4. Phương pháp, phương pháp luận và vai trò của phương pháp luận Triết học Mác Lênin Ngoài chức năng thế giới quan, phương pháp luận là một trong hai chức năng cơ bản nhất của triết học, nó định hướng cho con người xác định, lựa chọn, sử dụng phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn một cách hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay, do chưa nghiên cứu sâu, có nhiều người vẫn hiểu chưa đúng và chưa phân biệt giữa phương pháp luận với phương pháp luận triết học; ngoài ra, họ còn đồng nhất phương pháp với phương pháp luận, phương pháp luận với phương pháp hệ, phương pháp luận với phương pháp luận triết học. Việc nhầm lẫn này sẽ đánh giá không đúng vị trí, vai trò của triết học trong cuộc sống cũng như hạ thấp chức năng của triết học. Hiểu đúng về phương pháp luận nói chung và phương pháp luận triết học nói riêng sẽ có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là đối với hoạt động dạy và học lý luận. Trong giảng dạy lý luận, đặc biệt là triết học, giảng viên sẽ phải chú trọng nhiều hơn đến phần ý nghĩa phương pháp luận; trong quá trình học tập, học viên sẽ hiểu sâu phần này hơn; trong hoạt động thực tiễn, con người sẽ biết vận dụng sáng tạo, triệt để hơn lý luận vào thực tế. Tất cả những điều này sẽ giúp con người hiệu quả hơn trong hoạt động cải tạo tự nhiên và xã hội. Với tầm quan trọng như trên, con người phải được trang bị lý luận về phương pháp luận, đặc biệt là phương pháp luận triết học. Để hiểu đúng về phương pháp luận, chúng ta phải hiểu về khái niệm phương pháp, phương pháp luận, phương pháp hệ; các cấp độ của phương pháp và phương pháp luận; vai trò của phương pháp luận triết học. 1. Phương pháp, phương pháp hệ, phương pháp luận a. Phương pháp (methos): Có các cách hiểu về phương pháp như sau: Phương pháp là cách thức nghiên cứu, nhìn nhận các hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội, ví dụ: phương pháp biện chứng, phương pháp so sánh thực nghiệm. Phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó, ví dụ: phương pháp học tập, làm việc có phương pháp. Theo phạm vi ảnh hưởng, có thể phân phương pháp thành các cấp độ sau: Phương pháp riêng (ngành): là các phương pháp chỉ sử dụng trong các ngành riêng biệt. Mỗi khoa học đều có các phương pháp đặc thù, chỉ sử dụng riêng trong ngành mình, không thể sử dụng cho ngành khác; ví dụ: ẩn dụ, thậm xưng, … trong văn học; log, tích phân, … trong toán học. Phương pháp chung: là các phương pháp có thể được áp dụng trong nhiều ngành khác nhau; ví dụ: quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, xác suất thống kê, … Phương pháp chung nhất: là các phương pháp có thể sử dụng cho tất cả các ngành khoa học, đó là phương pháp của triết học. b. Phương pháp hệ (Methodica): là nhóm các phương pháp được sử dụng phối hợp trong một lĩnh vực khoa học hay một đề tài cụ thể; là hệ thống các thủ thuật hoặc biện pháp để thực hiện có tuần tự, có hiệu quả một công trình nghiên cứu khoa học. Sử dụng phối hợp các phương pháp là cách tốt nhất phát huy các điểm mạnh và khắc phục điểm yếu của từng phương pháp. Đồng thời chúng hỗ trợ, bổ sung, kiểm tra lẫn nhau trong quá trình nghiên cứu và để khẳng định tính xác thực của các luận điểm khoa học. Như vậy, thì phương pháp hệ thống nhất với nghĩa thứ 2 của “phương pháp” và được sử dụng trong nghiên cứu khoa học. c. Phương pháp luận (Methodology): hiện nay, có nhiều cách hiểu gần giống nhau về phương pháp luận. Có ba cách hiểu phổ biến nhất: • Luận về một phương pháp • Hệ thống các phương pháp • Khoa học hoặc lý thuyết về phương pháp Nếu xác định vị trí, thì phương pháp luận “là một bộ phận của logic học, nhằm nghiên cứu một cách hậu nghiệm về các phương pháp”1. Phương pháp luận không đề xuất, tạo ra các phương pháp, nó chỉ chọn lọc hoặc tổng hợp những phương pháp. “Đứng trước những con đường khác nhau dẫn đến cùng một mục tiêu, phương pháp luận sẽ chỉ cho ta con đường nào là con đường ngắn nhất, tốt nhất”2. Như vậy, phương pháp luận được hiểu là hệ thống các nguyên lý, quan điểm (trước hết là những nguyên lý, quan điểm liên quan đến thế giới quan) làm cơ sở, có tác dụng chỉ đạo, xây dựng các phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng các phương pháp và định hướng cho việc nghiên cứu tìm tòi cũng như việc lựa chọn, vận dụng phương pháp. Nói cách khác thì phương pháp luận chính là lý luận về phương pháp, bao hàm hệ thống các phương pháp, thế giới quan và nhân sinh quan của người sử dụng phương pháp và các nguyên tắc để giải quyết các vấn đề đã đặt ra có hiệu quả cao nhất. Cũng như phương pháp, có thể phân ra các cấp độ phương pháp luận. Phương pháp luận có nhiều cấp độ khác nhau: phương pháp luận ngành là phương pháp luận của các ngành khoa học cụ thể; phương pháp luận chung là các quan điểm, nguyên tắc chung hơn cấp độ ngành, dùng để xác định phương pháp hay phương pháp luận của nhóm ngành có đối tượng nghiên cứu chung nào đó; phương pháp luận chung nhất (phương pháp luận triết học) khái quát các quan điểm, nguyên tắc chung nhất làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp luận ngành, chung và các phương pháp hoạt động cụ thể của nhận thức và thực tiễn. Vì phương pháp luận mang tính lý luận cao nên nó có màu sắc triết học, tuy nhiên, không thể đồng nhất phương pháp luận và phương pháp luận triết học. Phương pháp luận của Triết học Mác Lênin đáp ứng những đòi hỏi của nhận thức khoa học
Trang 14 Phương pháp, phương pháp luận và vai trò của phương pháp luận Triết học Mác Lênin
Trang 21 Quan điểm toàn diện của chủ
nghĩa Mác – Lênin và vận dụng quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện của Chủ nghĩa Mác-Lênin? Vận dụng quan điểm toàn diện để đánh giá cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung?
Chúng ta đang sống trong một thời kì mà ở bất cứ nơi đâu trên đất nướcViệt Nam này cũng có thể tiến hành giao dịch thương mại Cứ ngủ dậy gửimột tin nhắn hay rửa mặt dưới nước máy là bạn đã tham gia một giao dịchthương mại Từ cái tăm, đến gói muối nơi nào cũng có người bán, kẻ mua,
cứ có cầu thì nguồn cung sẽ xuất hiện Chỉ cần có tiền là hàng sẽ đượcgiao tới tận nơi nhanh nhất có thể Sản phẩm làm ra có thể dùng hoặc đembán ở bất cứ nơi đâu được giá cao mà không bị bó buộc bởi bất kỳ một luật
Nghĩ đến quan liêu bao cấp có nhiều người nhìn nó bằng ánh mắt khôngmấy thiện cảm, có khi còn chê bai, chỉ trích… Nhưng thiết nghĩ sự vật hiệntượng nào cũng nên được nhìn một cách toàn diện trước khi bị đưa ra
Trang 3phán xét, như thế mới đánh giá đúng về nó Và phải chăng là thật sự cầnthiết với việc áp dụng quan điểm toàn diện vào giải quyết vấn đề đangđược bàn tới ở đây: cơ chế kế hoạch hóa tập trung – mặt lợi hay cái hại?
PHẦN NỘI DUNG
1 Quan điểm toàn diện của Chủ nghĩa Mác-Lênin
Phép biện chứng duy vật là môn khoa học nghiên cứu những quy luậtchung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống gồm 2nguyên lý (nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển), 6cặp phạm trù cơ bản (cái riêng – cái chung, nguyên nhân – kết quả, tấtnhiên – ngẫu nhiên, nội dung – hình thức, bản chất – hiện tượng, khả năng– hiện thực) và 3 quy luật phổ biến (quy luật lượng – chất, quy luật phủđịnh của phủ định, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập)
Từ 2 nguyên lý cơ bản trên, ta xây dựng được 3 quan điểm: Quan điểmtoàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử – cụ thể Trong đó,quan điểm toàn diện đóng một vai trò quan trọng bởi bất cứ sự vật hiệntượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật khác
và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú Do đó, quan điểm toàn diện có ýnghĩa hết sức thiết thực trong cuộc sống
1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng thế giới tồn tại như một thể thốngnhất Các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tồntại tách biệt với nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóalẫn nhau Cơ sở của sự liên hệ đó chính là tính thống nhất của thế giới vậtchất
Trang 4Mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là khách quan, là vốn có của sự vật,hiện tượng Đồng thời mối liên hệ còn mang tính phổ biến bởi bất cứ sự vậthiện tượng nào cũng đều nằm trong các mối liên hệ với những sự vật, hiệntượng khác.
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tínhphổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình mà nócòn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại: có mối liên hệ bên trong vàmối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới vàmối liên hệ bao quát một số lĩnh vực của thế giới, có mối liên hệ trực tiếp,mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại được thể hiện thôngqua một hay một vài khâu trung gian, có mối liên hệ bản chất, mối liên hệtất nhiên và liên hệ ngẫu nhiên, có mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau
và mối liên hệ giữa các mặt khác nhau của sự vât Trong các mối quan hệ
đó, nói chung, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên, mối liên hệ chủyếu… giữ vai trò quyết định, tùy thuộc vào quan hệ hiện thực xác định
1.2 Quan điểm toàn diện trong triết học Mác-Lênin
Từ việc nghiên cứu quan điểm biện chứng về mối liên hệ phổ biến của sựvật hiện tượng, triết học Mác – Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhậnthức Vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trên thế giới đều tồn tại trong mốiliên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng, phongphú, do đó khi nhận thức về sự vật, hiện tượng, chúng ta phải có quanđiểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ởmột mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật củanó
Quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật,hiện tượng, một mặt chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lạigiữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật,hiện tượng đó Mặt khác, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ với
Trang 5các sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp) Đề cập đến 2 nội dung này,Lênin viết “muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát vànghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vậtđó”.
Đồng thời quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từngmối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất,mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên…để hiểu rõ bản chất của sự vật
và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhấttrong hoạt động của bản thân Đương nhiên, trong nhận thức và hànhđộng, chúng ta cũng cần lưu ý tới sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mốiliên hệ ở những điều kiện nhất định
Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sựvật, chúng ta vừa phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó, vừa phảichú ý tới những mối liên hệ giữa sự vật ấy với các sự vật khác Từ đó taphải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau đểtác động vào sự vật nhằm đem lại hiệu quả cao nhất
Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật cầnphải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người.Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhấtđịnh, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạnnhững mối liên hệ Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tươngđối, không đầy đủ trọn vẹn Ý thức được điều này, chúng ta mới tránhđược việc tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật và tránh xem nó lànhững chân lí bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển
Để nhận thức được sự vật, cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, cầnthiết phải xem xét tất cả mọi mặt để đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sailầm và sự cứng nhắc
Trang 6Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ nóchú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mốiliên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhau nhữngthuộc tính, những quy định khác nhau của sự vật được thể hiện trongnhững mối liên hệ khác nhau đó Quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏichúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đếnchỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sựvật hay hiện tượng đó.
2 Vận dụng quan điểm toàn diện để đánh giá cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung
Nguồn gốc của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung
Ngày 30/4/1975 cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hoàn toàn thắnglợi ,đất nước ta hoàn toàn thống nhất sau 21 năm kháng chiến trường kì
Cả nước bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế -xã hội Địnhhướng của Đảng và Nhà nước: xây dựng nền kinh tế theo mô hình kếhoạch hóa tập trung mà hiện nay Đảng cộng sản Việt Nam gọi là mô hình
“quan liêu bao cấp’’ Cơ chế này có nguồn gốc từ mô hình phát triển kinh
tế xã hội và cơ chế quản lí kinh tế kế hoạch hóa tập trung của các nước xãhội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô
Cơ chế này có những ưu điểm thích hợp cho hoàn cảnh hiện tại của đấtnước lúc đó , nhưng cũng có nhiều hạn chế kìm hãm sự phát triển kinh tếcủa đất nước sau này Vậy cơ chế đó như thế nào? Có ưu nhược điểmgì? Sau đây chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu
Ngày nay, khi nhắc đến cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung ta thườngchỉ nghĩ đến các mặt tiêu cực của nó
Trang 7Thứ nhất, khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theochiều sâu dựa trên việc áp dụng các thành tựu của nền khoa học và côngnghệ hiện đại thì cơ chế này thủ tiêu sự cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoahọc công nghệ Điều đó làm cho nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảngtrầm trọng
Thứ hai, nhà nước quản lí kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựatrên hệ thống chỉ tiêu, pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới Tínhpháp lệnh thể hiện ở chỗ: nhà nước xây dựng các chỉ tiêu chủ quan, sau
đó đưa xuống cho các doanh nghiệp, thậm chí cả hợp tác xã thực hiện.Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở quyết định của các cơ quan nhànước có thẩm quyền và chỉ tiêu pháp lệnh được giao Hệ thống chỉ tiêuđược thể hiện ở chỗ: nhà nước thực hiện chế độ bao cấp đối với mọi đơn
vị cấp dưới và doanh nghiệp nhà nước kể cả hợp tác xã ( Hình 3) Cơ quanhành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của cácdoanh nghiệp, từ cấp vốn, sản xuất đến khâu phân phối sản phẩm nhưnglại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lí với các quyết định củamình( Hình 4) Giữa cơ quan hành chính trực tiếp tham gia vào quá trìnhlên chỉ tiêu kế hoạch và các doanh nghiệp thực hiện chỉ tiêu thì lại không cóbất kì sự ràng buộc pháp lí nào với hành động của mình, tức là dù có làmsai đi chăng nữa thì họ cũng không có vấn đề gì cả, vì vậy mà không có lí
do nào khiến họ thực hiện kế hoạch một cách tối ưu nhất Vấn đề mà cảhai bên quan tâm đó là chạy theo và chạy đua với chỉ tiêu được ấn từ trênxuống Ở giai đoạn này, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể được coitrọng đặc biệt Từ đó hạn chế sự phát triển của các thành phần kinh tếkhác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, triệt tiêu động lựckinh tế, lao động sáng tạo đối với người lao động, không kích thích tínhnăng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh
Thứ ba, bộ máy quản lí cồng kềnh, nhiều cấp trung gian Bộ máy quản línày vừa kém năng động vừa sinh ra đội ngũ kém năng lực, phong cách
Trang 8cửa quyền, quan liêu, nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người laođộng Hoạt động kinh tế kém hiệu quả Trong thực tế, bộ máy nhà nước vàdoanh nghiệp quốc doanh còn xuất hiện tính tham ô.
Thứ tư, các hoạt động giao dịch thương mại còn nhiều hạn chế: bán nhưcho, mua như cướp (Hình 5) Giá bán thấp hơn nhiều so với số vốn bỏ ranên mới có chuyện nhiều người dân tìm cách giấu lúa và nhiều chuyện dởkhóc dở cười Ai mua thứ gì cũng phải đến hợp tác xã mua bán hay cửahàng mậu dịch quốc doanh Để mua được thì rất khó khăn vì không đủ đểcung cấp, mọi người phải xếp hàng chầu chực để được mua với đặc trưng
là chế độ tem phiếu: vật phẩm tiêu dùng được phân phối theo định mứcchứ không theo khả năng lao động Tức là người làm ít và người làm nhiềuđều được phân phát vật phẩm như nhau Vì thế chế độ này thủ tiêu độnglực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo laođộng
Thứ năm, trong thời kì này lạm phát bùng nổ Tiền phát hành nhiều mà vẫnkhông đủ, lương công nhân không có; vật tư hàng hóa khan hiếm Giá bánlương thực dù tăng mười lần vẫn không đủ để bù đắp chi phí Sản xuấtnông nghiệp sa sút, đầu tư trong công nghiệp giảm Chỉ số giá bán lẻ củathị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985 Do đồng tiềnmất giá, người ta quay sang lấy vàng làm bản vị, khiến giá vàng tăng vọt,còn nhanh hơn cả tăng giá hàng hóa Tình trạng khan hiếm hàng hóa khiếncuộc sống chật vật không những về số lượng mà cả về phẩm chất củanhiều mặt hang
Tuy nhiên theo quan điểm toàn diện chỉ nhìn sự vật, hiện tượng ở một mặt,một chiều thì không thể đánh giá chính xác sự vật, hiện tượng mà cần phảiđặt nó vào mối liên hệ cụ thể trong từng hoàn cảnh, điều kiện lịch sử tươngứng Cụ thể như cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi nhìn phiến diện
Trang 9ta chỉ có thể nhìn thấy mặt tiêu cực mà không thể nhìn thấy những ưu điểmcủa nó.
Nhìn một cách toàn diện, ta thấy bên cạnh những hạn chế, yếu kém củachế độ kinh tế tập trung thì trong hoàn cảnh giai đoạn lịch sử những năm70/XX chế độ kinh tế tập trung cũng có những ưu điểm đóng góp nhất địnhcho đất nước:
Xét về mặt kinh tế: Trong những năm 70/XX, thời kì kinh tế tăng trưởngtheo chiều rộng, tức là dựa vào tăng đầu tư khai thác tài nguyên, sức laođộng giá rẻ và một số lợi ích khác, cơ chế kinh tế tập trung có tác dụngnhất định Nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế, phát huy sứcmạnh tổng hợp của cả nước vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn
và điều kiện cụ thể, nhất là trong quá trình công nghiệp hóa theo hướng ưutiên phát triển công nghiệp nặng Cơ chế này đã tạo nên sự thống nhất,đồng bộ trong việc thực hiện các mục tiêu của cả nước
Xét về mặt xã hội – chính trị:
Những năm 70/XX, thời kì đất nước còn đang nằm dưới bom đạn chiếntranh, hai miền Nam – Bắc còn bị chia cắt Mục tiêu và nguyện vọng cùa cảdân tộc là đánh đuổi Mĩ Ngụy, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước “Non sông Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” Trong hoàn cảnh đấtnước ấy, cơ chế quản lý kinh tế hóa tập trung đã đáp ứng được yêu cầucủa thời chiến: Tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân, toàn quân, hậuphương – tiền tuyến chung lòng Thực hiện kế hoạch hóa tập trung sẽ huyđộng được tối đa sức lực của toàn nhân dân trong việc xây dựng và pháttriển kinh tế, giúp miền Bắc hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ hậu phương chiviện cho miền Nam Nhiệm vụ và mục tiêu là giải phóng miền Nam thốngnhất đất nước là của toàn dân tộc chứ không riêng cá nhân ai
Trang 10Mặt khác, những người chiến sĩ khi ra chiến trường có thề yên tâm về giađình, cha mẹ, vợ con ở nhà bởi mọi thứ đã được nhà nước bao cấp.
Chiến thắng lịch sử năm 1975, đất nước dành thắng lợi hoàn toàn, thốngnhất trên toàn lãnh thố Sự thắng lợi ấy cũng có phần nào vai trò của cơchế kinh tế tập trung
Sau khi đất nước thống nhất, nhiệm vụ trước mắt quan trọng nhất lúc bấygiờ là khôi phục và phát triển kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh Chế
độ kinh tế hóa tập trung đã huy động được tinh thần, sức mạnh đoàn kếttoàn dân Nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh ở hai miền Nam –Bắc, đưa đất nước sang giai đoạn phát triển
Như vậy nếu nhìn một cách toàn diện, đánh giá đa góc cạnh thì chế độ kinh
tế tập trung cũng có nhiều ưu điểm nhất định trong công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam những năm 70/XX
Điểm phân biệt giữa quan điểm toàn diện và chủ nghĩa Triết chung ở chỗ:trong khi nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong tổng thể các mối liên hệ của
nó, quan điểm toàn diện nhận thức được đâu là mối liên hệ quan trọng, cơbản hơn để từ đó đưa ra nhận định đúng đắn mà không hề dàn trải haycứng nhắc Áp dụng vào vấn đề đang bàn luận, ta dễ dàng nhận thấy mốiliên hệ cơ bản nhất với cơ chế quan liêu bao cấp ở đây chính là hoàn cảnhlịch sử của đất nước
Liên hệ một chút tới đánh giá của quốc tế thì trong bài trả lời phỏng vấnhãng tin nhà nước Rusia Today ( RT) vào ngày 15/2 vừa qua, Viện sĩYevgeny Primakov 85 tuổi, người từng đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng LiênBang Nga đã không ngớt lời tôn vinh mô hình kinh tế của Liên Bang XôViết trước đây Nhưng đó chỉ là một thời đã qua với cả Liên Bang Xô Viết
và Việt Nam ta bởi cả hai đều đã tiến hành cải cách kinh tế ( ở Liên Xô lànăm 1965 và Việt Nam là 1986 ) Nói như thế không có nghĩa cơ chế bao
Trang 11cấp không hiệu quả nên phải thay đổi mà vì nó không còn phù hợp nữa.Ởnước ta, thời kì đầu với hào khí dân tộc đang lên sau chiến thắng lẫy lừngcủa cuộc kháng chiến chống Pháp, cũng như do được sống trong một chế
độ hoàn toàn mới, độc lập, tự do nên người dân tràn đầy hy vọng sẵn sàngđóng góp công sức, tiền của của mình cho công cuộc xây dựng chế độ xãhội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa Vì thế lúc bấy giờ, cơ chế kế hoạch hóatập trung là hoàn toàn phù hợp Và thực tế đã chứng minh tính đúng đắncủa nó thông qua sức mạnh toàn dân tộc mà nó tạo nên đã giúp nước nhàđánh tan giặc Mỹ, nước non thu về một mối
Tuy nhiên, mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ chế kếhoạch hóa tập trung đã dần bộc lộ rõ ràng hơn những hạn chế hết sức tolớn mà trước đấy nó được chiến tranh che lấp thì bây giờ đã gây ra hiệuquả trầm trọng mà đất nước phải gánh chịu Nền kinh tế thiếu năng động,kém hiệu quả, đất nước rơi vào tình trạng lạc hậu, đời sống nhân dân ngàycàng trở nên khó khăn, các căng thẳng xã hội cũng vì thế mà gia tăng; dẫnđến một hệ quả tất yếu là ta phải tiến hành cải cách kinh tế năm 1986 đưađất nước sang giai đoạn phát triển mới
Thời thế đã thay đổi thì dứt khoát cơ chế cũng phải thay đổi sao cho phù
độ hợp nếu không muốn bị bỏ lại phía sau Cũng giống như thế để có cáinhìn toàn diện về cơ chế kế hoạch hóa tập trung, ta phải xác định đượchoàn cảnh mà nó được áp dụng, đấy là căn cứ quan trọng nhất để ta đánhgiá về nó, tránh những đánh giá phiến diện, sai lầm của không ít ngườihiện nay Bản thần cơ chế nó không có lỗi, mà là được áp dụng sai thờiđiểm và cuối cùng thì cũng phải chịu bị phủ định trong quá trình phát triểncủa kinh tế đất nước bởi một cái mới hơn: cơ chế thị trường
Nhìn một cách toàn diện và bao quát về chế độ quan liêu bao cấp thì nócũng có những mặt ưu điểm riêng Tuy nhiên mặt ưu điểm lại vô cùng hạnchế thay vào đó là vô số những nhược điểm khiến nước ta phải mất nhiều
Trang 12thời gian để thay đổi nếp nghĩ, tác phong từ chiến đấu sang xây dựng Bêncạnh đó, tư tưởng bao cấp, sự duy ý chí và chậm đổi mới tư duy đã đưadân ta đứng trước bao khó khăn vào cuối những năm tám mươi, đầu chínmươi của thế kỷ trước Hơn nữa trong nền kinh tế hội nhập hiện nay nó lạitrở nên vô cùng lạc hậu và không còn phù hợp nữa Tất cả những hạn chếtrên không thể đổi lỗi cho cụ thể một cá nhân nào mà nó phải xét trên nhiềuyếu tố và các mặt khác nhau.
Thứ nhất là sự quản lý chưa đúng đắn, thiếu kinh nghiệm của đảng ta.Đảng ta đã nghiêm túc kiểm điểm, công khai thừa nhận những sai lầm,khuyết điểm trước nhân dân và cho rằng, nguyên nhân chính của nhữngsai lầm, khuyết điểm trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975-1985) của Đảng ta là do bệnh nóng vội, chủ quan, duy ý chí, từ đó dẫn đếnsai lầm về bố trí cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý phân phối lưu thông, cải tạo
xã hội chủ nghĩa; sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện
+ Nhà nước quản lý kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính, xây dựngcác chỉ tiêu một cách chủ quan, áp đặt từ trên xuống dưới khiến cho cácdoanh nghiệp chỉ quan tâm duy nhất đến việc hoàn thành chỉ tiêu, hạn chếsáng tạo
+ Các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinhdoanh của các doanh nghiệp Làm hạn chế sự phát triển và đóng góp vàonền kinh tế của các thành phần kinh tế khác
+ Quan hệ hàng hóa tiền tệ bị coi nhẹ
+ Bộ máy quản lý cồng kềnh nhiều cấp trung gian Hệ thống thể chế chưađồng bộ, còn chồng chéo, thiếu thống nhất, thủ tục hành chính còn rườm
rà, phức tạp, trật tự kỷ cương chưa nghiêm
Trang 13Hai là đội ngũ cán bộ công chức còn nhiều yếu kém về phẩm chất, tinhthần, trách nhiệm Không ít cán bộ, công chức trong các cơ quan hànhchính nhà nước làm việc thiếu tích cực Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều cán
bộ, công chức bảo thủ trong cách nghĩ, cách làm, thiếu sự năng động, sángtạo và đổi mới; cách làm việc quan liêu, hành chính hoá, không thạo việc,tác phong chậm chạp, rườm rà, thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm… dẫn đến
sự trì trệ về phương thức hoạt động trong các cơ quan hành chính Vẫncòn tồn tại không ít hiện tượng áp đặt, quan liêu cửa quyền, tham nhũng,hối lộ, tuỳ tiện, coi thường kỷ cương, kỷ luật công vụ
Ba là, trong xu thế hội nhập và phát triển quốc tế như hiện nay, các nướcphát triển đang sử dụng những ưu thế của mình gây ảnh hưởng, tạo sức
ép, làm tổn hại nền độc lập dân tộc của những nước chậm phát triển, trong
đó có Việt Nam Nếu như trước đây, chúng ta vì Độc lập mà buộc phải hysinh “No cơm, ấm áo”, thì nay “No cơm, ấm áo” đang trở thành “mồi nhử”của những nước lớn, nhằm làm méo mó nội dung độc lập dân tộc củanhiều nước nghèo và nhỏ Trong bối cảnh tình hình này, không cho phépchúng ta tách mình biệt lập với cộng đồng thế giới, mà phải chủ động thamgia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, chủ động khai thác những thuậnlợi từ bên ngoài, dựa vào những tập hợp lực lượng có lợi, hạn chế nhữngtác động tiêu cực Quá trình đó được kết hợp chặt chẽ với yêu cầu tăngcường tiềm lực quốc phòng – an ninh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc ViệtNam XHCN Thông qua hội nhập quốc tế, khu vực các nước ASEAN đểtăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, giữ vững độc lập, chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ
Những nguyên nhân trên đã cho ta thấy tại sao chế độ quan liêu bao cấplại tồn tại nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với nước ta trong thờibình Nước ta đang hướng tới đổi mới tiến hành chuyển dần từ nền kinh tếtập trung ,quan liêu ,bao cấp sang thực hiện cơ chế thị trường Có như vậynền kinh tế nước ta mới có thể được cải thiện và phát triển vững mạnh
Trang 14Tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, tạodựng được các mối quan hệ với các nước đang phát triển, hơn nữa là cácnước phát triển để nước ta có thể chiếm lại ưu thế và sức ảnh hưởng trênthị trường quốc tế.
PHẦN KẾT LUẬN
Áp dụng quan điểm toàn diện về cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở Việt Nam
đã cho ta cái nhìn sâu, rộng, đúng đắn về vấn đề này Mặc dù còn bộc lộrất nhiều hạn chế nhưng ta không thể phủ nhận vai trò và ưu điểm của cơchế này Khi nhìn nhận nó cần xem xét trên mọi mặt, mọi mối quan hệ thìmới xác định được đâu là những mặt nổi bật, những mối quan hệ quantrọng nhất Từ đó ta sẽ thấy được bản chất cơ chế kế hoạch hóa tập trungkhông phải là tiêu cực mà chỉ là không được vận dụng sáng tạo, đúng đắnvào tình hình đất nước cũng như bối cảnh lịch sử nước ta bấy giờ ,chính vìvậy mới dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Nhận thức được điều đóĐảng ta đã đề ra đường lối phát triển kinh tế mới và khắc phục những hạnchế của cơ chế kế hoạch hóa tập trung mà vẫn đi theo con đường xã hộichủ nghĩa
Từ vấn đề nêu trên ta càng nhận thức rõ hơn về vai trò quan trọng củaquan điểm toàn diện khi nhìn nhận một vấn đề:
– Quan điểm này đã cung cấp cho chúng ta cái nhìn đúng đắn, khách quan
về sự vật, hiện tượng để rút ra bản chất Phải đặt nó giữa các yếu tố bộphận, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó và mối quan hệ giữa
sự vật đó với sự vật khác ,đồng thời luôn đặt trong mối quan hệ với nhucầu thực tiễn của con người
– Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn đòi hỏi chúng taphải có các biện pháp, phương tiện khác nhau để hiểu cho rộng nhưngcũng cần xác định đâu là cái cơ bản, cái quan trọng để hiểu sâu sắc vấn đề
Trang 15Mà theo như Lê – nin là kết hợp chặt chẽ giữa “chính sách dân chủ” vàchính sách “có trọng điểm”.
2 Thực trạng của lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất của Việt Nam
trước và sau Đổi mới
Thực trạng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của Việt Nam trước và sau Đổi mới Bài tập học kỳ Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin 8 điểm.
MỞ ĐẦU:
Như chúng ta đã biết, trước thời kì đổi mới năm 1986, nền kinh tế nước talạc hậu và thấp kém so với nhiều nước khác trên thế giới và sau thời kì đổimới năm 1986, nền kinh tế đã có những khởi sắc nhất định Nhằm đi tìmcâu trả lời cho vấn đề này nên trong danh mục các bài tập lớn của môn