1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và vai trò của đội ngũ tri thức hiện nay

33 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 187 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Đồng thời với việc đặt nhiệm vụ bảo vệ độc lập chủ quyền và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ đất nước lên hàng đầu, thì một vấn đề không kém phần quan trọng và cấp thiết là thúc đẩy phát triển kinh tế. Bởi vì, khi một đất nước nghèo nàn, lạc hậu thì cũng đồng nghĩa với đất nước đó dễ bị lệ thuộc, và thậm chí có thể trở thành thuộc địa của những nước khác. Vì vậy, mặc dù đất nước còn đang đứng trước những khó khăn, thách thức nhưng với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN), chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Do đó, trong thời gian tới Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 20112020 được xác định là Chiến lược tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển nhanh, bền vững; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo định hướng XHCN .

Trang 1

Trang

MỞ ĐẦU

1 Khái niệm, tính tất yếu và tác dụng của công

nghiệp hóa, hiện đại hóa

2 Quá trình Đảng lãnh đạo công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước và một số kinh nghiệm chủ yếu

* Đường lối của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại

hóa thời kỳ trước đổi mới.

* Đường lối của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại

hóa thời kỳ đổi mới.

* Một số kinh nghiệm chủ yếu.

3 Vai trò, trách nhiệm của đội ngũ trí thức Việt

Nam, trí thức trong quân đội góp phần đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa

1419

203031

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang tiếp tục đẩymạnh phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước Đồngthời với việc đặt nhiệm vụ bảo vệ độc lập chủ quyền và thống nhất toàn vẹnlãnh thổ đất nước lên hàng đầu, thì một vấn đề không kém phần quan trọng vàcấp thiết là thúc đẩy phát triển kinh tế Bởi vì, khi một đất nước nghèo nàn,lạc hậu thì cũng đồng nghĩa với đất nước đó dễ bị lệ thuộc, và thậm chí có thểtrở thành thuộc địa của những nước khác Vì vậy, mặc dù đất nước còn đangđứng trước những khó khăn, thách thức nhưng với sự nỗ lực của toàn Đảng,toàn dân, toàn quân trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xãhội chủ nghĩa (XHCN), chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý

nghĩa lịch sử Do đó, trong thời gian tới Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 được xác định là Chiến lược tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển nhanh, bền vững; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng nước

ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo định hướng XHCN 1

Tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hoá (CNH), đượchình thành từ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chủ trương CNH nhữngnăm (1960 -1986) và những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước Đặcbiệt, trong những năm 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới phát triển mạnh mẽ tác động tớimọi quốc gia, dân tộc, thúc đẩy nhanh chóng quá trình CNH của nhiều nước,

từ đó xuất hiện các mô hình CNH khác nhau và mang lại hiệu quả cao, nhất làđối với các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Từ những thành công và khuyết điểm, sai lầm trong chủ trương và tổchức thực hiện CNH xã hội chủ nghĩa những năm (1960 – 1986), đồng thờitrước sự tác động của các yếu tố thời đại, Đảng đã hình thành chủ trương CNHđất nước theo hướng hiện đại Với chủ trương đúng đắn, công cuộc đổi mới ởViệt Nam gần 30 năm qua đã đạt được những thành tựu rất to lớn, đang tạo ranhững tiền đề vững chắc để đưa đất nước ta cơ bản trở thành một nước công

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.30

Trang 3

nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Đồng thời, Đảng đã rút ra đượcnhững kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, có thể vận dụng vàochỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, CNH, HĐH đất nước trong giaiđoạn mới Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong nền kinh tế, xãhội còn nhiều vấn đề bất cập như: sự mất cân đối giữa sản xuất công nghiệp vớinông nghiệp còn lớn; kinh tế nhà nước chưa thực sự đóng vai trò nòng cốt chotoàn bộ nền kinh tế quốc dân; sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao độngcòn chậm, giải quyết việc làm đang là vấn đề bức xúc; cơ sở hạ tầng kinh tế -

xã hội nhiều nơi còn yếu kém,… Do đó, với mục đích nghiên cứu làm sáng tỏquá trình phát triển tư duy của Đảng về lãnh đạo CNH, HĐH đất nước nghiên

cứu sinh chọn vấn đề “Quá trình phát triển tư duy của Đảng về lãnh đạo công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trách nhiệm của đội ngũ trí thức” để làm tiểu luận.

1 Khái niệm, tính tất yếu và tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Từ cuối thế kỷ thứ XVIII đến nay, trong lịch sử đã diễn ra các loạiCNH khác nhau: CNH tư bản chủ nghĩa và CNH xã hội chủ nghĩa Các loạihình CNH này, xét về mặt lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ làgiống nhau Song chúng có sự khác nhau về mục đích, về phương thức tiếnhành, về sự chi phối của quan hệ sản xuất thống trị CNH diễn ra ở các nướckhác nhau, vào những thời điểm lịch sử khác nhau, trong những điều kiệnkinh tế - xã hội khác nhau, do vậy nội dung khái niệm có sự khác nhau

Tuy nhiên, theo nghĩa chung, khái quát nhất, CNH là quá trình biếnmột nước có nền kinh tế lạc hậu thành một nước công nghiệp

Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhânloại về CNH vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta, Đảng ta nêu ra quanniệm về CNH, HĐH như sau: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trìnhchuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ vàquản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sửdụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện,

Trang 4

phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến

bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”2

Quan niệm nêu trên cho thấy, quá trình CNH, HĐH ở nước ta phải kếthợp chặt chẽ hai nội dung CNH và HĐH trong quá trình phát triển Quá trình

ấy, không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp mà còn phải thực hiện chuyểndịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dântheo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại Quá trình ấy không chỉ tuần tựtrải qua các bước cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, mà còn sử dụng kếthợp kỹ thuật thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanhvào hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định

Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của đấtnước, CNH, HĐH ở nước ta có những đặc điểm chủ yếu sau đây: CNH, HĐHtheo định hướng XHCN, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh”; CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế trithức; CNH, HĐH trong điều kiện cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhànước; CNH, HĐH trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế và Việt Nam tích cực,chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất - kỹthuật tương ứng Cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thốngcác yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với trình độ kỹthuật (công nghệ) tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sảnxuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu xã hội

Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở vật chất - kỹ thuật của một

xã hội là sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất; sự phát triển khoahọc - kỹ thuật; tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội; đặc biệt là quan

hệ sản xuất thống trị

Nói cơ sở vật chất - kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó lànói cơ sở vật chất - kỹ thuật đó đã đạt đến một trình độ nhất định làm đặctrưng cho phương thức sản xuất đó

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb, H.2007, tập 53, tr.554.

Trang 5

Đặc trưng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của các phương thức sản xuất trướcchủ nghĩa tư bản (CNTB) là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu Đặc trưngcủa cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNTB là nền đại công nghiệp cơ khí hoá.

Chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của CNCS, là phương thức sản xuấtmới cao hơn CNTB - đòi hỏi phải dựa trên một cơ sở vật chất - kỹ thuật caohơn trên cả hai mặt trình độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu củacách mạng khoa học và công nghệ hiện đại

Do vậy, có thể hiểu, cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH là nền côngnghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựatrên trình độ khoa học và công nghệ hiện đại được hình thành một cách có kếhoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Từ xã hội TBCN hay xã hội tiền TBCN quá độ lên CNXH, xây dựng

cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH là một tất yếu khách quan, một quy luậtkinh tế mang tính phổ biến và cần được thực hiện thông qua CNH, HĐH

Đối với các nước quá độ từ CNTB lên CNXH, dù đã có công nghiệp,

có cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNTB tiến bộ đến đâu cũng chỉ là những tiền

đề vật chất chứ chưa phải là cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH Muốn có cơ

sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, các nước này phải thực hiện quy luật nóitrên bằng cách tiến hành cách mạng XHCN về quan hệ sản xuất; tiếp thu vậndụng và phát triển cao hơn những thành tựu khoa học và công nghệ vào sảnxuất; hình thành cơ cấu kinh tế mới XHCN có trình độ cao và tổ chức, sắpxếp lại nền đại công nghiệp TBCN một cách hợp lý, hiệu quả hơn

Đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên CNXH nhưnước ta, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH phải thực hiện từ đầu,

từ không đến có, từ gốc đến ngọn thông qua CNH, HĐH Mỗi bước tiến củaquá trình CNH, HĐH là một bước tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật choCNXH, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan

hệ sản xuất XHCN

Thực hiện đúng đắn quá trình CNH, HĐH sẽ có những tác dụng to lớn

về nhiều mặt trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước như:

Trang 6

Một là, tạo điều kiện thay đổi về chất nền sản xuất xã hội, tăng năng

suất lao động, tăng sức chế ngự của con người đối với thiên nhiên, tăngtrưởng và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, ổn định tình hìnhkinh tế, chính trị, xã hội, góp phần quyết định sự thắng lợi của CNXH

Hai là, tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố, tăng cường vai trò kinh

tế của Nhà nước, nâng cao năng lực quản lý, khả năng tích luỹ và phát triểnsản xuất, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao thu nhập, giúp cho sự phát triển tự

do toàn diện của con người trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội

Ba là, tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học và công nghệ phát triển

nhanh đạt trình độ tiên tiến hiện đại Tăng cường lực lượng vật chất - kỹ thuậtcho quốc phòng, an ninh; bảo đảm đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đấtnước ngày càng được cải thiện Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nềnkinh tế độc lập tự chủ, đủ sức thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế

Sự phân tích trên cho thấy mối quan hệ gắn bó trực tiếp giữa CNH,HĐH với lực lượng sản xuất CNH, HĐH là để thực hiện xã hội hóa sản xuất

về mặt kinh tế - kỹ thuật theo định hướng XHCN Nó có tác dụng, ý nghĩaquan trọng và toàn diện

Tóm lại, CNH xã hội chủ nghĩa là yêu cầu khách quan trong thời kỳ quá

độ đi lên CNXH ở nước ta; thực hiện thắng lợi quá trình CNH, gắn CNH với

HĐH có vai trò to lớn, góp phần phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan

hệ sản xuất, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

2 Quá trình Đảng lãnh đạo công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

và một số kinh nghiệm chủ yếu.

* Đường lối của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ trước đổi mới.

Đại hội III (9/1960), Đảng ta xác định “Muốn cải biến tình trạng nôngnghiệp lạc hậu hiện nay của nước ta, đưa nước ta từ chế độ sản xuất nhỏ làchủ yếu lên chế độ sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, chúng ta không có conđường nào khác ngoài con đường công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Vì vậy,

công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá

Trang 7

độ ở nước ta Thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhằm xây dựng

cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tạo điều kiện cơ bản cho chủnghĩa xã hội thắng lợi”3 Từ đó đến nay, Đảng ta luôn khẳng định vị trí hếtsức quan trọng của CNH trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta Đồngthời, qua mỗi kỳ đại hội, Đảng ta lại nhận thức sâu sắc thêm và cụ thể hoáthêm nhiệm vụ này cho thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh của đất nướctrong những thời kỳ - Đó chính là quá trình phát triển tư duy của Đảng vềCNH, HĐH đất nước

Đường lối CNH đất nước đã được hình thành từ Đại hội III của Đảng(9/1960), đến trước đổi mới (12/1986), nước ta có khoảng 25 năm tiếnhành CNH theo 2 giai đoạn: (1960 – 1975) CNH ở miền Bắc và (1975 –1986) CNH trên phạm vi cả nước, hai giai đoạn này có mục tiêu, phươnghướng rõ rệt

Quá trình CNH của nước ta diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước

và quốc tế luôn diễn biến phức tạp và không thuận chiều Thực hiện CNHđược 4 năm (1960 - 1964) thì đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ramiền Bắc Đất nước phải trực tiếp thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ thuộc hai

chiến lược khác nhau: Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn

tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong

cả nước Khi đất nước vừa thống nhất (4/1975), cả nước đi lên CNXH đượcvài năm thì lại xảy ra chiến tranh hai đầu biên giới (phía Bắc và Tây Nam),kết thúc cuộc chiến này lại kéo theo sự cấm vận của Mỹ và phương Tây

Đặc điểm lớn nhất khi nước ta tiến hành CNH là từ một nền kinh tế nôngnghiệp lạc hậu tiến lên CNXH không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủnghĩa Đồng thời, vừa phải xây dựng CNXH vừa phải tiến hành chiến tranhgiải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Điểm xuất phát của Việt Nam khi bướcvào thực hiện CNH rất thấp Năm 1960, công nghiệp chiếm tỷ trọng 18,2% và7% lao động xã hội; tương ứng nông nghiệp chiếm tỷ trọng 42,3% và 83% Sản

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, H 2005, tr.543

Trang 8

lượng lương thực dưới 300 kg/người; GDP dưới 100 USD/người Trong khiphân công lao động chưa phát triển và lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấpthì quan hệ sản xuất đã được đẩy lên trình độ tập thể hóa và quốc doanh hóa làchủ yếu (đến năm 1960: 85,8% nông dân vào hợp tác xã; 100% hộ tư sản đượccải tạo, gần 80% thợ thủ công cá thể vào hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp).Trong khi đó, các nước XHCN trên thế giới đang tiến hành CNH theo hướng

ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, viện trợ tạo điều kiện cho Việt Nam pháttriển kinh tế, đã tác động sâu sắc vào quá trình CNH ở nước ta

Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng III xác định rõ mục tiêu cơ bản củacông nghiệp hóa XHCN là xây dựng một nền kinh tế XHCN cân đối và hiệnđại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH Đó là mục tiêu

cơ bản, lâu dài, phải thực hiện qua nhiều giai đoạn Để thực hiện mục tiêu đó

Đại hội III chủ trương:“Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước

ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại

và nông nghiệp hiện đại”4 Có ưu tiên phát triển công nghiệp nặng mới có thểcung cấp những tư liệu sản xuất cho công nghiệp và nông nghiệp, bảo đảmthực hiện không ngừng tái sản xuất mở rộng XHCN, phát triển đến cao độnền kinh tế quốc dân, cải thiện không ngừng đời sống của nhân dân lao động.CNH xã hội chủ nghĩa không phải chỉ là đơn thuần xây dựng công nghiệphiện đại mà còn phải làm cho nông nghiệp và các ngành kinh tế khác đều trởthành hiện đại Trong nền kinh tế quốc dân, công nghiệp và nông nghiệp làhai bộ phận chủ yếu có quan hệ mật thiết với nhau Chỉ có kết hợp chặt chẽkinh tế công nghiệp và kinh tế nông nghiệp, giải quyết đúng đắn quan hệgiữa công nghiệp và nông nghiệp, thì mới có thể xây dựng thành công cơ sởvật chất và kỹ thuật của CNXH Công nghiệp, trước hết là công nghiệpnặng, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế XHCN, có công nghiệp thì nôngnghiệp và các ngành kinh tế khác mới có thể phát triển đến cao độ; đồngthời, nông nghiệp là cơ sở phát triển của công nghiệp, nông nghiệp phát triển

4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, H 2005, tr.545-546.

Trang 9

sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cơ bản để thúc đẩy công nghiệp pháttriển một cách mạnh mẽ và nhanh chóng.

Về chỉ đạo thực hiện CNH, Hội nghị Trung ương 7- khóa III (4/1962), nêuphương hướng chỉ đạo xây dựng và phát triển công nghiệp ở miền Bắc là: Ưutiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý; kết hợp chặt chẽ phát triểncông nghiệp và phát triển nông nghiệp; ra sức phát triển công nghiệp nhẹ songsong với ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Về thực chất, đây là sự lựa chọn

mô hình chiến lược CNH thay thế nhập khẩu mà nhiều nước, cả nước XHCN vànước TBCN đã và đang thực hiện lúc đó Chiến lược này được duy trì trong suốt

15 năm ở miền Bắc (1960 - 1975) và 10 năm tiếp theo trên phạm vi cả nước(1976 - 1986)

Hội nghị Trung ương 10 – khóa III (12/1964) xác định con đường, biệnpháp CNH ở nước ta là thực hiện đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng vềquan hệ sản xuất, cách mạng về khoa học - kỹ thuật và cách mạng về tư tưởngvăn hóa, trong đó cách mạng về khoa học - kỹ thuật là then chốt

Tiếp theo, Hội nghị Trung ương 11 (3/1965) và Hội nghị Trung ương 12(12/1965), xác định tiếp tục đẩy mạnh xây dựng CNXH ở miền Bắc Trong

đó, xác định điều chỉnh quy mô các nhà máy, xí nghiệp hướng vào quy môvừa và nhỏ; điều chỉnh cơ cấu kinh tế Trung ương và kinh tế địa phương, phảiđặc biệt coi trọng kinh tế địa phương; phát triển kinh tế nông thôn, đồng bằng

và miền núi, sơ tán kinh tế thành thị

Hội nghị Trung ương 19 (3/1971), tiếp tục điều chỉnh đường lối CNH ởmiền Bắc theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý,trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; xây dựng kinh tế Trungương, đồng thời phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế với quốcphòng Theo đó Hội nghị xác định: Phương hướng khôi phục và phát triển

kinh tế là tập trung sức đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng; khôi phục và phát triển công nghiệp nhẹ (bao gồm cả công nghiệp Trung ương và công nghiệp địa phương); khôi phục và phát triển những ngành công nghiệp nặng chủ chốt phục vụ thiết thực cho sản xuất nông

Trang 10

nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng; khôi phục và phát triển giao thông vận tải

phục vụ kịp thời cho chiến đấu, sản xuất, xây dựng và đời sống

Như vậy, đến Hội nghị Trung ương 19 đã giải quyết đúng mối quan hệbiện chứng bên trong giữa công nghiệp và nông nghiệp, tạo dần thế cân đốimới trong bước đi ban đầu giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa các ngành

kinh tế quốc dân Do đó, Nghị quyết Trung ương 19 được coi là nghị quyết hoàn chỉnh về đường lối CNH ở miền Bắc.

Kết quả, các trung tâm công nghiệp được hình thành và phát triển nhưHải Phòng, Quảng Ninh, Việt Trì, Thái Nguyên, Nam Định… Vốn đầu tư chocông nghiệp nặng trong thời kỳ (1960 – 1975) tăng 11,2 lần, cho công nghiệpnhẹ tăng 6,9 lần, nông nghiệp tăng 6 lần Tỷ trọng giá trị công nghiệp tăng từ18,2% (1960) lên 22,2% (1965); 26,6% (1971); 28,7% (1975) Tuy nhiên,đường lối XHCN nói chung và đường lối CNH nói riêng còn có những hạnchế, mà hạn chế lớn nhất là nền kinh tế mất cân đối giữa cung và cầu, giữathu và chi, giữa sản xuất và tiêu dùng Nguyên nhân của hạn chế đó vềkhách quan do tiền đề CNH của nước ta thấp; chiến tranh phá hoại buộc taphải điều chỉnh kế hoạch và chưa có điều kiện để tổng kết thực tiễn Song vềchủ quan do trong xác định đường lối CNH còn chủ quan, duy ý chí, khôngxuất phát từ thực tiễn Việt Nam; lộ trình bước đi CNH chưa phù hợp và CNHtrong khuân khổ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung

Trên phạm vi cả nước, sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, cả nước độclập thống nhất và quá độ lên CNXH Chiến lược “Ưu tiên phát triển côngnghiệp nặng…” tiếp tục được khẳng định lại sau 16 năm tại Đại hội IV củaĐảng (12/1976) nhưng chính sách thì đã có thay đổi chút ít: Đẩy mạnh CNH

xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, đưa nền kinh

tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một

cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp vừa xây dựng kinh tế Trung ương vừa phát

Trang 11

triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế Trung ương với kinh tế địa phươngtrong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất.

Những thay đổi trong chính sách CNH dù còn chưa rõ nét song cũng đãtạo một sự thay đổi nhất định trong phát triển: số xí nghiệp công nghiệp quốcdoanh tăng từ 1913 cơ sở năm 1976 lên 2627 cơ sở năm 1980 và 3220 cơ sởnăm 1985 Năm 1976 - 1978 công nghiệp phát triển khá (năm 1978 tăng118,2% so với năm 1976)

Tuy nhiên, do trên thực tế chúng ta chưa có đủ điều kiện để thực hiện(nguồn viện trợ từ nước ngoài đột ngột giảm, cách thức quản lý nền kinh tếnặng tính quan liêu, bao cấp, nhiều công trình nhà nước xây dựng dở dang vìthiếu vốn, công nghiệp Trung ương giảm, nhiều mục tiêu không đạt được…)nên đây vẫn là sự biểu hiện của tư tưởng nóng vội trong việc xác định bước

đi, và sai lầm trong việc lựa chọn ưu tiên giữa công nghiệp và nông nghiệp.Kết quả là thời kỳ (1976 – 1980) nền kinh tế lâm vào khủng hoảng, suy thoái,

cơ cấu kinh tế mất cân đối nghiêm trọng

Đại hội V của Đảng (3/1982) có bước phát triển mới tư duy về CNH Đại hội đã xác định trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ ở nước

ta phải lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; việc xây dựng và phát triển công nghiệp

nặng trong giai đoạn này cần làm có mức độ, vừa sức, nhằm phục vụ thiếtthực, có hiệu quả cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Đại hội V coi đó lànội dung chính của CNH trong chặng đường trước mắt

Đây là sự điều chỉnh rất đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Nhờ vậy, nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ này đã có sự tăng trưởng kháhơn so với thời kỳ 5 năm trước đó Cụ thể, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm

1981 (2,3%); năm 1985 (5,7%) Tốc độ tăng trưởng công nghiệp năm 1981(9,5%) Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp năm 1981 (5,3%); năm 1985 (3%).Năm 1985, công nghiệp nhóm A chiếm 32,7%, công nghiệp nhẹ 67,3%, tiểuthủ công nghiệp 43,5%, công nghiệp địa phương 66%, công nghiệp quốcdoanh và công tư hợp doanh 56,5% Tỷ trọng công nghiệp tăng từ 20,2%

Trang 12

(1980) lên 30% (1985) Nhập khẩu lương thực giảm hẳn so với 5 năm trước(từ 5,6 triệu tấn thời kỳ 1976-1980 xuống 1 triệu tấn thời kỳ 1981-1985) Tuy nhiên, trên thực tế chính sách này vẫn không có mấy thay đổi so vớitrước Mặc dù nông nghiệp được xác định là mặt trận hàng đầu nhưng trong

những năm (1982-1985), chúng ta đã không làm đúng sự điều chỉnh chiến lược quan trọng này Việc thực hiện không dứt khoát đó đã khiến cho nền kinh tế

Việt Nam không tiến xa được bao nhiêu, trái lại còn gặp nhiều khó khăn vàkhuyết điểm mới, tình hình kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân sau 5 nămkhông những không ổn định được mà còn lâm vào khủng hoảng trầm trọng Nhìn chung, trong thời kỳ 1960-1986 chúng ta đã nhận thức và tiến hànhCNH theo kiểu cũ với các đặc trưng cơ bản là: CNH theo mô hình nền kinh tếkhép kín, hướng nội và thiên về phát triển công nghiệp nặng Chủ yếu dựa vàolợi thế về lao động, tài nguyên đất đai và nguồn viện trợ của các nước XHCN,chủ lực thực hiện CNH là Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước; việc phân bổnguồn lực để CNH chủ yếu bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu trongnền kinh tế thị trường Nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí, ham làmnhanh, làm lớn, không quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội

CNH thời kỳ trước đổi mới diễn ra trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung,những tiền đề vật chất cần thiết cho CNH còn hết sức hạn chế và trong điềukiện có chiến tranh phá hoại, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc XHCN Mặc dù vậy,quá trình CNH vẫn đạt được những kết quả quan trọng: so với năm 1955, số

xí nghiệp tăng lên 16,5 lần; nhiều khu công nghiệp lớn đã hình thành, đã cónhiều cơ sở đầu tiên của các ngành công nghiệp nặng quan trọng như điện,than, cơ khí, luyện kim, hóa chất được xây dựng; đã có hàng chục trường đạihọc, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề đã đào tạo được đội ngũcán bộ khoa học - kỹ thuật xấp xỉ 43 vạn người, tăng 19 lần so với 1960 làthời điểm bắt đầu CNH Trong điều kiện đi lên từ điểm xuất phát thấp, lại bịchiến tranh tàn phá nặng nề, thì những kết quả đạt được trên đây có ý nghĩa hếtsức quan trọng - tạo cơ sở ban đầu để nước ta phát triển nhanh hơn trong cácgiai đoạn tiếp theo

Trang 13

Bên cạnh những kết quả đạt được, CNH thời kỳ trước đổi mới còn nhiềuhạn chế: cơ sở vật chất kỹ thuật còn hết sức lạc hậu; những ngành công nghiệpthen chốt còn nhỏ bé và chưa được xây dựng đồng bộ, chưa đủ sức làm nềntảng vững chắc cho nền kinh tế quốc dân; lực lượng sản xuất trong nông nghiệpmới chỉ bước đầu phát triển, nông nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu về lươngthực, thực phẩm cho xã hội; đất nước vẫn trong tình trạng nghèo nàn lạc hậu,kém phát triển, rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội

Những hạn chế trên xuất phát từ nguyên nhân: Về khách quan, chúng ta

tiến hành CNH từ một nền kinh tế lạc hậu, nghèo nàn và trong điều kiện chiếntranh kéo dài, vừa bị tàn phá nặng nề, vừa không thể tập trung sức người sức

của cho CNH Về chủ quan, chúng ta mắc những sai lầm nghiêm trọng trong

việc xác định mục tiêu, bước đi về cơ sở vật chất kỹ thuật, bố trí cơ cấu sảnxuất, cơ cấu đầu tư… Đó là những sai lầm xuất phát từ chủ quan duy ý trítrong nhận thức và chủ trương CNH

* Đường lối của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ đổi mới.

Từ những thành tựu, hạn chế và khuyết điểm trong lãnh đạo CNH trướcđổi mới, Đại hội VI (1986) đã nghiêm khắc “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giáđúng sự thật và nói rõ sự thật” về khuyết điểm sai lầm của các cơ quan Đảng

và Nhà nước về lãnh đạo và quản lý kinh tế trong thời kỳ trước đổi mới và đề

ra chính sách CNH phù hợp hơn: “Trong những năm còn lại của chặng đường

đầu tiên, trước mắt là trong kế hoạch 5 năm (1986-1990), phải tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”5

Ba chương trình này liên quan chặt chẽ đến nhau Phát triển lương thực thực phẩm và hàng tiêu dùng là nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho đời sốngnhân dân sau mấy chục năm chiến tranh ác liệt và trong bối cảnh của nền kinh

-tế còn đang trong tình trạng thiếu hụt hàng hóa nghiêm trọng, góp phần ổn địnhkinh tế - xã hội Xác định thứ tự ưu tiên đó đã cho phép phát huy sức mạnh nộilực và tranh thủ sức mạnh từ bên ngoài để phát triển kinh tế - xã hội

5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H 1987, tr 47.

Trang 14

Đây là sự thay đổi trong lựa chọn mô hình chiến lược CNH, chuyển từ

mô hình hướng nội (thay thế nhập khẩu) trước đây bằng mô hình hỗn hợp (hướng về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu).

Trên cơ sở những thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm đúc rút sau hơn 4năm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra, trong đó có việc xácđịnh, xây dựng lại cơ cấu kinh tế đã tạo cơ sở, niềm tin để Đảng ta xác định rõhơn những mục tiêu, phương châm và biện pháp chỉ đạo phát triển kinh tế -

xã hội trong thời gian tới Đại hội VII của Đảng( 6/1991) nhấn mạnh, trướcmắt cần: “Tập trung mọi nỗ lực giải quyết các vấn đề cấp bách nhất về kinh

tế, xã hội, trên cơ sở đó thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế của kế hoạch 5năm 1991- 1995: đẩy lùi và kiểm soát được lạm phát,…, ổn định và từngbước cải thiện đời sống nhân dân và bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinhtế”6

Đường lối Đại hội VII đã xác định rõ hơn về chính sách CNH:

“Phát triển một số ngành công nghiệp nặng trước hết phục vụ cho sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, đồng thời tạo cơ sở

cho những bước phát triển tiếp theo”7

Đại hội đã xác định vai trò “mặt trận hàng đầu” của nông nghiệp, và

trên thực tế đầu tư cho nông nghiệp tư ngân sách đã tăng lên (năm 1995 đạt 3.951 tỷ đồng) Đại hội đề cập đến lĩnh vực dịch vụ kinh tế - kỹ thuật trong

việc đáp ứng yêu cầu sản xuất, đời sống và hợp tác quốc tế Đưa ra chiến lượcphát triển kinh tế vùng phù hợp với chiến lược chung cả nước

Như vậy, căn cứ vào những chuyển biến của nền kinh tế nói chung, cơcấu kinh tế nói riêng, những mục tiêu kinh tế - xã hội của Đại hội VII đề ra đã

có bước phát triển hơn so với Đại hội VI, đã đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả

sản xuất và có tích lũy cho nền kinh tế Vì vậy, Đảng ta xác định: “Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”8

6 Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H.1991, tr.62.

7 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H.1991, tr.64-65.

8 Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật,

H.1991, tr 9

Trang 15

Từ cuối năm 1986 đến giữa năm 1996, đất nước ta đã trải qua 10 nămthực hiện đường lối đổi mới của Đảng với hai kế hoạch kinh tế - xã hội 5năm Trong 10 năm đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân Việt Nam đãphát huy cao độ nội lực của dân tộc, kiên trì mục tiêu cách mạng XHCN vìđộc lập dân tộc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

đã giành được những thành tựu to lớn Tuy còn một số mặt yếu kém, chưavững chắc song nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Đất nước đã

có điều kiện để chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH

Trong bối cảnh đó, Đại hội VIII (6/1996) của Đảng đã kiểm điểm, đánhgiá kết quả của 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII và tổng kết 10 nămđối mới, Đại hội kết luận: “Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện

và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII đất nước đã vượt qua một giaiđoạn thử thách gay go Trong những hoàn cảnh hết sức phức tạp, khó khăn,nhân dân ta không những đã đứng vững mà còn vươn lên đạt những thắng lợinổi bật trên nhiều mặt

Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặtcòn chưa vững chắc Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá

độ là chuẩn bị tiền đề cho CNH cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Con đường đi lên chủ nghĩa xã

hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn”9

Đại hội đã phân tích bối cảnh chung, đặc điểm tình hình thế giới diễnbiến nhanh chóng, phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố khó lường, tác độngsâu sắc đến các mặt của đời sống xã hội, đưa đến những thuận lợi đồng thờicũng xuất hiện những thách thức lớn Vì thế, chúng ta chủ động nắm thời cơ,vươn lên phát triển nhanh và vững chắc, tạo ra thế và lực mới, đồng thời luônluôn tỉnh táo, kiên quyết đẩy lùi và khắc phục những yếu kém, bảo đảm pháttriển đúng hướng

Căn cứ vào nhận định trên và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong

thời kỳ quá độ lên CNXH, Đại hội khẳng định cẩn tiếp tục nắm vững hai

9 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H.1996, tr.68.

Trang 16

nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh CNH,

HĐH; xác định:“Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng đất

nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sớ vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơcấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ pháttriển lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng,

an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh

Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trởthành một nước công nghiệp”10

Trên con đường thực hiện mục tiêu nêu trên, Đại hội xác định: giai đoạn

từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới đẩy mạnhCNH, HĐH đất nước Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng,tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cáchtoàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hànhtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, phấnđấu đạt và vượt mục tiêu được đề ra trong chiến lược ổn định và phát triểnkinh tế - xã hội đến năm 2000; tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao vàbền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm

an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao tích lũy từnội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vàođầu thế kỷ sau

Đại hội đã bổ sung, phát triển 6 quan điểm lớn chỉ đạo CNH, HĐH:

- Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phươnghoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại Dựa vào nguồn lực trong nước là chính

đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài Xây dựng một nền kinh tế

mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thờithay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả

- CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế,trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo

10 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H.1996, tr 80.

Ngày đăng: 28/05/2019, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Bình, Bài phát biểu tại Hội nghị công tác lý luận, tháng 6/1992, Báo Nhân dân, ngày 5/6/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu tại Hội nghị công tác lý luận
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần thứVI
Nhà XB: Nxb Sự thật
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần thứVII
Nhà XB: Nxb Sự thật
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Nhà XB: Nxb. Sự thật
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII
Nhà XB: Nxb Sự thật
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương khóa VIII, Nxb. CTQG, Hà Nội 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCH Trungương khóa VIII
Nhà XB: Nxb. CTQG
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần thứIX
Nhà XB: Nxb CTQG
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Nhà XB: NxbCTQG
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần thứX
Nhà XB: Nxb CTQG
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Hà Nội 2007, tập 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập
Nhà XB: Nxb Hà Nội2007
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, Hà Nội 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI
Nhà XB: Nxb. CTQG
12. V.I. Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb. CTQG, H.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. CTQG
13. V.I. Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb. CTQG, H.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. CTQG
14. C. Mác và Ph. Ăngghen, Tuyển tập, tập 5, Nxb. CTQG, Hà Nội 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Nhà XB: Nxb. CTQG
15. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb. CTQG, Hà Nội 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. CTQG
16. Lê Quang Phi, Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới, Nxb.CTQG, Hà nội 1999 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w