Đất là một tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người để sinh tổn và phát triển. Trên quan điểm sinh thái và môi trường, đất là một nguồn tài nguyên tái tạo, một vật thể sống động, một “vật mang” của các hệ sinh thái tồn tại trên Trái Đất. Do đó, con người tác động vào đất cũng chính là tác động vào tất cả các hệ sinh thái mà đất đang “mang” trên mình nó. Đất là tư liệu sản xuất, là đối tượng lao động, là vật mang được đặc thù bởi tính chất độc đáo mà không vật thể tự nhiên nào có được đó là độ phì nhiêu. Chính nhờ tính chất độc đáo này mà các hệ sinh thái đã và đang tổn tại, phát triển, kết trái và xét cho cùng, cuộc sống của loài người cũng phụ thuộc vào tính chất “độc đáo” này của đất (Lê Văn Khoa và ctv., 2012).Ngày nay, việc ứng dụng nhiều tiến bộ khoa họckỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp như: thăm canh tăng năng suất, dùng các loại cây ngắn ngày cao sản, đầu tư nhiều vào phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích, chất điều hòa sinh trưởng... đã tăng thêm những tác động mới đối với đất và tạo ra những chuyển biến đa dạng và sâu sắc hơn đối với đất đai (Lê Thanh Bồn, 2009).Tuy nhiên, xưa nay đều thế cả, cấy ghé mạ hay gieo hạt thóc giống xuống bùn cũng phải trông trời, trông đất, trông mây... Ngọn sấm tháng ba ì ầm trổ cũng là lúc cây lúa rủ rỉ làm đòng.“Lúa chiêm ngấp nghé đầu bờHễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”.Dân gian đúc kết kinh nghiệm rồi chuyển tải vào ca dao cho dễ nhớ, dễ thuộc, dễ lưu truyền từ đời này qua đời khác. Kinh nghiệm sản xuất mà ngân nga như một lời ru đất Việt. Bà ru. Mẹ ru. Em ru. Câu ru theo người lính vượt biển băng rừng, tình yêu quê hương đất nước đồng hành khôn nguôi cùng chiến sĩ.Vì vậy chúng tôi thực hiện chuyên đề “Dung dịch đất và một số tính chất của đất” nhằm mục đích hiểu rõ về dung dịch đất và một số tính chất của đất và đưa ra biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả canh tác.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP
Ts ĐẶNG DUY MINH Nguyễn Đức Thịnh Nguyễn Quốc Anh
Huỳnh Hồng Anh Kiều Nguyễn Quang Huy Huỳnh Hữu Luân Cao Y
Trà Khanh Tra Phạm Văn Cảnh
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC HÌNH ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG 2
2.1 Khái niệm 2
2.2 Vai trò của dung dịch đất 2
2.3 Đặc tính của dung dịch đất 5
2.3.1 Phản ứng của dung dịch đất 5
2.3.1.1 Phản ứng chua của đất (tính chua của đất) 6
2.3.1.2 Phản ứng kiềm (tính kiềm) của đất 11
2.3.2 Tính đệm hay phản ứng đệm của đất 12
2.3.2.1 Khái niệm 12
2.3.2.2 Nguyên nhân tạo nên tính đệm của đất 12
2.3.2.3 Ý nghĩa của tính đệm trong thực tiễn 14
2.3.3 Phản ứng oxy hóa-khử của đất 14
2.3.3.1 Khái niệm 14
2.3.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình oxy hóa-khử 15
2.3.3.3 Ý nghĩa thực tiễn của tính oxy hóa-khử 16
2.4 Một số biện pháp nâng cao độ phì của đất bằng cách điều tiết phản ứng đất 17
2.4.1 Bón vôi cải tạo đất chua 17
2.4.2 Ðiều tiết phản ứng oxy hoá-khử 21
CHƯƠNG 3 KẾT LUẬN 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Tài liệu tiếng Việt 24
Tài liệu tiếng Anh 25
Tài liệu Web 25
Trang 32.4 Độ sâu xuất hiện tầng phèn hoạt động phụ thuộc chế độ rút nước
và thoáng khí trong phẫu diện
17
2.5 Bón vôi trên cánh đồng để cải thiện đất 13
2.6 Ảnh hưởng của phân bã bùn mía lên sự nảy mầm và sinh trưởng
của rể bắp
21
Trang 42.3 Ảnh hưởng của trạng thái oxy hoá-khử đến các dạng sản phẩm
Trang 6CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Đất là một tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người để sinh tổn và phát triển Trên quan điểm sinh thái và môi trường, đất là một nguồn tài nguyên tái tạo, một vật thể sống động, một “vật mang” của các hệ sinh thái tồn tại trên Trái Đất Do đó, con người tác động vào đất cũng chính là tác động vào tất cả các hệ sinh thái mà đất đang “mang” trên mình nó Đất là tư liệu sản xuất, là đối tượng lao động, là vật mang được đặc thù bởi tính chất độc đáo mà không vật thể tự nhiên nào có được - đó là độ phì nhiêu Chính nhờ tính chất độc đáo này mà các hệ sinh thái đã và đang tổn tại, phát triển, kết trái và xét cho cùng, cuộc sống của loài người cũng phụ thuộc vào tính chất “độc
đáo” này của đất (Lê Văn Khoa và ctv., 2012)
Ngày nay, việc ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học-kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp như: thăm canh tăng năng suất, dùng các loại cây ngắn ngày cao sản, đầu tư nhiều vào phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích, chất điều hòa sinh trưởng đã tăng thêm những tác động mới đối với đất và tạo ra những chuyển biến đa dạng và sâu sắc hơn đối với đất đai (Lê Thanh Bồn, 2009)
Tuy nhiên, xưa nay đều thế cả, cấy ghé mạ hay gieo hạt thóc giống xuống bùn cũng phải trông trời, trông đất, trông mây Ngọn sấm tháng ba ì ầm trổ cũng là lúc cây lúa
rủ rỉ làm đòng
“Lúa chiêm ngấp nghé đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Dân gian đúc kết kinh nghiệm rồi chuyển tải vào ca dao cho dễ nhớ, dễ thuộc, dễ lưu truyền từ đời này qua đời khác Kinh nghiệm sản xuất mà ngân nga như một lời ru đất Việt Bà ru Mẹ ru Em ru Câu ru theo người lính vượt biển băng rừng, tình yêu quê hương đất nước đồng hành khôn nguôi cùng chiến sĩ
Vì vậy chúng tôi thực hiện chuyên đề “Dung dịch đất và một số tính chất của đất” nhằm mục đích hiểu rõ về dung dịch đất và một số tính chất của đất và đưa ra biện
pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả canh tác
Trang 7CHƯƠNG 2 NỘI DUNG 2.1 Khái niệm
Theo Vernatski thì dung dịch đất quan hệ với đất như máu của động vật, như dịch
của tế bào cây (Phan Tuấn Triều, 2009) Theo Nguyễn Thế Đặng và ctv (2008), Dung
dịch đất gồm nước trong đất và chất hòa tan là các chất vô cơ, hữu cơ và hữu cơ-vô cơ
Chất hòa tan trong dung dịch đất gồm có:
- Chất vô cơ: ở dạng hòa tan hay dạng keo như: NO3-, NO2-, HCO3-, CO32-, PO43-, Cl-,
SO42-, keo sét, keo silic, keo sắt, nhôm,
- Chất hữu cơ: các acid mùn, các chất sinh ra trong quá trình phân giải chất hữu cơ như: acid hữu cơ, acid amin, aldehyt, rượu,
- Các chất hữu cơ-vô cơ: các muối của acid mùn, các liên kết mùn-sét, mùn khoáng,
- Các chất khí: CO2, O2, N2, NH3, H2S, Thành phần, số lượng và nồng độ các chất hòa tan trong dung dịch đất luôn thay đổi, vì hàm lượng nước trong đất luôn luôn thay đổi
và các chất hòa tan thì luôn luôn được bổ sung vào đất bởi các nguồn sau đây:
+ Do đá mẹ phong hóa, do nước mang nơi khác tới, do các chất được phân giải
từ chất hữu cơ, do các chất hòa tan có sẵn trong nước mưa,
+ Do hàng năm con người bón phân vào đất
+ Do các ion hấp phụ trên keo đất chuyển vào dung dịch đất
+ Do các chất mà thực vật và vi sinh vật trong quá trình sống đã thải vào đất Như vậy: Dung dịch đất là một bộ phận linh hoạt của đất Nó tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành đất, vào các phản ứng lý học, hóa học, sinh học xảy ra trong đất; tham gia vào sự trao đổi chất dinh dưỡng giữa đất với cây và với vi sinh vật đất
2.2 Vai trò của dung dịch đất
Thành phần và số lượng chất hòa tan trong dung dịch đất nói lên khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho thực vật và vi sinh vật
Trang 8Nồng độ dung dịch đất ảnh hưởng đến sự hút nước của cây Nếu nồng độ chất tan quá cao (ví dụ: đất bị mặn) thì áp suất thẩm thấu của dung dịch đất tăng lên sẽ cản trở
sự hút nước của cây, nên dù trong đất có nhiều nước nhưng cây vẫn bị héo (gọi là hạn sinh lý)
Phản ứng của dung dịch đất (chua, kiềm hay trung tính) ảnh hưởng lớn đến hoạt động của vi sinh vật; ảnh hưởng đến tính chất lý học, hóa học, sinh học của đất; ảnh hưởng đến độ hòa tan các chất dinh dưỡng có trong đất (Lê Văn Dũ, 2009)
Một số loại muối, các anion, cation, chất hòa tan trong dung dịch đất làm cho đất
có tính đệm, có thể giữ độ pH đất ít bị thay đổi
Dung dịch đất chứa một số chất hòa tan có thể tăng cường quá trình phá hủy đá để
hình thành đất (Trần Văn Chính và ctv., 2000)
Hình 2.1 Vai trò của dung dịch đất (Phan Tuấn Triều, 2009)
Các yếu tố ảnh hưởng tới nồng độ dung dịch đất
Theo Nguyễn Thế Đặng và ctv (2008), Nồng độ dung địch đất luôn thay đổi theo
thời gian Sự thay đổi có thể do 3 nguyên nhân chính: quá trình bổ sung chất hoà tan, quá trình mất chất hoà tan và quá trình thay đổi lượng nước trong đất
Các chất hoà tan thường xuyên được bổ sung vào dung dịch đất thông qua
Bón phân cho cây: Đây là hoạt động thường xuyên ở đất trồng trọt Hoạt động này góp phần duy trì nồng độ các chất dinh dưỡng trong dung dịch đất ở tầng canh tác một cách có hiệu quả
Nước
trong đất
Dung dịch đất (dưới dạng ion
và chất hòa tan)
Chất khoáng
Khoáng hóa nhờ vi sinh vật phân giải và tổng hợp
Rễ cây
Trang 9Hình 2.2 Sử dụng phân bón để cung cấp chất dinh dưỡng
(https://gomsanvuon.com/luu-y-khi-trong-cay-canh-trong-nha/)
Để tránh tăng nồng độ chất dinh dưỡng một cách đột ngột và nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, hạn chế quá trình rửa trôi dinh dưỡng thì các biện pháp kỹ thuật bón phân như bón rải làm nhiều lần, bón phân kết hợp với sục bùn để thúc đẩy quá trình trao đổi ion giữa keo đất và dung dịch đất, số lượng phân bón được tính toán dựa vào khả năng hấp thu của đất và như cầu dinh dưỡng của cây cần được chú trọng
Bổ sung chất tan qua nước mưa nước tưới: Đó là nguồn bổ sung các chất hoà tan trong nước mưa, nước tưới như HCO3-, NH4+, NO3-, SO42- Ví dụ như ở Mỹ hay Nhật Bản, nước mưa thường có lượng acid khá cao, khi mưa bổ sung một lượng acid đáng kể vào đất hoặc sấm sét làm tăng lượng NH4+ trong nước mưa, bổ sung một lượng đạm nhất định cho đất Chính vì vì vậy ca dao Việt Nam có câu:
“Lúa chiêm ngấp nghé đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Các chất được giải phóng ra từ quá trình phong hoá đá và khoáng vật: Đây là nguồn
bổ sung lớn nhất, chính vì vậy mỗi đất hình thành trên các loại đá và khoáng khác nhau,
có thành phần cũng như nồng độ các chất tan trong dung dịch đất đặc trưng
Các chất được giải phóng từ quá trình phân giải xác hữu cơ trong đất Đây là nguồn
bổ sung thường xuyên và quan trọng nhất và có tính chất quyết định nhất tới thành phần chất hoà tan ở mỗi loại đất Đặc biệt, thông qua quá trình sinh trưởng phát triển của thực vật, thực vật hút chất dinh dưỡng ở tầng sâu, sau đó cung cấp lại chất hữu cơ (khi chết hay quả cành rơi, lá rụng) cho đất ở tầng mặt, phân bố lại dinh dưỡng trong đất là làm giàu dinh dưỡng ở tầng đất mặt
Trang 10Chất hoà tan trong dung dịch đất bị mất mát do các quá trình sau
Quá trình xói mòn rửa trôi: Đây là nguyên nhân quan trọng làm giảm nồng độ dung dịch đất Quá trình này xảy ra đặc biệt nghiêm trọng ở đất đồi Những nơi đất đai có độ che phủ kém, các biện pháp kỹ thuật chống xói mòn chưa được áp dụng
Do cây hút dinh dưỡng: Đây là nguyên nhân không căn bản bởi nhờ quá trình tiểu tuần hoàn sinh vật, cây sẽ hoàn trả chất dinh dưỡng cho đất qua xác hữu cơ Tuy nhiên, trên đất canh tác lượng hao hụt các chất của đất là rất đáng kể do các chất bị lấy đi theo sản phẩm thu hoạch Chính vì vậy, một chế độ phân bón hợp lý phải đảm bảo được cân bằng dinh dưỡng cho đất, lượng phân bón phải đủ để bù đắp lượng dinh dưỡng bị tiêu hao trong quá trình canh tác
Ngoài các quá trình làm tiêu hao hay bổ sung trực tiếp các chất hoà tan vào dung dịch đất, các quá trình khác có những ảnh hưởng không nhỏ đến nồng độ dung dịch đất
Ví dụ:
+ Mưa hay tưới hoà loãng dung dịch đất, bốc hơi nước, đặc biệt trong điều kiện hạn hán sẽ làm tăng vọt nồng độ dung dịch đất Chính vì vậy, thời tiết khí hậu đặc trưng cho các vùng khác nhau hay các mùa trong năm có tính chất quyết định đến nồng độ của dung dịch đất Thời tiết khí hậu còn ảnh hưởng gián tiếp tới nồng độ dung dịch đất thông qua ảnh hưởng tới ảnh hưởng của vi sinh vật, phong hoá đá và khoáng vật, xói mòn, rửa trôi chất dinh dưỡng
+ Quá trình trao đổi giữa keo đất và dung dịch đất, quá trình hoà tan hay kết tủa làm tăng hay giảm nồng độ của một cation hay anion nào đó trong đất
pH = 7 tức là [H+] = [OH-]: đất có phản ứng trung tính pH < 7 tức là [H+] > [OH-]: đất
có phản ứng chua pH > 7 tức là [H+] < [OH-]: đất có phản ứng kiềm
Theo Phan Tuấn Triều (2009), Mức độ pH (hay nồng độ H+) của đất ít khi có ảnh hưởng trực tiếp trên sinh trưởng cây trồng, nhưng quan trọng vì nó xác định sự hữu dụng của các dinh dưỡng khoáng cho cây pH thấp có ảnh hưởng xấu đến sự hữu dụng của N,
K, Ca, Mg Tuy nhiên, sự hữu dụng của các nguyên tố Fe, Mn, Bo, Cu và Zn tốt hơn trong điều kiện pH thấp Độ chua nhiều có thể có hậu quả là gây độc nhôm (Al)
Trang 11pH đất cũng được dùng như một chỉ thị cho sự xuất hiện các vấn đề của đất như sau:
pH < 5.0 - Al, Fe, và Mn trở nên dễ hoà tan và có thể gây độc cho cây Xuất hiện dấu hiệu thiếu Ca và Mo
pH < 5.5 - xuất hiện dấu hiệu thiếu Mo, Zn, và S
pH > 7.5 - Xuất hiện ngộ độc do Al, Zn, và Fe
pH > 8.0 - Có sự tạo thành các Calcium Phosphate mà cây không hấp thu được
pH > 8.5 - lượng Na trên mức bình thường Ngộ độc muối Xuất hiện dấu hiệu thiếu Zn và Fe
2.3.1.1 Phản ứng chua của đất (tính chua của đất)
2.3.1.1.1 Nguyên nhân gây ra tính chua của đất
Đất bị chua do 5 nguyên nhân sau đây
Do bản thân đất được hình thành từ các loại đá nghèo các cation kiềm và kiềm thổ, giàu SiO2 (như đá macma acid)
Do các cation kiềm trong đất bị rửa trôi ra khỏi đất, làm giảm chất kiềm trong đất Nói chung lượng mưa càng lớn thì sự rửa trôi vật chất càng nhiều và đất càng dễ trở nên chua hóa nhanh
Hàng năm cây hút đi nhiều chất kiềm của các muối khoáng trong đất như: NH4+,
K+, Ca2+, Mg2+, Mặt khác, trong quá trình sống của mình rễ cây và hoạt động của vi sinh vật đất đã không ngừng thải ra khí CO2 , khí này hòa tan trong nước thành H2CO3, tuy độ phân ly không lớn nhưng nó là nguồn gốc H+ chủ yếu trong đất
Chất hữu cơ trong đất được vi sinh vật phân giải và chuyển hóa tạo ra nhiều loại acid hữu cơ và acid vô cơ đã làm cho đất bị chua Đặc biệt trong các vùng đất chua mặn thường có xác cây sú, vẹt, đước, xác các loại cây này có chứa nhiều lưu huỳnh, trong điều kiện yếm khí sẽ sinh ra H2S, sau đó oxy hóa tạo thành H2SO4 làm cho đất rất chua
Do con người bón phân hữu cơ và phân vô cơ vào đất:
- Phân hữu cơ: Vi sinh vật phân giải và chuyển hóa tạo ra nhiều loại acid hữu cơ và acid
vô cơ đã làm cho đất bị chua
- Phân vô cơ:
+ Loại phân chua tự do, như superphotphat có lượng acid dư gây chua cho đất
Trang 12+ Loại phân chua sinh lý, như: KCl, K2SO4, (NH4)2SO4, NH4Cl, cây hút gốc dinh dưỡng, còn lại các anion kết hợp với nước để tạo ra acid vô cơ gây chua cho đất
2.3.1.1.2 Các loại độ chua của đất
Người ta phân biệt ra 2 loại độ chua là: độ chua hoạt tính và độ chua tiềm tàng
2.3.1.1.2.1 Độ chua hoạt tính
Độ chua hoạt tính là độ chua tạo nên bởi ion H+ tự do trong dung dịch đất Có thể rút những ion H+ này ra bằng nước cất, nên độ chua hoạt tính được biểu thị bằng pHH2O Thường pHH2O của đất biến thiên từ 3 - 9 và người ta chia làm 6 cấp như sau: pHH2O < 4,5 Đất rất chua 4,6 - 5,5 Đất chua vừa 5,6 - 6,5 Đất chua ít 6,6 - 7,5 Đất trung tính 7,6
- 8,5 Đất hơi kiềm > 8,5 Đất kiềm nhiều
Bảng 2.1 Ðộ chua hoạt tính của một số loại đất Việt Nam (Trần Văn Chính và ctv.,
2000)
Ðất đỏ vàng trên phiến thạch mica (Phú Hộ, Phú Thọ) 4,5
Ðộ chua hoạt tính được sử dụng trong việc bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp trên vùng đất canh tác hoặc xác định sự cần thiết phải bón vôi cải tạo độ chua của đất cho phù hợp với đặc tính sinh học của loại cây định trồng Ða số cây trồng ưa môi trường trung tính nhưng cá biệt có những cây cần đất chua như chè, cà phê, dứa, khoai tây
Trang 13Bảng 2.2 Khoảng pH đất tối thích cho một số cây trồng (Trần Văn Chính và ctv.,
2000)
5,5 thì chưa cần thiết phải bón vôi Khi đất chua nhiều (pHH2O < 4,0) có thể nghi trong đất chứa acid vô cơ (ví dụ như H2SO4 trong đất phèn) Nếu đất kiềm nhiều (pHH2O > 8,5) thì trong đất thường chứa nhiều Na2CO3 hay NaHCO3
Độ chua hoạt tính chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:
Mức độ phân ly thành ion của các chất acid và bazơ có trong đất Cùng một lượng acid nhưng acid vô cơ phân ly thành ion nhiều hơn acid hữu cơ, nên pHH2O của dung dịch đất chứa nhiều acid vô cơ thấp hơn Đối với bazơ cũng vậy, bazơ nào phân ly mạnh
sẽ cho nhiều ion OH- thì làm giảm độ chua hoạt tính tức là tăng pHH2O
Nếu đã có một độ chua tiềm tàng mà bón nhiều phân vô cơ thì sẽ xảy ra sự trao đổi cation làm đẩy H+ và Al3+ vào dung dịch, làm cho độ chua hoạt tính tăng lên
Ý nghĩa của việc xác định pHH2O: Vì độ chua này gây ảnh hưởng trực tiếp cho cây
và vi sinh vật, nên mỗi loại cây và vi sinh vật chỉ thích hợp sống ở một khoảng pHH2O
nhất định Vì thế người ta căn cứ vào pHH2O để bố trí cây trồng cho phù hợp với từng loại đất cụ thể
2.3.1.1.2.2 Độ chua tiềm tàng
Độ chua tiềm tàng là độ chua biểu hiện nồng độ ion H+ và nồng độ ion Al3+ bị hấp phụ trên bề mặt keo đất, bình thường thì chưa gây chua, nhưng vì một lý do nào đó
Trang 14chúng bị đẩy ra khỏi keo đất đi vào dung dịch, lúc đó gây ra một độ chua (Nguyễn Thế
Đặng và ctv., 2008)
Các ion H+ và Al3+ được hút bám trên keo với các lực khác nhau Tuỳ thuộc vào lực hút bám của các ion này trên keo mà người ta chia độ chua tiềm tàng thành 2 loại:
độ chua trao đổi và độ chua thuỷ phân
* Ðộ chua trao đổi
Là một loại độ chua của đất được xác định khi cho đất tác dụng với một dung dịch muối trung tính, thường dùng muối KCl, NaCl, BaCl2 Như vậy ngoài những ion H+ có sẵn trong dung dịch đất còn có những ion H+ và Al3+ được đẩy ra từ keo đất (Nguyễn
Thế Đặng và ctv., 2008)
Muối Al thuỷ phân tạo ra acid theo phương trình:
AlCl3 + 3H2O Al(OH)3 + 3HCl Nếu cho đất tác động với dung dịch KCl 1M trong 60 phút, lọc lấy dịch trong dùng dung dịch NaOH 0.01N chuẩn độ dịch lọc sẽ xác định được độ chua trao đổi, đơn vị là lđl/ 100g đ (đất khô) Nếu ta đem dung dịch lọc đo pH ta được pHKCl Cùng một mẫu đất pHKCl thường có trị số pH thấp hơn pHH2O từ 0.5 đến 1.0 đơn vị Chú ý: ở những vùng đất trung tính hay kiềm yếu chỉ xác định được pHKCl chứ không xác định độ chua trao đổi bằng chuẩn độ vì dung dịch đất sẽ có màu hồng ngay sau khi vừa cho chỉ thị màu phenolphtalein vào dịch chiết đất Trường hợp đặc biệt, một số loại đất có pHKCl >
pHH2O Ðiều này thường gặp ở những đất có lượng keo dương lớn (một số như: đất đỏ feralit, đất potzon) Khi đó có thể do sự trao đổi anion Cl- của dung dịch muối trung tính với các ion OHtrên keo đất nên lượng ion OH- bị chuyển vào dung dịch đất sẽ trung hoà bớt các ion H+ làm trị số pH tăng lên Thông thường độ chua trao của đất nhỏ hơn 1 lđl/100g đất Khi độ chua này lớn (trên 2 lđl/100g đất) chứng tỏ các cation kiềm hấp phụ trên keo đất đã bị rửa trôi nhiều, cần phải bón vôi cải tạo độ chua cho đất trước khi bón phân khoáng vào đất Nếu không có vôi bón thì nên chia phân khoáng bón thành nhiều đợt, tránh bón tập trung
* Ðộ chua thuỷ phân
Dùng muối trung tính KCl tác động với đất nhiều khi vẫn chưa đẩy dược hết các ion H+ và Al3+ ra khỏi keo đất Các nhà hoá học đất đã đưa ra phương pháp khác: dùng dung dịch chiết là muối tạo bởi một acid yếu và một bazơ mạnh như CH3COONa hoặc Ca(CH3COO)2 thì hầu hết các ion H+ và Al3+ sẽ bị đẩy ra khỏi keo vào dung dịch Ðộ chua được xác định bằng phương pháp này lớn hơn độ chua trao đổi nhiều và được gọi
là độ chua thuỷ phân Ðộ chua thuỷ phân được ký hiệu là H, đơn vị là lđl H+ và Al3+trong 100g đất khô
Trang 15Trong dung dịch NaCH3COO bị thuỷ phân:
NaCH3COO + H2O CH3COOH + NaOH
Như vậy độ chua thuỷ phân là độ chua lớn nhất vì nó bao gồm cả ion H+ ( độ chua hoạt tính), ion H+ và Al3+ bám hờ (độ chua trao đổi) và những ion H+ và Al3+ hút bám chặt trên bề mặt keo đất
Bảng 2.3 Ðộ chua trao đổi và độ chua thuỷ phân của một số loại đất Việt Nam (Trần
Theo nguyên lý thì độ chua thuỷ phân thường lớn hơn độ chua trao đổi nhưng cũng
có những trường hợp cá biệt độ chua thuỷ phân bằng hoặc nhỏ hơn độ chua trao đổi Những trường hợp này có thể giải thích như sau:
+ Một số loại đất như đất đỏ nhiệt đới hoặc đất potzon khi tác dụng với dung dịch NaCH3COO thì anion CH3COOcó thể trao đổi với anion OH- trên keo kaolinit tạo nên NaOH trong dung dịch Lượng NaOH này trung hoà bớt acid
CH3COOH trong dung dịch làm độ chua thuỷ phân giảm
+ Saritvili (1948) cho rằng một số đất đỏ có khả năng hấp phụ phân tử acid axêtic sinh ra trong tác dung thuỷ phân nói trên và chính vì vậy khi chuẩn độ ta thấy độ chua thuỷ phân bé hơn độ chua trao đổi
Người ta dùng độ chua thuỷ phân để tính dung tích hấp phụ cation (CEC) của đất:
CEC = S + H