Trước tình hình đó, Đại hội xác định mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại: Ra sức kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu giữ vững hoà bình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới, tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Trang 1ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI
10.1 SỰ HÌNH THÀNH, BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI (1986 – 2001)
10.1.1 Đại hội lần thứ VI và Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ
và chính sách đối ngoại trong tình hình mới
a) Đại hội lần thứ VI của Đảng (12 – 1986)
Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta giànhthắng lợi, trong khi chúng ta đang rất cần một môi trường hoà bình để dựng xây đấtnước, hàn gắn những vết thương nghiêm trọng do hai cuộc chiến tranh tàn khốc kéodài gây ra, thì cuộc chiến tranh ở Biên giới Tây Nam và Biên giới phía Bắc lại bùng
nổ Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc sau năm 1979 tiếp tục căng thẳng và kéo dài đếncuối thập kỷ 80 Trên bình diện quốc tế, mặc dù bị thất bại nặng nề trong cuộc chiếntranh xâm lược Việt Nam, buộc phải rút quân về nước, nhưng đế quốc Mỹ vẫn không
từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng nước ta Từ ngày 16 tháng 5 năm 1976, Chínhphủ Mỹ và từ năm 1979 là các nước phương Tây đã thực hiện chính sách bao vây,cấm vận chống Việt Nam Quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN từ khi xảy
ra vấn đề Campuchia giảm xuống mức thấp nhất Tất cả các đề nghị của Việt Nam vềđối thoại và hợp tác khu vực đều không được các nước ASEAN chấp nhận Các hoạtđộng của ASEAN trong quan hệ với Việt Nam ở giai đoạn này “chịu ảnh hưởng củavấn đề Campuchia, quan hệ ASEAN - Việt Nam trở nên lạnh nhạt, trì trệ, nếu khôngnói là thù nghịch”1
Sự bao vây, chống phá của các thế lực thù địch đối với Việt Nam từ nửa cuốithập niên 70 của thế kỷ XX tạo nên tình trạng căng thẳng, mất ổn định trong khu vực
và gây khó khăn, cản trở cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam, là một trongnhững nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng ở nước ta Vìvậy, vấn đề giải toả tình trạng đối đầu, thù địch, phá thế bị bao vây cấm vận, tạo môitrường quốc tế thuận lợi để tập trung phát triển kinh tế là nhu cầu cần thiết và cấpbách đối với nước ta khi bước vào thời kỳ đổi mới
Trang 2Trước tình hình đó, Đại hội xác định mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại: Ra sức kếthợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợicho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu giữ vững hoà bình ở ĐôngDương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới, tích cựcgóp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc,dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Về chính sách đối ngoại, Đại hội xác định: Kiên trì thực hiện chính sách đốingoại hòa bình và hữu nghị, ủng hộ chính sách cùng tồn tại hoà bình giữa các nước
có chế độ chính trị xã hội khác nhau, loại trừ chiến tranh xâm lược và mọi hình thứccủa chủ nghĩa khủng bố; Đại hội chủ trương công bố chính sách đầu tư nước ngoàivào Việt Nam dưới nhiều hình thức, tạo điều kiện thuận lợi cho nước ngoài và kiềubào về nước hợp tác sản xuất và kinh doanh Đại hội công bố chính sách khuyếnkhích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành
và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu
Về nhiệm vụ, chính sách đối ngoại cụ thể, Đại hội xác định:
Tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nướctrong cộng đồng xã hội chủ nghĩa Đảng xác định đoàn kết, hợp tác toàn diện vớiLiên Xô là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại Biểu hiện: ủng hộ chính sách
ĐN và ĐNG; trên cơ sở hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt-Xô, nâng cao hiệu quảhợp tác mọi mặt, tăng cường quan hệ với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa vìhòa bình, cách mạng trên thế giới trước hết là châu Á Thái Bình Dương Với ýthức tự lực, tự cường và chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, nhân dân ta ra sứckhai thác tốt mọi khả năng của đất nước vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,đồng thời làm tròn nghĩa vụ và những cam kết của mình vì sự nghiệp củng cố vàtăng cường sức mạnh chung của cộng đồng xã hội chủ nghĩa
Tăng cường quan hệ đặc biệt với ba nước Đông Dương Đoàn kết, tôn trọngđộc lập, chủ quyền mỗi nước, hợp tác toàn diện, giúp đỡ lẫn nhau là quy luật sốngcòn và phát triển của cả ba dân tộc anh em Tăng cường quan hệ làm thất bại âmmưu, thủ đoạn chia rẽ của kẻ thù Trước sau như một, Việt Nam trung thành vớinghĩa vụ quốc tế của mình đối với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia.Chúng ta coi mỗi thành tựu trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc của hai
Trang 3nước anh em như thành tựu của chính mình, cũng như mỗi thành tựu của chúng tađều không tách rời tình đoàn kết, sự ủng hộ và giúp đỡ của Đảng, Nhà nước vànhân dân hai nước anh em.
Bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc Chủ trương khôi phục tình hữunghị giữa hai nước Lập trường Việt Nam lấy lợi ích cơ bản và lâu dài hai nướclàm trọng Xác định đã đến lúc hai bên cần ngồi lại cùng nhau thương lượng, đểgiải quyết các vấn đề trước mắt cũng như lâu dài trong quan hệ giữa hai nước ViệtNam sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc bất cứ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ởđâu? Nhằm bình thường hoá quan hệ hai nước
Tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước thành viên hội đống tươngtrợ kinh tế (Ba Lan, Bun Ga Ri, Hung Ga Ri, Cu Ba…); đoàn kết, ủng hộ cuộc đấutranh của các lực lượng cách mạng, dân chủ, hoà bình, tiến bộ trên thế giới
b) Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới (5 – 1988)
Nghị quyết đã chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với cách mạng nước ta,đồng thời khẳng định: “Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta sau khi giảiphóng miền Nam, cả nước thống nhất là phải củng cố và giữ vững hoà bình để tậptrung xây dựng và phát triển kinh tế Đó là nhân tố quyết định củng cố và giữ vững
an ninh và độc lập Chúng ta phải có một chiến lược toàn diện và quyết tâm thựchiện bằng được mục tiêu đó; Cần phải có quan điểm mới về an ninh và phát triển.Đây là hai mục tiêu cơ bản trong các hoạt động đối ngoại, có quan hệ chặt chẽ, tácđộng… Trong điều kiện sự tùy thuộc lẫn nhau của các quốc gia ngày gia tăng, thì
an ninh của một quốc gia phải gắn với an ninh khu vực, thậm chí thế giới Nghịquyết chỉ ra: Với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh cùngvới sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chúng ta có nhiều khả năng giữ vững độclập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Trong tình hình mới, để tạo điều kiện và cơ hội giữ vững hoà bình, phát triểnkinh tế, Nghị quyết xác định trong quan hệ quốc tế, chúng ta phải “thêm bạn, bớtthù”, ra sức tranh thủ các nước anh em bầu bạn và dư luận rộng rãi trên thế giới;phân hóa hàng ngũ đối phương, làm thất bại âm mưu bao vây, cô lập ta về kinh tế,chính trị; kiên quyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu hiện nay
Trang 4sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình; Ra sức tranh thủ thành tựukhoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hoá kinh tế, tranh thủ vị trí có lợi nhất trongphân công lao động quốc tế, kiên quyết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và làmkinh tế có hiêụ quả; hướng các hoạt động tập trung xây dựng đất nước: Giảm quân,giảm chi phí quân sự tới mức tối thiểu cần thiết để vừa dồn sức vào phát triển kinh
tế, vừa chứng tỏ cho thế giới, trước hết là các nước Đông Nam Á thấy quyết tâmcủa Việt Nam là giữ vững hoà bình và tập trung phát triển kinh tế
Nghị quyết13 đã đổi mới tư duy đối ngoại về quan hệ đối ngoại, về đoàn kếtquốc tế và tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế, về an ninh và phát triển; đánh dấubước ngoặt về đổi mới tư duy quan hệ quốc tế và chuyển hướng toàn bộ chiến lượcđối ngoại của Đảng ta Đặt nền móng hình thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Đảng
10.1.2 Đại hội lần thứ VII và Hội nghị Trung ương 3, Khoá VII
a) Đại hội lần thứ VII của Đảng (6 – 1991)
Đại hội xác định mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại bao trùm trong thời gian tới:
“Giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác tạo điều kiện quốc tế
thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thờigóp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độclập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”1 Đại hội khẳng định chủ trương “hợp tác,bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xãhội khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”, với phương châm
“Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vìhòa bình, độc lập và phát triển”2
Cùng với việc điều chỉnh về chủ trương lớn, Đại hội lần thứ VII cũng đã đổimới chính sách đối ngoại với các đối tác cụ thể:
Đối với Liên Xô, một mặt Đảng ta thể hiện lập trường trước sau như một tăngcường đoàn kết và hợp tác với Liên Xô, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu: “đổimới phương thức và nâng cao hiệu qủa hợp tác Việt - Xô nhằm đáp ứng lợi ích củamỗi nước”2
Trang 5Với Trung Quốc, lúc này hai bên đã nối lại đàm phán, mở ra cơ hội cải thiệnquan hệ giữa hai nước, vì vậy chủ trương của Đại hội VII là: “Thúc đẩy quá trìnhbình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, từng bước mở rộng hợp tác Việt - Trung,giải quyết những vấn đề tồn tại giữa hai nước thông qua thương lượng”.
Trong quan hệ với khu vực, Đảng ta yêu cầu quán triệt chủ trương: “phát triểnquan hệ hữu nghị với các nước ở Đông Nam Á và Châu Á - Thái Bình Dương,phấn đấu cho một Đông Nam Á hòa bình, hữu nghị và hợp tác” So với quan điểmcủa Đại hội VI: “Chính phủ và nhân dân Việt Nam không ngừng phấn đấu nhằmphát triển mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với Inđônêxia và các nước Đông Nam
Á khác …” , thì đây là một bước điều chỉnh mới của Đảng ta khi bối cảnh khu vực
có nhiều biến đổi to lớn
Với Mỹ, thì Đại hội VI chủ trương: “Chính phủ ta tiếp tục bàn bạc với Mỹ giảiquyết các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiện quan hệ với Mỹ vìlợi ích của hoà bình, ổn định ở Đông Nam Á”; đến Đại hội VII, Đảng ta nhấn mạnh yêucầu: “Thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ”1
Đối với Lào và Campuchia, chủ trương của Đại hội lần thứ VII về cơ bản nhấtquán với quan điểm của Đại hội lần thứ VI là: Không ngừng củng cố, phát triểnquan hệ đoàn kết và hữu nghị đặc biệt giữa ba nước Đông Dương Nhưng trongvăn kiện đã thể hiện rõ sự điều chỉnh, đó là đặt ra yêu cầu phải “đổi mới phươngthức hợp tác, chú trọng hiệu qủa theo phương thức bình đẳng, tôn trọng độc lập,chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau Phấn đấu góp phần sớm đạt được mộtgiải pháp chính trị toàn bộ về vấn đề Campuchia, trên cơ sở tôn trọng chủ quyềncủa Campuchia và Hiến chương Liên hợp quốc”2
Điểm đáng chú ý về chính sách đối ngoại được đề ra tại Đại hội lần thứ VII
là, trong khi chủ trương đoàn kết với các lực lượng đấu tranh cho hòa bình, độc lậpdân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, Đảng ta đã thể hiện lập trường: “sẵn sàng thiếtlập và mở rộng quan hệ với các đảng xã hội - dân chủ, các phong trào dân chủ vàtiến bộ trên thế giới”
b) Hội nghị Trung ương 3 khoá VII (6 - 1992)
Trang 6Hội nghị diễn ra trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu và Liên
Xô sụp đổ, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa tan vỡ, tình hình thế giới có nhiềubiến động phức tạp Hội nghị xác định nguyên tắc hoạt động đối ngoại: Giữ vữngnguyên tắc độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội đồng thời phải rất sáng tạo,năng động, linh hoạt phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của ViệtNam cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với đặc điểmtừng đối tượng Hội nghị đề ra phương châm hoạt động đối ngoại: Bảo đảm lợi íchdân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủnghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; giữ vững độc lập tự chủ, tự cường đi đôi vớiđẩy mạnh đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; nắm vững hai mặt hợptác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; mở rộng quan hệ hợp tác với mọi quốc gia
và vùng lãnh thổ trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội
Thực hiện chủ trương đối ngoại rộng mở của Đảng, trong giai đoạn 1986
-1995, hoạt động ngoại giao Việt Nam đã đạt được những kết quả to lớn như: giảiquyết cơ bản vấn đề Campuchia; bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc; bìnhthường hoá quan hệ với Hoa Kỳ; ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế với EU;gia nhập tổ chức ASEAN; từng bước phá thế bao vây cấm vận; mở rộng kinh tếđối ngoại, thu hút đầu tư nước ngoài, tham gia nhiều diễn đàn quốc tế
10.1.3 Đại hội lần thứ VIII của Đảng và những hội nghị nhiệm kỳ
a) Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6 – 1996)
Đại hội VIII của Đảng (6 - 1996) diễn ra trong bối cảnh công cuộc đổi mớitoàn diện đất nước đã trải qua mười năm với những thành tựu to lớn Đại hội khẳngđịnh tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt với các nước, các trungtâm kinh tế, chính trị khu vực và quốc tế; chủ trương “xây dựng nền kinh tế mở”
và “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” Đại hội xác định rõhơn quan điểm đối ngoại với các nhóm đối tác như: Ra sức tăng cường quan hệ vớicác nước láng giềng và các nước ASEAN; không ngừng củng cố quan hệ với cácnước bạn bè truyền thống; coi trọng quan hệ với các nước phát triển và các trungtâm kinh tế - chính trị thế giới; đoàn kết với các nước đang phát triển, với phongtrào không liên kết So với Đại hội VII, chủ trương đối ngoại của Đại hội VIII có
3 điểm mới: Một là, chủ trương mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các
Trang 7đảng khác; hai là, quán triệt yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức chính trị phi chính trị; ba là, lần đầu tiên trên lĩnh vực kinh tế đối
ngoại, Đảng đưa ra chủ trương “Thử nghiệm để tiến tới thực hiện việc đầu tư ranước ngoài”1
b) Nghị quyết của Bộ Chính trị về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại (11- 1996)
Ngày 18 - 11 - 1996, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về mở rộng và nâng cao hiệuquả kinh tế đối ngoại Trên cơ sở đánh giá thành tựu và thiếu sót, Bộ Chính trị đã đề
ra nhiệm vụ, phương hướng phát triển kinh tế đối ngoại nhằm thực hiện thắng lợi kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội 1996 - 2000, với nội dung cơ bản sau: Một là, mở
rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại nhằm góp phần đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước; hai là, phát triển kinh tế đối ngoại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường sức cạnh tranh trên trường quốc tế; ba là, đa phương hóa,
đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại nhưng có trọng tâm, trọng điểm; bốn là,
khai thác các tiềm năng, phát huy các nguồn lực bên trong của cả nước để phát triểnkinh tế đối ngoại một cách đồng bộ, hướng mạnh vào xuất khẩu, đồng thời coi trọng
đúng mức thị trường trong nước; năm là, tạo được sự tín nhiệm của các nước trong giao lưu kinh tế đối với nước ta; sáu là, kinh tế đối ngoại hoạt động dưới sự lãnh đạo
của Đảng, quản lý điều hành thống nhất của Nhà nước, với sự tham gia của các
thành phần kinh tế, trong đó doanh nghiệp nhà nước là chủ lực; bảy là, xây dựng,
giáo dục, đào tạo và đào tạo lại một đội ngũ bộ, nhân viên làm công tác kinh tế đốingoại có bản lĩnh chính vững vàng, có đạo đức phẩm chất tốt, có trình độ cao vềchuyên môn, nghiệp vụ”
Nghị quyết Bộ Chính trị đề ra những giải pháp, cơ chế và chính sách chủ yếu
để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế đối ngoại Đây là lần đầutiên Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết chuyên đề về một lĩnh vực trọng yếu (kinh
tế đối ngoại) của hoạt động đối ngoại Việt Nam kể từ năm 1986
c) Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (12 - 1997)
Nghị quyết Hội nghị nhấn mạnh việc phát huy tốt nội lực kết hợp với mở rộng
Trang 8hợp tác quốc tế là vấn đề cơ bản quyết định thành công sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hóa và duy trì sự phát triển bền vững cho đất nước Trong mối quan
hệ giữa nội lực và nguồn lực bên ngoài, Đảng ta nhấn mạnh: nếu không độc lập, tự
chủ, không phát huy đầy đủ nội lực thì không thể đứng vững và đi lên một cách
vững chắc và cũng không thể khai thác tốt hiệu quả nguồn lực bên ngoài được Mặtkhác, trong thời đại ngày nay, nếu chúng ta không mở rộng quan hệ quốc tế, tranhthủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm và thị trường bên ngoài thì Việt Nam khó thoátkhỏi nguy cơ tụt hậu Vì vậy, Đảng yêu cầu phải nắm vững và quán triệt sâu sắcphương châm "giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế; độngviên cao độ nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ nguồn lực tối đa bênngoài; xây dựng một nền kinh tế mở hội nhập khu vực và thế giới, hướng mạnh vềxuất khẩu”1 Một trong những chính sách lớn mà Nghị quyết nhấn mạnh là “trên cơ
sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lựcbên ngoài ”2
10.2 SỰ BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI VÀ CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP QUỐC TÊ (2001 – 2016)
10.2.1 Đại hội lần thứ IX và Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị
về hội nhập kinh tế quốc
a) Đại hội lần thứ IX của Đảng (4 – 2001)
Đại hội IX đã phát triển phương châm của Đại Hội VII là: “Việt Nam muốnlàm bạn với các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập vàphát triển” thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trongcộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Điểm mấu chốtcủa ĐH IX đã nhận thức đầy đủ “lực” và “thế” của đất nước sau 15 năm đổi mới
ĐH IX phát triển phương châm được xác định từ ĐH VII (6/1991) “VN muốn làbạn” bằng cụm từ “VN sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy” Lần đầu tiên, Đảng đề
ra chủ trương xây dựng quan hệ đối tác trong đường lối ĐN Đây là mốc quantrọng đánh dấu bước phát triển về chất trong tiến trình quan hệ quốc tế của VN thời
Trang 9Đảng nhấn mạnh chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vựctheo tinh thần phát huy tối đa nội lực Lần đầu tiên, Đảng nêu rõ quan điểm về xâydựng nền kinh tế độc lập tự chủ” , trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chínhsách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủphải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quảkinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp pháttriển đất nước”.
Đại hội nêu rõ nhiệm vụ đối ngoại là tiếp tục giữ vững môi trường hoà bình
và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập
và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung củanhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Mở rộngquan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, cáctrung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực theo cácnguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vàocông việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực; bình đẳng
và cùng có lợi; giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hoà bình;làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền
b) Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế (27 – 11 – 2001)
Nhằm đẩy mạnh hơn nữa chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 27 11
-2001, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW Về hội nhập kinh tế quốc
tế Trên cơ sở khẳng định những thành tựu quan trọng trong việc mở rộng quan hệkinh tế đối ngoại, đồng thời kiểm điểm những mặt yếu kém của quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế thời gian qua, Nghị quyết Bộ Chính trị đã tập trung làm rõ hơn mụctiêu và những quan điểm chỉ đạo quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.Nghị quyết nhấn mạnh các quan điểm: hội nhập kinh tế là sự nghiệp của toàn dân;hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơhội vừa không ít thách thức; phải nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta,
từ đó đề ra kế hoạch và lộ trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đấtnước vừa đáp ứng quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia;
Trang 10kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninhquốc phòng Nghị quyết đề ra chín nhiệm vụ cụ thể và sáu biện pháp tổ chức thựchiện quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phát huy cao độ nội lực, khai thác tối
đa các nguồn lực bên ngoài để tạo thế và lực mới cho công cuộc phát triển kinh tế
-xã hội, đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trong thế kỷ XXI
10.2.2 Đại hội lần thứ X của Đảng (4 - 2006)
Đại hội đã dự báo tình thế giới và trong nước với những thời cơ, thuận lợi cho
sự phát triển đan xen với những tình huống khó lường của diễn biến tình hình thếgiới.Trên cơ sở đó, Đại hội đã đề ra các quan điểm, nhiệm vụ của công tác đốingoại trong thời gian tới:
Quan điểm chỉ đạo hoạt động đối ngoại: “Thực hiện nhất quán đường lối đốingoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng
mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Chủ động và tích cực hộinhập kinh tế quốc tế, đồng thời mởrộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác.Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham giatích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”1 So với đường lối đối ngoại củaĐại hội IX, Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ với tinhthần “chủ động” mà còn phải “tích cực”
Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ giản đơn là lập quan hệ thương mại vớimột số nước hoặc trở thành thành viên của một số thể chế kinh tế quốc tế, mà gắn
bó chặt chẽ quá trình đó với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước theohướng hiện đại, nâng cao sức cạnh tranh, xây dựng nền kinh tế có chất lượng vàhiệu quả để tăng cường xuất khẩu và bảo vệ thị trường nội địa Hội nhập kinh tếquốc tế là cơ hội để phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, đồng thời cũng đặt ranhiều thách thức và có những tác động bất lợi phải chủ động phòng ngừa, ứng phó.Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn chủ động quyết định đườnglối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung, chủ trương, chính sách hộinhập kinh tế quốc tế nói riêng, không được để rơi vào thế bị động Chủ động lànắm vững quy luật khách quan, tính tất yếu của sự vận động kinh tế toàn cầu, pháthuy đầy đủ năng lực nội sinh, xác định lộ trình, nội dung, quy mô, bước đi phù
Trang 11hợp; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ kinh tế quốc tế Chủ động hội kinh tếquốc tế là sáng tạo, phân tích, lựa chọn phương thức hành động đúng, dự báo đượcnhững tình huống thuận lợi và khó khăn khi hội nhập.
Tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là khẩn trương chuẩn bị, điều chỉnh, đổimới bên trong, từ phương thức lãnh đạo, quản lý đến hoạt động thực tiễn; từ trungương đến địa phương, doanh nghiệp; khẩn trương xây dựng lộ trình, kế hoạch, đẩymạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, hoàn chỉnh hệ thống luậtpháp Tích cực là không duy trì quá lâu các chính sách bảo hộ của Nhà nước, khắcphục nhanh tình trạng trông chờ, ỷ lại ở sự bao cấp của Nhà nước Tích cực, nhưngphải thận trọng, vững chắc
Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế phải là ý chí, quyết tâm củaĐảng, Nhà nước, toàn dân; của mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế vàtoàn xã hội
Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hoà bình, tạo điềukiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội,công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thờigóp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độclập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lậpvào chiều sâu, ổn định, bền vững Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùnglãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế theo các nguyên tắc: tôn trọng độc lập,chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấpthông qua thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi.Phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm "chủ động, linhhoạt, sáng tạo và hiệu quả" Tích cực tham gia các diễn đàn và hoạt động của nhândân thế giới, góp phần vào cuộc đấu tranh chung vì hoà bình, phát triển công bằng,bền vững, dân chủ và tiến bộ xã hội Tăng cường vận động viện trợ và nâng caohiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để phát triển kinh tế -
xã hội Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đốingoại vững vàng về chính trị, có trình độ ngoại ngữ và năng lực nghiệp vụ cao, cóđạo đức và phẩm chất tốt Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu về
Trang 12đối ngoại với sự tham gia và phát huy trí tuệ của các cơ quan nghiên cứu và cácnhà khoa học.
Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nướcđối với các hoạt động đối ngoại Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng,ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; chính trị đối ngoại và kinh tế đốingoại; đối ngoại, quốc phòng và an ninh; thông tin đối ngoại và thông tin trongnước Đại hội X cũng chỉ rõ tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế với từng tổ chức,khu vực, đối tác; những giải pháp cơ bản để đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tếnhững năm tới
10.2.3 Đại hội lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10 -4 - 2013 của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế
a) Đại hội lần thứ XII của Đảng (01 – 2011)
Đại hội diễn ra trong bối cảnh nước ta bước vào thập niên thứ 2 của thế kỷXXI với nhiều cơ hội và thách thức mới Đại hội đã thông qua nhiều văn kiện quantrọng như: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 -2020… Trong những văn kiện này, đường lối đối ngoại của Đảng ngày càng đượcđịnh hình sáng rõ hơn nhằm phục vụ cho sự nghiệp đổi mới của đất nước Đó làđường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phươnghóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Việt Nam là bạn,đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi íchquốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh Đại hội XIchỉ rõ: “Nhiệm vụ công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợicho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cựcvào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thếgiới”1
Như vậy, Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nâng chủ trương “chủ động và tíchcực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vựckhác” lên thành “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” Với chủ trương này, hội