh hồng, vàng, kết dính với nhau mộtcách kì lạ mà nhiều nhà khoa học còn chưa thể giải mã hết

- Về chức năng, có thể chia kiến trúc cô Chăm làm hai khu vực chính: Từ Phú

Yên trở ra, toàn bộ tháp Chăm để thờ các vị thần trong hệ thống Ấn Độ giáo;còn từ Nha Trang vào thì thờ các vị vua, tướng được thần hóa Người Chăm

Trang 14

lấy tên vị vua ấy đặt tên cho cụm tháp mà họ thờ Tháp Bà ở Nha Trang thờngười sáng lập vương quốc Champa là Po Inư Nưgar; tháp Po Klaung Giraihay tháp Po Rome ở Ninh Thuận thờ hai vị vua này; tháp Po Dam và Tháp

Po Sah Inư ở Bình Thuận cũng vậy

- Về địa điểm xây dựng, tháp Chăm được xây dựng ở rất nhiều địa hình khác

nhau: giữa đồng bằng, trong thung lũng kín đáo, cạnh sông lớn, bên bờ biển,trong hang động, trên sườn hay trên đỉnh đồi/núi cao… Tất cả đều giốngnhau ở sự tách biệt với khu dân cư Tại sao? Bởi sinh hoạt ở bất kì cộng đồngnào luôn xảy ra bao nhiêu chuyện, trong khi tháp là khu vực linh thiêng chỉdành cho việc thờ phụng Người Chăm vừa sợ hãi vừa tôn kính tháp

- Về cấu trúc quần thể, các tháp Chăm có hai loại Loại thứ nhất là các quần

thể kiến trúc bộ ba gồm ba tháp song song thờ ba vị thần Brahma, Visnu,Siva (như tháp Dương Long) Loại thứ hai là các quần thể kiến trúc có mộttháp trung tâm thờ thần Shiva và các tháp phụ vây quanh (tháp Cánh Tiên,tháp Thủ Thiện, tháp Thốc Lốc) Loại này thường xuất hiện muộn hơn(khoảng thế kỷ IX trở về sau)

- Về hình dáng, nguyên gốc tháp Chăm đều có hình ngọn núi (Sikhara), tiêu

biểu cho Bà-la-môn giáo, biểu thị cho núi Meru, tức trung tâm vũ trụ của đạoBà-la-môn và đạo Phật, núi Meru có 1 đỉnh chính và 4 sườn núi, thể hiệnthành 4 đỉnh Sikhara nhỏ được thể hiện trên tháp Chàm Theo ý nghĩa đó,tháp Chàm chính là những núi đền huyền thoại Tuy kiến trúc núi có nguồngốc truyền thuyết từ Ấn Độ nhưng với người Chăm, chúng lại biểu tượng chothiên nhiên miền Trung trùng điệp núi non và phản ánh đúng chất dương tínhtrong tính cách bản địa của văn hóa Chăm (núi = dương) Chất dương tínhnày còn bộc lộ rõ ở những tháp mô phỏng hình sinh thực khí nam Bên cạnhtháp chính hình ngọn núi, còn có tháp có mái cong hình thuyền (tháp Bánh Ít)

- dấu hiệu đặc thù trong kiến trúc nhà cửa cư dân Đông Nam Á Ngoài ra, tất

cả các tháp Chăm đều có 13 vòm trụ, tương ứng với cơ số 13 mà người Chămdùng trong ngày thường Đó là con số biểu trưng cho sự vượt quá, nó từ chốisự trung bình, do đó hoặc sẽ rất tốt hoặc sẽ rất xấu

- Trên tông thể thân tháp bằng gạch, những thợ điêu khắc đã chạm trô hoa văn,

những con vật thiêng liêng của Hindu giáo hay cảnh sinh hoạt trong cung

Trang 15

đình, rất sinh động và chân thật Sự tinh tế của các tháp Chăm còn thể hiện ở

vô số những hình chạm khắc tỉ mỉ trau chuốt do nghệ nhân đục đẽo trực tiếplên tường tháp đã được xây sẵn, không thể vì một sai sót mà phá đi xây lại

được Kiến trúc tháp Chàm còn có sự giao thoa với văn hóa Khmer, biểu thị

ở một số tháp Không còn nữa hình dáng của đỉnh Sikhara, mà ở đây cấu trúcphần chóp đỉnh hình tháp mang dáng dấp kiến trúc Khmer, điều đó còn thểhiện rõ hơn qua những hình tượng chim Garuda, sư tử, trên nóc tháp

- Vật liệu gạch non được người Chăm sử dụng để xây dựng tháp Chàm là

một trong những bí ẩn mà sau gần 80 năm nghiên cứu, các nhà khoa học mớigiải mã được PGS Ngô Văn Doanh cho biết, gạch này xốp, ngấm nước, nắnglên lại tỏa hơi Khi mang những mảnh gạch vỡ của tháp Chăm về phân tích,các chuyên gia đã tính toán được độ nung của gạch chỉ ở mức 900-1.000 độ

C (gạch hiện đại là 1.300 độ C) Theo nguyên lý, gạch non sẽ dễ mùn, nhưngchất đất tốt, phỏng đoán là được trộn tro, trấu để có độ xốp dẻo, đặc biệt chấtkết dính bằng dầu thực vật giúp tháp tồn tại được hàng nghìn năm Trong

cuốn ”Văn hóa cổ Chămpa”, chuyên gia nghiên cứu Chămpa từng dẫn lời nhà nghiên cứu mỹ thuật phương Đông B.Groslier (in trong cuốn Indochine,

Carefour de arts, Paris, 1961) đánh giá về tính đặc biệt của chất gạch xây

dựng tháp Chàm: "Không phải đến giờ các nhà khoa học mới khâm phục

tài nghệ xây dựng bằng vật liệu gạch của người Chàm cổ mà ngay từ thế

kỷ 5-6 sử liệu Trung Quốc đã phải công nhận người Chàm là bậc thầy trong nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc gạch".

- Tháp Champa thường gồm 3 tầng, tầng trên cùng là đặt các vị thần quốc

giáo, tầng giữa thường diễn tả hoạt động sống của cung đình, tầng đề là tầng

âm chỉ gia cố nền móng cho vững chắc không có trang trí

- Chi tiết khá thú vị là các tháp có bốn cửa, trong đó cửa chính mơ về hướng

đông (hướng mặt trời mọc, hướng của một vị thần tối cao trong đạo môn), ba cửa con lại chỉ là hình thức (cửa giả) Tháp Chăm là nơi thờ thần

Bà-la-linh hay các vị vua Cùng với kiến thức, điêu khắc Chămpa cũng thể hiệnđược vẻ đa dạng và độc đáo Những đề tài điêu khắc là tượng thờ thần Shiva,thần Vishnu, thần Brahma Ngoài những vị thần trên, vật thờ ở tháp Chămphô biến là cặp Linga – Yoni, biểu tượng cho tín ngưỡng phồn thực

Trang 16

2, Thánh đường (Chăm Bà-ni, Chăm Islam)

- Kiến trúc thánh đường chủ yếu là kiến trúc Sang Mưgik của người Chăm

Bà-ni và Masjid hay Surao của người Chăm Islam Hai kiểu kiến trúc này có sự khác biệt lớn Masjid mang dáng dấp chung của thánh đường Hồi giáo thế giới, luôn hướng về thánh địa Mecca, trong khi đó cửa chính của Sang Mưgik lại hướng về mặt trời mọc là nơi cư trú của thần linh trong tín ngưỡng

Bà-la-môn Bề ngoài Masjid có mái vòm cao với trăng lưỡi liềm và ngôi sao

lớn, Sang Mưgik thì không; còn ngôi sao nếu có thì rất nhỏ, chỉ như để trang trí Sau rốt, nếu mặt tiền Sang Mưgik viết chữ Chăm truyền thống Akhar thrah đôi khi kèm cả chữ Ả Rập, thì Masjid chỉ có chữ Ả Rập.

- Người Chăm có tập quán trồng bông dệt vải và dệt tơ lụa từ lâu đời Nguyên

liệu nhuộm sợi, nhuộm vải được sử dụng hầu hết từ những chế phẩm thiênnhiên mà họ kiếm được ở môi trường xung quanh Màu xanh lấy từ câychàm, màu đỏ từ lõi cây pan, màu vàng từ cây jung, Đồng thời, họ cũng cótri thức trong việc tạo hình cho sản phẩm Hoa văn trên sản phẩm vải đượcdệt, hầu như không sử dụng kỹ thuật thêu hay khâu đáp Tuy nhiên, hiện nay,hầu như đồng bào không còn trồng bông kéo sợi để dệt mà mua sợi dệt côngnghiệp có độ bền và tính thẩm mỹ cao hơn, chỉ những kỹ thuật dệt tạo hìnhhoa văn theo truyền thống và quan điểm thẩm mỹ dân tộc là còn lưu giữ đượchồn cốt, dấu ấn văn hóa xưa cũ truyền lại

- Các sản phẩm dệt của đồng bào Chăm không bao giờ thiếu bóng đi những

đường nét hoa văn trang trí Trên các bộ y phục cô truyền của vua quan, tănglữ hay tầng lớp bình dân đều trang trí hoa văn Có thể qua quan sát các kiểuhoa văn và cách bố trí của chúng trên mặt vải, ta biết được các hạng ngườitrong xã hội Cũng cần lưu ý một nét riêng trong phong cách tạo hoa văn củangười Chăm là họ dệt những băng vải hoa văn theo khô hẹp, từ 2-25 cm, sau

Trang 17

đó tùy theo loại trang phục mà chắp lại với nhau, tạo thành tấm vải có hoavăn trang trí phong phú

a, Trang phục người Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận

- Trang phục nam giới

+ Người Chăm Ninh-Bình Thuận thường mặc y phục cô truyền với Sarong

và áo ngắn Sarong là một mảnh vải rộng chừng trên dưới 1m, mặc kiểu quấn

quanh eo lưng trở xuống Khi quấn, gấp 2 mép váy quanh người phía hông

bên phải, sau đó dùng thắt lưng dệt bằng chỉ màu gọi là talay kanh đai giữ

chặt cạp Sarong cho khỏi tụt, hai đầu thắt lưng thả mối xuống phía dưới

+ Áo của đàn ông có 2 loại chính là ao kalay và ao tăh Ao kalay là loại áo ngắn, gấu phủ tới mông, áo xẻ ngực, cô tròn, xẻ tà hai bên hông Ao tăh là

loại áo dài, gấu phủ tới mắt cá chân, may kiểu khoét cô, mặc chui đầu, haibên nách áo xẻ đoạn từ sườn trở xuống tới gấu

+ Ngoài ra, khăn là một bộ phận trang phục mà đồng bào hay sử dụng Bình

thường, đàn ông Chăm thường đội khăn hkuh lưh, màu trắng, không có hoa

văn hay tua trang trí

- Trang phục nữ giới

+ Phụ nữ Chăm Bà-la-môn mặc váy gấu phủ ngang bắp chân, áo dài bít tà,

đầu chít khăn siêu màu vàng, đỏ hoặc xanh Phụ nữ Chăm Bàni thì mặc váy dài chấm gót, áo dài bít tà, đội khăn djăm màu trắng có thêu hoa

+ Váy của phụ nữ Chăm được may từ loại vải tự họ dệt, thường ngày mặcváy đen hay sẫm Ngày nay, phụ nữ Chăm mặc cả 2 loại váy: váy mảnh, làmột tấm vải lớn, hai mép thân váy không khâu lại, khi mặc quấn quanh thân

eo giống như các loại váy của nhiều dân tộc ở Tây Nguyên Loại váy khâu lạihình ống, khi mặc, quấn cạp váy được xếp nếp ở phía hông

+ Chiếc áo cô truyền của phụ nữ Chăm Ninh-Bình Thuận là áo dài bít tà Áomay theo kiểu chui đầu, không xẻ ngực Áo ghép lại từ 4 mảnh vải, 2 mảnhthân trước nối ra thân sau, đường chỉ chắp vải chạy dọc trước ngực và lưng

áo, 2 mảnh nhỏ hơn ghép 2 bên sườn hông áo

Trang 18

+ Mặc trong áo dài còn có áo lót, gọi là ao klăm, giống như yếm của người

Kinh, gồm mảnh vải nhỏ che ngực, có dải vải nhỏ buộc qua vai và lưng + Khi ở nhà, và nhất là khi ra ngoài đường, phụ nữ Chăm thường đội khăn

Đó là loại khăn dài từ 1,5-1,8m, trang trí hoa văn và tua chỉ màu Khăn độibằng cách quấn từ phía sau ra phía trước trán rồi trùm qua đỉnh đầu, hai mốikhăn bỏ chấm vai phía sau lưng Vào những dịp hội hè, thiếu nữ Chăm độikhăn với nhiều cách thức và màu sắc khác nhau Họ có cách đội khăn kép,

trước tiên đội khăn năh thành chóp, sau đó phủ khăn siêu haun lên phía trên.

Với loại khăn này, phụ nữ đội lễ trên đầu đi cúng thần linh ở đền đáp, taybuông vẫn không sợ bị đô

b, Trang phục người Chăm Nam Bộ

- Khác với người Chăm ở miền Trung, người Chăm Islam ở Nam Bộ có trang

phục gần hơn với cư dân các nước Hồi giáo Trung Đông

- Trang phục nam giới

+ Nam giới mặc áo cánh và Sarong Áo cánh là loại áo dài tay, đặc trưng củangười Hồi giáo, cô nhỏ, ve cô có viền cứng, xẻ cúc giữa ngực, xẻ tà hai bênhông Sarong là loại chăn quấn, được may hình trụ, khi mặc, họ cuốn chặt lại

phía trước ngực rồi cuộn chặt xuống sát phía xương chậu Mặc Sarong nhất thiết phải che được mắt cá chân, nếu cuốn cao hơn, để lộ mắt cá chân là dấu

hiệu của người không lịch sử, bị cộng đồng chỉ trích

+ Nam giới không được để tóc dài bởi tóc dài là dấu hiệu của thế lực hắc ám,

không trong sạch Để tóc dài mà đi giao tiếp trong làng là sự thiếu đứng đắn,

sỉ nhục người đối diện, do vậy bị cộng đồng lên án thậm tệ Ngược lại, với bộrâu, đó lại là dấu hiệu của tri thức và kinh nghiệm sống Thông thường, chỉnhững bậc lão niên, những người đã đi hành hương về, có chức vị Hadji mớiđể râu, nếu không để râu dài lại bị coi là sự chơi trèo, báng bô

+ Khi đi ra ngoài, đàn ông nhất thiết phải đội mũ kepih, một loại mũ nhỏ,

quấn chặt phần đỉnh đầu Trẻ em, thanh niên chưa gia đình thì đội mũ đen.Những người lớn tuôi đội mũ trắng Ngày nay, vào những dịp trọng đại, nam

Trang 19

giới Chăm ngoài bộ đồ truyền thống còn khoác thêm bên ngoài bộ vest, dấuhiệu đó thể hiện sự trang trọng, lịch sự Trong cộng đồng người Chăm Islam,những tín đồ mang khăn rất được coi trọng, bởi họ là những người đã từngđến thánh địa Mecca ít nhất 1 lần trong đời

- Trang phục nữ giới

+ Nữ giới Chăm mặc áo Sarong và áo chui đầu Áo xẻ ở cô và khuyết gài kín.Phần thân dưới áo không có tà, được may rộng để trùm ra ngoài Sarong, dàiđến ngang đùi

+ Giống phụ nữ ở các cộng đồng Hồi giáo khác, trang phục của phụ nữ Chăm

Islam không thể thiếu đi chiếc khăn Mardrah Khăn nhiều màu, nhiều kích

cỡ và làm từ nhiều chất liệu Phong cách đội chiếc khăn này cũng khác vớiphụ nữ Malaysia và Trung Đông: họ không phải che kín mặt chỉ hở 2 conmắt mà được vắt gọn qua 2 bên tai và có thể quấn lên khi làm việc Khi đitham dự những cuộc gặp gỡ, tiệc tùng, nhất thiết khăn phải buông xuống,che kín phần gáy Khi ở nhà, nếu gia đình không có khách thì họ có thể đểđầu trần, nhưng khi có người hỏi, đặc biệt là nam giới thì vật dụng họ tìm

đầu tiên chính là chiếc khăn Mardrah rồi mới ra trả lời khách

c, Đánh giá

- Trang phục Chăm có màu sắc phong phú Trong trang trí người Chăm không

pha trộn bất cứ màu nào khác với nhau nhưng họ có nghệ thuật phối màuriêng trên nền vải Vì vậy màu thô cẩm, cũng như màu trang phục Chăm, mặcdù sử dụng màu nguyên nhưng không chói chang như các màu áo dân tộcTây Nguyên và một số dân tộc phía Bắc nước ta, màu sắc Chăm vừa hài hoà,vừa sâu lắng

- Trang phục Chăm, chủ yếu là áo mặc thường ngày cũng như trong lễ hội họ

thường mặc áo với gam màu nóng như màu đỏ, xanh, vàng Còn trang phụccủa các chức sắc tôn giáo, thầy cúng, các cụ già thường là mặc áo trắng Màutrắng còn tham gia vào trong tang lễ, kể cả trang phục người bị tang và đồliệm cho người chết đều có mặc màu trắng

Trang 20

- Trang phục Chăm không chỉ có nhu cầu để cho đẹp mà nó gắn liền với tín

ngưỡng, những điều kiêng cữ và cấm kỵ

+ Ngoài việc cúng tô vị tô sư nghề dệt vải người Chăm còn có một số kiêngkỵ trong nghề dệt vải may mặc Khi dệt dây buộc liệm người chết, thì kiêng

kỵ người đàn bà có kinh hoặc đang trong tuổi sinh đẻ không được dệt mà chỉ

có thiếu nữ và phụ nữ lớn tuổi qua thời kỳ kinh nguyệt mới được dệt Họ

quan niệm chỉ có phụ nữ như vậy thì mới được tinh khiết, không ô uế, đemlại sự bình yên thanh thản cho người chết được siêu thoát nơi chốn thiênđường Khi dệt các hoa văn phục vụ các chức sắc, tôn giáo như thì cũngkiêng cữ như trên

+ Riêng áo của các chức sắc kiêng kỵ không cho người thường chạm tay vào

hoặc may cắt, chỉ có các chức sắc, tu sĩ và chính vợ ông ấy tự may cắt.

Người Chăm có phong tục là thường may sẵn các loại quần áo chuẩn bị cho người chết để sẵn trong nhà Loại trang phục này có nhiều kiêng cữ, không

phải ngày nào cũng lấy ra được mà chỉ được lấy ra khỏi nhà vào ngày thứ bảy, hoặc trong gia đình có dịp cúng lễ Nếu lấy ra tuỳ tiện không đúng

ngày lành tháng tốt đó là dấu hiệu báo điềm xấu, trong gia đình sẽ có ngườichết hoặc của cải trong nhà sẽ ra đi

4, Ẩm thực

- Nghệ thuật ẩm thực là một trong những đặc trưng của văn hóa tộc người,

chứa đựng những tri thức không chỉ về trồng trọt, chăn nuôi mà còn về môitrường, môi sinh, địa lý, và cách thức ứng xử của con người với đồ ăn Ẩmthực của đồng bào Chăm tuân thủ theo giáo lý của tôn giáo Lương thực của

họ chủ yếu là gạo tẻ, đồ ăn được chế biến từ hai nguồn chính là rau và đạmđộng vật Cách thức chế biến cũng rất phong phú, bao gồm nấu chín, muốichua, phơi khô, xông khói, Đồ ăn thường ngày cũng khác với đồ ăn lễ nghi,

cỗ bàn, tiệc tùng Cách thức bố trí bữa ăn, cả về không gian và con ngườicũng mang những ý nghĩa nhất định

+ Người Chăm miền Trung thường bố trí bữa ăn thành mâm, các loại thức ăn

để chung trên mâm, các thành viên ngồi ăn xung quanh mâm và tự lấy thức

ăn vào bát của mình Họ sử dụng bát, đũa tương tự người Kinh.Trong khi đó, người Chăm Hồi giáo Nam Bộ hay ăn bằng đĩa, mỗi người một đĩa cơm, trên

Trang 21

đĩa đã chuẩn bị sẵn khẩu phần ăn của mỗi người Trước khi ăn, các thành

viên phải khấn mời các vị thánh của tôn giáo mình: ở người Chăm Hồi giáo

là đấng tối cao, ở người Chăm Bà-la-môn là các vị thần Pak Ra Kaya, ngự ởđầu, hai vai và trước ngực – những vị thần bảo hộ thân thể

+ Giữa bữa ăn thường ngày và các dịp lễ tết của người Chăm cũng có sự khácbiệt cả về chất và lượng Một số món ăn của đồng bào được thiêng liêng hóa

trong các nghi thức cúng tế, đó là muối hột, canh rau môn, thịt gà và thịt dê.

Muối hột như một tín vật cầu nối để các chức sắc giáo sĩ khẩn cầu thần linhban phước cho họ và cộng đồng Rau môn thường mọc ở đầu nguồn nước, rấtsạch sẽ, nếu trồng thì tuyệt đối tránh để gia súc, gia cầm phóng uế vào, do đóthích hợp để nấu đồ ăn cúng thần linh Thịt gà rất phô biến để làm đồ cúng vì

đồng bào cho rằng gà là loài lông vũ, có cánh, đẻ trứng, khác với loài vật khác có vú, đẻ con giống người, nên gà là món ăn phù hợp dâng thần linh.

Thịt dê lại khác, chỉ khi nào tô chức các nghi lễ, khấn cầu liên quan tới các vị

“thượng thần/thượng đẳng thần” thì mới được giết dê và dùng thịt dê để cúng

tế

+ Ở người Chăm Bà-ni, họ kiêng sử dụng thịt gà trong đám cưới vì cho rằng hình ảnh con gà bới móc rác rưởi không phù hợp với ý nghĩa hôn nhân Đối

với người Chăm Islam, họ rất ít đi ăn hàng quán vì giáo lý quy định loại thịt

mà người Hồi giáo ăn phải do chính tay người Hồi giáo giết và đã đọc kinhsám hối, hóa kiếp cho con vật đó

+ Người Chăm Bà-la-môn không ăn thịt bo vì họ cho rằng con bò là vật linhtheo truyền thuyết bò thần Nađin của các vị thần Vishnu và Uma Đối với

người Chăm Bà-ni với Chăm Hồi giáo, lợn là con vật hiện thân cho sự ngu si, dốt nát, kinh tởm nên không ăn, không nuôi, không dung chứa hình ảnh

Trang 22

- Đồng bào Chăm luôn nôi tiếng với những món ăn ngon, hương vị độc lạ,

không lẫn với những món ăn khác Một số món ăn đặc sản của đồng bào:

- Ẩm thực Chăm Islam

+ Để thưởng thức món ăn này, có nhiều cách chế biến: hấp ,chiên,nướng tuynhiên tung lò mò trở nên hấp dẫn hơn khi được nướng trực tiếp trên bếp thanhồng bởi mùi thơm của món ăn sẽ được gia tăng khi nướng đều.Tung lò mònên được thưởng thức ngay khi vẫn còn nóng,ăn kèm với rau húng quế,đu đủngâm chưa ngọt,ngò gai chấm với tương phở,tương ớt thì mới đúng điệu

Món cà ri

+ Món cà ri được xem là đặc sản của người Chăm An Giang, bởi cà ri chỉđược làm trong tháng Ramadan Nguyên liệu chính của cà ri là thịt bò, hànhtỏi và một số loại gia vị đặc biệt mua từ Malaysia Cách chế biến món ăn nàycũng không mấy phức tạp nhưng để tạo ra nồi cà ri ngon đúng chất, ngườiChăm phải rất công phu Đầu tiên, thịt bò được thái thành từng miếng vuông,ướp gia vị vừa đủ Sau đó, cho dầu mỡ vào nồi, phi hành thật thơm, cho nướccốt dừa vào cùng với bột cà ri và một số gia vị khác Cuối cùng, cho thịt bòvào rồi đảo đều đến khi thịt mềm và phần nước cốt sệt lại là được Món cà rithường được ăn với cơm và bánh mì

Cơm nị-cà púa

Trang 23

+ Cơm nị-cà púa thường được các gia đình Chăm tự tay chế biến để dùngtrong những mâm cơm gia đình hay cúng lễ tại các thánh đường

+ Cơm nị được nấu rất khéo,gạo sau khi được tuyển chọn đem vo sạch,chomột chút muối rồi xả sạch.Xong đô nước vào nấu như nấu cơm nhưng khôngđợi chín hẳn.Hạt gạo nấu nở khoảng độ 60-70% thì nhấp xuống,đem xả chohết phần nước cơm,để ráo nước rồi đem hấp tiếp từ 20-30 phút.Sau đó lấyphần gạo hấp ra trộn với gia vị là nụ đinh hương,quế,muối,đường,bột ngọt và

cà ri.Đặc biệt cơm nị phải có nước cốt dừa hoặc sữa chua trộn vào cùng vớicác gia vị đó rồi mới đem hấp chín.Để tăng thêm khẩu vị cho món ănnày,người Chăm thường cho thêm nho khô trộn cùng cơm

+ Cà Púa được người Chăm chế biến từ thịt bò.Để làm món Cà púangon,người Chăm khử mùi thịt bò bằng cách đô rượu và gừng vào.Sau đóchọn quả dừa bánh tẻ đem nạo sợi nhỏ,một nửa để thắng nước cốt dừa,mộtnửa để rang vàng.Bắc chảo nóng,cho thịt bò vào xào cùng dừa khô,cà ri tựchế biến theo khẩu vị,ớt muối.Sau khi thịt bò thấm đều,rưới nước cốt dừa rồihàm cho thịt thật mềm.Cuối cùng trộn đều thịt bò cùng dừa gạo,hành củ.Rắcđậu phộng rang giòn lên trên Cơm nị-cà púa có vị ngọt béo của sữa,bùi bùicủa đậu phộng,vị ngọt của thịt bò,nho khô,vị cay nồng của ớt đã mang lạicảm giác thơm ngon,lạ miệng ,tạo nên hương vị độc đáo trong ẩm thực ngườiChăm

- Ẩm thực Chăm Bà-la-môn

Canh bồi

+ Là 1 loại canh với nhiều thứ rau rừng như rau đay,rau sam,ngọn bầu,bí,càdĩa Để có một tô canh bồi ngon,người nấu canh phải lựa chọn những cọngrau non xanh mướt,bột phải là bột gạo được ngâm cho thấm nước,cách ngâmcũng không được nhuyễn quá để tránh bị vón cục khi nấu,gia vị gồm lá menon và mắm nêm nhạt,sau cùng là cá nhỏ hay tép.Và phảo chế biến theo mộtnguyên tắc nhất định.Bắc nồi nước trên bếp lửa đều,nước sôi mới cho cávào,cá chín thì được vớt ra để cho vào nồi bột gạo.Khi bỏ bột vào phải khuấyngay và thật đều,tiếp đó mới cho từng loại rau vào,loại nào lâu chín được chovào trước.Cuối cùng bắc nồi xuống và mới bắt đầu nêm canh

Trang 24

Bánh Sakaya và bánh nonya

+ Đây là hai loại bánh linh thiêng,chỉ dành để làm trong các dịp lễ quan trọngnhư đám cưới,ma chay,Kate,trở thành một nét văn hoá riêng và mang nhữngbiểu tượng có ý nghĩa nhất định.Bánh Sakaya tượng trưng cho trời,dương haynói cách khác là tượng trưng cho đực.Còn bánh nònya(bánh gừng) tượngtrưng cho âm,biển và mẹ

+ Nguyên liệu chính để làm bánh Sakaya là trứng gà được đập ra và đánh đềulên.Các nguyên liệu khác bao gồm lạc giã nhuyễn,gừng và đường.Mọinguyên liệu được trộn lẫn và khuấy đều vào nhau.Hỗn hợp này sau đó đượcmúc vào các bát nhỏ và hấp cách thủy.Bánh có vị béo béo của đậu phộng vàtrứng,vị ngọt của đường,mùi thơm của gừng hoà quyện vào nhau

+ Bánh Nònya(bánh gừng) được làm từ bột nếp,đường và trứng gà.Côngđoạn làm bánh không hề khó,nhưng đòi hỏi sự khéo léo và tinh tế của ngườiphụ nữ Chăm.Để có được những chiếc bánh thơm ngon béo giòn,ngườiChăm thường chọn loại nếp lớn,trắng đục,đem vô thật sạch rồi để ráo nướcxay.Cứ 1kg bột nếp cho khoảng 25-30 quả trứng gà và 1 muỗng canh bộtnang mực Thố sẵn bột nang mực, nước chanh tươi,đập trứng gà cho vào vàđánh thật đều tay đến khi trứng dậy thì mới cho bột nếp vào.Trộn hỗn hợpnày thật nhuyễn,rồi nắn bột thành những chiếc bánh có hình dạng giống củgừng.Sau đó cho lên chảo dầu chiên,chiên xong thắng nước đường rồi nhúngbánh vào,trở đều lại và cuối cùng là vớt bánh ra

Bánh đon,bánh cắp

+ Không nằm ngoài triết lí âm dương,hai loại bánh này cũng được làm trongcác dịp lễ tết,đặc biệt là vào ngày cúng cơm của các gia đình người Chămtrong dịp lễ Kate

+ Nguyên liệu chủ yếu để làm 2 loại bánh này là gạo nếp và lạc.Cách làmnày rất phù hợp với triết lý ăn chay và ăn mặn của người Chăm.Để làm bánhđòn,người Chăm đem gạo nếp ngâm trong khoảng 30 phút rồi vớt ra để ráonước,lạc thì rửa sạch rồi trộn chung với gạo nếp.Lá chuối thì ưu tiên loại láchuối chát(giúp màu bánh thêm xanh và có mùi đặc trưng),được phơi ngoàinắng trước khi đem vào gói chứ không hơ qua lửa bởi vì bánh đòn cần lá có

Trang 25

độ dẻo dai cao hơn.Bánh khi gói được dùng 2 lớp lá chuối,cột bằng lạt trehay lạt giang.

+ Bánh cắp cũng có phần nguyên liệu tương tự bánh đòn và thường không cónhân.Tuy nhiên điểm khác ở đây đó là hình dáng của bánh cắp được gói ngắnhơn,hình chứ nhật.Khi cột lại bánh,người ta ghép 2 bánh đối xứng nhau

+ Thoạt nhìn thì chiếc bánh đòn của người Chăm trông rất giống với bánh tétcủa người Nam Bộ hay bánh chưng của Bắc Bộ nhưng nó lại mang một ý

nghĩa đặc trưng cho văn hoá Chăm.Bánh đòn có hình dạng của linga,đại diện

cho dương,cho trời và cho đực.Còn bánh cắp hình chữ nhật đại diện cho âm

và được đặt xung quanh bánh đòn.Điều này giống với hình tượng linga-yoni trong các ngôi đền,hoặc bầu trời và trái đất,ngày và đêm,sáng và tối,hay

xuyên suốt trong đó chính là tín ngưỡng phồn thực

Bánh căn

+ Có nguồn gốc từ những gia đình Chăm ở Ninh Thuận,nét đặc biệt của loạibánh này nằm ở chính những chiếc khuôn để tạo ra nó.Đó là những chiếckhuôn được chế tạo từ bàn tay tài hoa của những người thợ làng gốm BầuTrúc(1 làng gốm nôi tiếng với sản phẩm gốm thủ công và kĩ thuật nung gốmđộc đáo)

+ Nguyên liệu để làm bánh căn là bột gạo tẻ được pha thêm một chút gạo nếptạo nên độ dẻo và định cho bánh.Bánh căn được nướng khi lò than đã đỏrực,khuôn đã toả ra hơi nóng,đô bột,cho nhân,đậy bánh lại và chờ bánh chínrồi lấy ra.Không giống với những loại bánh khác như bánh xèo,bánh cănđược làm chín bằng độ nóng của khuôn gốm.Từ thời xa xưa,chiếc bánh căncủa người Chăm chỉ được đô bằng bột không,không có nhân và được tínhtheo cặp.Tuy nhiên trong thời kì hội nhập,chiếc bánh đã được biến tấu,cónhân như tôm,mực để phù hợp với khẩu vị của từng người

5, Nhạc cụ

- Nếu như đàn t’rưng là nhạc cụ truyền thống của đồng bào Ba na, đồng bàoHmông nôi tiếng với chiếc khèn, đồng bào Bru-Vân Kiều có chiếc đàn Ta lưđã đi vào nghệ thuật thì đồng bào Chăm cũng có cho riêng mình những

Trang 26

nhạc cụ truyền thống được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Trong

đó, phô biến nhất là trống Gineng, trống Paranưng và kèn Saranai, tượng

trưng cho các bộ phận cơ thể người Trống Gineng tượng trưng cho đôi chân, Paranưng là thân thể, Saranai là phần đầu Kèn Saranai là nhạc cụ quan trọng

nhất trong tam tấu nhạc lễ của người Chăm Do đó, mỗi khi sử dụng phải có

đủ bộ các loại nhạc cụ này

+ Trống Gineng có hình dạng giống như trống cơm của người Việt nhưng

kích thước lớn hơn, thân trống làm bằng gỗ lim hay trắc dài khoảng 0,7 m,

được bào trơn nhẵn cả trong lẫn ngoài Hai mặt trống được căng da, mặt

nhỏ thường được căng da dê hay da nai và đánh bằng tay không, mặt lớn

được căng da trâu và đánh bằng dùi Trống Gineng bao giờ cũng dùng đôi,

diễn tấu trong tư thế ngồi với trạng thái tĩnh, hai chiếc đặt chéo nghiêng ápsát nhau trên mặt đất, do nghệ nhân dân gian sử dụng

+ Trống Paranưng vừa là nhạc cụ vừa là vật tô linh thiêng của ông Maduen

(thầy vỗ) Thân trống làm bằng gỗ đục rỗng có đường kính khoảng 0,4 mét,một mặt trống bằng da dê hay da nai và được căng bằng hệ thống dây mâyvới mười hai con nêm bằng gỗ Mười hai con nêm này là bộ phận tăng giảm

âm theo tùy người sử dụng

Khi sử dụng trống Paranưng nghệ nhân đặt trống trước ngực, vành trống tìvào đùi trái trong tư thế ngồi xếp bằng hai chân, cánh tay trái đặt lên vànhtrống vừa để giữ trống, vừa để vỗ, tay phải để tự do

+ Kèn Saranai là loại nhạc cụ có tên rất gần gũi với kèn Sarunai của người

Ba Tư, kèn Kurunai của người Mã Lai, nhưng kèn Saranai của người Chăm

có nét đặc trưng riêng Kèn Saranai có ba phần gắn liền nhau gồm phầnchuôi làm bằng đồng để gắn lưỡi gà bằng lá buông, phần thân làm bằng gỗ

đục rỗng có 7 lỗ chính phía trên tượng trưng cho thất khiếu và một lỗ phụ

phía dưới và phần loa làm bằng gỗ quý, sừng trâu hay ngà voi đục rỗng ruộtđể khuếch đại âm thanh Trong mọi bài bản nghi thức, kèn Saranai luôn giữvai trò khai tấu

+ Ngoài ra, đồng bào còn có một số nhạc cụ khác như đàn Kanhi (loại đànkéo một dây tương tự đàn nhị của người Kinh), tù và, chiêng,

Trang 27

6, Phương tiện vận chuyển

- Mặc dù sinh sống ở khu vực riêng và có đặc trưng văn hóa, tín ngưỡng riêngtuy nhiên phương tiện vận chuyển của người Chăm vẫn có nhiều nét tươngđồng với người Việt Vì lịch sử sống ở nhiều vũng, vịnh, khu vực gần biển,

do đó trước đây phương tiện di chuyển chủ yếu của người Chăm là tàu,thuyền Đây cũng là một trong những lý do người Chăm thường rất giỏi trongviệc đóng tàu và đi biển

- Ngoài ra, đồng bào Chăm có cách vận chuyển độc đáo là mang các vật nặngđể lên đầu: đội vò nước trên đầu, hay dùng 2 xe bò kéo

IV, VĂN HÓA PHI VẬT THỂ

1, Ngôn ngữ

- Tiếng Chăm thuộc ngữ tộc Malay-Polynesia của ngữ hệ Nam Đảo(Autronesian), cùng ngữ hệ với 4 dân tộc thiểu số khác là: Chu Ru, Ê đê,Raglai, Gia Rai

- Về chữ viết, đồng bào có 2 chữ viết khác nhau tương ứng với 2 vùng tậptrung cư trú khác nhau và 2 tôn giáo khác nhau: Ninh Thuận – Bình Thuận và

An Giang

+ Chăm pa sớm tiếp xúc với nền văn minh Ấn Độ, đã tiếp nhận văn tự Ấn

Độ ngay từ ngày lập quốc Chữ viết của người Chàm ở Ninh Thuận, BìnhThuận được xây dựng từ thế kỷ V-VII trên cơ sở chữ Phạn (Sanskrit) của Ấn

Độ Trên cơ sở chữ phạn và lấy dạng nét cong của chữ phạn, người Chăm đãxây dựng thành một hệ thống văn tự Chăm Thư mục chuyên đề Văn hóaChăm 36 cô để ghi chép tiếng nói của mình, gồm 16 nguyên âm, 31 phụ âm,khoảng 32 dấu âm sắc và chính tả

+ Một đặc điểm của chữ viết Chăm pa là ghi chép trên bia đá, nội dung bia

kí thường phản ánh việc dâng tế thần linh, tường thuật lại biến cố đã xảy rađối với vương triều, ca ngợi công đức của thần linh và bậc minh vương tiền

Trang 28

nhiệm Văn bia được khắc chữ từ thế kỉ IV đến thế kỉ XV bằng cả văn tựChăm cô và chữ Phạn (Sanskrit) Sau thế kỉ XV, người Champa không viếtchữ lên bia đá nữa mà viết trên những vật liệu khác như giấy, tre, vải, da…

+ Còn ở An Giang, đồng bào Chăm dùng chữ Ả Rập trong nghi lễ tôn giáoIslam

2, Tôn giáo, tín ngưỡng

Dân tộc Chăm tồn tại 3 nhóm tôn giáo: nhóm Chăm Ahier (theo đạo môn), Chăm Bàni (Hồi giáo kết hợp với đạo Bà-la-môn cùng với tín ngưỡng dân gian Chăm) và Chăm Islam (Hồi giáo) Người Chăm ở Ninh Thuận,

Bà-la-Bình Thuận theo đạo Bà-la-môn và đạo Bàni Người Chăm ở Nam Bộ theoHồi giáo

- Chăm Bà-la-môn

+ Đạo Bà-la-môn phát sinh ở Ấn Độ, trước Phật giáo cả nghìn năm Theoquan niệm của đạo Bà-la-môn, Brahman là một vị thần, là linh hồn của vũtrụ Brahman còn biểu hiện cả tô-tem giáo (thờ cây, thờ bò, thờ khỉ, ) Theothần thoại Brahman thì con người vũ trụ không lồ purusa sinh ra 4 đẳng cấp:đẳng cấp tăng lữ sinh ra từ miệng, đẳng cấp chiến sĩ từ tay, đẳng cấp thứ dân

từ đùi, đẳng cấp cùng dân từ chân

+ Đạo Bà-la-môn tôn thờ 3 vị thần: Brahma, Vishnu, Shiva Brahma là vịthần sáng tạo, Vishnu là vị thần bảo vệ, Shiva là vị thần hủy diệt Nhìn tôngthể, đạo Bà-la-môn có ảnh hưởng lớn đối với đời sống của người Chăm ởNam Trung Bộ, điều này thể hiện trên các kiến trúc đền tháp và lễ hội củađồng bào Chăm Theo niềm tin Bà-la-môn, thần Shiva có 28 hóa thân, là mộttrong tam vị nhất thể tối cao Thần Shiva không chỉ được tôn thờ như một vịthần mà có những giai đoạn, người Chăm coi những vị vua của mình nhưthần Shiva

+ Đạo Bà-la-môn dần dần được địa phương hóa – đồng hóa thành các vịthần của dân tộc Chăm Đó là Po Nagar – mẹ xứ sở, và 2 vị vua Po Klong

Trang 29

Garai và Po Rome Hàng năm, tu sĩ và dân chúng vẫn tế lễ tại lăng, tháp thờhọ.

- Chăm Bàni

+ Nhóm Chăm Bàni (Chăm Awal) là Chăm theo Hồi giáo, nhưng còn bảolưu nhiều yếu tố tín ngưỡng dân gian bản địa và chịu ảnh hưởng của đạoHindu như thờ bò, thờ khỉ, tạo nên sự biến đôi của đạo Hồi giáo Theo nhưnhững nhà nghiên cứu trên thế giới, đây là trường hợp độc nhất vô nhị trongthế giới Hồi giáo Kiến trúc biểu tượng của Chăm Bàni là những thánhđường Bàni

- Chăm Islam

+ Đồng bào Chăm Nam Bộ theo Hồi giáo Ở đây, mỗi làng có một thánhđường Islam (trong tiếng Ả rập nghĩa là thuần phục) Đạo Hồi tôn thờ thánhAllah và nhà tiên tri Muhammad Người Chăm ở đây có xu hướng gắn kếtcộng đồng Hồi giáo Islam hơn là cộng đồng dân tộc Chăm Chăm Islam lạigắn kết với giáo hội nước ngoài, trước 1975 thường xuyên quan hệ với Hồigiáo Mã Lai, cử người sang đó học và mang kinh Qur’an từ đó về Việt Namđể truyền bá ở Nam Bộ

- Sự khác biệt cơ bản giữa Chăm Islam và Chăm Bàni

+ Tuy đều có gốc là Hồi giáo nhưng Chăm Islam và Chăm Bàni (Chăm Awal)lại có những khác biệt căn bản: Ở đây 5 cột trụ làm nên nền tảng đức tin Hồi

giáo, là thứ 1, đức tin không có Chúa Trời nào khác ngoài Allah, thứ 2, cầu nguyện 5 lần một ngày, thứ 3, bố thí, thứ 4, nhịn ăn tháng Ramadan, thứ 5,

hành hương thánh địa Mecca hoàn toàn bị người Cham Bà-ni phá vỡ và “viphạm” Người Chăm Bà-ni bên cạnh đức tin vào Allah, họ còn thờ cả thầnMưa, Biển, Núi… và cúng ông bà tô tiên; họ không còn nhớ đến việc hànhhương Mecca; còn việc cầu nguyện mỗi ngày hay ăn chay vào tháng 9 và bố

thí chỉ được thực hiện vào mùa Ramưwan và chỉ dành cho giới tu sĩ; còn ở ngoài đời, người Chăm Bà-ni biến tháng chay tịnh thành ngày lễ: Bbang Muk

Kei, dân gian gọi là Ăn “tết” Bà-ni Cuối cùng, ảnh hưởng chế độ mẫu hệ

khiến đám cưới hay đám tang hoàn toàn theo họ mẹ

Trang 30

+ Ngay kiến trúc thánh đường của Bà-ni và thánh đường của Islam cũng có

sự khác biệt lớn Thánh đường Chăm Islam mang dáng dấp chung của thánh

đường Hồi giáo thế giới, ở đó mọi kiến trúc thánh đường đều hướng về thánh

địa Mecca, trong khi đó người Chăm Bà-ni ngược lại, cửa chính thánh đường

Chăm Bà-ni hướng về mặt trời mọc là nơi cư trú của thần linh trong tín

ngưỡng Bà-la-môn Bề ngoài thánh đường Chăm Islam có mái vòm cao với

trăng lưỡi liềm và ngôi sao lớn, của Chăm Bà-ni thì không; còn ngôi sao nếu

có thì rất nhỏ, chỉ như để trang trí Bên trong thánh đường Islam là một sân

lớn để cầu nguyện, trong khi đó ở Chăm Bà-ni là bục Mrong ở đây cấp Achar

làm lễ dịp Xuk Yơng, đọc kinh Mặt tiền của thánh đường Chăm Islam viết

chữ Ả rập, mặt tiền của thánh đường Chăm Bà-ni viết chữ Chăm

- Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Chăm (Thánh Mẫu Thiên Ya Na Bà Chúa Ngọc)

+ Thiên Ya Na là tên gọi Việt hóa của thánh Mẫu Chăm Pô Inư Nưgar Có lẽxuất phát từ sự tích công chúa Liễu Hạnh là con gái Ngọc hoàng vì đánh rơichén ngọc mà bị đẩy xuống trần gian, dân gian đã dung hòa và đặt cho thánhMẫu nơi đây cái tên mang đậm chất văn hóa dân gian của 2 miền Việt-ChămThiên Ya Na Diễn phi chúa Ngọc

+ Truyền thuyết kể rằng, nữ thần giáng sinh tại núi Đại An, vào nhà một đôi

vợ chồng lớn tuôi người Chăm cư ngụ Ông tiều phu già trông thấy đứa béhái dưa dưới ánh trăng, bèn đưa về nhà nuôi dưỡng, nữ thần ở với đôi vợchồng già qua bao con nước con trăng Một hôm, bà hóa thân vào khúc câykỳ nam rồi để cho sóng biển Đông đẩy đưa đi Hoàng tử Bắc Hải đi thuyềntrên biển trông thấy, bèn đưa khúc kỳ nam vào cung Một nàng tiên nữ chợthiện ra đẹp thần kỳ Hai người làm lễ kết nghĩa vợ chồng Một ngày hoàngtử đi xa, hoàng hậu xuôi theo con nước về Nam Cha mẹ xưa đã về với cõiấm Shiva, thương tiếc, bà nhỏ giọt lệ, xây đắp mồ mả, sửa sang lại nhà cửacho dân chúng, dạy dân chúng kéo cầy, dệt vải, dệt sợi, trồng dâu Một ngày

nọ, một con chim hạc rất lớn từ trên trời bay xuống, nữ vương Pô Inư Nưgacùng 2 con cưỡi hạc bay về trời

Trang 31

+ Lớp văn hóa Việt-Chăm có lễ thể hiện qua các truyền thuyết, cách bài trícũng như nghi thức thờ phụng bà Xưa kia, tượng nữ thần là một bức tượng

đá dạng linga mặt người, ngồi trên tảng yoni, thì ngày nay, người Việt khôngchỉ phủ lên bức tượng danh thần Thiên Ya Na, mà cả bộ mặt, trang phụccũng mang dáng dấp thánh Mẫu Việt Từ chiếc mũ trên đầu tượng mangphong cách bà hoàng, công chúa Việt Nam, cho đến bộ xiêm y màu vàngmang đậm tính chất của bộ y phục thần y Đàng Trong xứ Huế Có thể nói,trong các đền tháp nơi đây, người Việt đã mang đến một hệ thống điện thờ

thần thuần Việt, đúng như câu ca dao quen thuộc của đạo Mẫu: “Giữa xây tháp lớn thờ Bà/ Kế sau một tháp gọi là thờ Ông/Đôi bên bốn tháp cùng đồng/Thờ cô cùng cậu vợ chồng tiểu công”

+ Không chỉ điện thần, mà tuần tiết, nghi lễ và lễ hội tại tháp Bà cũng tuântheo lịch tiết người Việt Ngày hội lớn nhất ở tháp Bà diễn ra vào ngày 23/3

âm lịch, cùng tháng với lịch giỗ Mẹ trong văn hóa dân gian Việt “ThángTám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ” Trong lễ hội, nghi thức quan trọng nhất làtắm tượng Trong quan niệm của cả văn hóa dân gian Việt và Chăm, tắmnước sạch nước thơm mang ý nghĩa tẩy sạch mọi ô uế, bụi trần, mang lại chothần tượng sự tinh khiết, mang ý nghĩa cầu mong những gì tốt đẹp, maymắn Sau lễ mở cửa đền, tắm tượng là những màn trình diễn mang tính cộngđồng, làng xã như múa quạt, múa bóng Múa bóng chính là một điệu múapha trộn giữa điệu múa của những cô đồng trong Mẫu Tam phủ Việt và của

người Chăm Điệu múa ấy đã đi vào dân ca miền Trung: “Ai về xóm Bóng quê nhà/Hỏi thăm điệu múa dâng Bà còn không?”

- Tín ngưỡng phồn thực

+ Thần Shiva là 1 trong 3 vị thần tối cao của Bà-la-môn giáo Shiva trongtiếng Phạn có nghĩa là tốt lành.Thần Shiva là vị thần hủy diệt, nhưng là hủydiệt cái cũ để tạo ra cái mới Ngoài ra, thần Shiva trong các đền thờ củangười Chăm còn được đồng nhất với Linga – biểu tượng của sinh thực khínam Linga thường được kết hợp với Yoni – một khối mặt phẳng hình vuônghoặc tròn, biểu tượng của sinh thực khí nữ – tạo nên một chỉnh thể hoànthiện Đây cũng chính là biểu tượng âm – dương làm nên biểu tượng sángtạo sinh sôi của thần Shiva

Ngày đăng: 07/09/2021, 06:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w