Câu 1: Tâm lý và tâm lý học là gì? Lời giải: Hiện tượng tâm lý là tất cả các hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc của con người, do thế giới khách quan tác động vào não sinh ra, gọi chung là hoạt động tâm lý. Tâm lý học là một ngành khoa học nghiên cứu về tất cả các hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc của con người, gắn liền và điều hành mọi hoạt động của con người. Nó nghiên cứu sự nảy sinh, quá trình hình thành và phát triển cũng như cơ chế hình thành các hiện tượng tâm lý. Tâm lý và sinh lý không tách rời, nhưng cũng không đồng nhất. Chúng gắn bó chặt chẽ với nhau. Câu 2: Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lí học là gì? Lời giải: Đối tượng của tâm lí học là các hiện tượng tâm lí với tư cách là một hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não con người sinh ra, gọi chung là các hoạt động tâm lí. Tâm lí học nghiên cứu sự hình thành, vận hành và phát triển của hoạt động tâm lí. Nhiệm vụ cơ bản của tâm lí học là nghiên cứu bản chất của hoạt động tâm lí, các quy luật nảy sinh và phát triển tâm lí, cơ chế diễn biến và thể hiện tâm lí, quy luật về mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lí, cụ thể là nghiên cứu: Những yếu tố khách quan, chủ quan nào đã tạo ra tâm lí người. Cơ chế hình thành, biểu hiện của hoạt động tâm lí. Tâm lí của con người hoạt động như thế nào? Chức năng, vai trò của tâm lí đối với hoạt động của con người. Có thể nêu lên các nhiệm vụ cụ thể của tâm lí học như sau: Nghiên cứu bản chất của hoạt động tâm lí cả về mặt số lượng và chất lượng. Phát hiện các quy luật hình thành phát triển tâm lí. Tìm ra cơ chế của các hiện tượng tâm lí. Câu 3: Trình bày khái niệm và đặc điểm của Hoạt động ? Lời giải: Hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Theo tâm lí học mácxit, cuộc sống con người là một dòng hoạt động, con người là chủ thể của các hoạt động thay thế nhau. Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội. đó là quá trình chuyển hóa năng lực lao động và các phẩm chất tâm lí khác của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngược lại là quá trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể. Các đặc điểm của Hoạt động : Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng Hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp Hoạt động bao giờ cũng có mục đích nhất định
Trang 11
TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM NGHỀ NGHIỆP Bài 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM
NGHỀ NGHIỆP
I- Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học
1- Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học
Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học là toàn bộ các hiện tượng tâm lý với các đặc điểm, quy luật và cơ chế của nó, những hiện tượng tâm lý này:
- Trước hết, có cơ sở tự nhiên là hoạt động của hệ thần kinh và hoạt động biến đổi nội tiết (sinh lý) Ví dụ: khi sợ tái mét mặt, nổi hết cả da gà, khi lo lắng
mất ngủ, hoặc rối loạn tiêu hóa
- Thứ hai, những hiện tượng tâm lý này chỉ được nảy sinh và hình thành trong hoạt động, gắn liền với điều kiện xã hội - lịch sử cụ thể Ví dụ, phong tục,
tập quán, truyền thống, kinh nghiệm sống…
Với hai tính chất cơ bản trên của hiện tượng tâm lý mà khoa học tâm lý học nghiên cứu, chúng ta nhận thấy, tâm lý học không phải là một môn khoa học tự
nhiên hay một môn khoa học xã hội đơn thuần, mà tâm lý học vừa là môn khoa
học tự nhiên nhưng đồng thời cũng vừa là môn khoa học xã hội
2- Nhiệm vụ nghiên cứu của Tâm lý học
Tâm lý học nghiên cứu:
- Bản chất và các quy luật của hoạt động tâm lý
- Các quy luật nảy sinh và phát triển tâm lý
- Những cơ sở khách quan và chủ quan tạo ra tâm lý người
- Cơ chế hình thành và biểu hiện của hoạt động tâm lý
- Chức năng vai trò của tâm lý đối với hoạt động của con người
Trang 22
Trên cơ sở các thành tựu nghiên cứu, tâm lý học sẽ đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc hình thành, phát triển tâm lý, sử dụng nhân tố tâm lý trong con người một cách có hiệu quả nhất
II- Bản chất hiện tượng tâm lý người theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật
biện chứng
1- Tâm lý là sản phẩm phản ánh hiện thực khách quan bằng hoạt động của mỗi người
Khi hiện thực khách quan trực tiếp tác động vào giác quan và não, chúng
sẽ để lại hình ảnh của hiện thực khách quan trên não Hình ảnh đó gọi là hình ảnh tâm lý
Như vậy, hình ảnh tâm lý là kết quả của quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào não Song, hình ảnh của phản ánh tâm lý khác xa về chất so với hình ảnh phản ánh của các hình thức phản ánh khác (phản ánh cơ học, vật lý, hóa học, sinh lý, xã hội…) Sự khác nhau ở đây là việc phản ánh tâm lý mang:
- Tính tích cực: nghĩa là kết quả của lần phản ánh trước ảnh hưởng
trực tiếp tới lần phản ánh sau Nhờ đó con người tích lũy được kinh nghiệm trong
cuộc sống, là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển Tục ngữ có câu: Mỗi lần ngã là
một lần bớt dại / Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần
- Tính sinh động, sáng tạo: là việc cùng một hiện thực khách quan tác
động, nhưng ở những con người khác nhau và ngay trong cùng một con người thì sự phản ánh khác nhau
Ví dụ:
vừa, khi ghét bới bèo ra bọ …
Trang 33
+ Hình ảnh tâm lý về cuốn sách trong đầu của người biết chữ, khác xa về
chất so với hình ảnh vật lý có tính chất “chết cứng”, hình ảnh vật chất của chính
cuốn sách đó ở trong gương
Sự phản ánh tâm lý mang tính sinh động, sáng tạo do nhiều yếu tố chi phối:
giới tính, hoàn cảnh, thời đại, nền văn hóa, giai cấp, lứa tuổi, giáo dục, đặc điểm giải phẫu sinh lý, trạng thái tâm sinh lý, nghề nghiệp…Nếu các yếu tố này khác
nhau thì sự phản ánh sẽ khác nhau
- Tính chủ thể: là sự phản ánh tâm lý mang đậm màu sắc cá nhân (hay
nhóm người) mang hình ảnh tâm lý đó, hay nói khác đi, hình ảnh tâm lý là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan Tính chủ thể của hình ảnh tâm lý thể hiện
ở chỗ: mỗi chủ thể, trong khi tạo ra hình ảnh tâm lý về thế giới đã đưa vốn hiểu biết, vốn kinh nghiệm, đưa cái riêng của mình (về nhu cầu, xu hướng, tính khí, năng lực)… vào trong hình ảnh đó, làm cho nó mang đậm màu sắc chủ quan
Tuy nhiên, không phải cứ hiện thực khách quan trực tiếp tác động vào giác
quan và não là có hình ảnh phản ánh tâm lý Mà muốn có hình ảnh phản ánh tâm
lý phải thông qua con đường gián tiếp hoạt động (cầm, nắm, đo, đếm, sờ, mó, )
của mỗi cá nhân thì thuộc tính của sự vật hiện tượng mới được bộc lộ, con người mới cảm nhận được, mới có hiện tượng phản ánh tâm lý
Qua việc phân tích luận điểm một của bản chất hiện tượng tâm lý người, ta
có thể rút ra một số kết luận cơ bản sau:
- Tâm lý người có nguồn gốc hiện thực khách quan, vì thế, khi nghiên cứu cũng như khi hình thành, cải tạo tâm lý người, phải nghiên cứu hoàn cảnh trong
đó con người sống và hoạt động
- Tâm lý người mang tính chủ thể, vì thế, trong dạy học cũng như trong
ứng xử, phải chú ý nguyên tắc quan sát đối tượng (tức chú ý đến đặc điểm riêng
của con người)
Trang 44
- Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp, vì thế phải tổ chức hoạt động và các quan hệ giao tiếp để nghiên cứu sự hình thành và phát triển tâm
lý con người
2- Tâm lý là chức năng của não
Mối liên hệ giữa não và tâm lý là một trong những vấn đề cơ bản của việc lý giải cơ sở tự nhiên, cơ sở vật chất của hiện tượng tâm lý người
Khi có hiện thực khách quan tác động vào não, bộ não tiếp nhận tác động của hiện thực khách quan dưới dạng các xung động thần kinh, cùng với những biến đổi lý hóa ở từng nơ-ron thần kinh, từng xi-náp, các trung khu thần kinh ở
bộ phận dưới vỏ và vỏ não, làm cho bộ não hoạt động theo các quy luật thần kinh, tạo nên hiện tượng tâm lý này hay hiện tượng tâm lý khác theo cơ chế phản xạ
Như vậy, tâm lý là kết quả của hệ thống chức năng những hoạt động phản
xạ của não Vì vậy, các hiện tượng tâm lý vừa là hoạt động phản ánh, vừa là hoạt
động phản xạ
Tuy nhiên:
- Không phải cứ có não và vỏ não là có hiện tượng tâm lý Đó mới là điều
kiện cần, cái quyết định tâm lý là ở chỗ: não phải ở trạng thái hoạt động mới có
tâm lý
- Tâm lý không phải do não sinh ra giống như gan tiết ra mật, mà não chỉ
quy định hình thức biểu hiện của hiện tượng tâm lý Đó là quy định về tốc độ
biểu hiện nhanh hay chậm, cường độ mạnh hay yếu của hiện tượng tâm lý Còn
nội dung của hiện tượng tâm lý do hiện thực khách quan, do kinh nghiệm sống,
do hoạt động của cá nhân quy định
3- Tâm lý là kinh nghiệm xã hội, lịch sử của loài người biến thành cái riêng của từng người
Tâm lý người bao giờ cũng phản ánh hiện thực khách quan, mang bản chất
xã hội, mang tính lịch sử của những điều kiện mà con người là một thành viên
Trang 55
sống và hoạt động Do đó, tâm lý người bao giờ cũng mang bản chất xã hội và mang tính lịch sử
❖ Bản chất xã hội của hiện tượng tâm lý
Bản chất xã hội của hiện tượng tâm lý thể hiện ở nội dung xã hội và nguồn gốc xã hội
- Nội dung xã hội: Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao lưu
của con người trong các quan hệ xã hội Vì thế, tâm lý người mang đầy đủ dấu
ấn xã hội - lịch sử của loài người mà họ là một thành viên sống và hoạt động trong xã hội đó
- Nguồn gốc xã hội: Tâm lý người có nguồn gốc là hiện thực khách quan
(thế giới tự nhiên, thế giới xã hội), trong đó, nguồn gốc xã hội là cái quyết định tâm lý con người, thể hiện qua các mối quan hệ xã hội: đó là quan hệ đạo đức, pháp quyền, quan hệ giữa con người với con người, quan hệ gia đình, làng xóm, cộng đồng, Các quan hệ này quyết định bản chất tâm lý người Nếu thoát ly khỏi các quan hệ này thì tâm lý con người sẽ mất bản tính con người, hoặc rối loạn, hoặc phát triển không bình thường
Trong thực tế, người ta đã tìm được những đứa trẻ bị thú nuôi Ở những đứa trẻ này, về cấu tạo, hình hài là một con người, nhưng không có các phẩm chất tâm lý người Chúng không có dáng đứng thẳng và không đi bằng hai chân, không có khả năng tư duy bằng ngôn ngữ, không có khả năng lao động sáng tạo
❖ Tính lịch sử của hiện tượng tâm lý
Tâm lý của mỗi cá nhân là kết quả của quá trình tiếp thu và lĩnh hội vốn kinh nghiệm xã hội, nền văn hóa xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp mà ở
đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo Trong tất cả các yếu tố trên, hoạt động của con
người và mối quan hệ giao tiếp của con người trong xã hội có tính quyết định
Chính vì thế, tâm lý của mỗi cá nhân vừa mang những nét chung, đặc trưng
lịch sử - xã hội, vừa mang nét riêng tạo nên bản sắc của mỗi cá nhân Bởi vậy:
Trang 66
- Trong quan hệ cuộc sống, đặc biệt trong công tác giáo dục, chúng ta nên
đến với đối tượng bằng con mắt khả quan, đừng đến với đối tượng bằng con mắt
định kiến
- Để mở rộng thế giới tâm lý, tinh thần của con người phong phú, cần mở
rộng các mối quan hệ trong xã hội Tục ngữ, ca dao có câu rằng: Có đi thì mới
tới nơi/ Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn
Kết luận: Ba luận điểm trên giúp chúng ta hiểu một cách khoa học về bản
chất hiện tượng tâm lý người
Tâm lý người là hiện tượng tinh thần do hiện thực khách quan tác động vào giác quan và não một con người cụ thể gây ra, có tính xã hội - lịch sử, tính giai cấp, tính dân tộc, mang màu sắc riêng của bản thân mỗi người
2- Phân loại hiện tượng tâm lý
Có nhiều cách phân loại hiện tượng tâm lý Song, cách phân loại phổ biến
là dựa theo thời gian tồn tại của chúng và vị trí tương đối của chúng trong nhân cách Theo cách này, người ta chia ra ba loại chính
a) Quá trình tâm lý
Là những hiện tượng tâm lý diễn ra có mở đầu, có diễn biến và có kết thúc
Quá trình tâm lý thường diễn ra trong một thời gian ngắn, kết thúc tương
- Nhận thức cảm tính: là quá trình phản ánh những thuộc tính bên ngoài
không bản chất của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác
Trang 77
quan Nhờ có nhận thức cảm tính mà con người hiểu biết về thế giới khách quan
Nó diễn ra với hai giai đoạn nhận thức: Cảm giác và Tri giác
- Nhận thức trung gian: phản ánh thuộc tính khái quát bên ngoài không
bản chất của một nhóm sự vật, hiện tượng cùng loại; giúp con người lưu giữ được hình ảnh của sự vật, hiện tượng khi chúng thôi không còn trực tiếp tác động Đó
là quá trình Trí nhớ
- Nhận thức lý tính: phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên
hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó, con người chưa biết Nhờ có nhận thức lý tính mà con người cải tạo được thế giới khách quan
Nó diễn ra với hai giai đoạn nhận thức: Tư duy và Tưởng tượng
Là hiện tượng tâm lý diễn ra trong một thời gian dài, việc mở đầu và kết
thúc thường không rõ ràng, ví như: Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không
hiểu vì sao tôi buồn (Xuân Diệu)
Các trạng thái tâm lý thường gặp: bâng khuâng, do dự, hồi hộp, lo lắng,
chú ý…
c) Thuộc tính tâm lý
Là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn định, khó hình thành và khó mất
đi, tạo thành những nét riêng của nhân cách, chi phối các quá trình tâm lý và trạng thái tâm lý của con người Bao gồm các thuộc tính sau:
Trang 88
- Xu hướng: mặt chỉ đạo của nhân cách
- Tính cách: mặt bản chất của nhân cách
- Khí chất: sắc thái biểu hiện của nhân cách
- Năng lực: khả năng hiện thực của một nhân cách
Trang 99
Bài 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ TÂM LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC I- Khái niệm chung
3- Xét về mặt thực hiện
Để đạt được mục đích của quá trình dạy học, nó được thực hiện thông qua
2 con đường, đó là: Hoạt động (gồm hoạt động của người giáo viên và hoạt động của người học) và hoạt động giao lưu ( gồm giao lưu giữa người dạy và người học, giữa người học với người học)
II- Các quy luật tâm lý của quá trình dạy học
1 Quy luật về sự thống nhất giữa nhận thức cảm tính và lý tính trong dạy học
Một trong những nhiệm vụ cơ bản của quá trình dạy học là tổ chức và điều khiển học sinh lĩnh hội một hệ thống các khái niệm khoa học ( tức thông qua việc truyền thụ người học phải nắm được thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính qui luật của sự vật hiện tượng)
Bản chất của sự lĩnh hội là quá trình nhận thức Vì vậy, để đạt đến chất lượng của dạy học, giáo viên phải tính toán và áp dụng đúng quy luật này vào việc điều khiển quá trình nhận thức của học sinh
Trang 1010
Quá trình nhận thức hệ thống các khái niệm khoa học là một quá trình phức tạp Nó đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính, qua hoạt động của các giác quan Học sinh thu thập tài liệu dưới dạng các hình ảnh, các sự kiện, sự mô tả… Sau đó, bằng các thao tác phân tích, tổng hợp, khái quát … đi đến những khái niệm, những hiểu biết
Hai giai đoạn nhận thức có đặc điểm, vai trò, ý nghĩa tương đối độc lập, song nó có mối quan hệ mật thiết, xen kẽ và ảnh hưởng lẫn nhau
Để đạt đến sự nhận thức đầy đủ, chính xác, phải là sự hoạt động phối hợp
và thống nhất của cả hai giai đoạn trên Vì vậy, người thầy cần coi trọng cả hai giai đoạn nhận thức trong quá trình dạy học Nếu trong dạy học, giáo viên chỉ coi trọng và nặng về nhận thức cảm tính, chỉ có thể hình thành những khái niệm đời sống, hoặc rơi vào kinh nghiệm chủ nghĩa Còn nếu trong dạy học, giáo viên chỉ coi trọng và nặng về nhận thức lý tính, sẽ làm cho học sinh khó hiểu hoặc rơi vào lý thuyết suông
Ngoài ra, muốn nhận thức cảm tính thật sự trở thành tài liệu của tư duy để hình thành khái niệm, giáo viên phải hướng dẫn học sinh thu thập các tài liệu cần thiết cho việc hình thành khái niệm đó
2 Quy luật về sự thống nhất giữa năng lực của giáo viên với sự phát triển năng lực của học sinh
Một trong những nhiệm vụ cơ bản nữa của dạy học là hình thành và phát triển năng lực cho học sinh Đó là năng lực nhận thức và năng lực hành động Nhiệm vụ này được thực hiện thông qua việc giảng dạy các môn học trong nhà trường
Các công trình nghiên cứu về tâm lý học dạy học đã chỉ ra rằng, sự phát triển năng lực của học sinh, diễn ra trong nhà trường, chịu sự quy định một cách tương đối bởi năng lực của giáo viên
Vậy những năng lực cần hình thành và phát triển ở học sinh phụ thuộc vào những năng lực nào của giáo viên?
Trang 1111
Thứ nhất, đó là phụ thuộc vào năng lực chuyên môn của giáo viên Cụ thể
là sự hiểu biết sâu sắc về tri thức bộ môn mình dạy, những hiểu biết cần thiết những bộ môn liên quan, và những hiểu biết nhất định của thực tiễn, liên quan tới chuyên môn của giáo viên Năng lực này của giáo viên ảnh hưởng trực tiếp đến độ sâu, rộng, tính thực tiễn của những khái niệm và tri thức khoa học mà học sinh lĩnh hội được
Vì thế, người giáo viên cần không ngừng tự học hỏi lý thuyết, tiếp cận những tri thức khoa học hiện đại, nghiên cứu khoa học, tìm hiểu thực tiễn … Thứ hai, đó là phụ thuộc vào năng lực sư phạm và nhất là phương pháp giảng dạy bộ môn, vì phương pháp giảng dạy của giáo viên phần nào ảnh hưởng trực tiếp đến phương pháp học của học sinh, ảnh hưởng cách nhìn và cách suy nghĩ của họ
Thực tế, cũng như các công trình nghiên cứu cho thấy, nhiều giáo viên rất vững vàng về tri thức chuyên môn, nhưng không có phương pháp thích hợp nên hiệu quả dạy học không cao, không phát huy được tính tích cực của học sinh
3 Quy luật về sự thống nhất giữa tính tích cực nhận thức với động cơ nhận thức
Tính tích cực nhận thức của người học biểu hiện ở sự tập trung chú ý, tích cực tìm tòi, động não với sự tự giác và hứng thú cao… Đây là điều kiện tâm lý
có vai trò quan trọng trong dạy học Đối với hoạt động giảng dạy của giáo viên,
nó là cơ sở để xây dựng các phương pháp dạy học tích cực Đối với hoạt động
học của người học, nó có ảnh hưởng quyết định đến kết quả lĩnh hội tri thức Vì
việc nâng cao chất lượng của quá trình dạy học
Vậy tính tích cực nhận thức của người học phụ thuộc vào yếu tố nào và
được hình thành ra sao?
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, tính tích cực nhận thức phụ thuộc một cách tương ứng vào động cơ nhận thức Cho nên, trong dạy học, để hình thành