1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm biến và hệ thống đo lưu lượng, đo mức

53 19 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cảm Biến Và Hệ Thống Đo Lưu Lượng, Đo Mức
Tác giả Nguyễn Khắc Phi
Trường học Trường Đại Học
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 914,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Khắc Phi 3 Chương 1 CẢM BIẾN ĐO LƯU LƯỢNG, ĐO MỨC 1.1.Nguyên lý đo lưu lượng Đo lưu lượng có tầm quan trọng đặc biệt trong các mạng lưới vận chuyển chất lưu ống dẫn khí, ống dẫn

Trang 1

bị cảm biến nhằm mục đích phục vụ cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thuỷ điện…Trong công nghiệp, nông nghiệp các cảm biến dùng để biến đổi các đại lượng không điện cần đo thành các đại lượng điện có thể đo được (như dòng điện, điện áp, điện thế, điện dung…) Các cảm biến còn sử dụng để kiểm tra chất lượng sản phẩm, đo lưu lượng, đo mức nước để điều tiết nước trong các hệ thống thuỷ lợi , thuỷ nông cho phù hợp với nhu cầu sản xuất Các cảm biến đo mức được sử dụng nhiều trong các hệ thống thuỷ đIện, thuỷ văn và phòng chống thiên tai lũ lụt…Những tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại

đã giúp chúng ta có thể thực hiện nhanh chóng các phép đo với độ chính xác cao

Vì lý do đó nên tôi đã chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp của mình

Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu “cảm biến và hệ thống đo lưu

lượng , đo mức” từ đó đã đưa một số ứng dụng trong kỷ thuật

Trang 2

Luận văn bao gồm 2 chương

Chương 1: Cảm biến đo lưu lượng, đo mức

Giới thiệu nguyên lý đo lưu lượng, đo mức và các cảm biến đo lưu lượng đo mức

Chương 2: Các hệ thống đo lưu lượng, đo mức và một vài ứng dụng

Giới thiệu một số hệ thống dùng các thiết bị cảm biến để đo lưu lượng,

đo mức và đã đưa ra một ứng dụng cụ thể đó là hệ thống kiểm soát tự động mức xăng dầu PLS - 100

Các cảm biến đo lưu lượng, đo mức là những thiết bị thường gặp trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta Vì vậy, việc nắm vững cơ chế đo của chúng sẽ giúp chúng ta chủ động hơn khi đối mặt với những thiết bị đo hiện đại Mong rằng luận văn này

sẽ là tài liệu tham khảo tốt cho những ai quan tâm vấn đề này

Trang 3

Nguyễn Khắc Phi 3

Chương 1 CẢM BIẾN ĐO LƯU LƯỢNG, ĐO MỨC 1.1.Nguyên lý đo lưu lượng

Đo lưu lượng có tầm quan trọng đặc biệt trong các mạng lưới vận chuyển chất lưu (ống dẫn khí, ống dẫn dầu) và trong mọi thiết bị công nghiệp khi cần khống chế lượng chất lưu tham gia vào các quá trình như ở lò phản ứng hoá học, nhà máy sản xuất năng lượng, động cơ đốt trong

1.1.1 Lưu lượng kế điện từ

Khi đo đoạn dây AB chiều dài l chuyển động tĩnh tiến trong trường cảm ứng từ B với vận tốc v trong khoảng thời gian dt (hình 1.1) có thể viết biểu thức cho các đại lượng cơ bản sau đây:

Diện tích cắt : dsc = l.v sin.dt (1.1) Hoặc dưới dạng véc tơ : dsc= l vdt (1.1') Trong đó l AB

Từ thông bị cắt : dc = B.d s.dt (1.2) -Suất điện động cảm ứng :

e = - B v l

dt

c d

Trang 4

Khi v vuông góc với l và B vuông góc với mặt phẳng tạo bởi l và

v ta có :

e = B l v (1.4) Công thức này có thể tổng quát hoá cho trường hợp chất lưu dẫn điện chảy trong đường ống đường kính D có vận tốc v vuông góc với B Suất điện động cảm ứng dọc theo đường kính vuông góc với v và B có dạng

e = B D v (1.5) Trên thực tế vận tốc thay đổi tuỳ vị trí của điểm trên bán kính ống, nhưng

do phân bố đối xứng quang trục của ống, cho nên v đo được là vận tốc trung bình của dòng chảy.Trong những điều kiện như vậy, tính hiệu e tỷ lệ với lưu lượng

* Cấu tạo của cảm biến

Từ trường 10-3  10 -2T được tạo ra bằng cách dùng hai cuộn dây đặt ở hai phía của đường ống Đường ống dẫn làm bằng vật liệu

Hình 1.2 Lưu lượng kế điện từ

Không từ tính, mặt bên trong ống được pha chất cách điện, hai điện cực lấy tín hiệu đặt ở hai đầu đường kính vuông góc với đường sức của từ trường Các cuộn dây được nuôi bằng nguồn xoay chiều tần số 30Hz (hình 1.2)

Điệ

n

Khuyếch đại

vi sai Cuộn dây

Cuộn dây

Trang 5

Nguyễn Khắc Phi 5

e= v.D.B0 Cos ( t +) (1.6)

Trong đó B0 là trị cực đại của cảm ứng từ B0 = BMax , là tần số (của cảm ứng từ) Biên độ của tín hiệu tỷ lệ với v và có giá trị cỡ mV

* Các đặc trưng

Các chất lưu cần phải có độ dẫn điện không nhỏ hơn cỡ : scm-1

Lý do là bởi vì điện trở trong của cảm biến phải nhỏ hơn rất nhiều so với điện trở vào của thiết bị đo

Phạm vi đo của lưu lượng kế điện từ là hàm của đường kính ống dẫn Đường kính càng rộng thì giới hạn thấp và cao càng chuyển dịch về phía lưu lượng lớn

Thí dụ : - D = 10 mm, lưu lượng nhỏ nhất Qmin = 0,28m3/h, lưu lượng lớn nhất QMax = 2,8 m3/h

- D = 1m, QMin = 2800 m3/h

Qmax = 28.000 m3/h

Độ chính xác của lưu lượng kế đạt được cỡ  1%

Ưu điểm : Lưu lượng kế điện từ là ở chỗ việc đo đạc không phụ thuộc

vào đặc tính vật lý của chất lưu (như mật độ , độ nhớt, độ dẫn điện với điều kiện nó phải lớn hơn một vài s cm-1) Ngoài ra thiết bị này có khả năng chống xói mòn bằng cách chọn lớp phủ và kim loại diện lưu thích hợp Ti, Pt)

1.1.2 Lưu lượng kế cơ dùng chuyển đổi điện

1.1.2.1 Lưu lượng kế tua bin

Lưu lượng kế dùng chuyển đổi điện cũng giống như của đầu đo gió dùng chong chóng, dòng chất lưu làm quay tua bin đặt ở trục của ống dẫn

Trang 6

Tốc độ quay N của cánh tua bin (số vòng quay trong một giây ) Tỷ lệ với lưu lượng Q:

Q = K.N (1.7) Trong đó hệ số K phụ thuộc vào cấu tạo cụ thể của lưu lượng kế nhưng về nguyên tắc nó không phụ thuộc vào chất lưu Có nhiều biểu thức thiết lập cho

hệ số K với giả thiết bỏ qua sự nổi cơ học và hiệu ứng của độ nhớt

K = 2rA Cotg (1.8) Trong đó r là bán kính trung bình của cánh tua bin, A là tiết diện cắt ngay dòng chảy ,  là góc giữa cánh và trục của tua bin

A = AC - Ar (1.9) Trong đó : - AC là tiết diện trong của ống đo

- Ar là diện tích mặt cắt ngang của Roto Phương pháp đổi tốc độ quay thành tín hiệu cũng tương tự như trong trường hợp đầu đo gió chong chóng Các đặc trưng kỷ thuật của lưu lượng kế tua bin như sau :

- Phạm vi đo : 0,3m3/h  36000 m3/h đối với các chất khí

0,01m3/h  14000 m3/h đối với các chất lỏng

- Độ chính xác : 1%  2 %

- Độ lặp lại : Tốt hơn  10,5%

- Độ tuyến tính:  0,5  1,5% phụ thuộc vào độ nhớt

- Thời gian hồi đáp : khoảng một vài ms Các lưu lượng kế tua bin có ưu điểm là dễ xử lý tín hiệu.Tuy vậy khi làm việc với chúng phải đảm bảo yêu cầu là chất lưu không có bọt khí và các sợi hoặc hạt có kích thước đáng kể Thêm vào đó, để đảm bảo độ chính xác của kết quả đo, lưu lượng kế phải được đặt ở đoạn ống thẳng để tránh dòng xoáy

Trang 7

Nguyễn Khắc Phi 7

1.1.2.2 Lưu lượng kế phao nổi

Nguyên lý đo lưu lượng kế phao nổi

Lưu lượng kế loại này có cấu tạo gồm phao nhỏ đặt trong ống thẳng

đứng hình nón (hình 1.3)

Hình 1.3 Sơ đồ nguyên lý cấu tạo của lưu lượng kế phao nổi

Ở trạng thái cân bằng phao chịu tác động của ba lực chủ yếu là lực đẩy

Acsimét, lực cản và trọng lượng Trạng thái cân bằng này được biểu diễn bởi

- V là thể tích và 0 là khối lượng riêng của phao

- U là vận tốc và  là khối lượng riêng của chất lưu

- Cx là hệ số lực cản và s là diện tích của hình chiếu của phao trên mặt phẳng vuông góc với vận tốc U

S = (.D2)/ 4

Z

D 0

D

Trang 8

0 2

S C

gV D

aZ D

có thể chuyển thành tín hiệu điện bằng cách dùng điện kế có trục gắn liền với trục lá chắn

Ưu điểm của lưu lượng kế dùng lá chắn là rẽ tiền và chắc chắn

Lò xo lá Dịch chuyển

U

lá chắn

Trang 9

Nguyễn Khắc Phi 9

1.1.2.4 Lưu lượng kế khối lượng nhiệt

Lưu lượng kế khối lượng có cấu tạo gồm một ống dẫn bằng kim loại mảnh có đường kính nhỏ Phía ngoài của ống kim loại được cuốn một sợi dây đốt bằng điện trở ở chính giữa, hai cảm biến nhiệt độ để đo T1 ở thượng nguồn (đâù vào) và T2 ở hạ lưu (đầu ra) được đặt ở hai phía sợi đốt và đối xứng qua sợi đốt Hình (1.5)

Hình 1.5 Lưu lượng kế khối nhiệt

a- Sơ đồ nguyên lý cấu tạo

b - Đường cong nhiệt độ

- Khi không có dòng chảy lưu lượng bằng không (Q = 0), sự truyền nhiệt ra hai phía của sợi đốt là như nhau, hiệu ứng nung nóng sẽ đối xứng và trong trường hợp này T1 = T2 (Hình 1.5 a)

- Khi lưu lượng khác không Q0, T1 giảm và T2 tăng (hình 1.5b) sự khác nhau giữa T1 và T2 (T = T1 - T2 ) tỷ lệ với lưu lượng Q

Cảm biến nhiệt độ Nung nóng

Không có dòng chảy

Có dòng chảy

(a)

(b)

Trang 10

Trường hợp trên hình vẽ, chức năng nung nóng và đo T thực hiện bằng hai điện trở nhiệt có dòng điện đủ lớn chạy qua

1.2 Các cảm biến đo lưu lượng

1.2.1 Đo lưu lượng theo độ giảm áp thay đổi

Một trong những phương pháp khá phổ biến để đo lưu lượng dịch thể

chất khí và hơi quá nhiệt chảy trong đường ống là hiệu áp suất hai bên thiết bị thu hẹp.Thiết bị thu hẹp đóng vai trò cảm biến đo, được đặt trong đường ống tạo nên điểm thắt chặt dòng chảy cục bộ trong đường ống dẫn Như vậy tại vị trí đặt thiết bị thu hẹp tốc độ của dòng chảy tăng lên, nghĩa là động năng tăng lên sẽ dẫn đến thế năng của dòng chảy giảm xuống Tại vùng đặt thiết bị thu hẹp sẽ có hiện tượng chuyển đổi thế năng sau thành động năng của dòng chảy

Hình 1.6 Sơ đồ dòng chảy và phân bố áp suất trên thành ống

Hai bên thiết bị thu hẹp sẽ xuất hiện áp suất P phụ thuộc vào lưu lượng của dòng chảy (hình 1.6) mô tả sơ đồ đặc tính của dòng chảy ở xung quanh thiết bị thu hẹp và sự thay đổi áp suất trên thành ống dẫn P Dòng chảy khi đến gần thiết bị thu hẹp thì bắt đầu thắt lại (từ mặt cắt I -I) và tạo dòng xoáy đập lên thành ống Sau khi qua khỏi thiết bị thu hẹp, do quán tính dòng

Trang 11

Nguyễn Khắc Phi 11

chảy vẫn tiếp tục bị thắt lại cho đến mặt cắt II - II đạt tiết diện nhỏ nhất, sau

đó dòng chảy bắt đầu nở dần ra cho đến khi điền đầy đường ống phía trước và phía sau thiết bị thu hẹp tạo nên các dòng chảy ngược (dòng chảy xoáy) Đây

là nguyên nhân gây ra tổn thất áp suất (tổn thất năng lượng ) của dòng chảy Xét sự phân bố áp suất trên thành ống: từ mặt cắt I - I trở về trước áp suất không thay đổi, còn trở về sau cho đến thiết bị thu hẹp áp suất tăng lên do dòng xoáy đập vào thành ống Qua khỏi thiết bị thu hẹp áp suất đột ngột giảm xuống và theo đà quán tính của dòng chảy áp suất tiếp tục giảm cho đến mặt cắt II - II thì đạt giá trị cực tiểu PII Sau mặt cắt II - II áp suất trên thành ống từ

từ tăng lên cho đến giá trị xác lập khi dòng chảy điền đầy đường ống Giá trị

áp suất xác lập khi dòng nhỏ hơn giá trị áp suất ban đầu trước thiết bị thu hẹp

vì có tổn thất áp suất p đo thiết bị thu hẹp gây ra Giá trị P = PI - PII được gọi là hiệu áp suất do thiết bị thu hẹp tạo ra

Để xây dựng phương trình lưu lượng, chúng ta giả sử dòng chảy trong đường ống là chất lỏng lý tưởng, nghĩa là không bị nén và không gây ra tổn thất áp suất (p = 0) Theo định luật bảo toàn năng lượng (định luật Becnuli)

để cho mặt cắt I - I và II - II ta có :

PI +

2 2

2 2

II II

II 

(1.15)

Trang 12

Theo định luật bảo toàn vật chất (định luật liên tục của dòng chảy) để cho chất lỏng lý tưởng ta có

SI VI = SII.VII (1.16) Với SI , SII là tiết diện của dòng ở mặt cắt I - I và II - II (m2)

Từ công thức (1.16) ta có

VI = 0 `

.

I o

II II I

II

V S

S S

S V S

V)m1(

Suy ra : VII = P

m1

1

Trang 13

m

 được gọi là hệ số lưu lượng

Công thức để tính lưu lượng cho chất lỏng không bị nén có dạng

q = SP IP II

 0 2 (m3/s) Hoặc có thể viết q =  S0 2  (P IP II) (kg/s)

Để cho chất lỏng bị nén, chất khí hoặc hơi quá nhiệt, khi áp suất thay đổi thể tích của chúng sẽ thay đổi Vì vậy trong công thức để tính lưu lượng phải có thêm hệ số  đặc trưng cho tính chất thay đổi thể tích khi áp suất thay đổi được gọi là hệ số nén, công thức để tính lưu lượng của chất lỏng bị nén, chất khí và hơi quá nhiệt có dạng

q = . S0 2(P IP II)

 (m3/s) Hoặc có thể viết q =  S0 2  (P IP II) (kg/s)

Chú ý: Công thức tính lưu lượng chỉ áp dụng cho các trường hợp tốc độ của

dòng chảy tại thiết bị thu hẹp chưa đạt đến tốc độ giới hạn (tốc độ truyền âm thanh trong môi trường dòng chảy)

1.2.2 Đo lưu lượng theo độ giảm áp không đổi

Theo kết quả đã phân tích trong mục 1.2.1 ta thấy lưu lượng của dòng chảy khi đi qua bộ phận thu hẹp của dòng chảy tỷ lệ với căn bậc hai của hiệu

Trang 14

áp suất hai bên bộ phận thu hẹp và tỷ lệ bậc nhất với diện tích thoát của dòng chảy tại vị trí thu hẹp tức là

q = C.S P

Trong đó : - C là hệ số tỷ lệ

- S là tiết diện ngang dòng chảy Như vậy nếu tạo được thiết bị thay đổi được S khi q thay đổi và bảo đảm P = const thì sẽ là mối quan hệ gần như tuyến tính giữa q và S thiết bị này được gọi là phương pháp đo lưu lượng theo độ giảm áp không đổi Sơ đồ nguyên lý cấu tạo của Rotamét được mô tả trên hình 1.7 Nó là một ống hình côn 1 đặt theo phương thẳng đứng, đáy lớn giá trên dưới áp lực của dòng chảy, phao được đẩy lên tiết diện thoát của dòng chảy tăng lên, áp lực của dòng chảy trên phao giảm xuống Khi áp lực của dòng chảy lên phao cân bằng với trọng lượng của phao thì phao sẽ ngừng dịch chuyển

Ta có phương trình cân bằng của phao

P1Sp + KVn.Sb = P2Sp + (P d).V.g

Trong đó :

-S là diện tích mặt cắt ngang lớn nhất của phao p

-Vn là tốc độ trung bình của dòng chảy tại vòng xuyến quanh phao

- Sb là diện tích mặt cắt bên của phao

- K là hệ số trở lực giữa dòng chảy và mặt bên của phao

- n là chỉ số phụ thuộc trở lực vào tốc độ

-plà khối lượng riêng của phao

- dlà khối lượng riêng của dòng chảy

Trang 15

Nguyễn Khắc Phi 15

Cấu tạo của Rotamet

Như vậy P1 - P2 = n b

d p P

S KV g V

Khi lưu lượng thay đổi thì diện tích vòng xuyến thoát của dòng chảy

thay đổi Vì vậy có thể xem tốc độ trung bình của dòng chảy trong vùng vòng

xuyến là không thay đổi (V= const ) khi lưu lượng của dòng chảy thay đổi

Như vậy P1 - P2 = const Đây chính là cơ sở để nói Rotamét là thiết bị đo lưu

lượng theo chế độ giảm áp không đổi

Trong thực tế, ngoài các lực đã nêu ra, còn có lực đo động năng của dòng

chảy tác động lên phao Lực này được xác định theo công thức

fd = 

2

2 1

).

[(

S S KV g V S

d p b n d

p p

Theo công thức (1.20) có thể thấy rằng: Khi lưu lượng tăng lên thì hiệu

áp suất P1 - P2 giảm Nhưng khi lưu lượng tăng thì tổng số độ chênh áp trên

Rotamét tăng lên Điều này là do tổn thất áp suất tăng lên khi lưu lượng đi

qua Rotamét tăng

Để xây dựng phương trình lưu lượng giữa Rotamét, ta đánh giả sử dòng

chảy qua nó là chất lỏng không bị nén Phương trình Becnuli để cho mặt cắt

dưới mà mặt cắt trên của phao có dạng

Trang 16

g

V l g

V g

P l g

V g

P

2 2

2

2 2

2 2 2 1

2 1

- V là tốc độ trung bình của vòng xuyến quanh phao (m/s)

Theo định luật liên tục của dòng chảy, ta có

V1S1 = V2 S2 = V.S Trong đó :

- S1, S2 là tiết diện của ống Rotamét ở mặt cắt dưới và trên của phao (m2)

- S là tiết diện vòng xuyến quanh phao (m2)

2 1

2 2

( 2

V S

S S

S l

l g P P

S S

S

Trang 17

Nguyễn Khắc Phi 17

Vậy 1 2 2

2

) (

2

V C gl P

được gọi là hệ số lưu lượng

Lưu lượng của dòng chảy được xác định theo công thức

q = V.S = .S 2(P1 P2) 2gl

 (1.22)

Công thức lưu lượng (1.22) ta thấy rằng: Lưu lượng dòng chảy qua Rotamét phụ thuộc vào hai biến số  và S Hệ số  phụ thuộc vào cấu trúc ống côn của Rotamét và phao, thực tế Rotamét không thể chia độ bằng giải tích như thiết bị thu hẹp tiêu chuẩn mà phải chia độ bằng thực nghiệm

1.3 Nguyên lý đo mức

1.3.1 Đo mức bằng phương pháp thủy tĩnh

Trong phương pháp này chỉ số đo cảm biến cung cấp là hàm liên tục phụ thuộc vào chiều cao của chất lưu trong bình chứa Nó không phụ thuộc vào tính chất điện cuả chất lưi, nhưng phụ thuộc vào khối lượng riêng của chất lưu

Dưới đây là ba cách khác nhau của phương pháp đo thủy tinh

cảm biến lực

cảm biến

vị trí

Cảm biến áp suất vi

h

h

h

Trang 18

Hình 1.8 Phương pháp thuỷ tĩnh

a) phao ; b) hình trụ treo ; c) cảm biến áp suất vi sai

Phương pháp thứ nhất- Một phao nổi trên mặt chất lưu được gắn bằng

dây (qua một ròng rọc) với một cảm biến vị trí (hình 1.8a) Cảm biến vị trí sẽ

có tín hiệu tỷ lệ với mức chất lưu

Phương pháp thứ hai- Một vật hình trụ được nhúng vào trong chất lưu,

chiều cao của hình trụ phải bằng hoặc lớn hơn mức cao nhất của chất lưu (hình 1.8b) - Hình trụ này được treo trên một cảm biến đo lực Trong quá trình

đo cảm biến chịu sự tác động của một lực F tỷ lệ với chiều cao của chất lỏng

F = P - gSh (1.23) Trong đó:

- P, S và h là trọng lượng mặt cắt ngang và chiều cao phần ngập trong chất lỏng của hình trụ,  là khối lượng riêng của chất lỏng, g là gia tốc trọng trường

Số hạng thứ hai gSh trong biểu thức là lực đẩy Acsimét tác dụng lên hình trụ Tín hiệu do cảm biến cung cấp sẽ tỷ lệ với h, mức chất lưu còn lại trong bình

Phương pháp thứ ba- Ta sử dụng cảm biến áp suất vi sai đặt ở đáy của

bình chứa (hình 1.8c)

Nếu cho một chất lỏng hoặc chất khí (gọi chung là chất lưu) vào trong một bình chứa nó sẽ gây nên lực tác dụng lên thành bình gọi là áp suất , áp suất này phụ thuộc vào bản chất của chất lưu, thể tích mà nó chiếm trước và sau khi đưa vào bình và vào nhiệt độ

Trang 19

Thương số này không phụ thuộc vào định hướng của bề mặt dS mà chỉ phụ thuộc vào vị trí của nó trong chất lưu

Nói chung các chất lưu luôn chịu tác động của trọng lực, bởi vậy trong trường hợp cột chất lưu chứa trong một ống hở đặt thẳng đứng, áp suất ở điểm

M cách bề mặt tự do một khoảng bằng h sẽ bằng áp suất khí quyển P0 cộng với trọng lượng của cột chất lưu có chiều cao h tác dụng lên một đơn vị diện tích bề mặt nghĩa là

P = P0 + gh (1.25) Trong đó:

-  là khối lượng riêng của chất

- g là gia tốc trọng trường tại điểm đo áp suất

- Po là áp suất của đỉnh của bình chứa

- gh là áp suất thủy lực tại đáy bình

Nếu chất lỏng chịu sự tác động của một gia tốc thì cần phải tính thêm ảnh hưởng của lực quán tính đến áp suất cần đo

Biểu thức P =

dS

dF cũng đồng thời xác định đơn vị của gia tốc trong hệ

SI một Pascal (Pa) tương đương với áp suất đồng dạng do lực 1 Niwtơn (N) tác dụng lên bề mặt phẳng có diện tích bằng 1m2. Áp suất 1Pa tương đối nhỏ ,

vì thế trong đo đạc công nghiệp người ta thường sử dụng đơn vị áp suất là bar

Trang 20

Áp suất khí quyển ở điều kiện bình thường tương đương với áp suất do một cột thuỷ ngân có chiều cao 760 mm gây nên ở 00C với gia tốc trọng trường g

= 9,8066 m/s2

1.3.2 Nguyên tắc đo áp suất

1.3.2.1 Chất lưu không chuyển động

Việc đo áp suất của chất lưu không chuyển động dẫn đến phép đo lực F tác dụng lên diện tích S thành bình phần chia hai môi trường chứa chất lưu là đối tượng cần đo áp suất có thể chia ra ba trường hợp chính:

- Đo áp suất lấy qua một lỗ có tiết diện hình tròn được khoan trên thành bình

- Đo trực tiếp sự biến dạng của thành bình do áp suất gây nên

- Đo bằng một cảm biến áp suất để chuyển tín hiệu đầu vào (là áp suất) thành tín hiệu đầu ra chứa thông tin liên quan đến giá trị của áp suất cần đo và

sự thay đổi của nó theo thời gian

Trong cách đo trích lấy áp suất qua một lỗ nhỏ phải sử dụng một cảm biến đặt gần sát thành bình Sai số của phép đo sẽ nhỏ với điều kiện là thể tích chết của bình dẫn và của cảm biến phải không đáng kể so với thể tích tổng cộng của chất lưu cần đo áp suất

Trong trường hợp đo trực tiếp, người ta gắn lên thành bình các cảm biến

đo ứng suất để đo biến dạng của thành bình, biến dạng này là hàm của áp suất

Ngoài ra có thể dùng một ống đặc biệt có khả năng biến dạng dưới tác dụng của áp suất để làm vật trung gian Khi đo áp suất trong một đường ống dẫn chất lưu, người ta đặt một áp kế dạng ống nối tiếp với đường dẫn khảo sát Bằng cách chọn vật liệu thích hợp, có thể sử dụng ống trong trường hợp có biến dạng lớn và tăng độ nhạy của áp kế

Trang 21

Nguyễn Khắc Phi 21

Người ta cũng có thể sử dụng vật trung gian là màng mỏng để đo áp suất Khi đó sự khác nhau về áp suất giữa hai mặt của màng sẽ tương ứng với lực tổng cộng F tác động lên màng và với biến dạng của nó (xác định ở mốc một điểm theo đường kính, theo tiếp tuyến hoặc điểm giữa của màng )

Đối với cùng một áp suất P, biến dạng của màng càng lớn khi bán kính r càng lớn và bề dày càng nhỏ Độ nhạy của màng cũng tăng khi biến dạng tăng lên Hiện tượng trễ do biến dạng không phải là đàn hồi tuyệt đối sẽ ảnh hưởng đến độ tuyến tính của màng

Ngoài ra ống hình trụ và màng phẳng, vật trung gian dùng để đo áp suất chất lưu có thể là màng dạng sóng, Piston kết hợp với lò xo, áp kế dãn nở, ống xi phông (dạng xếp thành nếp), ống hình cong bịt một đầu … Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người ta chọn vật trung gian cho thích hợp với áp suất cần đo

Áp suất tĩnh Ps được đo bằng một trong các phương pháp vừa trình bày

Áp suất động tác dụng lên mặt phẳng đặt vuông góc với dòng chảy sẽ làm tăng áp suất tĩnh và có giá trị tỷ lệ với bình phương vận tốc

Trang 22

-  là khối lượng riêng của chất lưu

Việc đo các áp suất này trong chất lưu chuyển động có thể được thực hiện bằng cách nối với hai đầu ra vào của ống pitot hai cảm biển, một cảm biển đo áp suất tĩnh và một cảm biển đo áp suất đo áp suất tổng cộng Khi đo

áp suất động sẽ là hiệu quả của áp suất tổng cộng và áp suất tĩnh (hình 1.9) có thể trang bị trực tiếp một ăng ten là ống Pitot với hai cảm biến áp suất kích thước nhỏ để đo áp suất động các màng của hai cảm biến này được đặt sao cho một màng vuông góc với dòng chảy và màng thứ hai song song với trục của ống

vm1 vm2 - vm1 ~ Pd vm2

Hình 1.9 Đo áp suất động bằng pitot

Trong một loại ống đơn giản hơn áp suất tính được đo bằng cách khác Đặt áp suất tổng cộng lên mặt trước của màng còn áp suất tĩnh thì đặt lên mặt sau của màng như vậy tín hiệu đo cảm biến cung cấp sẽ là sự khác nhau phía

áp suất tổng cộng và áp suất tĩnh, bằng cách này ta đo được áp suất tổng cộng của chất lưu

Vật trung gian

Việc lựa chọn vật trung gian để đo áp suất chất lưu phụ thuộc vào bản chất của áp suất cần đo, độ lớn của nó và phương pháp chuyển đổi tín hiệu (chuyển đổi độ dịch chuyển hay biến dạng thành tín hiệu điện) vật trung gian được đặc trưng bởi độ cứng (là tỉ số giữa lực tác dụng và độ dịch chuyển ) và

Cảm biến

1

Cảm biến

2

Trang 23

Đối với mỗi loại vật trung gian tồn tại một mối quan hệ bất biến giữa khối lượng M, độ nhạy S và tần số riêng f0 : MSf0 = const Thí dụ , trong các trường hợp cụ thể mối quan hệ này sẽ là MSf0 = 0,25 đối với vật trung gian dạng thanh dài cố định ở hai đầu Trong mọi trường hợp độ cứng, độ nhạy và dịch chuyển có liên quan đến ứng lực cực đại mà vật trung gian có thể chịu đựng được Ứng lực này phụ thuộc vào vật liệu chế tạo vật trung gian, việc lựa chọn vật liệu phải thoả mãn điều kiện là tuân thủ các đặc trưng đo lường của cảm biến

1.4 Các cảm biến đo mức

1.4.1 Cảm biến độ dẫn

Trang 24

Cảm biến loại này chỉ dùng cho chất lưu dẫn điện Không có tính ăn mòn và không lẫn thể vẩn cách điện

Cấu tạo đầu đo gồm hai điện cực hình trụ Nếu bình chứa bằng kim loại thì bình là một cực và chỉ cần thêm một cực hình trụ (hình 1.10) đầu đo được nuôi bằng nguồn điện áp một chiều 10V Để tránh hiện tượng phân cực.Ta đặt trong chế độ đo liên tục, đầu đo đặt theo vị trí thẳng đứng, chiều dài của đầu đo chiếm cả dải chiều cao của mức cần đo Dòng điện các cực có biên độ

tỷ lệ với chiều dài của điện cực bị ngập trong phần chất lưu.Trong chế độ phát hiện theo ngưỡng, điện cực ngắn và đặt theo phương ngang, vị trí của mỗi điện cực tương đương với một mức ngưỡng, khi mức chất lỏng đạt tới điện cực- dòng điện I có biên độ không đổi

Hình 1.10.Cảm biến độ dẫn đo mức chất lưu

a- Sơ đồ hai điện cực ; b- Sơ đồ một điện cực ; c- Sơ đồ phát điện hiện theo mức

1.4.2 Cảm biến tụ điện

Khi chất lỏng là chất cách điện, có thể tạo tụ điện cực hình trụ (hoặc một điện cực kết hợp với thành bình kim loại của bình chứa ) chất điện môi giữa hai điện cực là chất lỏng ở phần ngập và không khí ở phần khô Việc đo

h h max

h min

h

Trang 25

Trong trường hợp chất lưu dẫn điện chỉ cần sử dụng một điện cực bên ngoài có phủ vật liệu cách điện, lớp phủ đóng vai trò lớp điện môi của tụ còn điện cực thứ hai chính là chất lưu

1.4.3 Cảm biến áp suất chất lưu chuyển đổi bằng biến thiên điện dụng Điện dung của tụ điện thay đổi bằng các tác động lên một trong những thông số làm thay đổi điện trường giữa hai vật dẫn tạo thành hai bản cực của

tụ điện

Một trong hai bản cực này được nối cơ học với vật trung gian chịu tác động của áp suất cần đo Thí dụ, nếu vật trung gian là một vật màng mỏng thì điện dung của tụ điện sẽ thay đổi theo sự dịch chuyển của tấm màng khi nó bị

áp suất chất lưu tác động

Trong trường hợp tụ điện hình trụ, diện tích bề mặt đối diện của hai bản cực sẽ thay đổi tuyến tính theo sự dịch chuyển của bản cực Nếu độ trễ cơ học của màng nhỏ, đối với tụ điện cơ bản cực hình trụ, sai số đo độ tuyến tính gây nên không lớn hơn 0,1%

Nếu gọi khoảng cách giữa hai bản cực là D0 và sự thay đổi D của khoảng cách này rất nhỏ (D <Do) thì biến thiên điện dung của tụ được biểu diễn bằng biểu thức

0

DC

C  

(1.28)

Trang 26

Trên thực tế, biến thiên của điện dung sẽ phức tạp hơn nhiều nếu 1 bản cực của tụ điện là điện cực động và có thể bị biến dạng dưới tác động của áp suất

Thí dụ: Trường hợp vật trung gian là màng đóng vai trò 1 bản cực Trong những trường hợp như vậy để hạn chế sai số tuyến tính dưới n% cần phải đảm bảo sao cho độ dịch chuyển của màng tuân thủ điều kiện

1.4.4 Cảm biến áp suất chuyển đổi bằng biến thiên độ tự cảm

Trong các cảm biến đo áp suất chất lưu dùng chuyển đổi bằng biến thiên độ tự cảm người ta sử dụng độ biến thiên từ trở của một mạch từ Biến thiên này là do biến điệu của một hoặc nhiều khe từ gây nên

Sự thay đổi độ từ cảm của L1 và L2 được chuyển thành tín hiệu đo bằng một cầu kết hợp L1 và L2 với hai nửa của cuộn thứ cấp của biến thế đầu vào (hình 1.11a) hoặc với hai cuộn cảm cố định L3 và L4 (hình 1.11c) các cảm biến

áp suất dùng chuyển đổi bằng biến thiên độ tự cảm có độ tuyến tính thay đổi trong khoảng  0,5 đến 3% của dải đo Độ trễ của cảm biến nằm trong khoảng từ  0,1  1% của dải đo với độ phân dải là 0,01% Độ chính xác đạt

từ 0,5  2% Tín hiệu đầu ra thay đổi trong khoảng từ 100  400 mV

Nhược điểm của cảm biến áp suất chất lưu dùng chuyển đổi bằng biến thiên độ tự cảm là rất nhạy cảm với rung động, va chạm và từ trường Ngoài ra nguồn nuôi phải được ổn định theo biên độ và tần số

Ngày đăng: 27/07/2021, 17:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w