1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bai tap môn luật dân sự

36 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 379 KB
File đính kèm Bai tap môn luật dân sự.rar (142 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi: Các điều kiện về hình thức để một bản di chúc hợp pháp? Sưu tầm một bản di chúc và chỉ ra hình thức hợp pháp của bản di chúc đó. Trả lời 1. Lý luận chung về di chúc 1.1. Khái niệm Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo quy định này thì di chúc phải có các yếu tố cơ bản sau: Đó là sự thể hiện ý kiến của cá nhân mà không phải là của bất cứ chủ thể nào khác; Mục đích của lập di chúc là chuyển tài sản là di sản của mình cho người khác; Chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết. Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, do đó di chúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng. Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sanrcuar mình bằng di chúc cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP HỌC KỲ

MÔN: LUẬT DÂN SỰ HP1

Câu hỏi: Các điều kiện về hình thức để một bản di chúc hợp pháp? Sưu tầm một bản di chúc và chỉ ra hình thức hợp pháp của bản di chúc đó.

Họ và tên: Nguyễn Đức Chiến Lớp: Luật K1VB2 Bắc Giang

Mã SV: VB2BG1003

Bắc Giang, tháng 12 năm 2019

Trang 2

Câu hỏi: Các điều kiện về hình thức để một bản di chúc hợp pháp? Sưu tầm một bản di chúc và chỉ ra hình thức hợp pháp của bản di chúc đó.

- Chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết.

Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, do đó di chúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sanrcuar mình bằng di chúc cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc.

Thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong bản di chúc Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định thừa kế (

cá nhân, tổ chức) và phân định tài sản, quyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa

Người lập di chúc là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi có các quyền sau đây:

-Chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế Người lập di chúc có quyền để lại di sản cho bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào, người được nhận di sản có thể là cá nhân trong hay ngoài diện thừa kế theo

Trang 3

quy định của pháp luật hoặc cũng có thể là nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội…

Quyền định đoạt của người lập di chúccòn được thể hiện thông qua việc

họ có thể truất quyền hưởng di sản của người thừa kế (như: cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột…) mà không nhất thiết phải nêu lý do, người lập di chúc

có thể chỉ định hay nhiều người thừa kế theo luật không được hưởng di sản thừa

kế của mình.

-Phân định phần di sản cho từng người thừa kế

Phân định di sản cho người thừa kế trong trường hợp có nhiều người cùng được thừa kế Người lập di chúc có quyền phân chia di sản cho mỗi người không nhất thiết phải ngang nhau và không cần nêu lý do Nếu không phân định di sản trong di chúc thì di sản được chia đều cho những người chỉ định trong di chúc.

-Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

-Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản

Người lập di chúc có quyền giao nghia vụ cụ thể cho người thừa kế (như giao cho người thừa kế được hưởng một căn nhà nhưng để lại cho một bạn thân

bị tàn tật mà trước đây vẫn sống nương nhờ vào người để lại được ở một phần căn nhà đó cho đến khi người này chết hoặc giao cho người thừa kế phải trả một món nợ Nhà nước mà người để lại di sản chưa trả…)

Người lập di chúc có thể giao nghĩa vụ cho một người mà không cho họ hưởng di sản Trường hợp này không bắt buộc người được giao nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó Nếu giao nghĩa vụ và cho hưởng di sản thì người được giao nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản được hưởng đó.

-Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia tài sản.

Bộ luật dân sự quy định người lập di chúc có quyền chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản Việc chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản là hoàn toàn theo ý tự nguyện của người lập di chúc Người lập di chúc có thể cử một người vừa giữ di chúc đồng thời vừa quản lý di sản và phân chia di sản Nhưng người lập di chúc vẫn

có thể cử nhiều người, mỗi người làm một việc riêng

1.3 Các điều kiện có hiệu lực của di chúc

Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của người lập di chúc, do đó để di chúc có hiệu lực pháp luật thì phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và phải tuân thủ các điều kiện được coi

là di chúc hợp pháp:

3

Trang 4

-Người lập di chúc phải có năng lực chủ thể (Điều 625 BLDS 2015) ; Người lập di chúc là người có tài sản muốn dịch chuyển tài sản của mình cho người khác hưởng sau khi chết Họ thể hiện ý chí của bản thân thông qua việc lập di chúc Như vậy, người lập di chúc phải có năng lực chủ thể (năng lực hành vi dân sự) Năng lực hành vi dân sự của cá nhân chính là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Năng lực pháp luật của cá nhân phát sinh từ khi cá nhân được sinh ra nhưng năng lực hành vi dân sự của cá nhân phát sinh đầy đủ khi người đó đạt đến độ tuổi nhất định (đủ 18 tuổi); Năng lực pháp luật của cá nhân chấm dứt khi người đó chết thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân chấm dứt khi người đó bị mất năng lực hành vi dân sự.

Vì vậy, một người được coi là có năng lực hành vi dân sự (có đủ điều kiện

để viết di chúc), khi người đó bằng khả năng của mình thực hiện hành vi, mà bằng hành vi đó, người đó đã xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự Trong quan hệ pháp luật thừa kế, người lập di chúc bằng hành vi định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình thông qua việc lập di chúc đã xác lập quyền hưởng di sản cho người được thừa kế theo di chúc Cũng đồng thời xác lập nghĩa vụ cho người quản lý

di sản Bằng hành vi lập di chúc, người lập di chúc đã thực hiện quyền định đoạt đối với những tài sản của mình cho người thừa kế được chỉ định trong di chúc Quyền của người lập di chúc thể hiện ở chỗ: Người lập di chúc có quyền định đoạt cho ai, cho bao nhiêu, chỉ cho sử dụng tài sản hay cho sở hữu tài sản…

Đối với những người đã thành niên nhưng bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì không

có quyền lập di chúc Nếu họ lập di chúc, thì di chúc đó không được công nhận.

Điều 625 BLDS 2015 quy định người được quyền lập di chúc đó là:

Thứ nhất, là người thành niên minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa rối, đe dọa, cưỡng ép lập di chúc thì có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

Thứ hai, là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

Tuy nhiên, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể lập di chúc nhưng với điều kiện phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc (khoản 2 Điều 630 BLDS) Sự đồng ý

ở đây là đồng ý cho họ lập di chúc còn về nội dung di chúc thì họ được toàn quyền quyết địn

- Người lập di chúc tự nguyện;

Trang 5

Nguyên tắc tự nguyện trong việc tham gia các giao dịch dân sự là một nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại Bộ luật dân sự năm 2015 Trong giao lưu dân sự, các bên đều phải hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào.

Lập di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc Vì vậy, cũng như các giao dịch dân sự khác, việc lập di chúc cũng phải thể hiện ý chí tự nguyện của người lập di chúc Vì vậy, muốn xác định một di chúc có phải là ý chí tự nguyện của người lập di chúc hay không, cần phải dựa vào sự thống nhất giữa ý chí của người lập di chúc và sự thể hiện ý chí đó trong nội dung của di chúc Chỉ khi nào di chúc phản ánh một cách trung thực, khách quan những mong muốn của người lập di chúc thì sự định đoạt đó mới được coi là tự nguyện Trong trường hợp người lập di chúc bị đe dọa thì di chúc đó bị vô hiệu, không phát sinh hiệu lực pháp luật Mọi hành vi lừa dối, đe dọa, cưỡng ép… người lập di chúc đều bị coi là trái pháp luật.

-Nội dung di chúc không trái với pháp luật, đạo đức xã hội;

Theo quy định tại Điều 631 BLDS 2015, di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau đây: Một là ngày, tháng, năm lập di chúc; Hai là họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; Ba là họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Bốn là Di sản để lại và nơi có di sản.

Ngoài các nội dung trên thì di chúc còn có thể có các nội dung khác như: chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ; xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Xác định ai là người phụ trách quản lý di sản …

Có thể nói, nội dung của di chúc là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc

về việc định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế Người lập di chúc chỉ định người thừa kế, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, phân định di sản thừa

kế, đưa ra các điều kiện để chia di sản thừa kế… Ý chí của người lập di chúc phải phù hợp với các quy định của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội, tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 BLDS 2015.

-Hình thức của di chúc không trái quy định của pháp luật.

Trang 6

2.1 Di chúc miệng:

Di chúc miệng hay còn gọi là chúc ngôn là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại di sản thừa kế lúc còn sống trong việc định đoạt khối di sản của mình cho người khác sau khi mình chết.

Di chúc miệng chỉ được công nhận là hợp pháp khi người lập di chúc ở trong tình trạng tính mạng bị đe dọa nghiêm trọng mà không thể lập di chúc viết được ( bị bệnh nguy kịch sắp chết, bị tai nạn có nguy cơ chết ) Người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng (Khoản 5 Điều 630 Bộ luật dân sự) Sau 3 tháng kể từ ngày lập di chúc miệng nếu người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng hủy bỏ (khoản 2 Điều 629 Bộ luật dân sự).

2.2 Di chúc bằng văn bản:

Là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết (viết tay, đánh máy, in)

có chứng nhận hoặc không có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Theo quy định của pháp luật, tất cả các di chúc được thể hiện bằng hình thức văn bản phải đáp ứng các yêu cầu chung về nội dung, đồng thời mỗi hình thức cụ thể của di chúc viết phải tuân theo một trình tự tương ứng Để bản di chúc thể hiện dưới hình thức bằng văn bản có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích cho các chủ thể, người lập di chúc cần phải đáp ứng các yêu cầu về nội dung đối với mọi di chúc viết như sau:

- Di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc

Đây là một nội dung hết sức quan trọng và có ý nghĩa thiết thực trong việc xác định tính hiệu lực của di chúc, vì thông qua ngày, tháng, năm lập di chúc sẽ xác định được tại thời điểm đó người lập di chúc có năng lực hành vi dân sự, minh mẫn, sáng suốt hay không… Mặt khác, trong trường hợp người quá cố để lại nhiều bản di chúc thì sẽ căn cứ vào ngày tháng năm trong di chúc để chúng ta xác định đâu là biểu hiện ý chí sau cùng của người chết và là di chúc có hiệu lực pháp luật Vì theo quy định của Bộ luật dân sự thì “khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật” do vậy tất cả những bản di chúc lập trước đều bị hủy bỏ Bản di chúc sau cùng thể hiện ý chí sau cùng mới có hiệu lực pháp luật.

- Di chúc phải ghi rõ họ tên, nơi cư trú của người lập di chúc Theo quy định của pháp luật thì địa điểm mở thừa kế, thẩm quyền giải quyết của

Trang 7

Tòa án khi có tranh chấp đều được xác định thông qua nơi cư trú của người lập

di chúc do đó di chúc phải xác định rõ nơi cư trú của người lập di chúc là một yêu cầu quan trọng Hơn nữa do di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của một bên chủ thể trong một giao dịch dân sự nên cần phải ghi rõ họ tên đầy đủ của người thể hiện ý chí đó.

- Di chúc phải ghi rõ họ, tên người, tên cơ quan, tổ chức được hưởng di sản

Khác với những người hưởng thừa kế theo pháp luật là những người nằm trong diện, hàng thừa kế có quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật trong khi những người được hưởng thừa kế theo di chúc lại không bị giới hạn phạm vi như trên Những người được hưởng thừa kế theo di chúc cũng có thể là tổ chức, cá nhân bất kì, bằng ý chí của mình lập di chúc có thể định đoạt cho bất kì ai hưởng di sản của mình

- Di chúc phải ghi rõ di sản và nơi có di sản: Di sản thừa kế chỉ là những

di sản thuộc sở hữu của người chết, và chỉ với những tài sản thuộc sở hữu của mình thì người lập di chúc mới định đoạt người thừa kế Do vậy nếu di sản được ghi rõ ràng trong di chúc sẽ giúp chúng ta xác định được người lập di chúc họ có những tài sản nào và được phân định ra sao.

- Di chúc phải ghi rõ việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ:

Theo nguyên tắc chung, tất cả những người hưởng di sản thừa kế đều phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại trên cơ sở tương ứng với

kỉ phần tài sản mà họ được hưởng Ngoài ra việc giao nghĩa vụ cho những người thừa kế là một trong những quyền định đoạt của người lập di chúc Vì vậy trong

di chúc, người lập di chúc có thể giao nghĩa vụ riêng cho từng người được hưởng thừa kế để họ thực hiện, người lập di chúc phải ghi rõ cơ quan cá nhân tổ chức nào thực hiện nghĩa vụ mà người chết để lại Tuy nhiên nếu trong di chúc

mà không có sự định đoạt nghĩa vụ riêng cho từng người thì tất cả những người hưởng thừa kế sẽ cùng nhau thực hiện nghĩa vụ mà người lập di chúc để lại.

- Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng kí hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ kí hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Do di chúc là sự thể hiện ý chí của người chết, vì vậy để di chúc được rõ ràng cụ thể, tránh sự tranh cãi giữa những người thừa kế về sau này thì người lập

di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng kí hiệu để biểu đạt ý chí của mình.

Ngoài ra pháp luật còn quy định để đảm bảo tính khách quan và chính xác cho bản di chúc và ý chí của người lập trong trường hợp bản di chúc có nhiều

7

Trang 8

trang thì pháp luật yêu cầu người lập di chúc phải đánh số trang theo thứ tự và phải kí hoặc điểm chỉ vào từng trang của di chúc nhằm tránh tình trạng người khác thêm, bớt, giả mạo hoặc thay thế từng trang của di chúc làm sai lệch ý chí của người lập di chúc.

Di chúc bằng văn bản gồm các loại sau:

+ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng Loại di chúc này được quy định tại Điều 33 Bộ luật dân sự 2015: Người lập di chúc phải tự viết

và ký vào bản di chúc Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật này Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Ngày, tháng, năm lập di chúc;

- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

- Di sản để lại và nơi có di sản.

Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người

tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa

+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: “Trong trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật này.

+ Di chúc có công chứng hoặc chứng thực: Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc (Điều 635)

+ Thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã (Điều 636)

Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã phải tuân theo thủ tục sau đây:

Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã Công chứng

Trang 9

viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc.

Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản

di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

Người không được công chứng, chứng thực di chúc (Điều 637)

Công chứng viên, người có thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã không được công chứng, chứng thực đối với di chúc nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực (Điều 638).

Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực.

Xuất phát từ lí do do người lập di chúc là quân nhân đang làm nhiệm vụ, đóng quân ở xa nơi công chứng, chứng thực hoặc do nhiệm vụ đặc biệt Mặt khác quyền lập di chúc là quyền luôn được pháp luật ưu tiên và đảm bảo thực hiện vì vậy với những lí do chính đáng mà cá nhân không thể lập di chúc theo thủ tục chứng thực thì di chúc của họ chỉ cần có xác nhận là vẫn có hiệu lực pháp luật.

Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó.

Quy định này mang tính chất dự phòng do đặc thù của 2 loại phương tiện trên khiến cho những hành khách trên phương tiện không có khả năng tiền hành công chứng và chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền được khi mà hai phương tiện này chưa cập cảng hoặc hạ cánh Do vậy trong trường hợp cá nhân đang đi lại hoặc làm việc trên 2 phương tiện này nếu có nhu cầu làm di chúc thì chỉ cần

9

Trang 10

cơ trưởng hoặc thuyền trưởng có thẩm quyền xác nhận di chúc trong lúc máy bay chưa hạ cánh hoặc tàu biển chưa cập bến là bản di chúc đó cũng được thừa nhận và có hiệu lực pháp luật.

Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó.

Khi đã nằm viện hoặc ở trong cơ sở chữa bệnh thì họ có thể bị ốm đau bệnh tật, vì vậy khi có nhu cầu lập di chúc thì dù cơ sở chữa bệnh hoặc bệnh viện có gần cơ sở công chứng, chứng thực nhưng họ cũng không thể đến để yêu cầu công chứng chứng thực di chúc được do vậy nếu di chúc trong hoàn cảnh trên thì chỉ cần có xác nhận của người phụ trách bệnh viện hoặc cơ sở chữa bệnh tại nơi họ đang điều trị.

Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị.

Do yêu cầu công việc mà nhiều người đang phải làm việc ở những nơi mà điều kiện cho việc công chứng, chứng thực gặp nhiều khó khăn Công việc tại vùng rừng núi hải đảo không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi, thuyền xuyên phải đối mặt với nguy hiểm Vì thế, pháp luật đã quy định trong điều kiện trên nếu cá nhân muốn lập di chúc thì chỉ cần có xác nhận của Tổ trưởng tổ công tác hoặc Trưởng nhóm nghiên cứu là được.

Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó.

Do yêu cầu công việc mà nhiều người đang phải làm việc ở những nơi mà điều kiện cho việc công chứng, chứng thực gặp nhiều khó khăn Công việc tại vùng rừng núi hải đảo không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi, thuyền xuyên phải đối mặt với nguy hiểm Vì thế, pháp luật đã quy định trong điều kiện trên nếu cá nhân muốn lập di chúc thì chỉ cần có xác nhận của Tổ trưởng tổ công tác hoặc Trưởng nhóm nghiên cứu là được.

Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt

tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó

Do tính chất của hoạt động tố tụng nên những người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh không thể tự do đi lại được Vì thế nếu những người này

muốn lập di chúc thì chỉ cần trong di chúc có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó là có giá trị pháp lý.

Trang 11

3 Sưu tầm một bản di chúc và chỉ ra hình thức hợp pháp của bản di chúc đó

Anh Hưng và chị Hoàn là 2 vợ chồng có tài sản chung là 980 triệu, có 3 con chung là Trung (20 tuổi, đi làm và có thu nhập), Ngân (14 tuổi), Oanh (9 tuổi) trong một lần về quê thì 2 vợ chồng anh Hưng bị tai nạn làm anh Hưng và chị Hoàn chết ngay sau đó Trước khi chết anh Hưng có di chúc bằng miệng trước sự chứng kiến của nhiều người là để lại toàn bộ tài sản cho 4 người là: Trung, Ngân, Oanh và ông Hải - là bác của Hưng) Một trong số những người chứng kiến đã ghi chép lại và mời thêm 2 người khác cùng chứng kiến ký tên với các nội dung sau:

- Ngày, tháng, năm lập di chúc.

- Họ, tên anh Hưng, địa chỉ

- Họ, tên người được hưởng di sản: ồng 5 người

- Di sản để lại và nơi có di sản.

- Người ghi chép và người làm chứng ký tên.

Đến khi ông Hải là bác của anh Hưng đến nơi hiện trường nhứng người chứng kiến đã trao bản ghi chép trên cho ông Hải và ông Hải đã đi chứng thực trong ngày thứ 4 liền kề sau đó.

Di chúc của anh Hưng lập là di chúc miệng theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự: “Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể

di chúc miệng” Điều 652 BLDS quy định tính hợp pháp của di chúc miệng như sau: Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Theo quy định của pháp luật, di chúc miệng - di nguyện bằng lời nói của người có tài sản trước khi chết để lại có giá trị pháp lý khi đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, người để lại di nguyện phải trong trường hợp tính mạng bị đe dọa bởi cái chết do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác không để lại di chúc bằng văn bản;

Thứ hai, người có tài sản phải thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt

ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ;

11

Trang 12

Thứ ba, trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện

ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực;

Thứ tư, sau ba tháng kể từ thời điểm di chúc miệng người di chúc không còn sống, không minh mẫn, sáng suốt.

Như vậy, đối với trường hợp của hình thức của bản di chúc trên là hợp pháp, bởi khi người lập di chúc ở trong tình trạng tính mạng bị đe dọa nghiêm trọng mà không thể lập di chúc viết được: bị bị tai nạn có nguy cơ chết

- Di chúc miệng của Anh Hưng thể hiện ý chí cuối cùng có sự chứng kiến của nhiều người đã thỏa mãn điều kiện:

+ Không phải là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

+ Không phải là người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung

di chúc;

+ Không phải là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân

sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

- Ngay sau khi anh Hưng thể hiện ý chí cuối cùng đã được ghi chép lại những người ghi chép và người làm chứng cùng kí tên Đồng thời khi ghi chép lại di nguyện cuối cùng của anh Hưng cũng đảm bảo các nội dung chủ yếu sau:

- Ngày, tháng, năm lập di chúc;

- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

- Di sản để lại và nơi có di sản.

- Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng gia đình anh Hưng đã chứng thực xác nhận chữ ký của người làm chứng.

Trang 14

Tình huống 1:

Người cha mất để lại di chúc ủy quyền nhờ cơ quan pháp chứng phânchia tài sản.người con và mẹ tưởng sẽ nhận được tài sản thì xuất hiện mộtđứa con riêng của người chồng và di chúc cũng phân chia tài sản chongười con Hỏi: nếu ông để lại di chúc cho người con riêng mà 2 người kiatrước đó không biết này mà không để lại cho 2 mẹ con thì 2 mẹ con cóquyền được hưởng không,hình như có Điều luật nào đó quy định là người

mẹ có quyền nhận không phụ thuộc vào di chúc (người con không đượcnhận này đã trên 18 tuổi)

Hỏi thêm: người con riêng này có ngang hàng với 2 mẹ con khi chia disản không?

a) Con chưa thành niên , cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2 Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận

di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Vì vậy nếu người cha mất thì người vợ vẫn được hưởng theo quy định củangười kia, còn người con đã thành niên và không thuộc khoản 2 Điều 644thì không được hưởng vì người cha trong di chúc không cho người conhưởng

Theo quy định tại Điều 651 BLDS 2015 thì người con riêng có quyền đứngngang hàng thừa kế đối với việc phân chia di sản của người cha để lai

Tình huống 2:

Ông Khải và Bà Ba kết hôn với nhau năm 1947 và có 3 con là anh Hải, anhDũng, chị Ngân Chị Ngân kết hôn với anh Hiếu và có con chung là Hạnh.Năm 2018, Ông Khải chết có để lại di chúc cho con gái và cháu ngoại đượchưởng toàn bộ di sản của ông trong khối tài sản chung của ông và bà Ba.Một năm sau bà Ba cũng chết và để lại toàn bộ di sản cho chồng, các conngười em ruột của chồng tên Lương Năm 2009, anh Dũng chết do bệnhnặng và có di chúc để lại tất cả cho anh ruột là Hải Sau khi Dũng chết thìnhững người trong gia đình tranh chấp về việc phân chia di sản

Hãy giải quyết việc tranh chấp, biết rằng bà Ba và ông Khải khôngcòn người thân thích nào khác, anh Hải có lập văn từ chối hưởng di sản của

bà Ba và anh dũng theo đúng qui định của pháp luật, chị Ngân cũng từchối hưởng di sản của anh Dũng, tài sản chung của ông Khải và bà Ba chođến thời điểm ông Khải chết là 1.2tỷ, sau khi ông Khải chết, bà Ba còn tạolập một căn nhà trị giá 300 triệu

Đáp án tham khảo:

Trang 15

Tình huống của bạn có vài chỗ không ổn, này nhé:

– Thứ nhất, anh Dũng di chúc toàn bộ tài sản lại cho anh Hải, vậy có

nghĩa là không có tên chị Ngân trong di chúc của anh Hải, vậy tại sao lại

có chj chị Ngân từ chối hưởng tài sản anh Dũng để lại?

– Thứ hai,”các con người em ruột của chồng tên Lương”, chỗ này bạn viếtnhư thế người đọc dễ hiểu nhầm, theo P hiểu thì đó là các con của bà Ba

và người em ruột của chồng tên là Lương.Rắc rối nhỉ Theo P, khi ông Khải chết đã di chúc lại toàn bộ tài sản củamình trong khối tài sản chung của 2 ông bà cho con gái và cháu ngoại,như vậy một số tài sản của ông Khải (tạm xác định là 1/2×1,2t tỷ) sẽ đượcchia đều cho con gái vá cháu ngoại, mỗi người 300 triệu

Vậy, sau khi thực hiện di chúc của ông Khải, số tiền còn lại thuộc tài sảncủa bà Ba là 600 + 300 = 900 triệu Bà Ba chết để lại tài sản cho các con

và người em ruột của chồng là Lương (tổng cộng 4 người), vậy số tiền 900triệu sẽ được chia đều tiếp cho 4 người, mỗi người 225 triệu

Anh Dũng thừa kế từ bà Ba 225 triệu, sau khi anh chết, di chúc toàn bộ tàisản này cho anh Hải, vậy anh Hải được hưởng thêm số tài sản này Do anhHải từ chối hưởng di sản của bà Ba và anh Dũng, nên còn dư ra 500 triệu

500 Triệu này theo P sẽ được chia tiếp theo pháp luật, theo hàng thừa kếthứ nhất gồm chị Ngân, vợ con anh Hải (nếu có)

Tình huống 3:

Ông A, bà B có con chung là C, D (đều đã thành niên và có khả năng laođộng) C có vợ là M có con X,Y D có chồng là N có một con là K Di sản của

A là 900 triệu Chia thừa kế trong các trường hợp riêng biệt sau:

1 C chết trước A A di chúc hợp pháp để lại toàn bộ di sản cho X

2 C chết trước A D chết sau A (chưa kịp nhận di sản)

3 A chết cùng thời điểm với C A di chúc để lại cho K ½ di sản

Đáp án tham khảo:

Di sản ông A để lại là 900 triệu

Trường hợp 1 C chết trước A A di chúc để lại toàn bộ di sản cho X.

A làm di chúc để lại toàn bộ di sản cho X Tuy nhiên, bà B (vợ ông A) làngười được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều

644 BLDS 2015) Theo đó, bà B phải được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kếtheo pháp luật (là 200 triệu) Theo đó, bà B sẽ được hưởng 200 triệu vàphần còn lại sẽ được thực hiện theo nội dung di chúc (X được hưởng thừa

kế của ông A là 700 triệu)

Trường hợp 2 C chết trước A, D chết sau A A chết không để lại di chúc.

A chết không để lại di chúc thì di sản của A sẽ được chia theo pháp luật.Khi đó, bà B, D, C là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của A (Điều

651 BLDS 2015) nên mỗi người sẽ được hưởng một phần di sản bằng nhau

15

Trang 16

để lại sẽ được chia theo pháp luật Khi đó, bà B (mẹ D), anh N (chồng D), K(con D) sẽ được chia theo pháp luật mỗi người một phần bằng nhau.

Trường hợp 3 A chết cùng thời điểm với C A di chúc để lại cho K ½ di

sản

Ông A chết cùng thời điểm với anh C nên ông A sẽ không được hưởng thừa

kế từ di sản của anh C để lại (theo Điều 619 BLDS 2015)

Ông A chết để lại di chúc cho K hưởng ½ di sản của ông Theo đó, K đượcthừa kế 450 triệu của ông A Phần di sản không được ông A định đoạttrong di chúc (450 triệu) được chia theo pháp luật (điều 650, 651 BLDS2015)

Theo đó, phần di sản này sẽ được chia cho bà B = C = D = 150 triệu Anh

C đã chết nên con anh C là X, Y sẽ được hưởng thừa kế thế vị phần củaanh C

Khi chia thừa kế trong trường hợp này, bà B là người được hưởng thừa kếkhông phụ thuộc vào nội dung di chúc (theo Điều 644 BLDS 2015) Phần disản không được ông A định đoạt trong di chúc khi chia theo pháp luậtkhông đảm bảo cho bảo cho bà B được hưởng 2/3 suất thừa kế theo phápluật nên phần thiếu (50 triệu) sẽ được lấy từ phần mà K được hưởng theonội dung di chúc

Tình huống 4:

Năm 1950, Ô A kết hôn với bà B Ô bà sinh được 2 người con gái là chị X(1953) & chị Y (1954) Sau một thời gian chung sống, giữa Ô A & bà B phátsinh mâu thuẫn, năm 1959 Ô A chung sống như vợ chồng với bà C A & Csinh được anh T (1960) & chị Q (1963) Tháng 8/1979, X kết hôn với K, anhchị sinh được 2 con là M & N (1979-sinh đôi) Năm 1990, trên đường vềquê chị X bị tai nạn chết Năm 1993, Ô A mắc bệnh hiểm nghèo & đã quađời Trước khi chết, Ô A có để lại bản di chúc với nội dung cho anh T thừahưởng toàn bộ tài sản do ông A để lại không đồng ý với bản di chúc đó,chị Y đã yêu cầu tòa án chia lại di sản của bố mình Qua điều tra tòa ánxác định khối tài sản của Ô A và bà B là 500 triệu đồng Hãy xác định hàngthừa kế đối với những người được hưởng di sản thừa kế của chị X & Ô A?

Đáp án tham khảo:

Theo dữ kiện bài ta thấy năm 1959 ông A chung sống như vợ, chống với bà

C thì việc này pháp luật vẫn thừa nhận ông A và bà C là vợ chồng hợppháp

Năm 1990, chị X chết nhưng đề bài không nói tài sản của chị X là baonhiêu nên ta xem bằng 0

Năm 1993 ông A mất và có lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho anh T.Tài sản của ông A và bà B có được là 500 triệu

Tài sản của ông A và bà C đề bài không nêu nên ta xem như bằng 0

Di sản của ông A là 500/2 = 250 triệu

250 triệu chính là giá trị tài sản mà ông A có quyền định đoạt

Trang 17

Tài sản của anh T được hưởng là 250 Tuy nhiên theo quy định pháp luậtthì những người sau đây được hưởng thừa kế gồm bà B và bà C mỗi ngườiđược hưởng 2/3 giá trị của một suất chia theo pháp luật.

Người được hưởng thừa kế chia theo pháp luật gồm bà B, bà C, anh T, Q, X,Y: 250/6 = 41,6 triệu

Như vậy

 Bà B = bà C = 2/3 (250/6) = 27,7 triệu

 Tài sản của anh T còn lại là 250 – (27,7×2) = 194,6 triệu

Các trường hợp còn lại không được hưởng vì X đã mất, Y, Q đã thành niên

và không bị mất năng lực hành vi

Tình huống 5:

Ô A kết hôn với bà B sinh được 5 người con Anh con cả đã chết để lại 2con: 1 trai & 1 gái đã thành niên Gia tài của Ô bà gồm 2 ngôi nhà: 1 ngôinhà trị giá 100 triệu đồng, 1 cái trị giá 200 triệu đồng Trước khi chết Ô Alập di chúc cho bà B một ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng Biết đứa con trai

út của Ô bà đã sinh được 1 cháu trai đã thành niên Sau đó anh con trai útnày đã bị tai nạn & bị tâm thần Anh (chị) hãy chia tài sản của ông A?

Đáp án tham khảo:

Theo đề bài ta thì tài sản chung của ông A và bà B là 300 triệu

Di sản của ông A là 300/2 = 150 triệu

Ông A để lại cho bà B 100 triệu

Như vậy giá trị tài sản còn lại sẽ được chia theo pháp luật là 150 – 100 =

50 triệu

Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật gồm bà B và 05 ngườicon; do anh con cả mất nên theo Điều 652 BLDS 2015 thì 02 con của anh

cả sẽ được hưởng thừa kế kế vị

Mỗi người được hưởng là 50/6 = 8,33

Mỗi người con của anh cả là 8,33/2 = 4,165

Tình huống 6:

Ông thịnh đã ly hôn với vợ và có 2 người con riêng là Hòa và Bình

Bà Nguyệt (chồng chết) có 2 người con riên là Xuân và Hạ

Năm 1993 ông thịnh kết hôn với bà Nguyệt và sinh được 2 người con làTuyết và Lê

Để tránh sự bất hòa giữa mẹ kế và con chồng, ông Thịnh cùng bà Nguyệtmua một căn nhà để bà Nguyệt cùng các con là Xuân, Hạ, Tuyết, Lê ởriêng Trong quá trình chung sống, ông Thịnh thương yêu Xuân và Hạ nhưcon ruột, nuôi dưỡng và cho 2 người ăn học đến lớn

Hòa kết hôn với Thuận có con là Thảo

Xuân kết hôn với Thu có con là Đông

Hòa bị tai nạn chết vào năm 2016 Ông thịnh bệnh chết vào năm 2017.Xuân cũng chết vào năm 2018

17

Trang 18

Sau khi ông thịnh qua đời gia đình mâu thuẫn và xảy ra tranh chấp về việcchia di sản của ông thịnh

Qua điều tra được biết: Ông thịnh có tài sản riêng là 220 triệu đồng và cótài sản chung với bà nguyệt (căn nhà bà nguyệt và các con đang sống) trịgiá 140tr đồng.Hòa và Thuận có tài sản chung là 120tr đồng Xuân và thu

– Ông Thịnh không để lại di chúc

– Tổng tài sản ông Thịnh là 220 + 140:2 + 15(của Hòa) = 305 triệu

– Vậy những người thừa kế của ông Thịnh gồm 7 người : Nguyệt = Xuân =

Hạ = Tuyết = Lê = Hòa (Thảo kế vị) = Bình = 305:7 = 43.57 triệu

– Tổng tài sản Xuân có 43.57 + 100:2= 93.57tr sẽ để lại cho Nguyệt = Thu

Năm 2007 Bà Miên mất, trước khi chết bà miên có để lại di chúc là chotrâm là e gái 1 nửa số tài sản của mình

Khối tài sản chung của Du và Miên là 790 triệu

Ngày đăng: 22/08/2021, 21:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w