1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Bài Tiểu luận: Công nghệ ATM

19 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 361,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ_ĐHQGHN KHOA ĐIỆN TỬVIỄN THÔNG Bộ môn Hệ thống viễn thông_ngành Viễn Thông Môn học: Hệ thống viễn thông công nghệ mới Giáo viên hướng dẫn: GV. Đinh Thị Thái Mai Sinh viên: Nguyễn Ngọc Duyên Nguyễn Thị Huyền Nguyễn Thị Thu Hương Đỗ Huyền Thanh Lớp : K49ĐB Tổng quan về ATM 1. Giới thiệu 2. Cơ sở lý thuyết 2.1. Đặc điểm chính của ATM 3. Cấu trúc tế bào ATM 3.1. Tiêu chí chọn kích thước tế bào 3.2. Phân loại tế bào 4. Hoạt động của mạng ATM 4.1. Mô hình 4.2. Chức năng của các lớp cho mô hình BISDN 4.2.1. Lớp vật lý 4.2.2. Lớp ATM 4.2.3. Lớp tương ứng ATM 5. Cơ chế điều khiển ưu tiên trong mạng ATM 5.1. Phương pháp loại bỏ các tế bào có mức ưu tiên thấp 5.2. Bộ đệm dùng chung 5.3. Phân chia bộ đệm cho các mức ưu tiên 6. Tổng kết 6.1. Chất lượng và mô hình thực hiện ATM 6.2. Các dịch vụ ATM 1. Giới thiệu Khi môi trường của xã hội thông tin được hoàn thiện, thì mạng giao tiếp thông tin băng rộng cần thiết phải tỏ ra thích nghi với các tính năng như tốc độ cao, băng rộng, đa phương tiện. Và vì vậy phải tính đến việc thiết lập mạng thông tin tốc độ siêu cao ở tầm quốc gia. Mạng thông tin tốc độ siêu cao đã dựa vào sử dụng công nghệ ATM (phương thức truyền tải không đồng bộ) để tạo ra mạng lưới quốc gia rộng khắp với tính kinh tế và hiệu quả cho phép các nhà cung cấp dịch vụ có thể cung cấp nhiều loại hình dịch vụ thông tin khác nhau. Công nghệ ATM được hình thành từ công nghệ ATD (Asynchronous Time Division phân chia theo thời gian không đồng bộ) đã được đưa ra trên mạng viễn thông của Pháp năm 1983 và FPS (Fast Packet Switchinh chuyển mạch gói tốc độ cao) của Bell Lab của nước Mỹ. ATM là sự kết hợp của công nghệ truyền dẫn và công nghệ chuyển mạch qua mạng giao tiếp chuẩn, dựa vào công nghệ ATM để phân chia và ghép tiếng nói, số liệu, hình ảnh,... vào trong một khối có chiều dài cố định được gọi là tế bào. Đặc điểm chính của ATM là thông tin được cấu tạo từ các tế bào ở trong một khổ thích hợp của thời gian thực truyền tải thông tin và cách thức truyền tải có thể chứng minh rằng tất cả các dịch vụ băng rộng không ảnh hưởng tới tốc độ thông tin. 2. Cơ sở lý thuyết Đặc điểm chính của ATM Nguyên lý cơ bản của ATM là sự kết hợp các ưu điểm của chuyển mạch gói và ATDM (Asynchronous Time Division Mode phương pháp phân chia theo thời gian không đồng bộ) Trong công nghệ kỹ thuật chuyển mạch gói, khi gói tin kích thước lớn thì độ trễ sẽ lớn. Vì vậy,dẫn đến việc xử lý và truyền dẫn chậm đồng thời khó quản lý quá trình Khắc phục nhược điểm của chuyển mạch gói, ở ATM người ta tạo các gói tin gọi là tế bào ATM, nó được chuẩn hóa kích thước và định dạng sao cho phù hợp nhất, dễ quản lý nhất, hiệu quả nhất và tiêu đề đơn giản nhất. Cách tốt nhất để quản lý lượng tin lớn là chia thành các gói nhỏ. ATM không quan tâm đến nội dung thông tin và xuất sứ thông tin. Đơn giản, ATM chỉ cắt các bản tin cần phát thành các tế bào ATM có kích thước nhỏ và bằng nhau, dán tiêu đề (Header) cho các tế bào sao cho có thể định hướng đúng đích mong muốn. Tiêu đề của tế bào thường chứa rất ít chức năng. Nhờ vậy, có thể xử lý một cách nhanh nhất. ATM không phân biệt kiểu tin mang trong tế bào. Nó chỉ biết rằng các tế bào được chuyển tới đầu vào của Node chuyển mạch và định hướng đến đầu ra để hướng tới đích yêu cầu. Với mục đích: kinh tế ,tốc độ ,tính linh hoạt…nên việc lựa chọn kích thước tế bào hết sức quan trọng. Kích thước ATM được lựa chọn dựa vào các tiêu chí: • Hiệu quả truyền dẫn :gói tin càng lớn thì tiêu đề sẽ đảm bảo được các chức năng quản lý mong muốn. Vì vậy. hiệu quả truyền dẫn càng cao. • Độ trễ: gói tin càng lớn thì độ trễ càng lớn. • Tổn thất: xác định chất lượng dịch vụ của hệ thống (gói càng lớn thì xác xuất tổn thất càng lớn) • Sự toàn vẹn và độ phức tạp thực hiện: đảm bảo tính chính xác nhưng phải đơn giản trong việc quản lý Tóm lại: ATM là chế độ truyền tin không đồng bộ, bao gồm 2 đặc điểm chính: +, ATM sử dụng các gói có kích thước nhỏ và cố định gọi là các tế bào ATM (ATM Cell), các tế bào nhỏ cùng với tốc độ truyền lớn sẽ làm cho trễ truyền và biến động trễ (Delay Jitter) giảm đủ nhỏ đối với các dịch vụ thời gian thực. Ngoài ra kích thước nhỏ cũng sẽ tạo điều kiện cho việc hợp kênh ở tốc độ cao được dễ dàng hơn. +, ATM còn có khả năng nhóm một vài kênh ảo (Virtual Channel) thành một đường ảo (Virtual Path), nhằm giúp cho việc định tuyến được dễ dàng. Các tính năng ưu việt của ATM: o Linh hoạt : dễ dàng đáp ứng mọi dịch vụ o Sử dụng nguồn tài nguyên hiệu quả cao o Một mạng vạn năng đơn giản o Giảm giá thành truyền dẫn o Đảm bảo cấp kênh băng rộng và năng động, mềm dẻo. 3. Cấu trúc tế bào ATM 3.1. Tiêu chí chọn kích thước tế bào Kích thước của tế bào ATM là 53 byte. Nó được phân chia thành mào đầu 5 byte và đường bao trường tin 48 byte. Chức năng chủ yếu của mào đầu tế bào là nhận dạng các tế bào thuộc về cùng một kênh ảo (trong số các tế bào ATM) hiện diện trong một luồng thông tin ATDM. Có 2 dạng cấu trúc tế bào được định nghĩa và thực chất chúng chỉ khác nhau tiêu đề để dùng cho giao diện NNI và UNI: • • UNI UserNetwork Interface,giao diện Người dùng Mang • NNI Network Node Interface ,giao diện Mạng – Mạng • VCI (Vitual Chanell Identifier): nhận dạng kênh ảo • VPI (Vitual path Identifier) : nhận dạng đường ảo • GFC (Generic Flow Control): điều khiển luồng • PT (Playload Type ): kiểu trường tin • CLP (Cell Loss Priority): độ ưu tiên tổn thất tế bào • HEC (Header Errorr Control): điều khiển lỗi tiêu đề Phần GFC trong tế bào ATM: : dùng để chỉ giao diện của môi trường dịch vụ. Ngoài ra nó còn dùng làm giảm độ rung pha của các dịch vụ có tốc độ bít không đổi, việc chỉ định dung lượng đồng nhất đối với dịch vụ có độ bit thay đổi (VBR) và điều khiển mức độ quá tải của dòng VBR. Các chức năng như vậy đòi hỏi khả năng kiểm soát đối với cấu trúc UNI của cấu hình sao, loại hình vòng, loại đơn tuyến hoặc sự kết hợp các loại cấu hình này. Phần VPIVCI: ghi nhận sự nhận dạng luồng ảo và kênh ảo để phân chia các tế bào ATM trong cùng một đường truyền. Các phần VPIVCI cố định được chỉ định riêng biệt để chỉ các tế bào không được chỉ định. Các tế bào dành cho điều khiển và bảo dưỡng trong lớp vật lý, kênh báo hiệu meta và các kênh báo hiệu quảng bá. Đối với UNI gồm 24 bit : 8 bit VPI và 16 bit VCI Đối với NNI gồm 28 bit : 12 bit VPI và 16 bit VCI Nếu chuyển mạch chỉ dựa trên giá trị VPI thì được gọi là kết nối đường ảo,nếu chuyển mạch dựa trên cả 2 giá trị VPIVCI thì được gọi là kết nối kênh ảo. Tại cùng một giao diện,trên cùng một hướng có nhiều liên kết đường ảo. Mỗi 1 liên kết này có 1 VPI riêng và lại được ghép thành kết nối vật lý. Trên cùng 1 đường ảo có thể có nhiều kênh ảo,mỗi một liên kết có 1 VCI riêng. VCI (Virtual Chanell Identifier) : Gọi là kệnh ảo vì kênh chỉ tồn tại vật lý khi cần thiết,chỉ trong thời gian thực truyền tải các tế bào ATM. VCI được sử dụng để thiết lập kết nối các cuộc nối sử dụng bảng Node chuyển mạch ATM. VPI(Virtual Part Identifier) : được dùng để thiết lập nối 1 đường ảo cho một hoặc nhiều VCIs logical tương đương trong hướng và các đặc trưng dịch vụ. Trong quá trình thiết lập kết nối,khởi đầu khi tạo cuộc gọi nhờ chức năng báo hiệu mà giữa CPE với mạng thỏa thuận với nhau về các yêu cầu: tốc độ bit,độ trễ,chất lượng dịch vụ…để tạo ra các bảng biên dịch tiêu đề(Header Translation Tables) cho tất cả các Node chuyển mạch. Sau đó cập nhật các bảng biên dịch này cho các Node,tức là đã xử lý được các VPIsVCIs tại các Node đã thực hiện chức năng điều khiển định tuyến cho các tế bào ATM theo các kết nối kênh ảo cho mọi node chuyển mạch trong phạm vi mạng ATM. Phần PT : dùng để chỉ các thông tin khách hàng và sự quá tải của tế bào thông tin khách hàng. CLP dùng để chỉ khả năng cho phép hoặc không cho phép mất cuộc gọi trong trường hợp mạng quá tải. Phần HEC: là byte kiểm tra dư theo chu kỳ (CRC) đối với vùng tín hiệu ghép đầu của tế bào. Nó được dùng để phát hiện và sửa lỗi của tế bào cũng như xác định tín hiệu ghép đầu. 3.2. Phân loại kiểu tế bào ITUT khuyến nghị phân thành các loại tế bào sau • Tế bào rỗi (Idle Cell): sử dụng ở lớp vật lý để thích ứng tốc độ tế bào ATM với tốc độ truyền dẫn bằng cách sử dụng tiêu đề được định nghĩa trước. • Tế bào không hiệu lực(Valid Cell): Là các tế bào ATM có trường số liệu HEC bị sai lỗi và chúng sẽ bị thải bỏ ở lớp vật lý. • Tế bào có hiệu lực(Invalid Cell): Là các tế bào HEC hợp lệ • Tế bào được gán(Assigned Cell): là các tế bào mang thông tin có hiệu lực cho dịch vụ ở các lớp cao hơn và có tiêu đề đúng. Tuy nhiên, chúng cũng có thể bị thải hồi nếu mạng đang trong trạng thái quá tải hay tắc nghẽn. • Tế bào không được gán UA (Unassinegned Cell): Là các tế bào chứa thông tin không có hiệu lực hoặc chứa tiêu đề đã được định nghĩa trước.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ_ĐHQG-HN

KHOA ĐIỆN TỬ-VIỄN THÔNG

Bộ môn Hệ thống viễn thông_ngành Viễn Thông Môn học: Hệ thống viễn thông công nghệ mới

Giáo viên hướng dẫn:

GV Đinh Thị Thái Mai

Sinh viên:

Nguyễn Ngọc Duyên Nguyễn Thị Huyền Nguyễn Thị Thu Hương

Đỗ Huyền Thanh Lớp : K49ĐB

Trang 2

Tổng quan về ATM

1 Giới thiệu

2 Cơ sở lý thuyết

2.1.Đặc điểm chính của ATM

3 Cấu trúc tế bào ATM

3.1.Tiêu chí chọn kích thước tế bào

3.2.Phân loại tế bào

4 Hoạt động của mạng ATM

4.1.Mô hình

4.2.Chức năng của các lớp cho mô hình B-ISDN

4.2.1 Lớp vật lý 4.2.2 Lớp ATM 4.2.3 Lớp tương ứng ATM

5 Cơ chế điều khiển ưu tiên trong mạng ATM

5.1.Phương pháp loại bỏ các tế bào có mức ưu tiên thấp

5.2.Bộ đệm dùng chung

5.3.Phân chia bộ đệm cho các mức ưu tiên

6 Tổng kết

6.1.Chất lượng và mô hình thực hiện ATM

6.2.Các dịch vụ ATM

Trang 3

1.Giới thiệu

Khi môi trường của xã hội thông tin được hoàn thiện, thì mạng giao tiếp thông tin

băng rộng cần thiết phải tỏ ra thích nghi với các tính năng như tốc độ cao, băng rộng, đa

phương tiện Và vì vậy phải tính đến việc thiết lập mạng thông tin tốc độ siêu cao ở tầm

quốc gia

Mạng thông tin tốc độ siêu cao đã dựa vào sử dụng công nghệ ATM (phương thức truyền tải không đồng bộ) để tạo ra mạng lưới quốc gia rộng khắp với tính kinh tế và hiệu quả cho phép các nhà cung cấp dịch vụ có thể cung cấp nhiều loại hình dịch vụ thông tin

khác nhau

Công nghệ ATM được hình thành từ công nghệ ATD (Asynchronous Time

Division - phân chia theo thời gian không đồng bộ) đã được đưa ra trên mạng viễn thông của Pháp năm 1983 và FPS (Fast Packet Switchinh - chuyển mạch gói tốc độ cao) của Bell Lab của nước Mỹ

ATM là sự kết hợp của công nghệ truyền dẫn và công nghệ chuyển mạch qua

mạng giao tiếp chuẩn, dựa vào công nghệ ATM để phân chia và ghép tiếng nói, số liệu, hình ảnh, vào trong một khối có chiều dài cố định được gọi là tế bào Đặc điểm chính của ATM là thông tin được cấu tạo từ các tế bào ở trong một khổ thích hợp của thời gian thực truyền tải thông tin và cách thức truyền tải có thể chứng minh rằng tất cả các dịch vụ băng rộng không ảnh hưởng tới tốc độ thông tin

2.Cơ sở lý thuyết

Đặc điểm chính của ATM

Nguyên lý cơ bản của ATM là sự kết hợp các ưu điểm của chuyển mạch gói và ATDM (Asynchronous Time Division Mode- phương pháp phân chia theo thời gian không đồng bộ) Trong công nghệ kỹ thuật chuyển mạch gói, khi gói tin kích thước lớn thì độ trễ sẽ lớn Vì vậy,dẫn đến việc xử lý và truyền dẫn chậm đồng thời khó quản lý quá trình

Khắc phục nhược điểm của chuyển mạch gói, ở ATM người ta tạo các gói tin gọi là tế bào ATM, nó được chuẩn hóa kích thước và định dạng sao cho phù hợp nhất, dễ quản lý nhất, hiệu quả nhất và tiêu đề đơn giản nhất

Cách tốt nhất để quản lý lượng tin lớn là chia thành các gói nhỏ ATM không quan tâm đến nội dung thông tin và xuất sứ thông tin Đơn giản, ATM chỉ cắt các bản tin cần phát thành các tế

bào ATM có kích thước nhỏ và bằng nhau, dán tiêu đề (Header) cho các tế bào sao cho có thể

định hướng đúng đích mong muốn Tiêu đề của tế bào thường chứa rất ít chức năng Nhờ vậy,

có thể xử lý một cách nhanh nhất

ATM không phân biệt kiểu tin mang trong tế bào Nó chỉ biết rằng các tế bào được chuyển tới đầu vào của Node chuyển mạch và định hướng đến đầu ra để hướng tới đích yêu cầu

Với mục đích: kinh tế ,tốc độ ,tính linh hoạt…nên việc lựa chọn kích thước tế bào hết sức quan trọng Kích thước ATM được lựa chọn dựa vào các tiêu chí:

Trang 4

 Hiệu quả truyền dẫn :gói tin càng lớn thì tiêu đề sẽ đảm bảo được các chức năng quản

lý mong muốn Vì vậy hiệu quả truyền dẫn càng cao

 Độ trễ: gói tin càng lớn thì độ trễ càng lớn

 Tổn thất: xác định chất lượng dịch vụ của hệ thống (gói càng lớn thì xác xuất tổn thất càng lớn)

 Sự toàn vẹn và độ phức tạp thực hiện: đảm bảo tính chính xác nhưng phải đơn giản trong việc quản lý

Tóm lại:

- ATM là chế độ truyền tin không đồng bộ, bao gồm 2 đặc điểm chính:

+, ATM sử dụng các gói có kích thước nhỏ và cố định gọi là các tế bào ATM

(ATM Cell), các tế bào nhỏ cùng với tốc độ truyền lớn sẽ làm cho trễ truyền và biến động trễ (Delay Jitter) giảm đủ nhỏ đối với các dịch vụ thời gian thực Ngoài ra kích

thước nhỏ cũng sẽ tạo điều kiện cho việc hợp kênh ở tốc độ cao được dễ dàng hơn

+, ATM còn có khả năng nhóm một vài kênh ảo (Virtual Channel) thành một đường ảo (Virtual Path), nhằm giúp cho việc định tuyến được dễ dàng.

- Các tính năng ưu việt của ATM:

o Linh hoạt : dễ dàng đáp ứng mọi dịch vụ

o Sử dụng nguồn tài nguyên hiệu quả cao

o Một mạng vạn năng đơn giản

o Giảm giá thành truyền dẫn

o Đảm bảo cấp kênh băng rộng và năng động, mềm dẻo

3.Cấu trúc tế bào ATM

3.1 Tiêu chí chọn kích thước tế bào

Kích thước của tế bào ATM là 53 byte Nó được phân chia thành mào đầu 5 byte và đường bao trường tin 48 byte

Trang 5

Chức năng chủ yếu của mào đầu tế bào là nhận dạng các tế bào thuộc về cùng một kênh ảo (trong số các tế bào ATM) hiện diện trong một luồng thông tin ATDM

Có 2 dạng cấu trúc tế bào được định nghĩa và thực chất chúng chỉ khác nhau tiêu đề để dùng cho giao diện NNI và UNI:

 UNI - User-Network Interface,giao diện Người dùng - Mang

 NNI - Network Node Interface ,giao diện Mạng – Mạng

 VCI (Vitual Chanell Identifier): nhận dạng kênh ảo

 VPI (Vitual path Identifier) : nhận dạng đường ảo

 GFC (Generic Flow Control): điều khiển luồng

 PT (Playload Type ): kiểu trường tin

 CLP (Cell Loss Priority): độ ưu tiên tổn thất tế bào

 HEC (Header Errorr Control): điều khiển lỗi tiêu đề

Phần GFC trong tế bào ATM: : dùng để chỉ giao diện của môi trường dịch vụ Ngoài ra nó

còn dùng làm giảm độ rung pha của các dịch vụ có tốc độ bít không đổi, việc chỉ định dung lượng đồng nhất đối với dịch vụ có độ bit thay đổi (VBR) và điều khiển mức độ quá tải của dòng VBR Các chức năng như vậy đòi hỏi khả năng kiểm soát đối với cấu trúc UNI của cấu hình sao, loại hình vòng, loại đơn tuyến hoặc sự kết hợp các loại cấu hình này

Phần VPI/VCI: ghi nhận sự nhận dạng luồng ảo và kênh ảo để phân chia các tế bào ATM

trong cùng một đường truyền Các phần VPI/VCI cố định được chỉ định riêng biệt để chỉ các

tế bào không được chỉ định Các tế bào dành cho điều khiển và bảo dưỡng trong lớp vật lý, kênh báo hiệu meta và các kênh báo hiệu quảng bá

Trang 6

Đối với UNI gồm 24 bit : 8 bit VPI và 16 bit VCI Đối với NNI gồm 28 bit : 12 bit VPI và 16 bit VCI Nếu chuyển mạch chỉ dựa trên giá trị VPI thì được gọi là kết nối đường ảo,nếu chuyển mạch dựa trên cả 2 giá trị VPI/VCI thì được gọi là kết nối kênh ảo Tại cùng một giao diện,trên cùng một hướng có nhiều liên kết đường ảo Mỗi 1 liên kết này có 1 VPI riêng và lại được ghép thành kết nối vật lý Trên cùng 1 đường ảo có thể có nhiều kênh ảo,mỗi một liên kết có 1 VCI riêng

VCI (Virtual Chanell Identifier) :

Gọi là kệnh ảo vì kênh chỉ tồn tại vật lý khi cần thiết,chỉ trong thời gian thực truyền tải các tế bào ATM VCI được sử dụng để thiết lập kết nối các cuộc nối sử dụng bảng Node chuyển mạch ATM

VPI(Virtual Part Identifier) : được dùng để thiết lập nối 1 đường ảo cho một hoặc nhiều

VCIs logical tương đương trong hướng và các đặc trưng dịch vụ

Trong quá trình thiết lập kết nối,khởi đầu khi tạo cuộc gọi nhờ chức năng báo hiệu mà giữa CPE với mạng thỏa thuận với nhau về các yêu cầu: tốc độ bit,độ trễ,chất lượng dịch vụ…để tạo ra các bảng biên dịch tiêu đề(Header Translation Tables) cho tất cả các Node chuyển mạch Sau đó cập nhật các bảng biên dịch này cho các Node,tức là đã xử lý được các VPIs/VCIs tại các Node đã thực hiện chức năng điều khiển định tuyến cho các tế bào ATM theo các kết nối kênh ảo cho mọi node chuyển mạch trong phạm vi mạng ATM

Phần PT : dùng để chỉ các thông tin khách hàng và sự quá tải của tế bào thông tin khách

hàng CLP dùng để chỉ khả năng cho phép hoặc không cho phép mất cuộc gọi trong trường hợp mạng quá tải

Phần HEC: là byte kiểm tra dư theo chu kỳ (CRC) đối với vùng tín hiệu ghép đầu của tế

bào Nó được dùng để phát hiện và sửa lỗi của tế bào cũng như xác định tín hiệu ghép đầu

3.2 Phân loại kiểu tế bào

ITU-T khuyến nghị phân thành các loại tế bào sau

 Tế bào rỗi (Idle Cell): sử dụng ở lớp vật lý để thích ứng tốc độ tế bào ATM với tốc độ

truyền dẫn bằng cách sử dụng tiêu đề được định nghĩa trước

 Tế bào không hiệu lực(Valid Cell): Là các tế bào ATM có trường số liệu HEC bị sai

lỗi và chúng sẽ bị thải bỏ ở lớp vật lý

Trang 7

 Tế bào có hiệu lực(Invalid Cell): Là các tế bào HEC hợp lệ

 Tế bào được gán(Assigned Cell): là các tế bào mang thông tin có hiệu lực cho dịch vụ

ở các lớp cao hơn và có tiêu đề đúng Tuy nhiên, chúng cũng có thể bị thải hồi nếu mạng đang trong trạng thái quá tải hay tắc nghẽn

 Tế bào không được gán UA (Unassinegned Cell): Là các tế bào chứa thông tin không

có hiệu lực hoặc chứa tiêu đề đã được định nghĩa trước

4.Mô hình tham chiếu giao thức B-ISDN

4.1 Mô hình

Cũng giống như OSI mô hình ISDN nhằm mô tả mô hình tham chiếu cho các giao thức B-ISDN.Nó phân lớp và chia thành các mặt phẳng

 Mặt phẳng quản lý

 Mặt phẳng kiểm tra

 Mặt phẳng người sử dụng

Trang 8

Mặt phẳng quản lý

Thực hiện các chức năng liên quan tới quản lý các giao thức của mạng B-ISDN và lại được chia thành 2 lớp con

 Quản lý mặt phẳng (plane management)

 Quản lý lớp (Layer management)

Trang 9

Mặt phẳng người sử dụng

Dùng để truyền các thông tin của người sử dụng từ nguồn tới đích tong phạm vi của mạng Tất

cả các cơ chế có liên quan như điều khiển luồng, tắc nghẽn,kiểm tra lỗi đều đựoc thực hiện ở mặt phẳng này

Mặt phẳng kiểm tra

Cũng có cấu trúc phân lớp và có chức năng điều khiển kết nối kênh xử lý cuộc gọi và các hức năng báo hiệu liên quan tới việc thiết lập , duy trì , giám sát và giải phóng kênh nối

Cấu trúc phân lớp

4.2 Chức năng của các lớp cho mô hình B-ISDN

4.2.1 Lớp vật lý

Lớp vật lý được tạo lên bởi lớp con môi trường vật lý PM và lớp con kết hợp

truyền dẫn TC Và chức năng của mỗi lớp con được mô tả trên bảng Lớp con PM

cung cấp thông tin liên quan đến môi trường vật lý, và các thông tin thời gian bit, lớp con

TC chuyển đổi luồng tế bào ATM thành luồng mã hoá bít dữ liệu

1 Chức năng môi trường vật lý

Chức năng PM liên quan đến môi trường vật lý để truyền dẫn như sợi quang, phần

tử phát quang, phần tử nhận quang, bộ nối v.v

2 Chức năng thông tin thời gian bit

Chức năng này chuyển đổi luồng bit dữ liệu thành dạng sóng phù hợp với môi

trường truyền dẫn hoặc ngược lại, đưa vào hoặc lấy ra các thông tin về thời gian của bit,

và thực hiện mã hoá và giải mã đường truyền Như vậy thông tin được chuyển từ phân

lớp PM sang phân lớp TC bao gồm dòng bit/mã dữ liệu và thông tin thời gian tương ứng

Trang 10

3 Chức năng tạo và nhận dạng khung

Chức năng này tạo ra hoặc xác định khung truyền dẫn Trong trường hợp truyền

dẫn trên cơ sở các tế bào ATM, chức năng này không cần vì không có các khung truyền dẫn riêng biệt Tuy nhiên, trong trường hợp truyền dẫn SDH cần phải có khung STM-n

và trong trường hợp truyền dẫn dựa trên khuyến nghị G.702 cần có khung tín hiệu DS-3

4 Chức năng thích ứng khung truyền dẫn.

Chức năng này là ghép các dòng tế bào ATM vào những khoảng với tải phù hợp

của khung truyền dẫn hoặc lấy lại dòng các tế bào ATM từ khung truyền dẫn Điều này đòi hỏi đối với trường hợp truyền dẫn trên cơ sở SHD hay trên cơ sở khuyến nghị G.702

5 Chức năng nhận dạng biên của tế bào.

Chức năng này xác định khung của tế bào ATM trong dòng các tế bào ATM Nó

thực hiện việc ngẫu nhiên hoá đối với hướng phát, xác định, và khẳng định đường biên của tế bào ATM và thực hiện việc giải ngẫu nhiên theo hướng ngược lại

6 Chức năng tạo và xác nhận tín hiệu HEC.

Chức năng này tạo và xác định tín hiệu HEC (Giám sát lỗi ghép đầu) của tín hiệu

ghép đầu tế bào ATM Theo hướng phát, nó tạo tín hiệu HEC nhờ 4 byte trong tín hiệu ghép đầu ATM và đưa nó vào trong byte thứ 5 Theo hướng ngược lại, nó kiểm tra tính thích hợp của tín hiệu HEC đối với tín hiệu nhận được trong cùng một quá trình và bỏ qua tế bào nếu phát hiện ra lỗi không sửa được

7 Chức năng phân định tốc độ tế bào.

Chức năng này ghép thêm các tế bào rỗi vào các tế bào ATM với các thông tin phù hợp để tạo ra tốc độ tế bào bằng với dung lượng PT của hệ thống truyền dẫn hoặc loại bỏ các tế bào rỗi để tách các tế bào có dữ liệu

4.2.2 Lớp ATM

Lớp ATM độc lập đối với lớp vật lý và các chức năng :

1 Chức năng ghép và tách tế bào.

Chức năng này ghép các tế bào ATM với các luồng ảo và kênh ảo khác nhau để

tạo nên dòng tế bào tổng hợp, hoặc ngược lại cung cấp chức năng tách các tế bào Trong khi đó, các tế bào ghép không nhất thiết phải là dòng tín hiệu liên tục

2.Chức năng chuyển đổi tế bào VPI/VCI

Chức năng này được yêu cầu đối với tổng đài ATM hay các nút nối chéo ATM

Nó ghép các giá trị mới vào các giá trị trong trường VPI/VCI

3 Chức năng tạo ra và nhận dạng tín hiệu ghép đầu của tế bào.

Chức năng này được dùng cho điểm xác định lớp ATM để tạo ra hoặc nhận dạng 4

byte đầu của tín hiệu ghép đầu tế bào ATM Nó ghép các thông tin nhận được từ lớp bậc

Trang 11

cao đến các trường tương ứng để tạo ra tín hiệu ghép đầu tế bào và thực hiện quá trình ngược lại để nhận dạng tín hiệu ghép đầu Ngoài ra nó dịch tín hiệu nhận dạng điểm truy nhập dịch vụ SAPI thành tín hiệu VPI và VCI

4 Chức năng điều khiển dòng chung.

Chức năng điều khiển dòng chung điều khiển việc truy nhập và dòng thông tin

trong UNI Trong trường hợp này, thông tin điều khiển dòng được chuyển vào các tế bào chỉ định và không chỉ định

4.2.3 Lớp thích ứng ATM

Lớp thích ứng ATM được phân thành phân lớp kết hợp CS và phân lớp chia và kết

hợp SAR CS tạo ra các thông tin dịch vụ khách hàng bậc cao trong khối dữ liệu giao thức PDU và ngược lại Phân lớp SAR chia PDU để tạo ra vùng thông tin khách hàng của

tế bào ATM và ngược lại Chức năng lớp thích ứng ATM phụ thuộc vào loại dịch vụ mức cao

Phân loại AAL

1 AAL1:

AAL - 1 cung cấp chức năng chia và ghép các thông tin khách hàng Ngoài ra, nó

còn xử lý việc chuyển đổi độ trễ của tế bào cung cấp chức năng xử lý việc loại bỏ hoặc ghép thêm tế bào và tạo điều kiện để phía thu lấy lại thông tin về xung nhịp của phía phát AAL-1 quan sát thông tin kiểm tra giao thức PCI của AAL để kiểm tra lỗi bit và xử

lý AAL-PCI trong trường hợp có lỗi bit Ngoài ra nó còn giám sát vùng thông tin khách hàng và hiệu chỉnh lỗi bit nếu có

AAL-1 phải chỉ ra lỗi tạo ra trong quá trình truyền thông tin khách hàng trong mặt

bằng quản lý Thêm nữa, nó phải chỉ ra các tế bào bị mất và các tế bào được ghép thêm vào, các tế bào có lỗi AAL-PCI và các thông tin về đồng bộ thời gian trạng thái lỗi

2 AAL-2

AAL-2 chuyển thời gian thực với các thông tin thời gian tại các tốc độ thay đổi và

cung cấp các dịch vụ chỉ ra lỗi bit cho cấp cao hơn

Cũng bằng cách đó AAL-1, AAL-2 cung cấp chức năng chia và ghép thông tin

khách hàng Ngoài ra, nó còn thực hiện việc thay đổi độ trễ của tế bào, cung cấp chức năng điều hành các tế bào thêm bớt, và cung cấp chức năng lấy lại tín hiệu xung nhịp ở phía thu AAL-2 quan sát thông tin kiểm tra giao thức AAL-PCI để kiểm tra lỗi bít, nếu

có đồng thời nó cũng giám sát thông tin khách hàng và hiệu chỉnh lỗi bit

Cũng bằng cách đó, AAL-1, AAL-2 phải chỉ ra lỗi tạo ra trong quá trình truyền

thông tin khách hàng trong mặt bằng quản lý Nó cũng phải chỉ ra việc thêm bớt tế bào, tế bào có lỗi AAL-PCI và tín hiệu đồng bộ thời gian trạng thái mất

3 AAL-3/4.

AAL-3/4 chuyển đổi dữ liệu dịch vụ loại C và D với các đặc tính tốc độ bit thay

đổi Các dịch vụ cung cấp bởi AAL-3/4 được phân thành chế độ truyền thông báo và chế

độ dòng thông tin tuỳ thuộc vào loại dữ liệu cần truyền AAL-SDU đến lớp AAL,

Ngày đăng: 13/08/2021, 19:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w