1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn biển đảo việt nam

36 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đối với Việt Nam thì việc xây dưng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là nộidung quan trọng trong bảo vệ Tổ quốc.chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng,là bấtkhả xâm phạm của dân tộc Việt

Trang 1

Phần 1:MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

- Vấn đề chủ quyền lãnh thổ quốc gia đang là vấn đề quan trọng của tất cảcác quốc gia trên thế giới.Các quốc gia trên thế giới dù quốc gia mang nền chínhtrị XHCN,TBCN,hay chế độ quân chủng thì quốc gia nào cũng coi chủ quyềnlãnh thổ là thiêng liêng,là bất khả xâm phạm của quốc gia dân tộc mình

- Đối với Việt Nam thì việc xây dưng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là nộidung quan trọng trong bảo vệ Tổ quốc.chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng,là bấtkhả xâm phạm của dân tộc Việt Namnhất là trong tình hình hiện nay,khi vấn đềbiển Đông đang là tâm điểm của báo đài,là vấn đề nóng và hết sức nhạycảm,luôn nhận được sự quan tâm rất lớn của các nước trên thế giới.bởi cùng mộtvùng biển mà có tới ba tên gọi khác nhau.Việt Nam gọi là biển Đông,TrungQuốc gọi là biển Nam Trung Hoa,Philippin gọi là biểnTây Philippin.Dẩn đếntình trạng chồng lấn,giao thoa,về đặc quyền kinh tế giữa các quốc gia

- Tranh chấp gay gắt nhất là chồng lấn về đặc quyền kinh tế giữa Việt Nam vàTrung Quốc nhất là nhữn hành động gây hấn vi pham chủ quyền nước ta trênbiển Đông

Tóm lại, Biển Đông đang là vấn đề được dư luận quan tâm nhiều nhất,đang là vấn đề bức xúc của các nước Nó là vấn đề khó giải quyết của toàn khuvực, nó là mầm móng của chiến tranh nếu các nước không chịu ngồi vào bànđàm phán, không chịu thương lượng, không chịu giải quyết các vấn đề tranhchấp bằng biện pháp hòa bình

Chính sự cần thiết này mà tôi sẽ đề cập trong khuôn khổ bài tập lớn này

II.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 2

quan về chủ quyền biển đảo.Từ đó giúp điều chỉnh hành vi của bản thân nói riêng và công dân Việt Nam nói chung.

- Hiểu rõ góp phần đấu tranhchống lại các thế lực thù đich kích động,lợidụng vấn đề liên quan chủ quyền lãnh thổ để gây phức tạp tới chủ quyền an ninhquốc gia

- Bác bỏ luận điệu xảo trá của Trung Quốc,khẳng định chủ quyền hai quầnđảo Hoàng Sa và Trương Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam

- Đề ra giải pháp góp phần xây dựng,bảo vệ vững chắc chủ quyền biểnđảo Việt Nam trong tình hình hiện nay

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ vai trò của biển trong tương lai

- Những căn cứ,chứng cứ để ta bảo vệ chủ quyền biển

+ Luật biển quốc tế 1982

+ Dựa vào lịch sử->phản bác lí luận sảo trá của Trug Quốc

- Đường lối của Đảng phương hướng giải quyết vấn đề biển đảo

III Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

1 Cơ sở lí luận

- Chủ nghĩa Mac-Lênin,Tư tưởng Hồ Chí Minh,Đường lối chủ trương củaĐảng và chính sách của Nhà nước

- Kế thừa công trình nghiên cứu có liên quan

2 Phương pháp nghiên cứu

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng

- Trừu tượng,lô gic.tổng hợp, phân tích, so sánh

- Kết hợp,sử dụng các tư liệu lịch sử

VI Giới hạn nghiên cứu

Những sự kiên liên quan đến 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỉthử XVI đến năm 2011

Trang 3

và Thái Bình Dương Hầu hết các nước trong khu vực châu Á - Thái BìnhDương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh mẽ trên Biển Đông.Cho nên, Biển Đông được coi là con đường huyết mạch chiến lược để giaothông thương mại và vận chuyển quân sự quốc tế Trong 10 tuyến đường biểnquốc tế lớn nhất thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liênquan đến Biển Đông Trong lịch sử, Biển Đông nhiều lần là trọng điểm củanhững cuộc tranh chấp quốc tế gay go, quyết liệt.

2 Ý nghĩa tù vị trí địa lí của biển ,đảo nước ta

Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của

Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời củadân tộc ta Lấn biển để dựng nước và thông qua biển để giữ nước là một nét độcđáo Việt Nam trong quá khứ Đó cũng chính là nét độc đáo của bản sắc văn hóaViệt Nam, cần được giữ vững và phát huy hơn nữa trong kỷ nguyên mới - kỷnguyên của khoa học kỹ thuật, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Càng tựhào và trân trọng di sản quá khứ, chúng ta càng phải khai thác, khơi dậy nguồnsức mạnh của bao thế hệ người Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững chủ quyềnvùng biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc, thực hiện tốt lời dạy củaChủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng Ngày nay ta có ngày,có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp Ta phải biết giữ gìn lấy nó".Biển có vai

Trang 4

và của thế giới nói chung Một số nước và vùng lãnh thổ đã lợi dụng thế mạnh

về biển đạt trình độ phát triển kinh tế rất cao Do tầm quan trọng của biển, từ lâucuộc chạy đua trong sự phát triển kinh tế biển cũng như triển khai lực lượngquân sự trên biển và sự tranh chấp trên biển diễn ra rất gay gắt Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là ''Thế kỷ của đại dương'', bởi cùngvới tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên,nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền, sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập

kỷ tới Trong bối cảnh đó, các nước có biển, nhất là các nước lớn đều vươn rabiển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác vàkhống chế biển Riêng trong lĩnh vực khai thác tài nguyên, các nước, nhất là cácnước lớn đều có thiên hướng bảo tồn tài nguyên trên đất liền và vùng biển củamình, vươn ra điều tra, khai thác tài nguyên trên đại dương

Do ý nghĩa và vai trò quan trọng của biển nên sự hợp tác quốc tế về biểncũng không ngừng được mở rộng, bao gồm việc xây dựng khuôn khổ pháp lý

mà tập trung nhất là Công ước biển năm 1982 của Liên Hợp quốc, hình thànhcác cơ chế, tổ chức hợp tác toàn cầu và khu vực Việt Nam nằm trên các tuyếnhàng hải và hàng không huyết mạch giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương,nối liền châu Âu, Trung Cận Đông với Đông Á và bờ biển phía Tây châu Mỹ.Điều này vừa tạo thuận lợi cho nước ta vươn ra biển, nâng cao vị trí địa - chínhtrị và địa - kinh tế của Việt Nam, vừa đặt ra những phức tạp, thách thức do sựcạnh tranh giữa các nước lớn ở khu vực trọng yếu này Vừa qua ở nước ta diễn

ra tuần lễ Biển va Hải Đảo từ ngày 1/6 - 8/6 hàng năm và hưởng ứng Ngày Đạidương thế giới có ý nghĩa rất quan trọng Đây là sự kiện thường niên với quy môcấp quốc gia nhằm tuyên truyền sâu rộng trong các cấp, các ngành và các tầnglớp nhân dân về vị trí, vai trò, tiềm năng của biển và hải đảo Việt Nam trong sự

nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Năm nay, với chủ đề “Trí tuệ Việt Nam,

Tuổi trẻ Việt Nam cho sự phát triển bền vững biển, đảo Tổ quốc”, Tuần lễ Biển

và Hải đảo Việt Nam đã và đang thu hút mạnh mẽ người dân

Trang 5

Về kinh tế, chính trị - xã hội, biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên

phong phú, đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt và các nguyên liệu chiến lược khác, đảmbảo cho an ninh năng lượng quốc gia, cho đất nước tự chủ hơn trong phát triểnkinh tế trong bối cảnh hiện nay Cùng với đất liền, vùng biển nước ta nằm ở nơitiếp giáp giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, một khu vực giàutài nguyên thiên nhiên, một thị trường có sức mua khá lớn, một vùng kinh tếnhiều thập kỷ phát triển năng động Đó là nơi rất hấp dẫn các thế lực đế quốc,bành trướng nhiều tham vọng và cũng là nơi rất nhạy cảm trước các biến chuyểntrong đời sống chính trị thế giới

Về quốc phòng - an ninh Biển nước ta là một không gian chiến lược đặc

biệt quan trọng đối với quốc phòng - an ninh của đất nước Với một vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địa hình bờ biển quanh co, khúc khuỷu, có nhiều dãy núi chạy lan ra biển, chiều ngang đất liền có nơi chỉ rộng khoảng 50 km (tỉnh QuảngBình), nên việc phòng thủ từ hướng biển luôn mang tính chiến lượcHệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta cùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bờ, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển của nước ta Đồng thời, đây cũng là những lợi thế để bố trí các lực lượng, vũ khí trang bị kỹ thuật của các lực lượng hoạt động trên biển, ven biển phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác trên bờ, tạo thành thế liên hoàn biển - đảo - bờ trong thế trận phòng thủ khu vực

Vùng biển nước ta nằm trên tuyến giao thông đường biển, đường không thuận lợi, nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương Vậy trước vai trò vô cùng to lớn của biển đảo và tình hình phức tạp trên biển,đảo như hiện nay để bảo vệ chủ quyền biển,đảo ta cần phải làm gì và dựa vào cái gì?

II Những căn cứ của nước ta để bảo vệ chủ quyền biển đảo

1 Dựa vào luật công ước quốc tế(1982)

Trang 6

Điều 121 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 quy định vềđảo và quy chế pháp lý của đảo Các đảo thuộc quần đảo cũng theo quy chế đó

Đảo và quần đảo nào thuộc chủ quyền của một quốc gia ven biển thì cácđảo đó được coi như lãnh thổ đất liền Có nghĩa là nếu ở lãnh thổ đất liền tínhtheo thứ tự từ bờ biển ra có nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyềnkinh tế và thềm lục địa thì mỗi đảo cũng có đủ cả năm vùng như vậy tính từ bờđảo ra Thí dụ: đảo Trường Sa lớn ở phía tây quần đảo Trường Sa hiện còn thuộcchủ quyền của Việt Nam thì tính từ bờ đảo đó (đường cơ sở) ra không quá 12 hải

lý là lãnh hải, ra không quá 200 hải lý là thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềmlục địa của Việt Nam Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn đối với vùng lãnh hải,có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềmlục địa Thực tế trên thế giới cho thấy đã có đảo rộng chỉ hơn 20 km2 mà vùngđặc quyền kinh tế của họ tính ra tới hơn 230 ngàn km2

Tuy nhiên, muốn được hưởng quyền chủ quyền như nói trên, các hòn đảophải đúng nghĩa là đảo; nghĩa là phải đáp ứng đúng tiêu chuẩn đảo theo địnhnghĩa của luật quốc tế (khoản 1 Điều 121 Công ước về Luật Biển năm 1982):

“Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất nàyvẫn ở trên mực nước” Hơn nữa, đảo ấy còn phải hội đủ điều kiện có người sinhsống như quy định tại khoản 3 Điều 121: “Những đảo đá nào không thích hợpcho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặcquyền kinh tế và thềm lục địa” Nói vậy có nghĩa là do điều kiện khách quan,đảo nào không có người ở thì chỉ có lãnh hải 12 hải lý bao quanh đảo đó màthôi

Đó là nói về các đảo, quần đảo ở ngoài khơi xa bờ Còn đối với các đảo ởven bờ đất liền thì luật quốc tế cho phép kéo một đường thẳng gãy khúc đi quacác điểm ngoài cùng của các đảo ấy để vạch đường cơ sở thẳng cho nước venbiển Từ đó định ra bề rộng của lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

của quốc gia đó.Quốc hội nước ta đã phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về

Luật biển 1982 vào ngày 23/6/1994 Công ước này bắt đầu có hiệu lực từ ngày

Trang 7

16/11/1994 Nhà nước ta đã chính thức hóa cơ sở pháp lý quốc tế về phạm vi cácvùng biển và thềm lục địa, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong cuộc đấu tranh bảo

vệ chủ quyền vùng biển và thềm lục địa, bảo vệ lợi ích quốc gia trên các vùngbiển, đảo Đồng thời, thể hiện quyết tâm của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tếxây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp táctrên biển Ngày 18/12/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số161/2003/NĐ-CP về Quy chế khu vực biên giới biển gồm 5 chương, 37 điều -quy định hoạt động của người, tàu thuyền Việt Nam, tàu thuyền nước ngoàitrong khu vực biên giới biển nhằm quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển,duy trì an ninh trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển

2 Dựa vào lịch sử

Theo công ước quốc Quốc tế mới là chồng lấn nhưng quốc gia nào cóchính quyền trước thi thuộc quốc gia đó.Vậy thì quần đảo Hoàng Sa của Việtnam hay Trung Quốc là thuộc về lịch sử

a.Tờ lệnh góp phần khẳng định: từ xa xưa Việt Nam đã thực hiện chủ

quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tờ lệnh Ngày 15 tháng 4 năm Minh Mệnh thứ 15 (1834) của quan Bố

chánh, Án sát tỉnh Quảng Ngãi gồm có bốn trang, mỗi trang dài 36cm, rộng

24cm Tờ lệnh có nội dung: “Theo tờ tư (một loại hình văn bản hành chính) của

Bộ Binh nhận được tháng trước có đoạn trình bày: Vâng theo sắc lệnh, Bộ đã tưcho tỉnh chuẩn bị điều động trước 3 chiếc thuyền lớn, cho tu sửa chắc chắn đợi

tại kinh, Phái viên (người của triều đình được cử đi thực hiện công vụ) và Biền binh(chức quan võ cấp thấp trong quân đội thời phong kiến) thủy quân đến

trước để hiệp đồng nhanh chóng đi khảo sát các xứ của Hoàng Sa

Tuy chỉ vỏn vẹn có 04 trang nhưng Tờ lệnh chứa đựng nhiều thông tinquý, góp thêm một bằng chứng rằng đã từ lâu (từ trước năm 1834) Hoàng Sa đãthuộc phạm vi cai quản của Việt Nam Tờ lệnh nêu rõ danh tính, quê quán củatừng binh thuyền vâng mệnh triều đình đi lính Hoàng Sa không chỉ riêng ở

Trang 8

Tờ lệnh còn xác thực thêm những thông tin ghi chép trong các bộ chính

sử của triều Nguyễn về ông Võ Văn Hùng, là người có công đi Hoàng Sa trongnhiều năm Văn bản còn thể hiện về cách thức tổ chức của đội Hoàng Sa, thủyquân Hoàng Sa, phiên chế, cách tuyển chọn, thời gian xuất hành

Tờ lệnh còn giúp khẳng định rằng mỗi năm vua Minh Mệnh đều có điềubao nhiêu thuyền và lính ra Hoàng Sa Đó là việc rất quan trọng, được phối hợphoạt động chặt chẽ từ trung ương đến địa phương trong việc lập bản đồ, cắmmốc chủ quyền, trồng cây và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa Nó kéo dài suốt nhiềunăm và rất nhiều hải đội người Việt đã nối tiếp nhau có mặt ở Hoàng Sa Họthường đi trên ghe bầu rộng khoảng 3m, dài 12m, chở được 8 - 12 người, mangtheo lương thực đủ dùng trong sáu tháng và cả nẹp tre để bó thi thể khi hi sinh.Trước khi đi, địa phương đã làm lễ tế sống họ Nhiều hải đội đã anh dũng ra đikhông trở về mà chứng tích hiện vẫn còn lưu lại nhiều ở các địa phương venbiển đặc biệt là ở Lý Sơn

Tờ lệnh này đã bổ sung vào kho tư liệu lịch sử, pháp lý khẳng định chủquyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và kết nốilogic với hệ thống tư liệu quý cùng nhiều di tích liên quan đến hải đội Hoàng Sa,quần thể mộ lính Hoàng Sa, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa chứng tỏ từ nhiềuthế kỷ trước tổ tiên người Việt Nam đã giong thuyền ra Biển Đông để cắm biakhẳng định chủ quyền và bảo vệ biển đảo của Tổ quốc

c Chủ quyền biển đảo Việt Nam khắc trên Cửu đỉnh Huế

Theo sách “Đất nước Việt Nam qua Cửu đỉnh Huế.Đặc biệt, trong 9 đỉnh và

153 hình ảnh có 3 đỉnh vua Minh Mạng cho khắc hình tượng về biển để thể hiện bao quát về biển đảo Đại Việt Ông đã cho khắc 3 vùng biển của Tổ quốc ta lên 3 đỉnh: Biển Đông ở Cao đỉnh; biển Nam ở Nhân Đỉnh và biển Tây ở Chương đỉnh, là 3 cái đỉnh to cao nhất và quan trọng nhất.

Trang 9

Hình ảnh biển đảo Việt Nam trên cửu đỉnh Huế

Đông Hải (Biển Đông) là tên gọi từ ngàn năm nay để chỉ vùng biển nằmphía Đông, thuộc chủ quyền của Việt Nam

Trong biển Đông có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Ở vùng biển này

từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 11 hằng năm, thường có gió bão mạnh, nhất làkhu vực quần đảo Trường Sa, nên còn gọi là quần đảo Bão Tố

Hình ảnh Nam Hải (vùng biển Nam) khắc ở Nhân đỉnh, tượng trưng cholòng Nhân ái (thụy của vua Minh Mạng là Thánh tổ Nhân Hoàng đế) Trên một

số đảo này có nhiều loại cây mọc tự nhiên cho dược liệu quý Ngoài ra,ta đượccác bạn nước ngoài như Tây Ban Nha cung cấp một số tư liệu về chủ quyền ta ở

“Bãi cát vàng” và quần đảo Trường Sa, Tây Ban Nha là những người truyền đạovào Việt Nam rất sớm đồng thời cũng cung cấp cho chúng ta những chứng cứlịch sử xác định cho chúng ta ở Trường Sa và Hoàng Sa

c Lí lẽ nguỵ biện của Trung Quốc

Bằng chứng của chúng ta đưa ra từ thế kỷ XVI còn Trung Quốc khẳngđịnh chủ quyền của họ vào thời điểm nhà Mãn Thanh ( 1906 – 1908 ) rõ ràng vềmặt lịch sử theo luật quốc tế thì 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủquyền hoàn toàn của Việt Nam Và điều đó là điều không cần phải tranh cãi

Trang 10

Hiện nay Trung Quốc họ vẫn tuyên bố là vì họ đang chiếm giữ một phầnHoàng Sa và Trường Sa và đảo chìm của Trường Sa VIệt Nam Họ đang chiếmgiữ nên họ mới giám tuyên bố là chủ quyền của họ.

Vậy họ lấy một phần của 2 quần đảo đó khi nào và vì sao họ lấy tại sao talại để mất Nhiều câu hỏi đặt ra trong nhân dân trong quần chúng Và nhiều dưluận thổi phồng lên nói một số vị lãnh đạo của chúng ta đã bán đi cả 2 quần đảonày Nhưng xem xét thực chất đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu sự việc thì khôngcó một nhà lãnh đạo Việt Nam nào có quyền bán lãnh thổ Việt Nam

Vậy Trung Quốc chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vàogiai đoạn nào và vì sao Trung Quốc lại lợi dụng được mà ta không can thiệpđược

- Năm 1954 – 1956 giai đoạn chúng ta đang có chỉ thị chuẩn bị chiến dịchĐiện Biên Phủ buộc Pháp phải ký hiệp định Giơnevơ, Trung Quốc bất ngờ dùnghải quân chiếm 1 phần quần đảo Hoàng Sa lúc này đang do người Pháp quản lý

Do ở Hoàng Sa dân là người Việt nhưng chính quyền là người Pháp TrungQuốc không lấy trong tay của cộng sản của người Việt mà họ lấy trong tay quânđội Pháp

Đầu năm 1974 bộ chính phủ ta ra nghị quyết giải phóng Miền Nam trong

2 năm 1975 – 1976 Khi bộ chính trị ta vừa có nghị quyết giải phóng miền namthì năm 1974 hải quân Trung Quốc đánh phần còn lại trong quần đảo Hoàng Sa

từ tay chính quyền ngụy quyền Sài Gòn ( chế độ Việt nam dân chủ cộng hòa )chứ không phải từ tay nhân dân Việt Nam

=> Đường đứt khúc 9 đoạn dưới góc độ luật pháp quốc tế

Với công hàm ngày 7/5/2009 có kèm bản đồ đường chữ U, có vẻ nhưTrung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thừa nhận “tính chất lịch sử củađường lưỡi bò, coi biển Đông như một vịnh lịch sử” Đường này sẽ được ngộnhận là đường biên giới quốc gia trên biển của Trung Quốc

Họ cũng rất khéo kết hợp con đường này với các khái niệm đặc quyềnkinh tế và thềm lục địa của luật biển quốc tế hiện đại bằng tuyên bố dưới dạng

Trang 11

Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với các vùng nước phụ cận củaquần đảo Nam Sa (Trường Sa theo tên Việt Nam) Như vậy toàn bộ biển Đông

sẽ trở thành “ao hồ” của Trung Quốc

Dễ đưa ra, khó chứng minh!

Theo luật pháp quốc tế, một vịnh hay một vùng nước được coi là lịch sử,căn cứ vào tập quán và các phán quyết của Tòa án và Trọng tài quốc tế phải thỏamãn ít nhất hai điều kiện:

1 Tại đó quốc gia ven biển thực hiện một cách thực sự chủ quyền củamình một cách liên tục, hòa bình và lâu dài;

2 Có sự chấp nhận công khai hoặc sự im lặng không phản đối của cácquốc gia khác, nhất là các quốc gia láng giềng và có quyền lợi tại vùng biển này

Về điều kiện thứ nhất, Trung Quốc phải chứng minh được các chínhquyền của họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ biển Đông này một cách thực

sự, liên tục và hòa bình trong thời gian dài Điều này thật khó bởi vì:

Trang 12

- Các văn kiện chính thức của nhà nước phong kiến Trung Quốc, như ĐạiNguyên nhất thống chí (1294), Đại Minh Nhất thống chí (1461), Đại ThanhNhất thống chí (1842) trước năm 1909 đều khẳng định “cực Nam của lãnh thổTrung Quốc là Nhai huyện, đảo Hải Nam”.

- Trung Quốc đã không đưa ra được các bằng chứng nào có sức thuyếtphục về việc họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ vùng biển rộng lớn này mộtcách liên tục, hòa bình từ thời xa xưa Các sách Hán văn cổ đều ghi nhận cáchoạt động của dân đánh cá và dân buôn Ả Rập, Ấn Độ, Malay, Việt, và vùngVịnh trong vùng biển này, không có một bằng chứng nào cho thấy biển Đônghoàn toàn là “ao hồ Trung Quốc”

Về điều kiện thứ hai, Trung Quốc chưa bao giờ công bố chính thức yêusách biển Đông theo đường ranh giới gồm 9 đoạn không liền nhau này Theoluật pháp quốc tế, các hành vi mà quốc gia thể hiện phải mang tính công khai ýchí thực thi chủ quyền trên lãnh thổ đó Các hành vi này phải chính danh nhưnhững hành vi bình thường của một quốc gia Những hành vi bí mật không thểtạo nên cơ sở cho quyền lịch sử; ít nhất các quốc gia khác phải có cơ hội để biếtđược cái gì đang diễn ra

Hơn nữa, việc các nước tham gia hội nghị San Francisco năm 1951 đã bác

bỏ đề nghị của Liên Xô trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa và thực tế tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền đốivới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đòi hỏi của Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a đối với hầu như toàn bộ hoặc một bộ phận của quần đảo Trường Sa chothấy không thể nói đường ranh giới 9 đoạn trên biển Đông mà Trung Quốc vạch

ra đã được các nước khác công nhận Trong các hội nghị quốc tế như Hội nghịkiềm chế các xung đột tiềm tàng trong Nam Trung Hoa tổ chức hàng năm theosáng kiến của In-đô-nê-xi-a, các đại biểu Trung Quốc luôn lảng tránh khi bị chấtvấn về cơ sở pháp lý và lịch sử của con đường này

- Trong lập luận của mình, các học giả Trung Quốc đã viện dẫn một sốtrường hợp yêu sách vùng nước lịch sử trong thực tiễn quốc tế như yêu sách của

Trang 13

Liên Xô cũ ngày 20/7/1957 tại vịnh Pierre Đại đế,[12] yêu sách của Lybi ngày11/10/1973 tại vịnh Sidra.[13] Theo họ, các ví dụ này chứng tỏ rằng trong thựctiễn quốc tế, luật về các vịnh lịch sử đã có được một quy chế pháp lý riêng biệt

và như vậy yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc là hợp pháp

Lập luận này dựa trên cơ sở 15 trường hợp yêu sách quá đáng vùng nướclịch sử mà luật pháp quốc tế luôn phê phán Các trường hợp ít ỏi này không tạo

ra được một opinion juris (ý thức pháp luật) và một thực tiễn pháp lý không đổinên chúng không bao giờ được luật quốc tế chấp nhận như một quy tắc tập quán.Vùng nước nằm trong đường 9 đoạn chiếm 80% diện tích biển Đông mà TrungQuốc cho là “vùng nước lịch sử” là không có cơ sở pháp lý Luật quốc tế không

hề biết đến một vùng nước lịch sử lớn đến như vậy

Yêu sách “đường lưỡi bò” đi ngược lại với học thuyết các vùng nước lịch

sử Cộng đồng quốc tế chưa bao giờ ghi nhận một yêu sách như vậy và sẽ khôngchấp nhận một khoảng không gian rộng lớn như biển Đông - biển lớn nhất, nhìthế giới - nằm dưới quyền tài phán của duy nhất một nước

3 Trung Quốc gây hấn với Việt Nam ở quần đảo Hoàng sa và Trường

Sa trong thời gian gần đây

Trung Quốc tranh chấp với Việt Nam là rất mạnh mẽ Nó được biểu hiệnbàng các hành động gây hấn vơi nước ta quanh quần đảo Trường Sa và Hoàng

Sa Xét về khía cạnh luật pháp quốc tế, hành động này là sự vi phạm hết sứcngang ngược, trắng trợn Công ước về luật biển 1982 mà Trung Quốc và ViệtNam đều là thành viên Vùng biển này hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền venbiển của Việt Nam, không liên quan gì tới vùng chồng lấn hay tranh chấp.Trong suốt những năm qua, các tàu ngư chính của Trung Quốc đã liên tục bắtgiữ, đánh đập và đòi tiền chuộc đối với ngư dân Việt Nam tại vùng biển Hoàng

Sa, Trường Sa Nhưng với sự kiện ngày 26/5, Trung Quốc đã leo thang từ bắtgiữ tàu thuyền ngư nghiệp của Việt Nam tại các vùng nước xa bờ đến tấn côngtàu khảo sát địa chấn trong chính vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam

Trang 14

Vào ngày 26/5, Trung Quốc đã ngang nhiên tấn công tàu Bình Minh 02của Việt Nam ngay tại vùng biển của Việt Nam (12 độ 48’25” vĩ bắc, 111 độ26’48” kinh đông), trong vòng 200 hải lý kể từ đường cơ sở, tức hoàn toànkhông dính dáng gì đến các tranh chấp ngoài xa hơn là Hoàng Sa và Trường Sa.

Vị trí tàu Bình Minh 02 bị cắt cáp địa chấn Ảnh: Bộ Ngoại giao.

Sự kiện này diễn ra ngay sau chuyến thăm các nước Singapore, Indonesia

và Philippines (từ 15/5) của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương QuangLiệt Trước đó, ngay trước chuyến thăm Mỹ của Tham mưu trưởng Trung QuốcTrần Bỉnh Đức (16/5), Trung Quốc cũng đã đơn phương ban bố lệnh cấm đánhbắt cá trong biển Đông có hiệu lực từ ngày 16/5 đến ngày 1/8/2011, trên vùngbiển mà Việt Nam có chủ quyền…

Mục đích của chúng:Thái độ ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tế,

bất chấp những gì mà chính phủ Trung Quốc đã cùng ký kết và cam kết tại các

Trang 15

hội nghị từ trước đến nay, bất chấp văn minh ứng xử của cộng đồng các quốc giavăn hiến, cho thấy một số tín hiệu phát đi của giới làm chính sách Trung Quốc.

Thứ nhất, giới quân đội có tinh thần dân tộc cực đoan Trung Quốc đang cố

chứng tỏ với ASEAN và cộng đồng thế giới rằng Trung Quốc sẽ sẵn sàng phủnhận các văn bản mà chính mình đã ký kết và kiên trì cách tiến xuống vùng biểnĐông bằng chính sách vừa lấn vừa đàm Những sự kiện nêu trên cho thấy cácvăn bản ký kết với các nước ASEAN có ít giá trị ràng buộc

Thứ hai, Trung Quốc đang tiến đến cô lập và uy hiếp Việt Nam hơn nữa

sau chuyến thăm Mỹ và ASEAN của giới quân sự nước này, bất chấp những động thái ôn hòa hơn của giới ngoại giao; đồng thời phát một tín hiệu đến Việt Nam và các nước ASEAN khác rằng họ đang tìm cách vừa làm thân với Mỹ và các cường quốc có lợi ích quốc gia về hàng hải tại khu vực, vừa cách ly Việt Nam với các quốc gia ASEAN

Thứ tư, Trung Quốc đang chuyển hướng lưu ý của dư luận ra bên ngoài nhằm

hạ nhiệt dư luận đối với các khó khăn xã hội trong nước Các cuộc đình công của giới xe tải tại Thượng Hải vào cuối tháng 4/2010 và các cuộc đánh bom tại Giang Tây trong tuần vừa qua đã nói lên phần nào lý do thái độ gây hấn của Trung Quốc vừa qua

Thứ năm, tại Trung Quốc, các nhà nghiên cứu về biển của Trung Quốc

được sự tài trợ của chính phủ đã liên tiếp cho ra nhiều sách và xuất bản phẩmđưa thông tin sai lệch về chủ quyền lịch sử của Trung Quốc trên các quần đảoHoàng Sa và Trường Sa Và lần này họ cũng đang tạo một tiền đề cho các họcgiả Trung Quốc “bảo vệ” hành động của các tàu hải giám, để dành cho nhữngngụy biện về sau

Thứ sáu, Trung Quốc dùng sự kiện này để răn đe các nước khác có tranh

chấp với Trung Quốc như Nhật, nước hiện có kế hoạch triển khai quân ra đảoSenkaku (Trung Quốc gọi là đảo Điếu Ngư)

Trang 16

Với cách làm đó có thể thấy Trung Quốc đang tính toán những bước tiếptheo để biến tham vọng chiếm 80% diện tích biển Đông thành vùng biển của họ,theo đúng cái mà họ đưa ra bằng "bản đồ đường lưỡi bò" Trung Quốc tham giaCông ước và luôn nói rằng tôn trọng Công ước, đàm phán trên cơ sở Công ước.Tuyên bố như vậy nhưng trong thực tế họ lại làm ngược lại Họ lý luận rằng, họcăn cứ Công ước, vận dụng văn bản này với xuất phát điểm là Hoàng Sa,Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa, Nam Sa) thuộc quyền của họ Vì thế họ cóquyền mở rộng vùng biển quanh các quần đảo này Rõ ràng về mặt luật biển thìđây là sự vận dụng sai lầm, đầy tham vọng chủ quan.

III.Phương hướng giải quyết

1 Đường lối của Đảng giải quyết vấn đề biển đảo

Theo Tuyên bố Jakarta, các đại biểu dự hội thảoHội thảo quốc tế

"Triển vọng hợp tác, những vấn đề hội tụ và động lực ở Biển Đông" diễn ra tại

Indonesia kết thúc chiều 31/5 đã ra Tuyên bố Jakarta, cho rằng duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông là cần thiết cho toàn bộ khu vực, vì lợi ích chung của các nước ven biển và các nước liên quan.

Các đại biểu nhất trí Biển Đông là vấn đề đa phương, từ việc duy trì hòa bình, ổn định cho đến đảm bảo tự do đi lại trên biển và triển khai Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đã được ASEAN

và Trung Quốc ký tháng 10/2002

Tuyên bố khẳng định việc Trung Quốc đòi chủ quyền lãnh hải với

"Đường 9 điểm" trên bản đồ (đường lưỡi bò) chiếm tới 80% diện tích Biển Đông là không phù hợp và đã bị cộng đồng quốc tế chỉ trích

Theo đó các bên liên quan cần duy trì cam kết giải quyết tranh chấp lãnh thổ và pháp lý ở Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, trên cơ

sở tuân thủ các nguyên tắc, luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 và 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường các nỗ lực xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an toàn biển,

Trang 17

nghiên cứu khoa học, chống tội phạm và hướng tới ký kết Bộ Quy tắc về ứng xử ở biển Đông (COC)

Tuyên bố cho rằng việc hướng tới ký COC là nỗ lực chung của cả ASEAN và Trung Quốc, thể hiện bước tiến tích cực hướng tới hòa bình và

ổn định trong khu vực Không chỉ các nước trong khu vực mà cả các cường quốc bên ngoài khu vực như Mỹ, Australia, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng có vai trò hữu ích trong việc duy trì tình trạng hiện nay, cần tiếp tục ủng hộ DOC

Một là, Nước ta kiên quyết đấu tranh giành lại chủ quyền của các đảo và

quần đảo Cụ thể của các hành động đó la: Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển,đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng không chỉ đối với lịch sử dân tộc, màcòn là nhân tố quan trọng bảo đảm cho dân tộc và đất nước ta phát triển bềnvững Đó là ý chí quyết tâm sắt đá không gì lay chuyển nổi của dân tộc ViệtNam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Quan điểm tư tưởng cơ bản về bảo vệ chủquyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới được thể hiện trong các Nghịquyết của Đảng, tập trung chủ yếu ở Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc

và Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 Trước hết, cần phát huy sức mạnh

tổng hợp, giữ vững độc lập chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toànvẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời Tổ quốc Phát huy sức mạnh tổng hợp là quanđiểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta, nhằm động viên, quy tụ, phát huy cao độsức mạnh của các nhân tố chính trị, tinh thần, tư tưởng, văn hóa, quốc phòng, anninh, kinh tế, đối ngoại; sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân và cả hệ thốngchính trị, tạo ra sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc để bảo vệ vững chắc độc lập,chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ

XI của Đảng chỉ rõ: “Mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vữngchắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vện lãnh thổ; giữ vững chủ quyềnbiển, đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độXHCN…” Để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, cần kết hợp

Trang 18

lực, thế trận quốc phòng gắn với lực lượng, thế trận an ninh nhân dân trên cácvùng biển, đảo; xây dựng biên chế tổ chức lực lượng phù hợp, bảo đảm chấtlượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nâng cao tiềm lực, củng cố thế trận quốcphòng toàn dân gắn với lực lượng và thế trận an ninh trên các vùng biển, đảo;chăm lo xây dựng thế trận lòng dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thựchiện “quân với dân một ý chí”; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnhphát triển kinh tế biển, cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhândân, hạn chế tiêu cực, tạo sự đồng thuận xã hội Tận dụng mọi tiềm năng, thếmạnh của biển, đảo, động viên, thu hút mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, tăngcường quốc phòng, an ninh trên biển; cả nguồn lực trong nước và nguồn lựcngoài nước, vừa hợp tác vừa đấu tranh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định

để phát triển kinh tế biển và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Tính chấtnhất quán của quốc phòng Việt Nam là: Tự vệ, chính nghĩa, quốc phòng hòabình, dựa vào sức mạnh của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, LLVT làmnòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khuvực hiện nay đòi hỏi phải tập trung xây dựng các lực lượng: Hải quân, Phòngkhông-Không quân, Pháo binh, Cảnh sát biển, Biên phòng, Dân quân tự vệbiển có số lượng hợp lý, chất lượng cao; trong đó, các binh chủng kỹ thuậtchiến đấu được trang bị ngày càng hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý,bảo vệ biển, đảo, là chỗ dựa vững chắc cho các hoạt động phát triển kinh tế biểntrong thời bình, đồng thời đáp ứng nhiệm vụ tác chiến trên biển trong chiếntranh bảo vệ Tổ quốc

Hai là, kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp chính trị, ngoại giao,

pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo Nguyệnvọng và cũng là lợi ích cao nhất của dân tộc Việt Nam là giữ vững môi trườnghòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển… Trước tình hình tranh chấp chủquyền biển, đảo trên Biển Đông diễn ra phức tạp, đặt ra yêu cầu cao phải tăngcường tổ chức lực lượng và phát huy sức mạnh của toàn dân, đấu tranh toàndiện, bằng các hình thức, biện pháp linh hoạt, thông qua chủ trương, kế hoạch

Ngày đăng: 23/08/2021, 14:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w