Người Mnông là cư dân nông nghiệp từ lâu đời. Trong sinh hoạt kinh tế truyền thống, phương thức phát rừng làm rẫy chiếm vị trí trọng yếu. Cây lương thực chính của đồng bào là lúa tẻ. Số lượng lúa nếp gieo trồng không đáng kể. Ngoài lúa ra, ngô, khoai, sắn cũng được đồng bào trồng thêm trên rẫy để làm lương thực phụ và nhất là dùng cho chăn nuôi heo, gà...
Trang 1DÂN TỘC M’NÔNG
1) Khái quát
Tên tự gọi: M’Nông
Tên gọi khác: Bu-dâng, Preh, Ger, Nong, Prâng, Rlăm, Kuyênh, Chil Bu Nor…
Nhóm địa phương: M’Nông Gar, M’Nông Nong, M’Nông Kuênh, M’Nông Preh, M’Nông
Prông, M’Nông Rlâm, M’Nông Buđàng, M’Nông Chin…
Dân số: Người M’Nông ở Việt Nam có dân số 102.741 người.
Địa bàn cư trú: Người M’Nông cư trú tập trung chủ yếu tại các tỉnh: Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm
Đồng, Bình Phước, Quảng Nam
Lịch sử: Người M’Nông là một trong những lớp cư dân bản địa ở nước ta, thuộc nhóm nhân
chủng Anhđônêdiêng, có tầm vóc thấp, nước da ngăm ngăm đen, môi hơi dày, râu thưa, mắt nâu đen, tóc đen, thẳng, nhiều người có tóc uốn
Hoạt động sản xuất:
Người M'nông là cư dân nông nghiệp từ lâu đời Trong sinh hoạt kinh tế truyền thống, phương thức phát rừng làm rẫy chiếm vị trí trọng yếu Cây lương thực chính của đồng bào là lúa tẻ Số lượng lúa nếp gieo trồng không đáng kể Ngoài lúa ra, ngô, khoai, sắn cũng được đồng bào trồng thêm trên rẫy để làm lương thực phụ và nhất là dùng cho chăn nuôi heo, gà
Cho đến nay, người M'nông Gar, M'nông Chil ở Lâm Đồng vẫn duy trì phương thức phát rừng, làm rẫy truyền thống với các bước phát, đốt và chọc lỗ, chỉa hạt giống như người Mạ và người
Cơ Ho việc sử dụng đất rẫy của người M'nông ở đây theo chế độ luân khoảnh Chu trình quay vòng của rẫy từ 6 đến 12 năm tùy theo độ phì nhiêu của đất- rẫy
Đặc điểm của việc làm rẫy của nhóm M'nông Gar ở Lâm Đồng là lửa để đết rẫy phải được '' kéo '' ngay trên rẫy với phương pháp cổ truyền bằng cách ma sát cái lạt cật nứa vào một khúc tre lồ ô già, khô để bật lửa và làm cháy một mớ bùi nhùi tre Người M'nông Gar gọi người kéo lửa theo phương pháp cổ truyền là Rmút Từ đó, lửa được đem về cho dân làng cùng đốt rẫy ở một khu rừng đã định
Công cụ làm rẫy của người M'nông Gar, M'nông Chil chủ yếu là: Chà gạc (Viêh), rìu (sùng), gậy chọc lỗ (Rmul), ống lồ ô, cuốc, Wăng Wít (dụng cụ làm cỏ) và cào
Kinh tế hái lượm và săn bắt còn giữ vai trò đáng kể trong đời sống của người M'nông Gar, M'nông Chil ở Lâm Đồng Sản phẩm của loại hình kinh tế săn bắt- hái lượm của đồng bào chủ yếu là: rau xanh, mộc nhĩ, nấm hương, cá, 'thịt rừng, mật ong và các loại lâm thổ sản khác lấy
từ rừng
Việc săn thú phát triển ở vùng M'nông Gar, ở địa phương với nhiều kinh nghiệm săn lùng, săn rình và gài cạm bẫy để bắt thú rừng Đặc biệt là nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng của người M'nông Voi rừng săn được, đem về thuần dưỡng biến thành vật nuôi trong gia đình và được dùng làm phương tiện vận chuyển đường rừng rất hữu hiệu Xưa kia, người M'nông còn dùng voi làm chiến tượng trong chiến tranh bộ lạc
Trang 2Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm như: trâu, bò, dê, lợn, gà, vịt ở người M'nông Gar, M'nông Chil chủ yếu là dùng vào các lễ hiến sinh mà mỗi năm các gia đình người M'nông thường phải tổ chức nhiều lần theo chu kỳ nông nghiệp cổ truyền và đời sống của họ
Đàn ông M'nông Gar, M'nông Chil ở Lâm Đồng chủ yếu biết các nghề như rèn, mộc, đan lát các gia cụ bằng mây, tre, làm nhà và làm thuyền độc mộc Đàn bà, đảm nhiệm công việc kéo sợi, dệt vải có thêu hoa văn và may y phục truyền thống
Tổ chức xã hội
Người m”nông cư trú theo bon hay buôn như các làng của người Kinh Trong xã hội cổ truyền các bon có quy mô khác nhau, loại nhỏ gồm trên dưới mươi nóc nhà, loại lớn gồm trên dưới hai mươi nóc nhà dài Các nhà cư trú trong bon có quan hệ về hôn nhân, huyết thống thiên về bên
nữ đó là một cộng đồng gắn bó với nhau theo một địa vựa đất đai nhất định gồm các loại đất
ở, canh tác, chăn nuôi, luân canh, rừng hái lượm, song suối đầm hồ và đất làm nghĩa địa đất làng thuộc quyền sở hữu của cộng đồng, mỗi gia đình được quyền khai thác trên một phạm vi nhất định
Người đứng đầu gọi là Rnúi hay Kroanh bon, do thủ lĩnh cũ chọn thủ lĩnh mới, hoặc là người già trong bon tham gia lựa chọn người đứng đầu điều hành mọi hoạt động của cộng đồng làng
có người giúp việc gọi là Rnor, Rnop; lo việc giao chiến sau các cuộc giao tranh, tù binh của làng khác và những người vi phạm luật tục đều trở thành những nô lệ gia định Thành viên của làng đánh dấu sự trưởng thành bằng một tập tục là cà rang và nhuộm rang đen vào độ tuổi 15
16 và tục sâu lỗ dái tai thực hiện từ khi 5-6 tuổi cà rang là tục cắt đi 4 răng cửa và 2 răng nanh hàm trên đối với con trai, sau đó mới trở thành trai làng, có nghĩa vụ và quyền lợi hơn trong bon, đặc biệt là tham gia vào những đội dân binh khi chiến sự xảy ra
Người M’nông có các dòng họ như Pang Ting, Buôn Krông, Ryam, Chin, Triếc, Đắc Chắt, Tơr, Rtung và các họ khác như Nong, Nđu, Phôk, Srúk, Vmăk, Ja, Lưk, Mđrang, Uê dak Các dòng
họ thực hiện nguyên tắc ngoại hôn từ lâu đời, cư trú gần nhau và có chung một nghĩa địa một
số bon của người M’nông có tên trùng với tên của các nhóm địa phương của tộc người và các dòng họ
Xã hội cổ truyền của người M’nông có 2 tầng lớp cơ bản là nông dân tự do và tầng lớp trên – những điều hành làng Những tầng lớp trên có một chút ít tài sản như chiêng, ché, một số gia súc như trâu, lợn để làm lễ hiến sinh, voi để đi săn và chiến đấu, phân biệt với nhà thường qua trang trí kiến trúc, đặc biệt là có nô lệ gia đình Tính cộng đồng, dân chủ trong làng phổ biến trong làng hình thành các nhóm lân gia – một tổ chức tương trợ của nông dân Giữa các thành viên trong làng, ngoài họ hay với các làng khác còn có tục kết nghĩa thông qua lễ hiến sinh, cúng thần linh để chứng giám
Sự tồn tại và sức mạnh của cộng đồng M’nông được duy trì bởi Luật tục Nê Phát Kđôi là người đứng ra tổ chức tòa án phong tục, căn cứ vào tập quán để tiến hành xét xử những kẻ vi phạm tập quán Tập quán M’nông xung đột với tự do cá nhân, đây chính là sợi dây vô hình tạo nên tính cố kết cộng đồng
2) Văn hóa vật thể
Trang phục
Trang 3Dân tộc M’nông sinh sống chủ yếu ở tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng, nên nhìn chung, trang phục của họ có nhiều điểm tương đồng với đồng bào Ê đê ở vùng Trường Sơn – Tây Nguyên
Trang phục đàn ông
Phần lớn, trang phục đàn ông M’nông thường mặc là đóng khố và chiếc áo dài che quá mông Đặc điểm chung trên những chiếc áo của nam giới M’nông là cổ tròn, thân bằng vai và mở xuống một đoạn của ngực áo nhưng được đính khuy và khuyết Áo hở tà, vạt sau dài hơn vạt trước một chút Áo mặc hơi chùng, đôi ống tay vừa sát Các dải hoa văn trang trí cũng nằm trên đường biên áo
Áo có nhiều loại, Áo nah kier là chiếc áo dài tay, trên ngực áo được kết những sợi chỉ đỏ thành
mảng trang trí nhưng hình khối không được ổn định như trên áo của người Êđê Áo này chỉ dùng những khi có sinh hoạt long trọng trong cộng đồng và chỉ những người khá giả, có địa vị mới có Ngoài ra còn có những loại áo không đính mảng chỉ này
Áo biyang là những chiếc áo mặc hàng ngày ở nhà, ở trong bon hay khi đi làm nương rẫy Áo pal tô là chiếc áo đẹp để mặc trong ngày hội của nhóm Prâng Trong thời kì xảy ra các cuộc
giao tranh giữa các tù trưởng với nhau, những người chiến sĩ M’nông còn khoác lên mình tấm
mền gọi là su nhap.
Áo ndrõng là chiếc áo có tay dài, mở bụng đồng thời cũng là một loại áo của người sang trọng trong xã hội Áo liên toi là chiếc áo cộc tay mặc trong lao động Áo kroh là chiếc áo mặc mát, chỉ
có hai thân trước và sau Áo dir là chiếc áo được kết bằng vỏ cây lanh, che được hai thân
trước và sau Áo này chỉ tồn tại đến khoảng giữa thế kỉ XX và là chiếc áo của người nghèo dùng khi trời trở lạnh
Trong khi đó, khố của đàn ông M’nông dài từ 5 -7 m (gọi là Ôi t’rônh) Trên khố được trang trí hoa văn chạy theo chiều dài với các màu sắc sỡ như màu đỏ, màu xanh, màu vàng…
Vào mùa lạnh, đàn ông M’nông thường ở trần, họ có thể choàng thêm tấm mền chăn ở ngoài
để giữ ấm cơ thể
Trong nghi lễ, người đàn ông M’nông chủ yếu mặc khố, được quấn gọn gàng ngang thắt lưng, phần tua dải trước và sau (dài từ 30-50 cm) vừa đủ che phần trước và phần sau của bụng, mông, phần ngực được quấn một cái khăn chéo từ lưng đến bụng (theo kiểu trang phục
choàng quấn), phía trên đầu được quấn một dải vải đỏ có cắm một chiếc lông công, hai lỗ tai được đeo hai khúc ngà voi
Ngày nay, trang phục của nam giới M’nông đã có nhiều thay đổi, họ mặc gần giống với trang phục của người Kinh Thay bằng đóng khố như trước kia, họ bây giờ mặc quần xà lỏn và áo ngắn tay Khi đi ra ngoài, họ mặc quần dài và áo sơ mi
Những người đàn ông tuổi ngoài 50 khi mặc cho đủ bộ còn chít nhiều lớp quanh đầu bằng
những chiếc khăn (kưn) nhiều dải rồi buông thõng hai dải khăn này ra sau lưng Chiếc khăn có thêu dệt mấy đường hoa văn của những người có thế lực trong bon gọi là kưn ktêh, kưn tăn.
Đàn ông M’nông rất thích đeo trang sức Họ làm hoa tai trang sức bằng cục ngà voi, cục gỗ
nhẹ… hay một đoạn nứa (kar) Theo quan niệm của đồng bào M’nông, dái tai ngày càng xệ
xuống thì vẻ đẹp ngày càng tăng và đáng kính Chính vì thế mà đồng bào M’nông có những câu nói vần về tục đeo trang sức khá hay như “Tai không xỏ không sà xuống được/ Răng không
Trang 4cà ló ra cửa mồm” hay “Nơi tay phải có vòng tẻ/ Nơi cổ phải đeo xâu hạt cườm/ Hai gò má phải đeo ngà voi/ Có như vậy mới là người sang trọng…”
Trang phục phụ nữ
Bộ thường phục của người phụ nữ M’nông gồm chiếc áo ngắn (ao uc) và chiếc váy quấn (ôi mbon) Áo của người phụ nữ M’nông cũng giống như nhiều dân tộc ở Tây Nguyên, là loại áo chui đầu, không có tay hay là tay lửng quá khuỷu một chút, trêm thân áo hầu như không có trang trí Loại áo may theo kiểu chui đầu này là đặc trưng của y phục phương nam, mà thuật ngữ Quốc Tế thường gọi là áo Pông Xô Thường thì phụ nữ ít khi mặc áo, họ ở trần, nhất là đối với những cô gái chưa chồng nhiều vùng M’nông phụ nữ đã tiếp thu kiểu áo sơ mi của người Kinh ở các đô thị
Một trong những đặc trưng của y phục nữ là chiếc váy quấn Váy quấn là một mảnh vải mà 2 mép thân váy không khâu lại thành hình ống, mà khi mặc người phụ nữ quấn quanh người từ
eo lưng trở xuống, mép váy giắt vào thắt lưng Tên gọi của loại váy này cũng chỉ rõ đặc trưng của nó: ôi là cái chăn, tấm mền để khoác hay để đắp Đây là loại váy đặc trưng cho các dân tộc Tây Nguyên
Tuy có chung tính chất như vậy nhưng mỗi nhóm M’nông cũng có những cách gọi và đặc thù riêng Người M’nông Prâng gọi váy là ôi mbon Người M’nông Gar thì gọi là su băn Người M’nông Chil thì lại gọi là ôi phố…
Cũng là loại váy mềm nhưng tùy theo chất liệu vải và trang trí hoa văn, cũng như hoàn cảnh khi
sử dụng mà được gọi với những tên khác nhau Chiếc váy ôi liết dung trong lao động thường ngày, màu đen, váy mặc dài tới mắt cá chân, dài khoảng từ 0,8 đến 0,9 mét, chiều ngang váy quấn quanh thân cũng dài khoảng từ 1,45 – 1,50m các loại váy khác nói chung đều có trang trí hoa văn ở gấu và quanh thân váy Chiếc váy ôi mbon hô có mảng hoa văn rộng chạy quanh gấu váy; mbon rơtiêng cũng trang trí hoa văn quanh thân váy nhưng chất lượng vải và hoa văn dệt kém hơn mbon hô…
Giữa các nhóm M’nông ở nhà sàn và nhà trệt cũng có phân biệt đôi chút về chiếc váy phụ nữ nhóm M’nông Rlăm, M’nông Chil, M’nông Kuyênh… ở huyện Lắc, Krông Bông, Krông Bus ở nhà sàn như nhà của người Ê đê, làm ruộng nước, thì váy của người phụ nữ giống váy của người Ê đê, nhất là cách trang trí hoa văn trên thân váy Trái lại các nhóm làm nương và ở nhà trệt như M’nông Nong, Prâng, Preh ở Đắc Nông, Đắc Mil thì cách trang trí hoa văn trên váy có khác, hoa văn nhiều hơn, dầy đặc hơn, đó là các đường chạy quanh thân váy, chạy dọc trục thân váy, các mảng hoa văn… phủ kín hầu như phía trước và phía sau thân váy
Cũng giống như chiếc váy, ngoài loại áo dung thường ngày mà ta ít thấy có thêu thùa trang trí, còn các loại áo khác, tuuy không đề công trang trí như trên tấm váy, mà người phụ nữ M’nông tùy theo cách trang trí mà gọi mỗi loại áo theo các tên riêng: ao dếch, là loại áo đẹp nhất, được trang trí nhiều đường hoa văn trên gấu và nẹp áo; ao liêh trang trí hoa văn trên mép gấu; người M’nông Gar lấy một họa tiết trang trí trên áo để gọi tên áo: ao ur ngơkác… trong kí ức của nhiều người, thời gian chưa phải đã xa xôi gì, nhiều người M’nông còn phải mặc những chiếc
áo làm bằng vỏ cây, gọi là Sui djar và Krah djar Chính loại áo ngắn chui đầu không có tay, gọi
là ao krah là loại áo nguyên thủy làm bằng vỏ cây
Người M’nông nam cũng như nữ xưa kia đều trổ lỗ tai và đeo các vật trang sức, như cục ngà voi (suy chao), hay cục gỗ nhỏ (co), thậm chí chỉ là đoạc nứa (kar) Trong đó ống nứa chỉ được
Trang 5dung chon nam giới tùy theo mức độ to nhỏ của lỗ tai mà người ta đeo những vật trang sức khác nhau Tuy nhiên lỗ tai càng to, dáy tai càng chảy xệ, thì theo quan niệm dân gian càng đẹp
và càng được người khác kính trọng
Người M’nông, nhất là phụ nữ còn mang nhiều trang sức bằng bạc, đồng ở cổ tay, cổ chân, vòng cổ… từ những tư liệu ghi chép lại thì những thập kỉ đầu thế kỉ này, phụ nữ còn dung các loại vòng chân và vòng cổ có nhiều lớp kim loại
Ẩm thực
Người M’nông Gar, M’nông Chil ngoài cách nấu cơm bằng nồi đất nung, đồng bào còn có thói quen ăn cháo chua vào bữa trưa Khi đi làm rấy, cháo chua thường được đựng trong trái bầu khô mang theo
Thức ăn thông thường của đồng bào là muối ớt, cá khô, thịt thú săn được và các loại rau rừng…
Canh nấu bằng ống tre
Là món ăn bổ dưỡng và độc đáo của đồng bào người M’nông Nguyên liệu chủ đạo là nhiều loại rau củ, cá suối, bột bắp và lá nhíp được nấu với nhau
Cơm lam
Cơm lam là món được nhiều người ưa thích Trước khi nấu, đồng bào thường ngâm cho gạo mềm sau đó mới cho vào ống nứa, lấy lá chuối nút lại sau đó đặt lên bếp khi ăn, có thể cầm cả ống cơm lam, tách phần nứa còn bám vào để lấy cơm ăn cắt thành từng khúc Nhưng khi ăn cơm lam, khách tự bóc lấy sẽ thú vị hơn
Đối với đồng bào thì da các loại thú như nai, lợn rừng, trâu cũng là những món đặc sản người
ta lấy da, để nguyên cả long, thái từng miếng dài và phơi thật khô rồi treo lên giàn bếp để dành Khi cần ăn, lấy xuống đốt cháy rồi đập cho mềm, cạo sạch long và phần ám khói, thái nhỏ và bỏ vào nồi nấu lúc da chin mềm, người ta bỏ vào các gia vị và rau rừng thịt nấu trong ống cũng
có hương vị rất hấp dẫn, nhất là bộ long trâu, bò, heo, dê làm sạch cho vào ống, thịt cứng săn lại, khô, thơm ngào ngạt, không hề có mùi tanh hôi
Cá nấu trong ống nứa
Đây cũng là món ăn phổ biến của nhiều tộc người trong các dịp lễ tết cá thường được nướng chin rồi xông khô, bỏ vào ống nứa trên giàn bếp rồi cũng được chế biến như thịt khô Ngoài ra
cá được nướng trong ống cho đến khi cá khô như được phơi rồi để dành ăn dần
Trong các dịp lễ hội, nhất là lễ cưới, ngoài việc ủ rượu cần, đồng bào còn làm nhiều ống cơm rượu để đãi khách Cơm rượu được làm bằng nếp huyết hay nếp than Khi nấu cơm nếp trộn men vào rồi cho vào ống tre để vài ngày cho lên men thành cơm rượu cơm rượu ống tre có vị thơm, ngọt, ăn nhiều có thể bị say nhẹ như người uống rượu
Người M’nông còn có món canh thụt nguyên liệu cho món canh thụt là gạo, lá rau rừng, lá sắn,
lá ớt nhưng để đầy đủ và đủ vị thì phải có lá bép, đọt mây, cà đắng canh có thể được nấu với thịt rung tươi hoặc khô nhưng thường thấy hơn cả là nấu với cá suối hoặc với ếch nhái, đặc biệt là chúng đều không được làm ruột các gia vị kèm theo là mắm, ớt, muối, sau này có thêm
mì chính Khi nấu người ta cho tất cả vào ống lồ ô rồi để nghiêng trên bếp lửa để nấu đặc
Trang 6trưng cho món này là phải dung một chiếc que tre có chiều dài hơn ông để thụt cho nguyên liệu nhuyễn và trộn đều với nhau trước và trong khi nấu nên vì vậy người ta mới gọi là canh thụt
Kiến trúc và nhà ở
Làng Mnông thường thiết lập những nơi gần chân núi gần sông, suối, đầm để tiện nước sinh hoạt hằng ngày Mỗi làng chỉ trên dưới chuch nóc nhà rất ít cây cối hầu như không có khuôn viên
Tùy theo từng nhóm địa phương mà người Mnông tạo cho mình một nhà loại hình nhà của thích hợp với chế độ canh tác: hoặc ở hoặc ở nhà đất; do làm rẫy là chính hay làm ruộng là chính Nhà đất xuất hiện trong các làng Mnông nong, Mnông gar, Mnông Preh còn ở nhà sàn thì có ở các nhóm Mnông Chil, Mnông Rlam
Nhà đất
Thông thường , mỗi ngôi nhà người Mnông là nơi cư trú của một số gia đình có quan hệ về huyết thống nên nhôi nhà được kiến trúc theo lối chạy dài: 20, 30, 40 mét và xưa kia còn dài hơn nữa Một trong những đặc điểm nổi bật của nhà dài kiến trúc nhà dài Mnông là chỉ có vì cột không có vì kèo Mỗi vì cột gồm hai cột cái chôn xuống đất và hai quá giang giằng giữ trên đôi
xà đầu cột Với ngôi nhà đất hai cột này thường cách nhau chừng 2 mét và đứng vào khoảng giữa khoảng chia lòng nhà ra làm 3 phần gần xấp xỉ bằng nhau, với 3 chức năng khác nhau: giữa là nơi đặt bếp đun, đựng kho lúa và lối đi lại; khoảng trong rộng hơn khoảng ngoài một chútthì ken sạp nằm Khoảng ngoài là những nơi đặt đồ gia dụng
Bộ xương mái gồm hai cây đòn một trên một dưới kẹp dưới đầu các cây rui hay các kèo giả Trên lớp rui là đòn tay hay mè để buộc các phên tranh
Nhà đất thường có hai chái, cột cao 3 mét, phên thưng 1,5 mét Cửa ra vào của nhà đất
thường về phía mái dọc theo nhà Nhà đất lập bằng mái tranh ( được ken bằng từng tấm) Kiến trúc kho lúa trong nhà và kiến trúc mái cửa đã tạo nên đặc trưng trong kiến trúc dân gian Mnông Kho lúa được làm trên sàn trong lòng 4 cây cột cái, cách mặt đất 1,5 mét, dưới gầm sàn kho lúa là nơi dăt bếp đun, 4 cây cột ở khu vực này được chú ý đặc biệt, to hơn các cây cột khác và được trang trí đặc biệt Mái nhà gần buông sát mặt đất nên của ra vào được làm bằng hình vòm, kiểu tò vò Mỗi gia đình thường có 1 gian nhỏ gọi là vang nal để tiếp khách, mỗi không gian riêng biệt có một của ra vào
Về tổ chức mặt bằng
Nếu nhà chỉ có một hộ thì người ta làm hai chái Chái thường rất hẹp khoảng 1 mét Gian thứ nhất có kho thóc, bếp, chỗ nằm của vợ chồng chủ nhà Gian thứ hai dành cho khách, rộng hơn gian khác, có vách ngăn với nhà chủ
Nếu có 2 hộ thì hai gian chủ đặt ở hai đầu nhà, gian khách Cách bố trí trên sạp thuộcphạm vi của từng hộ như sau( kể từ gian có thóc đến gian khách): chỗ nằm của cô gái chưa chồng đến chỗ nằm của cha mẹ đến chỗ nằm của người con trai chưa vợ và các em nhỏ
Nhà sàn
Nhà sàn hiện nay của các nhóm Mnông Rlam, Mnông Chin, chủ yếu là do sống gần người Ê
Đê, mà mô phỏng kiểu nhà của họ
Trang 7Bộ khung của ngôi nhà cũng hình thành trên cơ sở các vì cột Do vậy bộ khung với bộ nóc là hai bộ phận riêng biệt nóc úp trên bộ khung cột Mỗi vì cột nhà chỉ có : 2 cột(kmek), 1 quá giang( êđa) và các vì cột chung nhauhai đòn tay cái dặt ở hai đầu cột
Kết cấu mặt sàn: dưới cùng là các dầm ngang đặt trên các dầm ngang là các dầm dọc, phía trên đặt mộ , lớp cây nhỏ song song với các dầm ngang ở bên dưới trên cùng là lớp dát sàn
Bộ sườn của mái, lớp dưới là các kèo giả Trên kèo là các đòn tay Trên nữa là đến rui rồi đến
mè, trên cùng là lớp cỏ tranh
Nhà có hai mái chính Nhưng có nhà có thêm mái phụ ở hai đầu hồi thụt sâu vào hai mái chính
để tránh mưa hắt vào nhà
Mặt bằng sinh hoạt: trước cửa nhà của người Mnông có 1 cửa dùng chung nhưng có hai cầu thang; cầu thang lớn có tạc hình đôi bầu vú dành cho phụ nữ, còn cầu thang nhỏ hơn dành cho nam giới Thang được đặt vào sân sàn Thangthường là những thân gỗ được đẽo thành bậc để lên xuống
Trên mặt bằng sinh hoạt chia làm hai phần theo chiều ngang: từ cửa trước vào khoảng trên hai gian là phần gah, phần này rộng và là khoảng không gian để tiếp khách và dành cho sinh hoạt chung của cả nhà dài Trong gah có cột khách, đối diện cột khách là cột chiêng, cột thứ 3 là cột ngăn, giới hạn giữa không gian của phần gah và phần ok
Phần ôk chia đôi theo chiều dọc, về phía bên trái được coi là “trên”, phần đối diện là phần dưới phần trên chia thành nhiều phòng nhỏ Phần cuối của phần ôk là của vợ chồng chỏ nhà, tiếp là phòng để đò đồng, ché, ú đồng thời cũng là phòng của con gái út Tiếp nữa là phòng dành riêng cho từng cặp vợ chồng của em gái vợ hoặc các con gái của chủ nhà
Phần dưới là là một hành lang thông thoáng để đi lại dễ dàng
Phương tiện đi lại, phương tiện vận chuyển
Người M’nông giống như các dân tộc khác như Xtiêng, Chơro, Mạ, vốn là cư dân sống ở phía Nam cao nguyên Trung Bộ, với nền kinh tế nương rấy và gắn bó với núi rừng là chủ yếu nên phương tiện vận chuyển chủ yếu là chiếc gùi được đan và tạo hình với đặc trưng khác nhau Chiếc gùi được dung để vận chuyển hoa màu, lương thực, lâm thổ sản và nhiều vật dụng trong lao động và cuộc sống thường nhật tùy từng chức năng vận chuyển mà gùi được đan với kỹ thuật dày, thưa khác nhau Gùi để vận chuyển đi xa thường được đan công phu và trang trí hoa văn
Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú trọng ở vùng người Mnông voi là người bạn thân thiết chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của đồng bào M’nông.Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền độc mộc
Công cụ sản xuất, đồ dung sinh hoạt
Công cụ sản xuất chủ yếu là các công cụ gắn với hoạt động nương rẫy tiêu biểu là chiếc Chà Gạc là công cụ để phát rẫy, rìu để đốn cây to, cuốc để xới đất, gậy chọc lỗ đầu vót nhọn, bọc sắt để tra hạt giống, ống lồ ô để đựng hạt giống, cào và vằng để làm cỏ lúa rẫy, liềm để cắt lúa nếp, lúa tẻ thì tuốt bằng tay cho vào giỏ, gùi để mang về gia đình
Đồ dung sinh hoạt của người M’nông nhìn chung rất ít do cuộc sống trong xã hội cổ truyền khó khăn và chưa phát triển trong gia đình thường có Chiêng, Thanh La bằng đồng để sử dụng
Trang 8trong các nghi lễ, có Ché ủ rượu cần bằng sành sứ, các loại nồi đất nung để nấu cơm và thức
ăn, cối giã gạo, chày tay bằng gỗ… các loại nong, nia, thúng, mẹt, giỏ được đan bằng tre, mây, nứa, giang, lồ ô… nhiều vỏ trái bầu khô được dung để làm đồ đựng ngoài ra còn có các loại ghế dài, ghế chủ, ghế khách và ghế dành cho nhạc công trong các dịp lễ cúng, lễ hội
3) Văn hóa phi vật thể
Ngôn ngữ - chữ viết
Ngôn ngữ M'nông thuộc nhóm Môn- Khơme miền núi phía Nam Trong vốn từ vựng M'nông bộc
lộ rõ sự ảnh hưởng của tiếng Chăm, Ê đê, Giarai, là những ngôn ngữ thuộc nhóm Malayo- Pôlynêxia, bên cạnh sự ảnh hưởng sâu đậm hơn của ngôn ngữ Môn- Khơme Do có nhiều nhóm địa phương như vậy, nên cộng đồng dân tộc M'nông có nhiều phương ngữ, nhưng chủ yếu là phương ngữ M'nông miền Đông và phương ngữ M'nông miền Tây; Sự khác nhau giữa các phương ngữ đó là không đáng kể; Giữa các phương ngữ đó đều dễ dàng nghe và hiểu tiếng nói của nhau
Văn học dân gian
Vốn văn hóa nghệ thuật được lưu truyền qua các thế hệ là chủ yếu là do truyền khẩu Kho tàng truyện cổ M’Nông bao gồm những thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, thế sự… phản ánh quá khứ
về nhận thức của con người về vũ trụ và nhân sinh, đồng thời để lại nhiều dấu vết hoạt động của con người trong xã hội xưa Văn học nghệ thuật dân gian M’Nông đã làm tăng thêm hương sắc cho nền văn hóa dân gian Việt Nam
Truyện cổ M’nông
Thần thoại
Hình ảnh về các vị thần trong thần thoại m’nông không còn rõ rệt và hệ thống như người ê đê Người M’nông có một trí tưởng tượng kỳ lạ.tất cả những gì trong vũ trụ ,qua cách nhìn của họ dường như chúng đều có hồn và sống động cả,họ tin tưởng rằng ở trên trời cũng như dưới đất đều có nhiều vị thần trú ngụ
Truyền thuyết
Truyền thuyết của người m’nông ghi nhận công lao to lớn của vị thần trong việc khia sinh ra tộc người họ.ngoài ra còn một số truyền thuyết giải thích sự ra đời của các dòng họ ,chi tiết tản mạn nói về tục lệ nào đó, phản ánh không gian của bon làng, là dòng hồi tưởng, sợi dây cố kết cộng đồng
Cổ tích
Trong truyện cổ tích m’nông xuất hiện những con người và những con vật kỳ quái ,dị thường thường có 3 loại là truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích thế tục và truyện cổ tích về động vật truyện phản ánh phong phú nếp sống, tập tục sinh hoạt của người m’nông, về kinh nghiệm sống của dân tộc, phản ánh những phẩm chất cao đẹp của đồng bào, đề cao mối quan hệ giữa con người với con người ngoài ra truyện cổ tích m’nông còn phản ánh quan điểm của cộng đồng về sự công bằng xã hội, thông qua việc lí giải những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình
và trong cộng đồng bon làng Đối với người m’nông, con người con vật trời đất đều có linh hồn
và giữa chúng có quan hệ với nhau như con người với con người
Trang 9Truyện ngụ ngôn
Truyện ngụ ngôn m’nông có cốt truyện đơn giản,từ tình tiết cho đến ý tứ có mục đích rõ rệt là tạo ra không khí vui tươi ,giải trí.Tuy vậy ngoài yếu tố gây cười truyện còn có những chi tiết châm biếm ,mỉa mai
Sử thi Ot N’rông (hình thức hát kể các câu chuyện xa xưa của tộc người m’nông).
Trong kho tàng văn hóa Việt Nam, sử thi M’nông mang một giá trị văn hóa hết sức đặc biệt, là
món ăn tinh thần không thể thiếu còn lưu giữ đến ngày nay Sử thi M’nông được tạodựng nên
từ hàng nghìn câu văn có vần điệu, một thể loại văn học truyền miệng với những câu chuyện mang đậm nét thần thoại về các hiện tượng tự nhiên, nhân vật lịch sử tiêu biểu của dân tộc Môi trường diễn xướng thường xuyên của Ot n’rông là trong ngôi nhà ấm cúng của đồng bào
Sử thi m’nông tập trung nói về người anh hùng có công đối với sự hình thành và phát triển của tộc người ,phản ánh về phong tục tập quán ,các nguyên nhân cuộc chiến tranh của các bộ lạc
Ca dao tục ngữ
Văn học truyền miệng m’nông ,ngoài dân ca và truyện cổ còn có ca dao và tục ngữ cũng không kém phần phong phú.Đó là những bài văn vần ,miêu tả nhiều mặt sinh hoạt của nhân dân như: thời vụ,kinh nghiệm sản xuất Ca dao m’nông còn bao chứa những nội dung về tình yêu quê hương xứ sở ,tình yêu đôi lứa ,về trật tự gia đình và xã hội,,,,,
Cách gieo vần trong tục ngữ ca dao m’nông cũng giống cách gieo vần trong thơ ca
Nghệ thuật dân gian
Dân ca m’nông
Dân ca m’nông giàu chất trữ tình ,và được gọi là toong hay tăm pớt với các làn điệu phổ biến như toong, reng, porơ, ttôông, đdoh, tăm pớt là thể loại hát dân ca như hát ru, hát thổ lộ tâm tình hát đối đáp nam nữ thì gọi là đơi lơn hay Păt war Dân ca M’nông nói chung là đoản ca
và rất dễ hát Âm điệu thường lặp đi lặp lại nhiều lần trong một bài.câu trước so với câu sau đều có nhịp tăng giảm để tạo nên âm thanh trầm bổng dân ca M’nông có giao thoa với dân ca
Ê đê gọi là mmuinh Trong đám đám ma, tiếng khóc, lời kể cũng phải tuân theo nguyên tắc, yêu cầu bài bản được lưu truyền từ lâu đời
Âm nhạc dân gian
Bên cạnh kho tàng văn học truyền miệng,cái tô điểm thêm cho đời sống tinh thần của người m’nông được lành mạnh là những âm thanh huyền ảo bởi các bộ nhạc đồng và hàng chục loại nhạc cụ do đồng bào tự làm
Truyền thống âm nhạc của đồng bào m’nông đã đi vào nếp sinh hoạt như một nhu cầu không thể thiếu
Các hình thức ca hát dân gian của người m’nông gồm có: Buh brah( khấn thần),ngơi brah(ca hát), họ coi đây là một hình thức kể chuyện thơ, tăm n’ding( một loại ca kể chuyện)
Trang 10Nhạc cụ của người M’nông cũng rất độc đáo, đa dạng về âm điệu và chức năng Âm nhạc là một phần không thể thiếu trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của con người nói chung và người M'nông nói riêng Đặc biệt, nó gắn với môi trường sinh sống, gắn với tâm hồn của người Tây Nguyên Các nhạc cụ được làmbằng tre nứa, gỗ, vỏ bầu, sừng, bằng kim loại và còn có những bộ đàn đá đã tạo nên những nét chấm phá riêng để phục vụ đời sống tinh thần Dù bằng một ống nứa, thanh tre, quả bầu thì các loại nhạc cụ dân gian đều rất độc đáo
Vũ điệu dân gian
Vũ điệu dân gian ở vùng m’nông có phần kém phát triển , mấy chục năm gần đây người ta không thấy xuất hiện một điệu múa nào trong các nghi lễ phong tục
Vào khoảng trước năm những điệu múa ngựa cổ truyền thường được thanh niên nam diễn tả trong các buổi lễ cưới hoặc hoặc dịp hội mùa ăn lớn
Trang trí dân gian
Về nghệ thuật tạo hình thì nét nổi bật nhất là cách thêu dệt hoa văn trên nền vải , thể hiện chủ yếu ở tấm mền chăn ,mền địu trẻ nhỏ ,những bộ y phục của nam nữ như: váy,áo ,khố và khăn đôi đầu của phụ nữ hoa văn chủ yếu là hình dọc, động vật, thực vật, hoa văn mô tả công cụ sản xuất mô típ hoa văn quen thuộc là chân nhện, hạt dưa, quả tram, lá đậu, cành đa, chà gạc, bẫy chông…
Hoa văn M’nông còn được thể hiện sinh động trên những đồ đan bằng tre,trúc nghệ thuật đan cài hoa văn trên các công cụ bằng nan ở đây là một đặc thù có tính truyền thống, những hoa văn chủ yếu trên nền vải là: cành đa,lá đậu,trái trám.đồng bào dùng biện pháp hun nhuộm từng loại nan để lấy màu đen, vàng, cánh dán ,, nên khi đan cài mọi đường nét hoa văn được hiện hình rõ nét
Tri thức dân gian
Căn cứ vào quy luật của thời tiết, vào quy luật sinh trưởng của các loại lúa rẫy, ngô, hoa màu… đồng bào M’nông thường gieo trồng vào tháng 3 và thu hoạch sớm vào tháng 6, lúc muộn vào tháng 10 Tùy từng loại đất mà có cách khai thác hiệu quả đối với năng suất cây trồng đất rẫy trồng lúa, tùy chỗ tốt xấu mà bỏ hóa sau 2, 3 vụ tới 10 hoặc 15 năm sau mới quay lại trồng hoặc nếu đất xấu có thể di chuyển cả làng đi tìm vùng đất mới hoặc rẫy nào trồng lúa rẫy nào trồng ngô thì phù hợp hơn Tri thức về loại thực vật biểu hiện tập trung trong việc chọn nguyên liệu để làm nhà (loại nào làm cột, loại nào làm phên vách, loại nào lợp mái, loại nào dùng làm dây buộc hoặc loại cây thuốc để thả xuống suối cho cá ăn vào say để đánh bắt… hay đến việc lựa chọn gỗ để làm quan tài khi chết
Lễ hội
Các lễ hội gắn với tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp nương rẫy và nhiều tập tục của cư dân bản địa lâu đời các lễ hội gắn với quy mô tộc người gắn với đời sống nông nghiệp là các lễ hội cầu mùa trước khi gieo trồng, lễ mừng cơm mới, cúng hồn lúa, cúng thần rừng… trong những dịp này đồng bào có sử dụng lễ vật, vật hiến sinh là các con vật chăn nuôi hoặc đi săn… để dâng lên thần linh, đánh cồng chiêng mua hát, bày tỏ long biết ơn đối với trời đất, thần linh và cầu mông tiếp tục phù hộ cho đời sống và mùa màng được thuận lợi
Tết