Mấy vấn đề chung được đề cập: Đổi mới tư duy, đổi mới đào tạo, biên soạn mới chương trình và sách. Cần tổng hợp, chọn lựa, kết hợp các phương pháp dạy học đổi mới hiệu quả. Tác giả đề xuất một phương pháp dạy học tương tác.
Trang 1PGS TS ĐOÀN TRỌNG
HUY
Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội
Điện thoại: 0907403533 Emai:
doantronghuy2010@gmail
com
SUY NGHĨ VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC VĂN
TÓM TẮT
Mấy vấn đế chung được đề cập: đổi mới tư duy, đổi mới đào tạo, biên soạn mới chương trình và sách Cần tổng hợp, chọn lựa, kết hợp các phương pháp dạy học đổi
mới hiệu quả Tác giả đề xuất một phương pháp dạy học tương tác Hai chủ thể thày và trò đều có vai trò chủ đạo trong dạy và học, cần hợp tác và tác động lẫn nhau trong sự
nghiệp đổi mới giáo dục - đào tạo
Từ khóa: đổi mới, dạy và học Văn, phương pháp dạy học tương tác
ABSTRACT
On the innovation in methods of teaching and learning Literature
Some general issues to be raised: thought innovation, education innovation, developing new curriculum and new textbooks It is necessary to generalise, select and
combine innovative and efficient teaching methods The author proposes an interactive teaching method, in which both subjects - teacher and learner, who play primary roles in teaching and learning, need to co-operate and interact with one another in the career of
education training innovation
Key words: innovation, teaching and learning Literature, interactive teaching
method
Để thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, cần có Ủy ban Đổi mới giáo dục cấp Quốc gia để xây dựng và điều hành một đề án tổng thể kế hoạch và lộ trình Tiếp đó, cần xác định lại hệ thống giáo dục và cơ cấu, rồi thống nhất chương trình chuẩn, sau đó là viết mới sách giáo khoa
Nhưng mọi việc không thể và không cần tuần tự một cách cứng nhắc Đổi mới là một quá trình vận động một cách đồng bộ
Trang 2Từ nhiều năm nay, trong bối cảnh chung đó, đổi mới phương pháp dạy, học văn
là một hoạt động tích cực có ý nghĩa thể hiện nguyện vọng và niềm tin lớn của kiểu nhà
trường mới: xã hội học tập, nhà trường tư duy Vả lại, trong nhiều bước, cần biết đón
đầu đi trước cũng như biết kiểu tranh thủ “vừa chạy vừa xếp hàng”
1 Mấy vấn đề chung
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học văn cần được đặt trong cái nhìn toàn cảnh
và trong các hoạt động đồng bộ Tất cả sẽ tạo ra một tổng lực mạnh mẽ bảo đảm cho công cuộc đổi mới căn bản và toàn diên giáo dục đào tạo thắng lợi
Sau đây là một số đề xuất như điều kiện có tính chất tiên quyết
1.1 Đổi mới tư duy: xây dựng và truyền bá sâu rộng một triết lý giáo dục của thời kỳ mới
Đã có công trình được công bố của Phạm Minh Hạc – Triết lý giáo dục Việt
Nam và thế giới (2011) như một gợi ý để mời gọi trí tuệ xã hội vào cuộc bàn thảo Giáo
sư nguyên là Bộ trưởng Bộ Giáo dục (1987 - 1990), cũng nguyên là Viện trưởng Viện Khoa học Gíáo dục Việt Nam, soạn thảo công trình do đương kim Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo Phạm Vũ Luận chỉ đạo
Đây là công trình rất có trọng lượng nhưng mới có tính chất nửa chính thức Cần
có “tuyên ngôn” chính thức của Bộ mới có ý nghĩa và tác dụng xã hội rộng rãi Nhưng cho dù có công trình của quốc gia thì đấy cũng không phải là tuyên ngôn chính thống Đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục đào tạo mới là
chính thống, có tính chất pháp quy
Cần có sự tham khảo các dạng triết lý giáo dục của thế giới hiện đại theo sự tổng kết của Jon Wiles và Joseph Bondi với nhiều hệ ý thức tư tưởng khác nhau (xem Lê
Vinh Quốc - Tài liệu tham khảo) Đó là 1 Triết lý vĩnh cửu (perennialism), 2 Triết lý lý tưởng (idealism), 3 Triết lý hiện thực (realism), 4 Triết lý thực chứng (experimentalism) và 5 Triết lý hiện sinh (existentialism) Trong nước cũng có đề xuất
triết lý giáo dục của một số chuyên gia có trình độ, trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp cao cần trân trọng
Triết lý giáo dục tuy không phải là chính thống nhưng lại đầy sức sống và sức mạnh Triết lý là tinh tuý tư duy, là một loại quan niệm lý tưởng, là niềm tin khi đi vào tình cảm, lý trí con người sẽ trở thành một định hướng ứng xử và hành động hiệu quả
Trang 3Lãnh đạo các cấp, nhà trường các loại, thầy trò - các chủ thể dạy và học là chủ yếu cần
có triết lý giáo dục và thấm nhuần triết lý ấy
Mới đây, khi làm việc với Đại học Thái Nguyên, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận vẫn
nhắc sự cần thiết của triết lý giáo dục trong sư nghiệp Đổi mới giáo dục đào tạo: “…đổi mới tư duy khoa học giáo dục,về triết lý giáo dục để đổi mới căn bản, toàn diện trường
Sư phạm” (dhsp.edu.vn 26/3/2014)
Thay đổi triết lý là thay đổi từ gốc, thay đổi căn bản, toàn diện từ cách nhìn đến hành động
Triết lý giáo dục chính xác sẽ có tác dụng chỉ đạo toàn bộ các quá trình đào tạo (education process) bao gồm cả các chương trình học (curriculum), quá trình dạy (instruction)
1.2 Đổi mới đào tạo: đổi mới chương trình và giáo trình, giáo khoa
Trên cơ sở thấm nhuần một triết lý giáo dục mới cần tiến hành đổi mới toàn bộ công tác đào tạo
Mỗi chương trình thường tương ứng với một triết lý giáo dục nhất định Như các
tác giả đã dẫn trên thì chương trình duy lý hàn lâm (curriculum as academic rationism) được khơi gợi từ triết lý vĩnh cửu, chương trình tái cấu trúc xã hội (curriculum for reconstruction revelance) gắn bó với triết lý lý tưởng, chương trình hiện thực hoá (curriculum as self actualization) là thể hiện của triết lý hiện thực, chương trình phát triển quá trình nhận thức (curriculum as the development of cognitive processes) theo tinh thần triết lý thực chứng, chương trình công nghệ giáo dục ứng với triết lý hiện sinh 1.2.1 Đổi mới đào tạo sư phạm phải đi trước và sau đó là bồi dưỡng thường xuyên
Trong tình hình đặc biệt phải đổi mới mạnh dạn Với đội ngũ cũ, hình thức bồi
dưỡng định kỳ (3-5 năm), thực chất là đào tạo lại theo yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
giáo dục Từ đổi mới Đào tạo Sư phạm sẽ dẫn đến đổi mới Giáo dục Phổ thông
Chương trình đào tạo mới cho cử nhân các cấp (Mẫu giáo, Tiểu học, Trung học) cần xác định chuẩn cho mô hình đào tạo đáp ứng quy hoạch lâu dài theo chương trình mới
Chương trình này cần vận dụng tinh thần của Luật Giáo dục sửa đổi và Luật Giáo dục Đại học đã được Quốc hội thông qua
Đặc biệt cần chuẩn hoá trình độ giáo viên các cấp kể cả học sinh: phải dạy và học kết hợp tham gia nghiên cứu khoa học các mức độ trong quan hệ tương hỗ, hợp tác,
Trang 4thầy và thầy, thầy và trò, thậm chí trò và trò Không thiếu gì đề tài khoa học được đặt ra
từ yêu cầu cuộc sống và trong môn học và đó cũng là cơ hội cho tìm tòi, khám phá, sáng tạo dạy và học
Người dạy Đại học, Phổ thông phải đặt nghĩa vụ không ngừng nâng cao phẩm chất, trình độ, năng lực trên các mặt chính yếu:
- Triết lý giáo dục bộ môn,
- Khoa học cơ bản chuyên ngành – cập nhật tiến bộ khoa học
- Khoa học giáo dục hiện đại và năng lực hướng dẫn sư phạm
- Kỹ năng cần thiết về công nghệ thông tin
1.2.2 Đổi mới việc biên soạn chương trình là trách nhiệm của cơ quan Bộ
Trước hết cần có căn cứ lý luận và thực tiễn qua nhà trường các cấp và đội ngũ giáo viên đông đảo, kết hợp với khảo sát, điều tra qua học sinh Kết hợp với mục tiêu, cần xây dựng mô hình mới về chương trình dạy học
Chương trình hiện hành tuy có cải tiến giảm tải nhưng vẫn nặng tính “hàn lâm kinh viện” thiên về định hướng nội dung Đó là dạy học định hướng đầu vào, chỉ chú
trong truyền thụ hệ thống tri thức khoa học, chưa chú trọng chủ thể về khả năng ứng
dụng tri thức Xu thế đổi mới hiện nay là xây dựng chương trình dạy học định hướng đầu ra (outcome based curriculum-OBC), nói rộng ra là giáo dục định hướng kết quả đầu ra ( outcome based Education-OBE) Chương trình này nhằm bảo đảm chất lượng
đầu ra,thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện của nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức giải quyết vấn đề thực tiễn Do nhấn mạnh vai trò chủ thể tiếp nhận trong
quá trình nhận thức nên chương trình còn nhằm phát triển năng lực coi đó là một tiêu
chí chất lượng Năng lực thực chất là tiềm năng thực sự để biến thành khả năng hiện
thực Theo Từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng (Chủ biên), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,
2000): “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”
Từ điều khiển “đầu vào”chuyển thành kiểm soát “đầu ra” tạo điều kiện tốt cho quản lý chất lượng
Trên cơ sở chương trình khung đổi mới, tổ chức biên soạn bộ sách giáo khoa chính thống và tham khảo cho các trường đã xác định trong hệ thống giáo dục quốc dân
theo ý tưởng chương trình “cứng”, giáo khoa “mềm”
Trang 51.2.3 Giáo trình Đại học cần được biên soạn lại theo tinh thần sách giáo khoa sử dụng cho một thời gian từ 10 - 15 năm
Có bộ sách chính thức cho đào tạo, được Hội đồng duyệt sách của Bộ thông qua
và bộ sách của các trường Đại học để tham khảo Cần nhận rõ giáo trình, giáo khoa là sản phẩm khoa học của các chuyên gia giỏi, xứng đáng được tôn trọng, khích lệ
1.3 Đổi mới trang thiết bị, phương tiện dạy – học trong nhà trường hiện đại
Các cơ quan quản lý của Bộ cần cố gắng đến mức tối đa để hiện đại hoá các trang thiết bị, đặc biệt là phương tiện nghe nhìn của công nghệ thông tin hiện đại
Có thể xã hội hoá phương diện này dựa vào sự đóng góp của phụ huynh học sinh
và các cơ sở công nghiệp địa phương
2 Mấy vấn đề về phương pháp dạy và học
2.1 Xác định định nghĩa phương pháp
Phương pháp hiểu theo nghĩa thông dụng nhất, phổ quát nhất là cách thức Cụ thể là: “1 Cách thức nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội” hoặc “2 Hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó” (Từ điển
tiếng Việt – NXB Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, 1996) Diễn đạt theo cách khác,
gắn nghiệp vụ: đó là hệ thống cách thức tác động vào một đối tượng nhằm một mục đích nào đó Bản thân cách thức cũng đã bao gồm một hệ thống nhỏ các hình thức, biện pháp, thủ pháp Có thể thống nhất một định nghĩa cụ thể, sát hợp Như vậy phương pháp dạy học là những cách thức và hình thức hoạt động của người dạy và người học trong những môi trường dạy học, nhằm đạt được mục đích dạy học, phát triển các năng
lực cá nhân
Tuy nhiên, trong thực tế có những sự nhầm lẫn, hiểu sang nghĩa quá rộng như phương thức – “phương thức đào tạo”, hoặc quá hẹp như thủ pháp – “cách hỏi”
Phương pháp dạy học có mặt biểu hiện bên ngoài (các hình thức dạy học) và bên trong (các phương pháp logic: phân tích, tổng hợp, so sánh…)
Có những phương pháp là đặc thù của bộ môn như giáo học pháp Đây cũng là
bộ môn nghiệp vụ sư phạm là chung cho nhiều bộ môn khác nhau
Trong dạy - học, có phương pháp dạy cho người thầy và phương pháp học cho trò – học sinh, sinh viên Giữa hai phương pháp này có mối quan hệ tương tác, tương hỗ trong quan hệ hợp tác thầy trò
Trang 62.2 Quan niệm về phương pháp
2.2.1 Loại hình dạy học và phương pháp tương ứng
Có thể tổng kết là có ba loại hình dạy học:
- Dạy học cá thể hoá (dạy kèm cá nhân, nhóm nhỏ)
- Dạy học hợp tác ( hội thảo thầy trò)
- Dạy học theo trình độ (chung hoặc chuyên)
Tương ứng là các cách tiếp cận giáo viên và học sinh theo các chiến lược dạy
học:
- Phương pháp tiếp cận trực tiếp (giảng bài, đàm thoại, thực hành, thực tập)
- Phương pháp tiếp cận gián tiếp (dạy học dựa trên vấn đề, phát hiện, khám phá, dạy học qua nhóm, qua hoạt động)
- Phương pháp tiếp cận độc lập (tự học tại trung tâm học liệu, thư viện, phòng nghe nhìn, làm việc độc lập theo giao ước, kế hoạch, tự học bằng máy tính, )
Việc đổi mới dạy học ở nhà trường hiện đại có đặc trưng là phương pháp thuộc nhiều chiến lược tiếp cận Quan điểm dạy học thường kéo theo phương pháp tương ứng
2.2.2.Tri thức nền tảng cho phương pháp
- Tri thức về Triết học nói chung, Triết lý giáo dục và Triết lý dạy học nói riêng
- Tri thức về Khoa học Gíáo dục, đặc biệt là Tâm lý học sáng tạo
- Tri thức về Phương pháp luận nói chung, Phương pháp dạy học nói riêng
- Tri thức về bộ môn cụ thể – như giảng dạy theo loại thể, giảng dạy tích hợp
ngữ và văn )
2.2.3 Những nguyên lý, phương châm của phương pháp
Phương pháp dạy học bộ môn thuộc phương pháp giảng dạy nói chung
Phương pháp giảng dạy lại nằm trong hệ thống lớn của phương pháp giáo dục và đào tạo
Phương pháp giảng dạy, phương thức đào tạo đều có liên quan đến các khái niệm vĩ mô như triết lý giáo dục và các nguyên lý tiến bộ như phương châm hiệu lực
của giáo dục hiện đại: từ “nguyên lý tự do” của Lev Tolstoi đến “nguyên lý dân chủ”
Trang 7của John Dewey và xin đề xuất một nguyên lý mới – tạm gọi là “nguyên lý đồng đẳng”:
“xã hội học tập – nhà trường tư duy” như gợi ý của UNESCO
2.3 Tổng hợp và lựa chọn phương pháp
Hiện nay, tư liệu về Đổi mới phương pháp dạy học rất phong phú qua thông tin trên mạng hay các ấn phẩm của Nhà xuất bản Giáo dục Đây là nguồn tham khảo để các
giáo viên tự đổi mới và nâng cao trình độ Tài liệu phong phú lý luận, nhưng là lý luận
có trải nghiệm thực tiễn dạy học, do đó cần tiếp thu một cách có chọn lọc
Nguồn sách dịch nước ngoài của tổ chức ASCD – Hoa Kỳ gồm 6 cuốn in tại
Nhà xuất bản Giáo dục xin được giới thiệu “ quảng cáo” giúp:
- Nghệ thuật và khoa học dạy học – Robert J Marzano
- Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả – James H Stronge
- Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi – Giselle O Martin - Kniep
- Quản lý hiệu quả lớp học – Robert J Marzano, Jana S Marzano, Debra J
Pickering
- Các phương pháp giảng dạy hiệu quả – Robert J Marzano, Debra J Pickering,
Jane E Pollock
- Đa trí tuệ trong lớp học – Thomas Amstrong
Điều quan trọng là việc vận dụng tri thức hiện đại vào thực tiễn Việt Nam
Có một công trình là kết quả hợp tác quốc tế của Dự án phát triển giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục & Đào tạo đã triển khai có nhiều bổ ích thiết thực Đó là công trình Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học Phổ thông của Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier (Verlag - Berlin/Hanoi, 2010) Sách có
sự cộng tác của nhiều chuyên gia giáo dục Việt Nam ở Đại học Sư phạm Hà Nội với các nhà khoa học của Đại học Postdam – Cộng hoà Liên bang Đức Công trình có kèm một
số thống kê khảo sát, điều tra thực tế qua các trường Trung học Phổ thông Việt Nam
Qua các hội thảo khoa học và sách báo đã được công bố, đã có nhiều đề xuất về đổi mới phương pháp dạy và học văn nói riêng của đông đảo đội ngũ giáng viên và giáo viên Phổ thông Đó là nguồn vốn quý giá thực tiễn cần khai thác và tổng kết
Cần thấy rõ là, không thể có một phương pháp hoàn hảo lý tưởng nhất và chung cho mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng, mọi nhà trường Mỗi phương pháp đều có mặt mạnh
và mặt yếu, đòi hỏi phải có những điều kiện tương thích Vấn đề là phải có sự chọn lọc
và biết kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học, tích cực cải tiến các phương pháp
Trang 8truyền thống và mạnh dạn vận dụng các phương pháp đổi mới có hiệu quả.Quan trọng
hơn là phải biết áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể Một ví dụ rất rõ là, trang thiết bị công nghệ cao không đồng đều ở các trường thành thị và nông thôn, giữa học đường và gia đình của học sinh, nhất là các học sinh ở vùng sâu, vùng xa Điều kiện hỗ trợ có hạn chế ảnh hưởng trực tiếp tới đổi mới dạy và học
3 Đổi mới phương pháp dạy và học văn đại học và phổ thông
3.1 Lựa chọn và vận dụng phương pháp thích hợp
Hiện nay, có một số phương pháp đổi mới đã được thực hiện hoặc đang thể nghiệm với nhiều mức độ và hiệu quả khác nhau
Nổi bật là phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp này chống lại khuynh hướng dạy học học sinh thụ động, giáo viên
áp đặt học sinh Dạy học tích cực nhằm nêu cao vai trò chủ đạo dạy của thầy và chủ động hấp thu của trò dựa trên tinh thần dân chủ, hợp tác
Có một sự phê phán khá nặng nề về phương pháp truyền thống, cụ thể là phương
pháp truyền thụ – tiếp nhận( tức “đọc – chép”), chỉ thuyết trình thuần tuý và ghi chép
đơn thuần Thầy truyền thụ kiến thức cho học sinh theo xu hướng nhồi nhét tối đa, học sinh tự động ghi chép máy móc, coi thầy là người phát ngôn chân lý Mục đích học là học thuộc và tái hiện lặp lại đúng kiến thức thầy đã giảng
Phương pháp dạy học tích cực bao gồm nhiều biện pháp phát huy tính tích cực,
chủ động và sáng tạo của người học Đó là quy trình học hỏi – học hiểu – học tập – học hành Nhờ vậy mà học sinh học sách mà vượt sách, học thầy rồi vượt thầy theo triết lý:
“học một biết mười” (tục ngữ dân gian), “trò giỏi hơn thầy là trường có phúc” (Giáo lý
Phật) Xưa có chuyện Aristotle rất quý trọng thầy Plato, nhưng coi chân lý còn đáng quý
trọng hơn Plato gọi Aristotle là “linh hồn của Viện Hàn lâm”, và là “người thiên kinh vạn quyển” Đền ơn thầy, Aristotle – người môn đệ xuất sắc đã vượt Plato, trở thành nhà triết học lừng danh thời cổ đại Thầy trò Khổng Tử xưa cũng tương tự
Một phương pháp dạy học tiến bộ, được vận dụng nhiều ở các nước phương Tây
là phương pháp dựa trên vấn đề (problem based learning) Đây là kiểu dạy học có nêu vấn đề, để nhận biết và giải quyết vấn đề (cũng gọi là phương pháp giải quyết vấn đề)
Bài giảng, bài học nào xét cho cùng cũng là một vấn đề, hoặc bao hàm một vấn
đề nào đó Vấn đề ở đây có tính chất tổng hợp, không hẳn là chủ đề, đề tài hoặc tư tưởng tác phẩm Theo cách hiểu này, đó có thể là một vấn đề bao trùm toàn bộ tác phẩm hoặc nhiều vấn đề quan trọng nổi bật cần quan tâm nhất Vấn đề được nảy sinh chủ yếu
Trang 9là do đào xới, lật đi lật lại một chủ đề, xem xét lại giá trị từ một cách tiếp cận khác hoặc
do giải trình những con đường, cách thức tạo ra hiệu quả nghệ thuật Đã có công thức để tìm ra kết quả cần đạt bằng các câu hỏi mở đầu bằng “W” được lưu truyền trong dạy
học, đặc biệt trong nghiên cứu ( mở rộng ra cả nghiên cứu thị trường): Who (Ai?), What (Cái gì?), Where (Ở đâu?), When (Khi nào?), Why (Tại sao?) Đây cũng là chỉ dẫn của mạng tham vấn trí tuệ: Suy nghĩ qua vấn đề (Thinking through the Problem – theo
consultantmind.com)
Đây là cách đơn giản nhưng hiệu quả để nêu vấn đề và giải quyết vấn đề
Thường các tri thức được truyền đạt là các giá trị ổn định được đưa vào giáo trình, giáo khoa Tuy nhiên, tất cả lại phải được soi xét bằng cách nhìn, cách đánh giá dưới ánh sáng của khoa học, chính trị của thời đại, của hôm nay Vấn đề thường được đặt ra là phải hiểu, phải cảm nhận như thế nào? Cần chỉnh lý, đổi mới và phát triển như
thế nào? Vấn đề làm mới lại cảm nhận cũ cũng là điều thường gặp Chẳng hạn, Đọc lại Nhật ký trong tù, Tiểu thuyết lịch sử trong cái nhìn hôm nay, Nguyên Hồng từ cái nhìn
thế kỷ, là những đề tài thường xuất hiện trong các hội thảo khoa học về văn học Dạy
học cũng phải nhạy bén với những vấn đề mới cập nhật và có ý nghĩa thực sự như vậy
Từ vài năm trở lại đây, có một phương pháp được đề xuất như để mở một khâu
đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn Đó là phương pháp đọc hiểu văn bản của Trần Đình Sử
Luận điểm của tác giả xuất phát từ nhiều nước trên thế giới hiểu môn văn trong nhà trường là môn đọc văn Do đó, dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể hiểu và cảm thụ văn Nói cách khác, môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất của việc dạy văn
là bồi dưỡng, phát triển năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mỹ
Lối dạy học cũ coi trọng giáo dục tri thức mà coi nhẹ giáo dục trí năng, coi trọng dạy mà xem nhẹ học Dạy đọc hiểu văn bản phải là sự nỗ lực vươn lên của cả thầy và trò để chiếm lĩnh tác phẩm nghệ thuật Rõ ràng là điều này đòi hỏi nhiều công sức để thay đổi những tập quán, nề nếp, động hình cũ và cũng yêu cầu đầu tư nhiều thời gian đáng kể
Lợi ích, hiệu quả nhiều nhưng thách thức cũng không ít Tất nhiên, dạy học văn cũng không nên chỉ quy vào tác phẩm, mà còn vào cả nhà văn – chủ thể sáng tác và cả văn nghiệp – hành trình sáng tạo Dù sao thì văn bản – tác phẩm cũng là công trình quan trọng nhất để đánh giá thành tựu sáng tạo, như thông điệp nghệ thuật và tư tưởng của nhà văn
Trang 10Theo tổng kết có nhiều kiểu phương pháp dạy học gắn với những quan điểm dạy học, kéo theo kỹ thuật dạy học khác nhau Sau đây là một vài kiểu thông dụng:
- Giải thích – minh hoạ: phương pháp chủ yếu là thuyết trình, thuyết giảng
- Làm mẫu – tái tạo: phương pháp chủ yếu là luyện tập, hướng dẫn, huấn luyện
- Lập trình – algorit hoá: phương pháp chủ yếu là hướng dẫn thực hiện các bước
đã thiết kế
- Khám phá – phát hiện: phương pháp chủ yếu là đàm thoại, gợi mở để tìm tòi,
phát hiện
- Giải quyết vấn đề – nghiên cứu: phương pháp dạy học được tổ chức theo cấu trúc quá trình giải quyết vấn đề
3.2 Sử dụng một phương pháp tổng hợp và tổng lực với các khâu hợp lý nhất, hiệu quả nhất
3.2.1 Dựa vào một phương pháp luận chính xác về phương pháp dạy học đổi mới, xin
đề xuất một phương pháp dạy học tương tác
Phương pháp này thâu tóm, tổng hợp, tích hợp những ưu việt, tiến bộ của các
phương pháp đổi mới lâu nay Mục tiêu chủ yếu là phát huy vai trò chủ đạo hướng dẫn, dìu dắt, huấn luyện cũng như hướng đạo của người dạy, đồng thời đề cao vai trò trung tâm chủ thể tiếp nhận chủ động, tích cực, sáng tạo của người học Tinh thần cơ bản là phát huy tính tích cực của hai chủ thể dạy và học, tạo ra động lực chính yếu của sáng tạo
và phát triển dạy – học
Tương tác xác nhận thầy trò là hai đối tác Đó là hai đối tượng trong một quan
hệ hợp tác bình đẳng, dân chủ và thân thiết Cả hai đều mang vị thế riêng, nhưng đều là chủ thể của dạy và học và đều là chủ đạo trong hoạt động được phân công, phân nhiệm
Với ý nghĩa này, người dạy cần biết tự kiềm chế, không thể áp đặt như người ban phát chân lý để buộc người học chấp nhận Người học là lý do tồn tại của người dạy, người học phải nhận thức rõ quyền và bổn phận, tiếp thu tự giác kiến thức thông qua giáo dục
và đào tạo Như vậy, hình thành một mối liên hệ thực tế và một hợp đồng mặc nhiên dạy – học Mà đã hợp đồng thì phải là giao kèo giữa cung và cầu Do đó, người dạy phải dạy đúng cái mà người học cần: đúng trình độ – theo xếp lớp chung và đúng đối tượng
– theo tiếp thu cá biệt
Quan niệm dạy học hiện đại coi quan hệ giáo viên học sinh là mối quan hệ tương tác Ý nghĩa quan trọng là ở tương tác Hai đối tác đặc biệt, có ý nghĩa chiến lược này
có sự tác động lẫn nhau Nhận biết tình trạng, trình độ cụ thể trong quá trình dạy – qua