giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc trong giai đoạn đổi mới và hội nhập ở nước ta hiện nay. Nghiên cứu đề tài làm rõ, nắm chắc được những giá trị lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập trong bối cảnh hội nhập kinh tế, đúc kết những giá trị từ đó vận dụng những lý luận ấy trong thực tiễn, đưa ra giải pháp hợp lý để phù hợp với hoàn cảnh hiện nay.
Trang 1LẬP DÂN TỘC TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI, HỘI NHẬP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
BÀI LÀM
Trang 21.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 1
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LÂP DÂN TỘC 2
1.1.Cách tiếp cận 2
1.2 Nội dung của độc lập dân tộc 2
1.2.1.Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của các dân tộc .2
1.2.2.Độc lập tự do thực sự phải gắn với ấm no, hạnh phúc của nhân dân 3
1.2.3.Độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để 3
1.2.4 Độc lập phải gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ 3
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐỘC LẬP DÂN TỘC TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY 4
2.1 Tầm quan trọng của vấn đề trong đổi mới hiện nay 4
2.2.Thực trạng 4
2.2.1 Thành tựu 4
2.2.2 Hạn chế 5
2.2.3 Nguyên nhân 6
2.2.4 Giải pháp 7
KẾT LUẬN 8
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác – Leenin vào điều kiện cụ thể của nước ta,
kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi Độc lập dân tộc
là một trong những tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc Bất kì dân tộc nào cũng quan tâm đến vấn đề độc lập Và vì thế, độc lập dân tộc là nội dung quan trong nhất, chủ yếu nhất trong vấn đề dân tộc; là vấn đề cao cả của tất cả các dân tộc; là điều kiện tiên quyết để xây dựng và phát triển đất nước Đối với Việt Nam, độc lập dân tộc là một khát vọng mãnh liệt cháy bỏng trong mỗi người dân Tư tưởng về độc lập dân tộc đã đưa dân tộc ta đến độc lập, tự do, đất nước thống nhất và ngày nay-trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, đó
là nguồn sức mạnh trong sự nghiệp xây dựng một xã hội Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
Xuất phát từ các lý do trên, em lựa chọn đề tài “Giá trị lý luận và thực tiễn
của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc trong giai đoạn đổi mới, hội nhập
ở nước ta hiện nay” làm bài tiểu luận và đi sâu hơn về nghiên cứu nội dung này.
2.Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài làm rõ, nắm chắc được những giá trị lý luận của tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập trong bối cảnh hội nhập kinh tế, đúc kết những giá trị từ đó vận dụng những lý luận ấy trong thực tiễn, đưa ra giải pháp hợp lý
để phù hợp với hoàn cảnh hiện nay
Trang 4
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LÂP DÂN TỘC 1.1.Cách tiếp cận
Vấn đề dân tộc không phải là chủ đề mới mà đã được nhiều người nói đến,
đề cập nhưng với Hồ Chí Minh, Người có cách tiếp cận hoàn toàn mới lạ độc đáo Đó là cách tiếp cận từ quyền con người Nói đến Hồ Chí Minh, không ai là không biết Người thương yêu nhân dân và hết sức trân trọng quyền con người vì
vậy mà Người tiếp cận quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ
và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1791 của Pháp
Trong bản Tuyên ngôn độc lập 1945, Hồ Chí Minh đã mở đầu bằng trích dẫn hai câu trong Tuyên ngôn bất hủ của Mỹ và Pháp “Tất cả mọi người sinh ra đều
có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được…” “Người ta sinh ra tự do, bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được
tự do và bình đẳng về quyền lợi” [1,tr.1]
Khái quát từ quyền con người, Người đã nâng cao và biến nó thành quyền dân tộc “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng
có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”[1,tr.1]
Như vậy, Hồ Chí Minh đã dùng tuyên ngôn của tư sản để khẳng định quyền độc lập cho dân tộc thuộc địa, nếu con người sinh ra bình đẳng thì vấn đề dân tộc cũng cần bình đẳng và không có một dân tộc nào có quyền đi xâm lược một dân tộc nào
1.2 Nội dung của độc lập dân tộc
1.2.1.Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của các dân tộc
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam từ ngàn đời nay,
nhân dân ta luôn có một khát khao to lớn, luôn mong muốn có được nền độc lập dân tộc Đó là giá trị tinh thần thiêng liêng, bất hủ của cả dân tộc Bởi vậy mà Hồ Chí Minh đã từng nói rằng, tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi, đó tất cả những gì tôi muốn, đó là tất cả những gì tôi hiểu Chứng kiến tội ác dã man của chủ nghĩa thực dân, Người nhận thấy: một dân tộc không có quyền bình đẳng là do dân tộc đó mất độc lập tự do Vì vậy, đối với mỗi người dân mất nước, cái quan trọng nhất là quyền độc lập, tự do, bình đẳng
Vào năm 1919, nhân dịp các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất họp Hội nghị Vec-xay (Pháp), Người đã gửi bản Yêu sách 8 điểm để đòi
quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam Vào đầu năm 1930, trong Chánh
Trang 5cương vắn tắt của Đảng, Người xác định mục tiêu “ Đánh đổ đến quốc chủ nghĩa
Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập” [2,tr.1] Tháng 5/1941, Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị lần thứ VIII, viết thư Kính cáo đồng bào, chỉ ra: trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy Năm 1945, bối cảnh nhân dân lầm than, Người đã nêu lên quyết tâm phải đấu tranh, giành bằng được độc lập dân tộc, Người nói “ Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quyết giành cho được độc lập”
[3,tr.196] Trong Tuyên ngôn độc lập 1945, Người thay mặt Chính phủ lâm thời,
trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới rằng: nước Việt Nam
có quyền hưởng tự do độc lập, nhân dân Việt Nam quyết giữ vững quyền tự do
và độc lập ấy Và trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 1946, Người thể hiện
quyết tâm sắt đá, bảo vệ cho bằng được nền độc lập dân tộc Sau này, Người đã đưa ra một chân lý bất hủ có giá trị mọi thời đại “ không có gì quý hơn độc lập tự do” [4,tr.31]
1.2.2.Độc lập tự do thực sự phải gắn với ấm no, hạnh phúc của nhân dân
Độc lập gắn với tự do là lẽ đương nhiên, Hồ Chí Minh chỉ rõ nội dung các dân tộc được hưởng độc lập tự là điều hiển nhiên “như muôn vật được hưởng ánh mặt trời”, Người còn khẳng định “ Nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập ấy cũng chẳng có ý nghĩa lý gì” [5,tr.64] Độc lập còn phải gắn với hạnh phúc của mỗi người dân “Dân chỉ biết rõ giá trị của độc lập tự do khi dân được ăn no mặc đủ” [5,tr.175]
Bởi vậy, tháng 9/1945, Hồ Chí Minh họp phiên họp đầu tiên khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa ra 6 nhiệm vụ cấp bách: giải quyết nạn đói; nạn dốt; lập nên hiến pháp dân chủ; mở chiến dịch giáo dục; xóa bỏ ba loại thế: thuế dân, thuế chợ, thuế đỏ; được quyền tự do tín ngưỡng
1.2.3.Độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để
Hồ Chí Minh khẳng định độc lập dân tộc phải là độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để trên tất cả các linh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao… trong đó độc lập về chính trị là quan trọng nhất Nền độc lập thật sự, độc lập hoàn toàn phải là nền độc lập được thể hiện ở quyền tự quyết của dân tộc Độc lập sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu người dân không có quyền tự quyết về ngoại giao, không có quân đội riêng, không độc lập tài chính
Trang 61.2.4 Độc lập phải gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
Rơi vào hoàn cảnh đất nước bị chia cắt 1946, trong Thư gửi đồng bào Nam
Bộ, Người khẳng định “Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể
cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” Sau Hiệp định Giơnevo ký kết, Người tiếp tục kiên trì đấu tranh với một quyết tâm “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai có thể chia cắt được”[7,tr.264]
Cuối cuộc đời, trong Di chúc, Người vẫn đặt niềm tin tuyệt đối vào sự thắng lợi
của Đảng, thống nhất nước nhà Trên tư tưởng của Hồ Chí Minh, cuối cùng giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà 1975 và từ đó độc lập dân tộc gắn liền với toàn vẹn lãnh thổ
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐỘC LẬP DÂN TỘC TRONG
THỜI ĐẠI HIỆN NAY 2.1 Tầm quan trọng của vấn đề trong đổi mới hiện nay
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc là kết quả của sự vận dụng
sáng tạo, phát triển của chủ nghĩa Mac-Lenin; cơ sở để Đảng đề ra các chủ trương, chính sách đúng đắn phù hợp với tình hình cách mạng, bảo vệ nền độc lập dân tộc Tư tưởng ấy đã chứng minh là đúng đắn trong thực tiễn của cách mạng và nó còn nguyên giá trị đối với việc xây dựng và bảo vệ nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay Trong giai đoạn đổi mới, hội nhập của nước ta hiện nay, Đảng ta đã khẳng định phải giữ vững độc lập dân tộc, kiên quyết đề phòng, chống nguy cơ chệch lạc, đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” Tuy nhiên trong công cuộc đổi mới, bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội đang bị tác động mạnh mẽ của nhiều yếu tố khách quan, chủ quan:các thế lực thù địch bằng âm mưu diễn biến hòa bình, suy thoái về phẩm chất đạo đức của cán bộ… Vì vậy hơn lúc nào hết chúng ta cần phải vận dụng, phát triển, kế thừa quan điểm Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc
2.2.Thực trạng
2.2.1 Thành tựu
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời; là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Đảng và Nhà nước đã lãnh đạo, dẫn dắt nhân dân ta đoàn kết, đồng lòng, phát huy tinh thần
Trang 7yêu nước, bảo vệ độc lập dân tộc trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…
Về kinh tế: ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, nhưng GDP vẫn tăng trưởng quý I/2021 ước tính tăng 4,48% so với cùng kỳ năm trước Về cơ cấu nền kinh tế quý I/2021, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,71%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 36,45%; khu vực dịch vụ chiếm 42,20%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,64% Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I/2021 ước tính đạt 507,6 nghìn tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước
Về chính trị: dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta kiên định đi theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ vững môi trường hòa bình; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; một Đảng duy nhất Quán triệt sâu sắc nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc
Về xã hội: Cơ chế, chính sách tài chính cho giáo dục và đào tạo từng bước đổi mới.Thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách đối với người có công; tiếp tục cải thiện chính sách tiền lương; mở rộng bảo hiểm xã hội; …chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng cao: trước ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, chính phủ đã đưa ra gói an sinh xã hội 62 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ cho hơn 20 triệu người; tổ chức các hoạt động hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia phòng chống thiên tai… giúp nhân dân vượt qua khó khăn
Về văn hóa: Đảng khẳng định “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa
là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước” Các lĩnh vực, loại hình, sản phẩm văn hoá phát triển ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu mới, nhiều mặt của đời sống; bên cạnh gìn giữ truyền thống văn hóa tốt đẹp,
ta còn học tập, tiếp thu văn hóa ở trường quốc tế “hòa nhập nhưng không hòa tan”
Về an ninh quốc phòng: củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng an ninh với kinh tế trong điều kiện mới, đảm bảo giữ vững nền độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp luật pháp quốc tế Chính sách huy động phù hợp, hiệu quả trong điều kiện nước ta thực hiện nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng
Trang 82.2.2 Hạn chế
Về kinh tế: Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn chậm, chưa tạo được chuyển biến về mô hình tăng trưởng; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao Do ảnh hưởng bởi dịch, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn tăng 28,2%; doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tăng 26,4%
Về chính trị: một số thế lực thù địch vẫn chưa bỏ ý định với nước ta, tranh chấp lãnh thổ diễn ra ở một số nơi, gây bất ổn về chính trị
Về xã hội: Đời sống nhân dân vùng sâu vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, tình trạng gia tăng tội phạm, tệ nạn, tiêu cực, mâu thuẫn xã hội Giảm nghèo chưa bền vững, chưa có giải pháp để xử lý hữu hiệu vấn đề phân hoá giàu nghèo, gia tăng bất bình đẳng về thu nhập, kiểm soát và xử lý các mâu thuẫn, xung đột xã hội Chính sách tiền lương, thu nhập, phúc lợi xã hội hạn chế Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về đạo đức, xuất hiện tham nhũng, quan liêu, mất niềm tin vào Đảng: Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, có 56.572 đảng viên bị xử lý kỷ luật, ông Nguyễn Bắc Sơn (cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông) vi phạm quản lý đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng và tội nhận hối lộ, ông Trần Lục Lang, cựu Phó Tổng Giám đốc BIDV vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng…
Về văn hóa: Thiếu tác phẩm văn hoá, văn học, nghệ thuật lớn phản ánh tầm vóc công cuộc đổi mới Công tác lãnh đạo, quản lý văn hoá còn nhiều lúng túng, chậm trễ Đầu tư văn hoá chưa đúng mức, dàn trải, hiệu quả chưa cao Chưa có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi sự xuống cấp về một số mặt văn hoá, đạo đức, lối sống Chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ văn hoá chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển văn hoá trong thời kỳ mới Việc quảng bá văn hoá Việt Nam ra nước ngoài chưa mạnh; tiếp nhận tinh hoa văn hoá còn hạn chế
Về an ninh quốc phòng: việc quán triệt, tổ chức, triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc có lúc, có nơi chưa nghiêm, hiệu quả chưa cao Tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; an ninh trên một số địa bàn, lĩnh vực chưa thật vững chắc, nhất là an ninh mạng, an ninh trong đầu tư nước ngoài Công tác quản lý, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng còn hạn chế
Trang 9Về tài nguyên thiên nhiên: Chất lượng môi trường một số nơi tiếp tục xuống cấp; thích ứng với biến đổi khí hậu còn bị động, lúng túng Các hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học tiếp tục suy giảm Ngành công nghiệp và dịch vụ môi trường, tái chế chất thải, xử lý rác chậm phát triển, còn lạc hậu
2.2.3 Nguyên nhân
Dẫn đến thành tựu: là do sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng; sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và vai trò quản lý chặt chẽ của nhà nước, do sự đồng lòng, đoàn kết của quần chúng nhân dân
Dẫn đến hạn chế: Thứ nhất, nhận thức về một số đường lối của Đảng còn chưa
sâu sắc, thiếu thống nhất, do vậy một số công việc triển khai thiếu kiên quyết,
còn lúng túng Thứ hai, chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn yếu, chậm được khắc phục; năng lực thể chế hoá chủ trương còn hạn chế Thứ ba, yếu kém trong lãnh
đạo, quản lý, điều hành của các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên chậm được khắc phục; trách nhiệm người đứng đầu chưa được đề cao; thụ động, ỷ lại vào cấp trên, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, kỷ cương không nghiêm; chưa tạo được nhiều chính sách, giải pháp có tính đột phá, đồng bộ để tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, huy động nguồn lực cho phát triển
Thứ tư, công tác cán bộ còn có mặt hạn chế, tình trạng suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, "lợi ích nhóm", bệnh lãng phí,
bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ Thứ năm, những biến động chính trị phức
tạp, âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch; do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa…
2.2.4 Giải pháp
Quán triệt, tiếp tục vận dụng nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc trong giữ gìn độc lập và xây dựng đất nước Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng; thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên
Trang 10Luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đề cao trách nhiệm người đứng đầu gắn liền với phát huy sức mạnh đồng bộ của hệ thống chính trị, giữ vững kỷ cương
Bảo đảm hài hoà giữa kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, văn hoá, xã hội; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, con người, giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường;…
Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là phải thường xuyên nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp tục học hỏi các tinh hoa văn hóa thế giới; thiết lập ngoại giao với các nước và thiết lập quan hệ kinh
tế Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, bảo vệ môi trường
Là một sinh viên Học viện Tài chính, chúng ta phải luôn luôn không ngừng học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu, cập nhật kiến thức liên tục, tích cực tham gia các hoạt động để trau đồi kiến thức,… Không những thế, chúng ta phải nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, kiến thức chuyên ngành, kỹ năng, để tự tin và có năng lực làm việc với các đồng nghiệp nước ngoài, quốc gia khác trong quá trình hội nhập
KẾT LUẬN
Hồ Chí Minh luôn có khao khát to lớn đó là mong muốn có được một nền độc lập dân tộc cho nhân dân ta Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng, trên hết dù phải hy sinh đến đâu cũng phải giành và giữ cho được độc lập dân tộc Độc lập dân tộc gắn liền với ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân; phải độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để Và cuối cùng, độc lập gắn liền với thống nhất Tổ quốc, toàn vẹn lãnh thổ Như vậy, tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc