Đông đô Quảng hội là một hội quán của người Hoa, nằm trên đường PhốHiến cũ, phường Hồng Châu, trung tâm thành phố Hưng Yên ngày nay.. Hiện nay trong số các di tích của tỉnh Hưng Yên thì
Trang 1TIỂU LUẬN CHUYÊN NGÀNH
Đề tài: Bước đầu tìm hiểu về Đông đô Quảng hội
có nhà nghiên cứu nào khai thác hết được Thêm vào đó, Hưng Yên còn là vùngđất có truyền thống hiếu học lâu đời, từ thời Lý - Trần đến nhà Nguyễn vùng đấtHưng Yên có 228 vị tiến sĩ góp phần không nhỏ vào công việc xây dựng bộ máychính quyền phong kiến trung ương tập quyền Khi nhắc đến Hưng Yên chúng
ta không thể không nhắc đến Phố Hiến, một đô thị cổ và sầm uất vào bậc nhất ởthế kỷ XVI - XVII
Phố Hiến được mệnh danh là: “Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”, và
là đô thị lớn chỉ đứng sau Thăng Long Kinh đô Thăng Long hồi đó có 36 phốphường còn Phố Hiến có 20 phường (trong đó có 8 phường thủ công), vì vậy màPhố Hiến là đô thị lớn chỉ đứng sau kinh kỳ mà thôi Xưa kia các thương nhânnước ngoài mang quốc tịch khác nhau đến đây buôn bán, nhưng đến đây sớmnhất, đông nhất và ở lâu dài nhất là người Hoa của 5 phủ của tỉnh Phúc Kiến:Thương Châu, Trương Truyền, Thiều Châu, Phúc Châu, Phúc Quảng với 14dòng họ: Ôn, Tiết, Bạch, Hoàng, Lý, Trần, Quách, Mã, Thái, Hà, Hứa, Từ, Lâm,Khu Số dân lên tới hàng nghìn người gọi là người Minh Hương Họ thường ởnhững khu nhà chật chội nhưng họ có tài buôn bán, làm nghề thủ công, cắt thuốcBắc và hầu như không làm ruộng Phong cách giao dịch thì lịch thiệp lấy chữ tínlàm trọng Nhà nào cũng thờ Quan Công một vị tướng trung nghĩa thời Tam
Trang 2Quốc Họ lập ra Đông đô Quảng hội để bảo vệ quyền lợi của cộng đồng, làmviệc nghĩa, giúp đỡ những người ngụ cư ổn định cuộc sống, mở trường dạy học
để con em của người Hoa khỏi quên tổ tiên của mình
Đông đô Quảng hội là một hội quán của người Hoa, nằm trên đường PhốHiến cũ, phường Hồng Châu, trung tâm thành phố Hưng Yên ngày nay Xưa kia,nơi đây thuộc trung tâm Phố Hiến hạ, thôn Mậu Dương, tống An Tảo, huyệnKim Động, tỉnh Hưng Yên Được xây dựng vào năm 1597 bởi 14 dòng họ ngườiPhúc Kiến (Trung Quốc): thờ Thần Nông, Thần Y và Thần Hoa Quảng, 3 vịthần mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc Bên phải là Thiên Hậu Cung thờ bàLâm Tức Mặc (Phúc Kiến), được tôn vinh là vị thần Hàng Hải
Hiện nay trong số các di tích của tỉnh Hưng Yên thì Đông đô Quảng hộicũng là một di tích đặc biệt và khá nổi bật so với các di tích khác Sự hình thành
và phát triển của Đông đô Quảng hội liên quan mật thiết đến sự hình thành vàphát triển của Phố Hiến
Tìm hiểu về vùng đất Hưng Yên văn hiến thủa nào không thể không nhắcđến Đông đô Quảng hội Qua đó để hiểu thêm về giá trị giao lưu kinh tế, vănhoá và tín ngưỡng của nhân dân Trung Hoa thời kỳ buôn bán phồn thịnh tại PhốHiến Đây còn thể hiện kiến trúc mang phong cách Phúc Kiến (Trung Quốc) kếthợp với kiến trúc Việt Qua đó góp phần bảo lưu những giá trị lịch sử - văn hoácủa người dân Hưng Yên nói riêng và người Việt Nam nói chung
Xuất phát từ tinh thần đó, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Bước đầu tìmhiểu về Đông đô Quảng hội (Thành phố Hưng Yên)” làm bài tập tiểu luậnchuyên ngành
2 Lịch sử vấn đề
Đã có nhiều công trình khoa học viết về quần thể di tích Phố Hiến như:chùa Chuông, Đền Mẫu, Đền Trần, Văn Miếu Xích Đằng Nhưng chưa có mộtcông trình khoa học nào trình bày một cách chi tiết đầy đủ về di tích Đông đôQuảng hội
Trang 3Trong cuốn sách Phố Hiến kỷ yếu hội thảo khoa học do Sở văn hoá thông
tin - Thể thao Hải Hưng ấn hành năm 1994, diễn ra từ ngày 10 - 11 tháng 12năm 1992, cuộc Hội thảo khoa học về Phố Hiến được tổ chức tại Bảo tàng tỉnhHưng Yên Trong nhiều bài viết Cũng có nhắc nhiều đến vai trò quan trọng củangười Hoa và có nêu qua về vai trò của Đông đô Quảng hội trong quần thể ditích Phố Hiến
Và di tích này cũng được nhắc đến tại một số cuốn sách Hưng Yên vùng phù sa văn hoá, do nhà xuất bản trẻ ấn hành năm 2009.
Nhưng tựu trung lại, di tích này hiện nay chưa được quan tâm của các nhànghiên cứu trong và ngoài nước, như đúng vị trí vai trò của nó trong Lịch sử củavùng đất Phố Hiến – Hưng Yên, cũng như vai trò to lớn của nó trong lịch sửViệt Nam
Căn cứ vào tập hồ sơ di tích Đông đô Quảng hội, được Sở văn hoá thểthao và du lịch tỉnh Hải Hưng Năm 1992, Đông đô Quảng hội được Bộ văn hoá– thông tin công nhân đây là di tích lịch sử văn hoá và Kiến trúc nghệ thuật (liênquan đến Phố Hiến thế kỷ XVII – XVIII)
Qua những nguồn tài liệu kể trên là cư liệu quan trọng trong quá trình tôilàm đề tài của mình Từ những tài liệu quan trong đó, mà đặc biệt tôi tập trung
khai thác tập hồ sơ về di tích này Tôi chọn đề tài “bước đầu tìm hiểu về Đông
đô Quảng hội của Thành phố Hưng Yên” Để làm rõ những gì khái quát nhất về
vai trò quan trọng của nó trong lịch sử của Phố Hiến – Hưng Yên nói riêng vàvai trò trong lịch sử Việt Nam nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Tiểu luận nghiên cứu về văn hoá vật thể ở Hưng Yên thể hiện qua một ditích lịch sử
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu Đông đô Quảng hội của Thành phố Hưng Yên
Trang 44 Nhiệm vụ của tiểu luận
- Giới thiệu khái quát về quá trình hình thành, phát triển và suy tàncủa thành phố Hưng Yên
- Giới thiệu về nguồn gốc, quá trình trùng tu, sửa chữa của di tíchĐông đô Quảng hội
- Giới thiệu về các hạng mục di tích và giá trị lịch sử - văn hoá của ditích
5 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp thực địa và điền dã để tìm hiểu di tích
- Phương pháp lịch sử và logic để trình bày tiểu luận
6 Bố cục tiểu luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dungchính của tiểu luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát lịch sử Hưng Yên và đô thị cổ Phố Hiến.
Chương 2: Di tích Đông đô Quang hội trong quần thể di tích Phố Hiến Chương 3: Giá trị của Đông đô Quảng hội đối với Phố Hiến xưa và nay
Trang 5B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VÙNG ĐẤT HƯNG YÊN VÀ ĐÔ THỊ CỔ PHỐ HIẾN 1.1 Khái quát lịch sử Hưng Yên
1.1.1 Khái quát về địa lý và hành chính
Hưng Yên là tỉnh có diện tích nhỏ thứ hai cả nước, chỉ đứng sau tỉnh BắcNinh Tỉnh nằm ở tả ngạn sông Hồng, thuộc vùng châu thổ Bắc Bộ, phía đônggiáp Hải Dương, phía Nam giáp Thái Bình, phía tây – nam giáp Hà Nam, phíatây giáp Hà Đông (Hà Nội), phía tây bắc và bắc giáp thủ đô Hà Nội và BắcNinh Sự khác biệt nhất của tỉnh Hưng Yên so với các tỉnh khác là vùng không
có biển hay đồi núi, nhưng là vùng đất khá bằng phẳng và phù sa màu mỡ
Vùng có con người cư trú từ sớm, cùng với quá trình bồi đắp của sôngHồng Thời Hùng Vương, vùng đất Hưng Yên thuộc bộ Giao Chỉ Thời Ngô gọi
là châu Đằng, thời Tiền Lê đổi thành phủ Thái Bình Thời Lý gọi là châu Đằng,châu Khoái Sang thời Trần đặt là lộ Long Hưng và lộ Khoái Thời Hầu Lêthuộc trấn Sơn Nam, sau chia lại làm hai trấn là Sơn Nam thượng và Sơn Nam
hạ
Thời Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 12 (1831) thi hành cải cách hànhchính bỏ các trấn lập ra tỉnh, tách 5 huyện Động Yên, Kim Động, Thiên Thi,Phù Cừ, Tiên Lữ thuộc phủ Khoái Châu của trấn Sơn Nam thượng và 3 huyệnThần Khê, Duyên Hà, Hưng Nhân thuộc phủ Tiên Hưng, Sơn Nam hạ đặt làmtỉnh Hưng Yên Tỉnh lỵ lúc đầu đóng ở hai xã An Vũ và Lương Điền, sauchuyển về bài Nhị Tân – Xích Đằng (trung tâm Tp Hưng Yên ngày nay) Nơiđây giao thông thủy bộ thuận lợi, thôn làng tiếp chợ nối tiếp nhau, việc giaothương ngày càng phồn thịnh “Quang cảnh phố phường đông vui, xe thuyền tấpnập, cái dáng dấp của Phố Hiến đất Sơn Nam xưa, nay lại được thấy ở nơi đất
này” (Hưng Yên tỉnh nhất thống chí).
Trang 6Địa danh Hưng Yên từ 1831 được chính thức có tên trong danh bạ đấtnước Như vậy trước khi Pháp xâm lược Việt Nam, Hưng Yên là một tỉnh nằm ở
cả hai phía sông Luộc Sau thành lập tỉnh, địa giới của tỉnh cũng đã nhiều lầnthay đổi Ngày 27 - 3 - 1883 quân Pháp do Trung tá hải quân Henri Rivière chỉhuy, từ Hà Nội theo sông Hồng hạ thành Nam Định rồi cho viên thiếu úy quân
De Trentinian đưa một toán quân tới đánh thành Hưng Yên Chiếm được thành,một mặt chúng ra sức củng cố chính quyền tay sai, đặt nhiều đồn binh, một mặtxúc tiến việc đo đạc lập đồ để nắm sâu vào các làng xóm, nhưng gặp khó khăn
vì vấp phải sự chống trả của nghĩa quân Bãi Sậy
Năm 1890 Pháp thành lập đạo Bãi Sậy gồm huyện Yên Mỹ, Mỹ Hào, VănLâm và Cẩm Lương, để tiện đánh dẹp Sau khởi nghĩa tan rã, chúng sáp nhập bahuyện Văn Lâm, Yên Mỹ, Mỹ Hào vào tỉnh Hưng Yên, còn huyện Cẩm Lương(phần thuộc Cẩm Giàng – Hải Dương ngày nay) trả về tỉnh Hải Dương Cũngtrong năm 1890 Pháp cắt huyện Thần Khê thuộc phủ Tiên Hưng của Hưng Yêncùng phủ Thái Bình và phủ Kiến Xương của Nam Định lập tỉnh mới là tỉnh TháiBình Sau đó lại cắt 2 huyện Hưng Nhân, Duyên Hà và chuyển huyện Tiên Lữ,huyện Phù Dung (sau đổi thành huyện Phù Cừ), trước thuộc phủ Tiên Hưng vềphủ Khoái Châu Kể từ đây sông Luộc trở thành ranh giới tự nhiên giữa HưngYên và Thái Bình Giai đoạn này kéo dài suốt thời kỳ thống trị của thực dânPháp cho đến nay
Cuối năm 1946, thực dân Pháp trở lại xâm lược đánh chiếm vùng đồngbằng Bắc Bộ Để tiện việc chỉ đạo kháng chiến, tháng 10 năm 1947, Trung ương
đã giao huyện Văn Lâm về với tỉnh Bắc Ninh, đồng thời cũng chuyển huyệnVăn Giang của Bắc Ninh, đồng thời cũng chuyển huyện Văn Giang của BắcNinh về Hưng Yên Thời gian sau việc chỉ đạo đánh phá đường xe lửa có khókhăn nên huyện Văn Lâm lại được chuyển về Hưng Yên
Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hòa bình được lập lại trên miền Bắc,các đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh vẫn được giữ nguyên, chỉ thay đổi địa
Trang 7danh hành chính của một số phường, xã Ngày 26-1-1968, Ủy ban Thường vụQuốc hội ra Nghị quyết hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng.Sau đó lần lượt hợp nhất các huyện Văn Giang với Yên Mỹ thành huyện VănYên, Tiên Lữ với Phù Cừ thành Phù Tiên, Văn Lâm với Mỹ Hào thành Văn Mỹ,Kim Động với Ân Thi thành Kim Thi, Văn Yên với Văn Mỹ thành Mỹ Văn,Khoái Châu với một phần của Văn Giang thành Châu Giang.
Ngày 6-11-1996, Quốc hội phê chuẩn việc tách tỉnh Hải Hưng thành tỉnhHải Dương và Hưng Yên Tiếp đó các huyện hợp nhất trước kia được tách ratheo địa giới hành chính cũ
Ngày 1-1-1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập, gồm 6 đơn vị hành chính cấphuyện: Thị xã Hưng Yên, huyện Mỹ Văn, Châu Giang, Ân Thi, Kim Động, PhùTiên, với 160 xã, phường, thị trấn Ngày 24-2-1997, chính phủ ra Nghị định số17/CP chia huyện Phù Tiên thành huyện Phù Cừ và Tiên Lữ Ngày 24-7-1999,chính phủ phê duyệt cho 2 huyện Châu Giang và Mỹ Văn chia tách thành 5huyện: Văn Giang, Khoái Châu, Mỹ Hào, Văn Lâm, Yên Mỹ
Hiện nay Hưng Yên có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, thị: trung tâmthành phố Hưng Yên và các huyện Văn Lâm, Văn Giang, Mỹ Hào, Yên Mỹ,Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ, với 164 xã, phường, thị trấn
1.1.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên
Hưng Yên không có núi và biển, nhưng bù lại Hưng Yên là vùng có hệthống sông ngòi và ao đầm dày đặc
Quanh tỉnh ba phía đều là sông Phía tây là sông Hồng (giáp giới với HàNội và Hà Nam), phía nam là sông Luộc (giáp giới với tỉnh Thái Bình), phíaĐông là sông Cửa An (giáp giới tỉnh Hải Dương), phía Bắc giáp với hai huyệnven sông Đuống của tỉnh Bắc Ninh Cùng với hệ thống thuỷ lợi Bắc – Hưng –Hải (xây dựng năm 1958) với hai kênh chính là kênh Chính Bắc và kênh ChínhNam chảy qua nhiều xã của các huyện trong tỉnh đã tạo ra hệ thống thuỷ nông,giao thông thuận lợi
Trang 8Thuỷ lợi thuận lợi và địa hình tương đối bằng phẳng, tạo cho vùng đấtHưng Yên trở thành một vựa lúa lớn của Bắc Bộ bên cạnh Thái Bình Ngoàitrồng lúa, việc trồng cây ăn quả cũng phát triển khá mạnh như: nhãn, táo,cam, và đặc biệt là chuối, với sản lượng chuối cung cấp ra thị trường đứngđầu cả nước.
Cũng giống như các tỉnh phía Bắc, tỉnh Hưng Yên thuộc khu vực nhiệtđới gió mùa nóng ẩm, nên một năm có 2 mùa nóng ẩm và hanh lạnh rõ rệt Mùanóng kéo dài trong 4 tháng từ tháng 5 đến tháng 8, mùa lạnh từ tháng 11 đếntháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 230C và khi thấp nhất là 10 – 150C.Lượng mưa trung bình năm là 1800 – 2200 mm, độ ẩm trung bình tháng là 80%
đầu thế kỷ XX: “Từ năm 1806 – 1898, trong vòng 92 năm Hưng Yên có 39 năm
đê vỡ, 10 năm hạn hán, 15 năm sâu dịch, chỉ có 28 năm là được mùa” [6;16.]
Sau mỗi lần hạn hán, lụt lội, một hệ quả tất yếu là gây ra mất mùa, đóikém, nhân dân điêu đứng, nhà cửa điêu tàn, diện tích đất canh tác ngày càng bịthu hẹp
Những khó khăn về điều kiện tự nhiên là một đặc điểm chi phối lịch sửcủa địa phương
1.1.3 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội và con người Hưng Yên
Hưng Yên vùng đất có lịch sử lâu đời, sự phát triển của Hưng Yên gắnliền với sự phát triển của lịch sử dân tộc Ngày từ thời vua Hùng, nơi đây đã cócon người sinh sống Điều này được chứng minh qua nhiều di chỉ khảo cổ họctrên địa bàn tỉnh như: khu mộ quách Nội Mạc (An Viên – Tiên Lữ), trống đồng
Trang 9Cửu Cao (Văn Giang) Bên cạnh đó ta còn xác định qua các truyền thuyết khácnhư: Chử Đồng Tử - Tiên Dung,
Hưng Yên vốn là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, nên cóđiều kiện thuận lợi phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội Vì vậy nơi đây conngười cư trú ở đây rất sớm với mật dộ dân cư ngày càng đông đúc và có tốc độtăng trưởng dân số khá cao
Trong hoạt động kinh tế, các làng nghề thủ công truyền thống khá đa dạng
và phong phú như: ươm tơ, dệt lụa, đúc đồng, làm tương bần, Nhờ đó mà đờisống của người dân ngày càng ổn định Ngoài ra, hoạt động buôn bán, thươngnghiệp cũng được người dân chú trọng Theo truyền thuyết Chử Đồng Tử - TiênDung, đã cho ta thấy hoạt động kinh tế diễn ra sớm trong lịch sử
Vào thế kỷ XVI – XVII, Phố Hiến của Hưng Yên trở thành đô thị sầm uấtnhất của cả nước chỉ đứng sau kinh thành Thăng Long lúc bấy giờ Mà người
đời xưa có câu “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”.
Hiện nay, Hưng Yên không còn có thế mạnh như xưa nữa Nhưng vớiđiều kiện thuận lợi cả về đướng sông, đường bộ, khá thuận lợi của mình, cộngvới những chính sách ưu đãi và thu hút sự đầu tư của tỉnh Tốc độ tăng trưởngcông nghiệp bình quân 24%/năm, dịch vụ tăng 15%/năm, kinh ngạch xuất khẩutăng 36,7% Hàng năm có hàng trăm dự án lớn nhỏ, với số vốn lên tới hàng trăm
tỉ USD, tạo công ăn việc làm cho người dân trong tỉnh Thúc đẩy quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá của toàn tỉnh
Nhân dân không chỉ chăm lo phát triển kinh tế, mà còn là một mảnh đất
có truyền thống văn hiến lâu đời Suốt chiều dài của lịch sử dân tộc từ thời HùngVương đến nay, đã ghi nhận những đóng góp to lớn của nhân dân Hưng Yêntrong lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc và đã ghi nhận sự đóng góp củanhân dân Hưng Yên trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước của dântộc Như: trong cuộc đấu tranh đánh đuổi giặc Ân của Phù Đổng thiên Vương có
sự góp mặt của ba chàng trai làng Thổ Hoàng (Ân Thi), của Hoàng An (Văn
Trang 10Lâm); trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổi lên chống lại nhà Hán, có sựđóng góp của các vị tướng Nguyệt Thai, Nguyệt Độ (Khoái Châu), Lã Văn Ất(Văn Giang), Hương Thảo (Ân Thị) ; cuộc khởi nghĩa của Triệu Quang Phụcchống lại quân Lương, ông dựng vào vị trí hiểm yếu của vùng đất Dạ Trạch(Khoái Châu), là vùng đất có thể nói là nhân tố quyết định thắng lợi giành lạichính quyền của nhà nước Vạn Xuân trong 20 năm của Triệu Việt Vương; Haytrong các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, nổi bật hơn cả là cuộckhởi nghĩa Bãi Sậy vào năm 1883 do Đinh Gia Quế (Tân Dân – Khoái Châu)dựng cờ, sau đó là Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa đã thu hútđược nhiều tướng lĩnh xuất sắc giành được nhiều thắng lợi to lớn, cuộc khởinghĩa tồn tại 9 năm (1883 – 1892) rồi bị dập tắt .v.v
Vùng đất Hưng Yên giáp ranh với kinh thành Thăng Long nên chịu tácđộng rất lớn về mọi mặt của cuộc sống Cho nên những văn hoá vật thể và phivật thể được hình thành và phát triển sớm Nó được bảo tồn và lưu giữ nhiều disản văn hoá vật thể và phi vật thể quý báu, thể hiện qua nghệ thuật trình diễndân gian (hát ví, xẩm, trống quân, ả đào, chèo ), với các lễ hội cổ truyền phongphú (lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung, lễ hội chùa Chuông, đền Mẫu, đề Trần,Đông đô Quảng hội, đền Phù Ủng, ), làng nghề truyền thống (đúc đồng ở làngĐại Đồng – Văn Lâm, đan thuyền ở làng Nội Lễ - Kim Động, tương Bần ở MỹHào ), văn hoá ẩm thực (nhãn lồng, chè sen, tương bần, rượu Trương Xá, ếch
om Phượng Tường ) và đặc biệt những hệ thống di tích lịch sử (quần thể di tíchHải Thượng Lãm Ông Lê Hữu Trác ở Yên Mỹ, quần thể di tích Phố Hiến ởtrung tâm thành phố Hưng Yên, cụm di tích Tống Trân, di tích đền Phù Ủng )
Hệ thống di tích lịch sử - văn hoá của tỉnh khá lớn với 1222 di tích, phân bố đềukhắp tỉnh Trong số đó có 153 di tích được xếp hạng Quốc gia, đứng thứ ba cảnước về số lượng di tích được xếp hạng
Trang 111.2 Đô thị cổ Phố Hiến xưa
Phố Hiến nằm ở trung tâm thành phố Hưng Yên, là đô thị cổ đã có một
thời nổi danh “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến” Là một thương cảng nổi
tiếng, là trung tâm thương mại giao lưu quốc tế sầm uất và phồn thịnh ở ĐàngNgoài suốt hai thế kỷ XVI – XVII
Từ thời kỳ Lý – Trần, vùng đất này trở thành vọng gác tiền tiêu của kinhthành Thăng Long Đến thế kỷ XV – XVI, nông nghiệp và thương nghiệp pháttriển đã tạo ra những sản phẩm hàng hoá phong phú, điều này đã thúc đẩy nhữngtrung tâm thương nghiệp phát triển, không chỉ làm nhiệm vụ nội thương màquan trong là ngoại thương, giao lưu với khu vực và quốc tế Đến thế kỷ XVIIhai trung tâm thương nghiệp lớn được hình thành, Phố Hiến ở Đàng Ngoài vàHội An ở Đàng Trong Tư liệu sớm nhất mà ngày nay chúng ta biết được qua bia
chùa Hiến ở Phố Hạ, dựng năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625), ghi: “Hiến Nam danh thị
tứ phương đô hội tiểu Tràng An dã” (tức là: Phố Hiến nổi tiếng là tiểu Tràng An nơi bốn phương tụ hội) Trong cuốn du ký Một chuyến du lịch đến Đàng Ngoài,
thương nhân người Anh là William Dampier đến Phố Hiến năm 1688, đã viết:
“ở đây có tới 2000 ngôi nhà, có đồn binh
Tên Phố Hiến xuất phát từ chữ Hiến
với các tên gọi là Hiến Doanh hay Hiến Nam,
vốn là cơ quan hành chính của trấn Sơn Nam,
được xác nhận qua nhiều thư tịch cổ Sách
Đại Nam nhất thống chí, văn bia chùa Hiến
(1625) cũng thừa nhận trụ sở Ty Hiến sát xứ Sơn Nam đặt ở Hoa Dương Sách
Việt sử thông giám cương mục triều Nguyễn cũng giải thích tên Hiến Doanh như
sau: vì là lỵ sở của Ty Hiến sát xứ Sơn Nam đời cố Lê nên có tên gọi như vậy
Nhờ nằm ở vị trí giao thông thuận lợi trên trục sông Hồng, như một cảngbiển nằm sâu trong cửa sông lại ở trên ngã ba sông Đồng thời là một tiền cảngcủa kinh thành Thăng Long thông ra biển, ở giữa vùng đồng bằng châu thổ sông
Trang 12Hồng đông dân cư và kinh tế phát triển Nhờ chính sách hợp lý của nhà Hậu Lê(thế kỷ XV) không cho các nước tư bản phương tây lưu trú ở Thăng Long, mà
họ chỉ được buôn bán ở đây rồi về nơi quy định gọi là thương điếm Phố Hiếntrở thành tiền cảng của kinh thành Thăng Long, nơi đặt trị sở Hiến Nam củaThừa tuyên làm nhiện vụ canh phòng, kiểm soát thu thuế tàu buôn qua lại (điềunàu được ghi rõ trong bia chhùa Hiến năm 1625) và cũng là một cảng sông neođạu tàu thuyền, cho phêpa người nước ngoài đắt thương điếm Đặc biệt phố hiếncòn thu hút được vai trò kích thích của ngaoị thương và khách nước ngoài Láibuôn ở hầu hết các miền của đất nước đều có mặt ở phố hiến Llái buôn nướcnoài đến phố hiến cũng khá đông và cư trú lâu dài ở đây Thương nhân đến sớmnhất là người Trung Quốc, Nhật Bản, Xiêm, Mã Lai, Inđônxia thêm vào đó là
sự phát triển dần dần của bộ phận kinh tế hàng hoá trên địa bàn phía nam đồngbằng Bắc bộ Phố Hiến đã đạt tới sự thịnh vượng bậc nhất của một đô thị vào thế
kỷ XVII, trở thành một trung tâm thương nghiệp giao lưu quốc tế, tàu thuyền ravào nhộn nhịp hàng hoá phong phú Cũng vì thế, Phố Hiến có tên là Vạn laitriều, cùng với hàng hoá người nước ngoaì còn mang theo đén đây phong tục,tập quán, kiến trúc và đặc sản của xứ họ
Thời kỳ đó, Phố hiến có trên “2000 ngôi nhà” [8;25], “20 phường” [8;27],
36 chợ, 50 nơi trong nước đã từng đến đây buôn bán, còn xuất hiện hàng loạtkhu phố ngoại kiều như khu phố người Nhật, người Hà lan, ,và đặc biệt là khuphố của người Hoa (điều này ta thấy oỳr trong văn bia chùa chuông năm 1911).Trong “ A Nam du ký ”của Phan Đình Khuê viết năm 1688 gi nhận: “ở đâydừng lại tất cả các thuyền bè các nước từ bốn phương đến buôn bán với Đàngngoài”
Phố Hiến đã trở thành khu chế xuất đầu tiên của Việt Nam hồi thế kỷXVII với hai khu phố có 12 phường là khu dân cư buôn bán và 8 phường thủcông khẳng định tính chất hoàn chỉnh của một khu đô thị cổ trung đại
Trang 13Khu thủ công có đặc thù xủa nền sản xuất thủ công truyền thống như:phường Hàng nón, phường Hàng bè, phường Hàng sơn, phường Hàng chén,phường Thợ nhuộm, phường Nồi đất chủ yếu sản xuất hàng hoá, cung ứngtheo các đơn đặt hàng của thương nhân nước ngoàihàng xuất khẩu một phần lấy
từ Phố hiến hàng xuất khẩu một phần đến từ phố hiến và vùng lân cận, còn phầnlớn các hàng được tập hợp từ mọi miền đát nước về phố hiến bao gồm sản vậtnông lâm ngư nghiệp như: tơ tằm, đồ gốm, hàng mây tre đan hàng nhập khẩu
là các mặt hàng thiết yếu như thuốc súng, vũ khí, len dạ, đồ thuỷ tinh, vàng bạc,
đồ sứ cao cấp, nữ trang, thuốc bắc các thương điếm góp phần kích thích xuấtnhập khẩu của ph từ đó thúc đẩy phát thiển kinh tế nhất là kinh tế thương nghiệp
Góp phần quan trọng khá lớn cho việc mở mang và phát triển Phố Hiếnkhông thể không nói tới vai trò quan trọng của người Hoa Họ ở đây lâu, dầndần lập lên phố Minh Hương, phố Khách … Họ sang Phố Hiến làm ăn buôn bán
và làm môi giới cho thương nhân nước ngoài từ thế kỷ XIII, gồm 14 dòng họcủa 5 phủ thuộc tỉnh Phúc Kiến Đặc biệt là vai trò của quan trấn thủ trấn SơnNam là Lê Đình Kiên (1621 – 1704) Ông là người đã thay mặt triều đình giaothiệp với các thương nhân ngoại quốc đến Phố Hiến, ông làm tốt việc đối nội vàđối ngoại giữ yên được một vị trí tiền tiêu của Thăng Long, được thương nhân
và triều đình ca ngợi
Sau đó, vào cuối thế kỷ XVII, do sự thay đổi điều kiện địa lý tự nhiên vàdòng chảy sông Hồng vùi lấp bến Đá, cảng sông ở Phố Hiến mất tác dụng khiến
Trang 14cho các thương nhân không thể cập bến tại đây Tính mong manh yếu ớt của cácphường, đặc biệt là phường thủ công với nền sản xuất hàng hoá không đủ sứchấp dẫn đối với thương nhân ngoại quốc Thêm vào đó là chính sách bế quan toảcảng của triều đình, quan liêu, làm kìm hãm sự phát triển kinh tế tại Phố Hiến.Các nước tư bản Phương Tây và Phương Đông đô Quảng Hội ra sức lùng véthương liệu và tơ lụa mà không đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, còn triềuđình chỉ mục đích là lợi dụng các thương nhân để mua vũ khí phục vụ chiếntranh Chính điều đó làm cho ngoại thương không thể phát triển được Phố Hiếndần mất đi vai trò thương nghiệp và cảng sông phát đạt của nó vào các thế kỷXVI – XVII để rồi vừa bị nông thôn hoá vừa tích hợp vào đô thị Hưng Yên trởthành thủ phủ của một đơn vị hành chính cấp tỉnh 1831.
Phố Hiến với vai trò quan trong của nó suốt hai thế kỷ, đánh dấu cho sự
mở đầu việc mở cửa ra thị trường nước ngoài thúc đẩy kinh tế thủ công vàthương nghiệp trong nước phát triển
Cùng với thời gian, Phố Hiến đã không còn hiện hữu đến ngày này, nhưngnhững giá trị của nó để lại thì mãi mãi vẫn còn đó, những di tích đó được nằmtrong quần thể Phố Hiến được bảo tồn, tôn tạo, trở thành một điểm thu hút khách
du lịch và những nhà nghiên cứu quan tâm đến Phố Hiến Hiện nay, quần thế ditích Phố Hiến có trên 60 di tích, hàng trăm bia ký, hàng nghìn cổ vật có giá trị
Nhắc lại đến Phố Hiến xưa người ta không thể không nhớ đến một thờihoàng kim của nó, với vai trò quan trong của người Hoa, mà cho đến nay sự ảnhhưởng của văn hoá của người Hoa vẫn còn hiện hữu rõ nét trong văn hoá của cưdân Phố Hiến Thông qua di tích Đông đô Quảng Hội chúng ta phần nào thấyđược những vai trò lớn đó
Trang 15CHƯƠNG 2: DI TÍCH ĐÔNG ĐÔ QUẢNH HỘI TRONG QUẦN THỂ DI TÍCH PHỐ HIẾN
2.1 Khái lược về quá trình hình thành
Đông đô Quảng hội nằm trên đường Phố Hiến, phường Hồng Châu, trungtâm thành phố Hưng Yên hiện nay Xưa kia, nơi đây thuộc trung tâm Phố Hiến
hạ, thôn Mậu Dương, tổng An Tảo, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên Đây lànơi hội họp của các thương nhân nước ngoài, chủ yếu là người Hoa, đồng thời
đó cũng là nơi thờ tam thánh:
- Thần Thái Y (thần làm nghề thuốc) cứu nhân độ thế cho con người taiqua nạn khỏi và còn dạy cho nhân dân trồng các loại cây dược liệu quý chế biếnthành thuốc chữa bệnh
- Thần Hoa Quang (dạy dân làm các nghề thủ công) như: dệt lụa, chè sen,làm thuốc bắc,…
- Thần Nông (dạy dân làm nông nghiệp): dạy dân làm ruộng, trồng trọt,chăn nuôi, nuôi tằm…
Bên trái Đông đô Quảng hội là Thiên hậu cung, nơi đây thờ Thiên HậuThánh mẫu
Theo thần tích, Thiên Hậu Thánh Mẫu tên thật là Lâm Tức Mặc (960 987), con gái thứ sáu của Lâm Nguyện, người quê ở phủ Hưng Hóa, tỉnh PhúcKiến, Trung Quốc Bà sinh vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, vào thời Tống KiếnLong nguyên niên (năm 960) Tương truyền Lâm Tức Mặc khi sinh ra có hươngthơm ngào ngạt, có những vòng ánh sáng lạ xuất hiện chung quanh Khi lớn lên
-Bà rất thông minh, hoạt bát gan dạ, hiền lành và có khả năng tiên đoán được sựđổi thay của khí hậu, thời tiết Bà rất thích đi ngao du tứ hải nên người ta thườnggọi Bà là “Long Nữ”, Bà còn có biệt tài về chữa bệnh, khử tà, bơi lặn, do đóđược người dân vùng biển rất thương yêu, kính phục Từ tuổi hoa niên bà đãphát hiện ra một thứ rong biển dùng nấu thạch làm thức ăn cứu đói cho dân, và