Khái niệm tội phạm được định nghĩa cụ thể tại điều 8, bộ luật hình sự 2015: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC
BỘ MÔN KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Tên đề tài: Tội phạm là gì? Phân tích cấu thành tội phạm.
Họ và tên :
Mã sinh viên :
Lớp :
Hà Nội, ngày 24 tháng 06 năm 2021
Trang 3A.MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi xã hội đang ngày càng phát triển giúp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, giúp cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn Song hàn cùng với những mặt lợi từ việc xã hội phát triển là những mặt tiêu cực đi kèm như thất nghiệp, lạm phát, đặc biệt là vấn đề tội phạm trong xã hội ngày càng gia tăng Tội phạm là thành phần hết sức nguy hiêm, mang lại nhwunxg tác động tiêu cực đến sự phát triển của đất nước, ,thậm chí những tội phạm nguy hiểm còn đe dọa đến tài sản
và tính mạng của người dân Chính vì điều nay, nhà nước đã ban hành bộ luật nhằm quy định những hành vi nào là tội phạm, và đưa ra những hình phạt đối với người nào thực hiện hành vi đó Qua đó cũng phản ánh tầm quan trọng của nhà nước đối với sự phát triển ổn định của đất nước Vì vậy, việc nghiên cứu về vấn đề tội phạm
và cấu thành tội phạm là yêu cầu hết sức cần thiết Nhận thấy tầm quan trọng của
vấ đề nên em chọn “Tội phạm là gì? Phân tích cấu thành tội phạm.” làm đề tài nghiên cứu của mình
Trang 4B NỘI DUNG
1 Khái niệm Tội phạm.
Khái niệm tội phạm được định nghĩa cụ thể tại điều 8, bộ luật hình sự 2015: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử
lý hình sự
Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác
Như vậy, có thể thấy rằng khái niệm tội phạm đã trải qua nhiều năm lập pháp nhưng nội hàm của khái niệm này vẫn không có những thay đổi về bản chất nó vẫn được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội và chỉ bị xử lý khi hành vi đó được quy định cụ thể trong luật hình sự
Ví dụ về tội phạm
Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn X đã giết người, dù là cố ý hay là vô tình thì đều được xếp vào loại tội phạm hình sự đặc biệt nghiêm trọng
Ví dụ 2: Bà Trần Thị X đã cướp giật của Ông A và bị bắt, như vậy bà X cũng sẽ bị xếp vào loại tội phạm nghiêm trọng Như vậy là bà X có thể bị phạt hành chính hoặc bị phạt tù theo thời gian của hành động
Ví dụ 3: Gia đình A đã trồng cây lên mảnh đất của gia đình B sẽ bị quy vào loại tội phạm ít nghiêm trọng theo bộ luật hình sự Việt Nam
Xung quanh cuộc sống của chúng ta đều có rất nhiều loại tội phạm khác nhau, những tội phạm thường xuyên gặp như cướp của, trộm cắp, đánh nhau… những tội phạm ít gặp hơn như hiếp dâm, giết người… và những loại tội phạm hiếm gặp như buôn bán phụ nữ, buôn bán vũ khí, buôn bán ma túy… Tùy thuộc vào từng loại tội phạm sẽ có những loại hình phạt khác nhau Có thể cùng là một loại tội phạm nhưng hình phạt cũng khác nhau, ví dụ như cùng giết người nhưng có người bị phạt
Trang 5nặng hơn vì còn xét vào động cơ giết người, hành vi của người đó là vô tình hay cố
ý, hành vi có kiểm soát hay không kiểm soát…
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:
Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội
ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản
1 Điều 9 Bộ luật Hình sự và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 Bộ luật Hình sự
2 Dấu hiệu nhận biết Tôi phạm.
2.1 Tính nguy hiểm cho xã hội
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là dấu hiệu đầu tiên để xác định được hành vi đó có phải là tội phạm hay không Tính nguy hiểm cho xã hội thể hiện ở việc gây thiệt hại hoặc tạo ra nguy cơ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội Trong
đó các quan hệ xã hội là đối tượng bảo vệ của luật hình sự Tính nguy hiểm cho xã
Trang 6hội là một thuộc tính quan trọng và cơ bản nhất, có ý nghĩa quyết định các dấu hiệu
và được thể hiện thông qua hành vi nguy hiểm cho xã hội
Theo quy định tại điều 123 luật hình sư 2015 sửa đổ bổ sung năm 2017 về tội giết người là hành vi nguy hiểm xâm hại trực tiếp đến tính mạng con người Người bị giết là người còn sống, vì tội giết người là tội xâm phạm đến tính mạng con người, gây nguy hiểm cho xã hội
2.2 Tính có lỗi
Lỗi là thái độ tâm lý chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội
mà họ thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra Lỗi thể hiện dưới dạng cố
ý hoặc vô ý, là một dấu hiệu rất quan trọng trong cấu thành tội phạm Mục đích của
áp dụng hình phạt là trừng phạt người có lỗi chứ không phải trừng phạt hành vi Trong bộ luật hình sự Việt Nam thì nguyên tắc có lỗi được coi là nguyên tắc cơ bản Người chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không phải chỉ đơn thuần vì người này có hành vi khách quan gây thiệt hại cho xã hội mà còn vì đã
có lỗi trong thực hiện hành vi khách quan đó Có thể chia hành vi phạm tội thành lỗi cố ý và lỗi vô ý
Ví dụ: Điều 123 Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội giết người thì có thể thấy tội phạm cố ý giết người Tội phạm thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng người khác, người phạm tội nhận thức rõ hành động của mình tất yếu hoặc có thể gây cho nạn nhân chết và mong muốn hoặc bỏ mặc cho nạn nhân chết Biểu hiện ý thức này ra bên ngoài thường được biểu hiện bằng những hành vi như: chuẩn bị hung khí (phương tiện), điều tra theo dõi mọi hoạt động của người định giết, chuẩn bị những điều kiện, thủ đoạn để che giấu tội phạm,…
2.3 Tính trái pháp luật
Căn cứ theo điều 2 Bộ luật hình sự 2017 quy định về trách nhiệm hình sự như Thứ nhất: Tính nguy hiểm cho xã hội
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là dấu hiệu đầu tiên để xác định được hành vi đó có phải là tội phạm hay không Tính nguy hiểm cho xã hội thể hiện ở việc gây thiệt hại hoặc tạo ra nguy cơ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội Trong
đó các quan hệ xã hội là đối tượng bảo vệ của luật hình sự Tính nguy hiểm cho xã
Trang 7hội là một thuộc tính quan trọng và cơ bản nhất, có ý nghĩa quyết định các dấu hiệu
và được thể hiện thông qua hành vi nguy hiểm cho xã hội
Theo quy định tại điều 123 luật hình sư 2015 sửa đổ bổ sung năm 2017 về tội giết người là hành vi nguy hiểm xâm hại trực tiếp đến tính mạng con người Người bị giết là người còn sống, vì tội giết người là tội xâm phạm đến tính mạng con người, gây nguy hiểm cho xã hội
Thứ hai: Tính có lỗi
Lỗi là thái độ tâm lý chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội
mà họ thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra Lỗi thể hiện dưới dạng cố
ý hoặc vô ý, là một dấu hiệu rất quan trọng trong cấu thành tội phạm Mục đích của
áp dụng hình phạt là trừng phạt người có lỗi chứ không phải trừng phạt hành vi Trong bộ luật hình sự Việt Nam thì nguyên tắc có lỗi được coi là nguyên tắc cơ bản Người chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không phải chỉ đơn thuần vì người này có hành vi khách quan gây thiệt hại cho xã hội mà còn vì đã
có lỗi trong thực hiện hành vi khách quan đó Có thể chia hành vi phạm tội thành lỗi cố ý và lỗi vô ý
Ví dụ: Điều 123 Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội giết người thì có thể thấy tội phạm cố ý giết người Tội phạm thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng người khác, người phạm tội nhận thức rõ hành động của mình tất yếu hoặc có thể gây cho nạn nhân chết và mong muốn hoặc bỏ mặc cho nạn nhân chết Biểu hiện ý thức này ra bên ngoài thường được biểu hiện bằng những hành vi như: chuẩn bị hung khí (phương tiện), điều tra theo dõi mọi hoạt động của người định giết, chuẩn bị những điều kiện, thủ đoạn để che giấu tội phạm,…
Thứ ba: Tính trái pháp luật
Căn cứ theo điều 2 Bộ luật hình sự 2017 quy định về trách nhiệm hình sự như sau:
“ Điều 2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự
Trang 81 Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự
2 Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của
Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”
Như vậy bất cứ hành vi nào không được quy định là một tội trong bộ luật Hình sự thì việc thực hiện hành vi đó đều không phải là tội phạm
Ví dụ: Dù pháp luật quy định rất rõ ràng và cấm chủ thể, pháp nhân thực hiên các hành vi vi phạm pháp luật nhưng chủ thể vẫn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
của mình Khi pháp luật đã quy đinh cấm giết người tại điều 123 luật hình sự sửa đổi bổ sung 2017 nhưng chủ thể vẫn thực hiện hành vi giết người và trái pháp luật Thứ tư: Tính phải chịu hình phạt
Tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu kèm theo của dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự Chỉ những hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt, hình phạt được coi là cơ chế răn đe, giáo dục đối với tội phạm Tùy theo từng loại tội khác nhau có yếu tố tăng nặng hay giảm nhẹ mà người phạm tội đều phải chịu hình phạt trước tội của mình gây ra,
Ví dụ theo khoản 1 điều 123 thì người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình Pháp luật có quy định rất rõ ràng về mức hình phạt mà người phạm tội cần chịu khi vi phạm.Như vậy bất cứ hành vi nào không được quy định là một tội trong bộ luật Hình sự thì việc thực hiện hành vi đó đều không phải là tội phạm
Ví dụ: Dù pháp luật quy định rất rõ ràng và cấm chủ thể, pháp nhân thực hiên các hành vi vi phạm pháp luật nhưng chủ thể vẫn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật của mình Khi pháp luật đã quy đinh cấm giết người tại điều 123 luật hình sự sửa đổi bổ sung 2017 nhưng chủ thể vẫn thực hiện hành vi giết người và trái pháp luật Thứ tư: Tính phải chịu hình phạt
Tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu kèm theo của dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự Chỉ những hành vi phạm tội mới phải chịu hình
Trang 9phạt, hình phạt được coi là cơ chế răn đe, giáo dục đối với tội phạm Tùy theo từng loại tội khác nhau có yếu tố tăng nặng hay giảm nhẹ mà người phạm tội đều phải chịu hình phạt trước tội của mình gây ra,
Ví dụ theo khoản 1 điều 123 thì người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình Pháp luật có quy định rất rõ ràng về mức hình phạt mà người phạm tội cần chịu khi vi phạm
3 Phân tích cấu thành Tội phạm.
3.1 Khái niệm
Mỗi trường hợp phạm tội cụ thể của tội phạm nhất định như tội giết người, tội cưởp
tài sản đều có những nội dung biểu hiện riêng biệt ở cả bốn yếu tố Ví dụ Cũng là
tội giết người nhưng những nội dung biểu hiện cụ thể của bốn yếu tố của tội phạm ttong từng trường hợp giết người đều có những nét riêng biệt, không trường hợp nạo giống hoàn toàn trường hợp nào
Tuy khác nhau như vậy nhưng tất cả các trường hợp phạm tội của tội phạm nhất định đều có những nội dung biểu hiện giống nhau ở cả bốn yếu tố Những biểu hiện giống nhau đó được coi là những dấu hiệu chung có tính đặc trưng của tội phạm nhất định Khi quy định tội phạm trong luật, nhà làm luật phải sử dụng các dấu hiệu này để mô tả tội phạm Trong khoa học luật hình sự, sự mô tả này được gọi là CTTP
Như vậy, Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự
3.2 Đặc điểm
Các dấu hiệu trong CTTP đều do luật định Chỉ Nhà nước mới có quyền quy định một hành vi nào là tội phạm bằng cách là mô tả những dấu hiệu đó và quy định chúng trong BLHS Cơ quan giải thích và áp dụng pháp luật chỉ được phép giải thích nội dung những dấu hiệu đã được quy định trong BLHS Việc thêm hoặc bớt bất kỳ một dấu hiệu nào đó của CTTP đều có thể dẫn đến tình trạng định tội sai hoặc bỏ lọt tội hoặc làm oan người vô tội
Trang 10Các dấu hiệu trong CTTP của một loại tội được quy định trong phần chung của BLHS như: tuổi, tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự, lỗi; và chúng được quy định trong phần các tội phạm của BLHS như dấu hiệu: hành vi khách quan, hậu quả của tội phạm, quan hệ xã hội bị xâm hại
Các dấu hiệu của CTTP mang tính đặc trưng điển hình Một loại tội phạm chỉ được
đặc trưng bởi một CTTP và một CTTP chỉ đặc trưng cho một loại tội phạm, đó là dấu hiệu đặc trưng Dấu hiệu đặc trưng của CTTP còn thể hiện ở chỗ chỉ các dấu hiệu nào nói lên bản chất đặc trưng của loại tội đó để phân biệt tội phạm đó với tội phạm khác mới được ghi nhận trong CTTP
Một dấu hiệu có thể được phản ánh trong nhiều cấu thành tội phạm nhưng giũa các cấu thành tội phạm khác nhau phải có ít nhất một dấu hiệu khác nhau Đó là dấu hiệu điển hình
Hoặc ví dụ về CTTP trộm cắp với CTTP lừa đảo có rất nhiều dấu hiệu chung giống nhau như: quan hệ sở hữu bị xâm hại, độ tuổi, năng lực TNHS, hành vi chiếm đoạt tài sản, lỗi cố ý trực tiếp Nhưng giữa 2 CTTP này có 2 dấu hiệu mang tính điển hình cho mỗi CTTP đó là: hành vi lén lút trong tội trộm cắp tài sản và hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Như vậy, giữa 2 CTTP khác nhau phải khác nhau ít nhất một dấu hiệu, đó chính là dấu hiệu điển hình
Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm có tính bắt buộc Một hành vi chỉ bị coi là tội
phạm khi nó thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm Nếu thiếu hoặc thừa bất kỳ một dấu hiệu nào đó thì nó có thể không phải là tội phạm hoặc tội phạm khác Nghĩa là tất cả dấu hiệu của cấu thành tội phạm đều là điều kiện cần và
đủ để định tội danh
Các dấu hiệu của CTTP là các dấu hiệu bắt buộc được quy định ở phần chung hoặc phần các tội phạm cụ thể của BLHS
Trang 113.3 Các yếu tố cấu thành tội phạm
3.3.1 Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Những dấu hiệu thuộc về khách quan của tội phạm gồm những hành vi nguy hiểm cho xã hội : tính trái pháp luật của hành vi, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ của tội phạm còn có các dâu hiệu khác nhau như: phương tiện, công cụ tội phạm, phương pháp thủ đoạn, thời gian, địa điểm, thực hiện phạm tội
3.3.2 Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là những diễn biến tâm lý bên trong của tội phạm bao gồm : lỗi, mục đích, va động cơ phạm tội Bất cư tội phạm cụ thể nào cũng phải là hành vi được thực hiện một cách có lỗi Lỗi có hai loại lỗi : lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý phạm tội
Cố ý phạm tội là cố ý trong các trường hợp sau:
Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là gây nguy hại cho xã hội, thấy được hậu quả của hành vi đó và mong muốn hành vi đó sẽ xảy ra
Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiềm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn những vẫn có ý thức để mặc
nó xảy ra
Vô ý phạm tội bao gồm các trường hợp sau:
Người phạm tội tuy thấy trước được hành vi của mình có thể gây nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được
Người phạm tội không thấy được hành vi của mình có thể gây ra nguy hại cho xã hội, mặc dù có thể thấy trước và có thể thấy hậu quả đó
3.3.3 Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại ở mức độ đáng kể