ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐAO VĂN BÁCH Tên đề thi: Theo anh/chị, ngành sản xuất rau của Việt Nam cần có sự đổi mới và định hướng như thế nào để sản phẩm của Việt Nam đạ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐAO VĂN BÁCH
Tên đề thi:
Theo anh/chị, ngành sản xuất rau của Việt Nam cần có sự đổi mới và định hướng như thế nào để sản phẩm của Việt Nam đạt chất lượng an toàn và sản lượng cao phục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu có hiệu quả trong những năm tới?
Hãy nêu các loại rau được canh tác chủ yếu và diện tích của các loại rau đó tại địa phương học viên?
( TIỂU LUẬN: MÔN CÂY RAU)
Hệ đào tạo: Vừa học - vừa làm
Giảng viên: TS Đào Thị Thanh Huyền
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 2Câu hỏi 1: Theo anh (chị), ngành sản xuất rau của Việt Nam cần có sự đổi mới
và định hướng như thế nào để sản phẩm của Việt Nam đạt chất lượng an toàn và sản lượng cao phục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu có hiệu quả trong những năm tới?
1 Ngành sản xuất rau của Việt Nam cần có sự đổi mới và định hướng như thế nào để sản phẩm của Việt Nam đạt chất lượng an toàn
- Việc phát triển ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp là một định
hướng lớn của Đảng và Nhà nước ta để "tạo bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn" (Nghị quyết TW5, khoá IX), "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao "(Nghị quyết Đại hội X, Đảng Cộng sản Việt Nam)
- Sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sẽ giúp cho việc tạo vùng sản xuất hàng hóa tập trung, khai thác hợp lý đất đai, tiết kiệm đất cho nông nghiệp, giải quyết công việc làm, hình thành tập quán canh tác theo hướng nông nghiệp hàng hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Đặc biệt ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp đem lại lợi ích rất lớn trong việc phát huy cao độ tiềm năng năng suất, chất lượng của giống, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho các sản phẩm nông nghiệp, giá thành hạ, hiệu quả kinh
tế, đảm bảo môi trường sinh thái Đây cũng là xu thế hội nhập mà chúng ta phải đi theo.Tuy nhiên phải phù hợp với điều kiện của Việt nam cả về tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường…
- Để thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ, phải có sự tham gia cả từ phía Nhà nước, doanh nghiệp và người dân
+ Nhà nước cần có cơ chế chính sách để thúc đẩy việc phát triển ngành công nghiệp
hỗ trợ phục vụ nông nghiệp nói chung và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nói riêng Hiện đã có một số doanh nghiệp sản xuất ra các mặt hàng này nhưng mức độ tiêu thụ chưa cao, cần được quan tâm khuyến khích bởi thị trường đã có sẵn và nhu cầu đang ngày một cao Các doanh nghiệp cũng cần xem xét, tính toán để lựa chọn những công nghệ, quy mô đầu tư phù hợp, làm sao để hàng sản xuất ra đáp ứng được nhu cầu của người dân
+ Nhà nước hoàn toàn có thể thống kê được mỗi năm chúng ta nhập khẩu bao nhiêu màng phủ, lưới che, bao nhiêu giá thể để cung cấp thông tin cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nắm bắt chính xác nhu cầu trong nước để định hướng đầu tư Đồng thời, cần
có chính sách ưu tiên các doanh nghiệp trong việc thuê đất, vay vốn, xây dựng các mô hình
Trang 3chương trình liên quan với sự hỗ trợ của Nhà nước; khuyến khích lựa chọn các sản phẩm trong nước, từ đó khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho công nghiệp hỗ trợ dành cho nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
2 Sản lượng cao phục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu có hiệu quả trong những năm tới
Sản xuất theo những tiêu chí của GAP (Good Agricultural Practice), đây là một
nhu cầu khách quan trong xu thế hội nhập Trong tình hình nước ta tham gia tổ chức thương mại thế giới (WTO), khu vực thương mại tự do (AFTA) hàng rào thuế quan được thay thế bởi các quy định về an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật Sản phẩm nông nghiệp phải đảm bảo các tiêu chuẩn xuất khẩu là đòi hỏi khách quan Vì vậy, việc sản xuất theo tiêu chuẩn GAP là nhu cầu cần thiết để kịp thời đáp ứng cho việc cung cấp sản phẩm nông nghiệp ra thị trường thế giới góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Mường Tè hiện nay
Vậy với mục tiêu đánh giá tác động của GAP đến hiệu quả sản xuất của bà con nông dân, trên cơ sở đó tiếp tục triển khai và khuyến khích bà con cùng tham gia ứng dụng phương thức canh tác tiến bộ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng tốt nhu cầu và sức khỏe của người tiêu dùng, dự án tập trung nghiên cứu so sánh hiệu quả sản xuất, những khác biệt trong ý thức và nhận xét đánh giá của nhóm nông dân đang tham gia thực hiện dự
án thí điểm GAP và nhóm nông dân đang canh tác theo qui trình rau an toàn thông thường
Dự án được triển khai từ tháng 06/2006 đến nay, thời gian chưa đủ dài để có thể đánh giá đo lường được hết những tác động đến đời sống sản xuất kinh doanh của bà con nông dân Nhưng hy vọng với những kết quả nghiên cứu và quan sát được, nghiên cứu sẽ góp phần cùng các cơ quan chức năng có những biện pháp hỗ trợ thiết thực để bà con mạnh dạn ứng dụng qui trình canh tác mới, nâng cao hiệu quả sản xuất, đáp ứng tốt nhu cầu thiết thực của người tiêu dùng trong và ngoài nước
* Tiêu chuẩn VIETGAP
- Dựa trên 4 tiêu chí:
+ Tiêu chí về kỹ thuật sản xuất đúng tiêu chuẩn
+ Tiêu chí về an toàn thực phẩm gồm các biện pháp đảm bảo không có hóa chất nhiễm khuẩn hoặc ô nhiễm vật lý khi thu hoạch
+ Tiêu chí về môi trường làm việc phù hợp với sức lao động của người nông dân
Trang 4+ Tiêu chí về nguồn gốc sản phẩm từ khâu sản xuất đến tiêu thụ.
* Rau an toàn (RAT)
- Phải theo 10 bước quy định theo tiêu chuẩn VietGAP
+ Chọn đất trồng
+ Nguồn nước tưới
+ Giống
+ Phân bón
+ Phòng trừ sâu bệnh
+ Sử dụng một số biện pháp khác
+ Thu hoạch
+ Sơ chế và kiểm tra
+ Vận chuyển
+ Bảo quản và sử dụng:
- Để sản xuất và hình thành chuỗi sản xuất rau sạch cho người tiêu dùng, người dân cần giữ chữ tín hàng đầu Đồng thời, đảm bảo lợi nhuận cho người dân Vì vậy, người dân không nên bất chấp vì lợi nhuận dẫn đến mất chữ tín với người tiêu dùng Tuy nhiên, để việc sản xuất, phát triển rau sạch bền vững cần có sự quan tâm, tạo điều kiện của chính quyền các cấp trong việc xem xét, hỗ trợ cơ sở vật chất và tuyên truyền, nâng cao ý thức người tiêu dùng hướng đến rau sạch để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Bên cạnh đó, cần tính toán hợp lý bài toán về cung - cầu, tăng cường liên kết tạo chuỗi cung ứng liên tục cho thị trường thì vấn đề phát triển rau sạch
- Chủ trương không sản xuất nhỏ, lẻ, không “đánh trống bỏ dùi” mà liên kết chuỗi
để tiến tới sản xuất rau sạch bền vững là một trong những hướng đi mà ngành nông nghiệp tỉnh, huyện, quan tâm, đẩy mạnh trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Việc tập trung sản xuất rau màu theo hướng an toàn vệ sinh thực phẩm là một nhu cầu rất cần thiết, đặc biệt là trước tình trạng nhiều sản phẩm không rõ nguồn gốc trên thị trường hiện nay
Câu hỏi 2 Hãy nêu các loại rau được canh tác chủ yếu và diện tích của các loại rau đó tại địa phương của học viên?
1 Đăc điểm tình hình chung
Trang 5- Huyện Mường Tè nằm phía Bắc giáp của tỉnh Vân Nam Trung Quốc, cách trung tâm huyện 130,229 km
Tổng diện tích tự nhiên là: 267.934,16 ha, trong đó đất nông nghiệp là: 107.234,6 ha, đất lâm nghiệp là: 160.699,56 ha, còn lại là đất khác phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Nam giáp huyện Nậm Nhùn; Phia đông giáp huyện Sìn Hồ, phía Tây giáp huyện Mường Nhé tỉnh Điện Biên Do chịu ảnh hưởng lớn của hoạt động kiến tạo địa chất nên Mường Tè có địa hình rất phức tạp, mức độ chia cắt sâu và ngang rất mạnh bởi các dãy núi cao chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, phổ biến là kiểu địa hình núi cao và núi trung bình xen lẫn thung lũng Độ cao trung bình từ 900 - 1.500m so với mặt nước biển nhiều đỉnh có độ cao trên 2.000m như đỉnh Phu Xi Lung (3.076m)
Nhiệt độ trung bình: 150C200 C; Vùng núi thấp nhiệt độ đạt 230 C Tổng nhiệt độ trung bình toàn huyện là 22.40 C
Khí hậu Mường Tè mang đặc điểm của vùng nhiệt đới núi cao Tây Bắc, ít chịu ảnh hưởng của bão, thời tiết quanh năm chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh, mưa
ít, mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều
Chế độ mưa: Hàng năm mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 trùng với kỳ thịnh hành của gió Tây Nam: vùng cao lượng mưa lên tới 3000mm/năm, vùng núi trung bình có biến động từ 2000 2500mm Vùng núi thấp và thung lũng từ 1500 -1800mm Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa ít (316,4mm), trong thời gian này thường có sương mù và suất hiện sương muối vào một số ngày trong tháng 1 và tháng 2 Lượng mưa trung bình năm là 2.531mm, tháng 7 chiếm 87,5% lượng mưa cả năm
Chế độ nhiệt: Do chịu ảnh hưởng của địa hình nên chế độ nhiệt cũng phân hóa theo
vùng trong đó: Vùng núi cao như ở các xã vùng cao biên giới (Ka Lăng, Tà Tổng, Thu
Lũm, Tá Bạ, Mù cả, Pa Vệ Sủ) Nhiệt độ cao trung bình 150C; Vùng núi cao trung bình (Pa
Ủ, Nậm Khao, Bum Tở, Mường Tè) nhiệt độ trung bình đạt 200 C; Vùng núi thấp nhiệt độ đạt 230 C Tổng nhiệt độ trung bình toàn huyện là 22.40 C
Chế độ gió: Từ tháng 3 - tháng 7 thường có gió mùa Tây Nam, gió mùa Đông Nam thổi mạnh từ tháng 4 - tháng 10, gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 11 - tháng 3 Đây là loại đất chiếm đa số trong tổng diện tích đất của huyện Mường Tè, đất ở đây phù hợp với sự phát triển các loại cây công nghiệp như: Cây Quế, cây Mắc ca, cây Sa nhân tím, cây thảo
Trang 6quả, cây ăn quả, rau… thuận lợi cho phát triển sản xuất Nông - Lâm nghiệp Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội đến năm 2025, Đảng bộ huyện Mường Tè, đã xác định rõ mục tiêu phát triển kinh tế về các loại cây trồng, thâm canh nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống người dân trên địa bàn Tuy nhiên, công tác quản lý đối với việc phát triển các loại cây, con giống hiệu quả chưa cao, chưa có chính sách phù hợp riêng cho từng địa phương để tạo cơ sở khai thác mọi tiềm năng nâng cao hiệu quả trong việc phát triển cây, con giống Sự phát triển của sản phẩm còn phụ thuộc rất lớn vào chính sách
hỗ trợ của nhà nước, vì thế việc khắc phục những yếu kém và thiếu sót trong hệ thống các chính sách là hết sức cần thiết và cấp bách
2 Cây rau trồng chủ yếu trên địa bàn huyện Mường Tè chúng em gồm có;
- Rau, củ, quả các loại: thực hiện là: 45 ha Trong đó:
+ Rau cải địa phương: 25,0 ha
+ Rau khoai lang: 10,0 ha
+ Rau ngót: 2,5 ha
+ Rau cải bắp: 7,5 ha
+ Rau mùi các loại 5,7 ha như ( Húng, Tỳ là, tía tô, kinh giới, bặc hà vv)
+ Củ tỏi địa phương : 4,5 ha
+ Củ hành địa phương 3,6 ha
+ Củ khoai tây: 4,5 ha
+ Quả Cà chua: 2,5 ha
+ Quả Ớt: 1,2 ha
+ Quả bí đỏ: 2,1 ha
+ Quả đỗ xanh: 1,5 ha
- Các loại cây trồng trên, trên địa bàn huyện Mường Tè được trồng chủ yếu nhỏ lẻ ở các hộ phục vụ gia đình là chủ yếu
- Ngoài các loại rau, củ quả nêu trên toàn nhập bên ngoài tỉnh vào huyện như:
+ Củ hành tây, cần tây, su su, ngọn su su, cà rốt, bí đao nhập từ (Sa Pa) Cải bắp nhập
từ ( Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên)
+ Để có bước phát triển mới về cây rau, củ quả sạch an toàn trên địa bàn huyện Mường Tè trong tình hình hiện nay cần có sự đầu tư, hỗ trợ của nhà nước, tiếp tục thu hút các doanh nghiệp liên doanh, liên kết với nhân dân để tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm,
Trang 7nâng cao giá trị nông sản; thực hiện tốt các mô hình khuyến nông, khuyến lâm, các chương trình dự án, chuyển giao hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất thì mới phát triển được trong thời gian tới