pháp luật quốc tế được hiểu là quy tắc xử sự, được tạo bởi sự thỏa thuận của các chủ thểluật quốc tế và có vị trí ràng buộc các chủ thể đó đối với quyền và nghiac vụ hay trâchsnhiệm pháp
Trang 1Mục lục
VĐ 1 2
VĐ 2 6
NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ 6
VĐ 3 20
CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ 20
VĐ 4 30
DÂN CƯ TRONG LUẬT QUỐC TẾ 30
VĐ 5 41
LÃNH THỔ TRONG LUẬT QUỐC TẾ 41
VĐ 6 60
LUẬT NGOẠI GIAO, LÃNH SỰ 60
VĐ 7 68
LUẬT TỔ CHỨC QUỐC TẾ 68
VĐ 8 71
LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ 71
VĐ 9 73
CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ 73
VĐ10 89
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ QUỐC TẾD 89
KHOA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
BỘ MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
Trang 2-BỘ CÂU HỎI THI VẤN ĐÁP (HẾT HỌC PHẦN)
MÔN: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
VĐ 1 KHÁI NIỆM VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT QUỐC
TẾ
1. NÊU ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN TÍCH CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA LUẬT
QUỐC TẾ?
Định nghĩa: luật quốc tế là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pl, đc các quốc gia và
các chủ thể khác of luật quốc tế thỏa thuận tọa dựng nên, trên cơ sở tự nguyện và bìnhđẳng, nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các quốc gia và các chủ thể đó trongmọi lĩnh vực của đời sống quốc tế
Đặc trưng:
- Chủ thể: gồm quốc gia – quan hệ pl quốc tế do qg tự xác lập or thông qua cáckhuôn khổ mà các tổ chức quốc tế do các quốc gia thành lập nên; các tổ chứcquốc tế liên quốc gia (liên chính phủ); các dân tộc đang đấu tranh giành lại độclập; chủ thể đặc biệt (tòa thành Vatican)
- Quan hệ do luật quốc tế điều chỉnh: là quan hệ giữa cácq uốc gia or các thực thểquốc tế khác nảy sinh trong các lĩnh vực của đời sống quốc tế
QHPL quốc tế phát sinh, thay đổi or chấm dứt, do tác động của những quy phạmpháp luật quốc tế, của năng lực chủ thể của luật quốc tế và sự kiện pháp lý quốc
tế Sự biến pháp lý quốc tế - các sự kiện xảy ra trong thực tế, gây ra các hệ quả pháp lý trogn lĩnh vực luật quốc tế Hành vi pháp luật quốc tế - hành vi thể hiện
ý chí của chủ thể luật quốc tế mà sựt thể hiện đó được luật quốc tế được quyđịnh ràng buộc với hệ quả pháp lý xác định Các hành vi này thường là nhữnghành vi của các cơ quan hay thiết chế có thẩmq uyền được thể hiện công khai
qua các tuyên bố
- Về sự hình thành luật quốc tế:
Luật quốc tế là sản phẩm tất yếu của sự đấu tranh, nhân nhượng lẫn nhau giữacác quốc gia trong quá trình hợp tác và phát triển trong quan hệ quốc tế, đểhướng đến lợi ích quốc gia, dân tộc cũng như lợi ichas chung of công đồng cácquốc gia
Bên cạnh đó, sự hình thành of l;uật quốc tế mang tính chất tự nguyện of cácquốc gia, thể hiện sự tự điều chỉnh quan hệ lập pháp mà các quốc gia tiến hành
Trang 3theo phương thức thỏa thuân công khai bằng quan hệ điều ước hoặc mặc nhiênthừa nhận quy tắc xử sự trong luật tập quán
- Về sự thực thi luật quốc tế: là quá trình các chủ thể áp dụng cơ chế hợp pháp,phù hợp để đảm bảo các quy định of luật quốc tế được thi hành và tôn trọng đầy
đủ trong đời sống quốc tế
2 PHÂN TÍCH CÁC DẤU HIỆU NHẬN BIẾT MỘT THỰC THỂ LÀ QUỐC GIA?
Gồm bốn dấu hiệu theo điều 1 công ước Montevideo:
- Lãnh thổ được xác định: lãnh thổ quốc gia được hiểu là một bộ phận của Tráiđất, bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời và vùng lòng đất
- Dân cư thường xuyên: dân cư là tổng hợp những người cư trú, sịnh sống trênlãnh thổ quốc gia nhất định và chịu sự điều chỉnh của quốc gia đó Dân cư baogồm công dân và người nước ngoài
- Chính phủ: Để được xem là một quốc gia thì cộng đồng dân cư trên lãnh thổ cần
có một chính quyền Bằng chứng rõ ràng nhất để thoả mãn tiêu chí này là mộtchính quyền hữu hiệu với các cơ quan hành chính và lập pháp trung ương Tuynhiên, chính quyền hữu hiệu với cơ cấu, tổ chức hoàn thiện như trên không phảitrong mọi trường hợp là cần thiết Tiêu chí này nên được hiểu rộng là sự tồn tạicủa một dạng nào đó một cấu trúc chính trị và xã hội thống nhất Một lưu ý quantrọng là chính quyền hữu hiệu là tiêu chí cần thoả mãn để được xem là một quốcgia; nhưng không phải là tiêu chí cần thiết để quốc gia đó tồn tại tiếp tục trongtương lai Nói cách khác, một quốc gia đã hình thành và sau đó không còn chínhquyền hữu hiệu do nội chiến, bất ổn chính trị, bị xâm lược sẽ vẫn là một quốcgia mà không bị mất đi tư cách này
- Khả năng tham gia vào quan hệ quốc tế: Thực thể đó có khả năng tham gia vàoquan hệ quốc tế một cách độc lập, tự quyết định việc tham gia hay không vàocác QHQT Tiêu chí này phân biệt quốc gia và các tiểu bang của quốc gia theokiểu liên bang hoặc vùng lãnh thổ đặt dưới chế độ quản thác của Liên hợpquốc,
3 CÔNG NHẬN QUỐC TẾ LÀ GÌ? PHÂN TÍCH HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP VÀ
HỆ QUẢ PHÁP LÝ CỦA CÔNG NHẬN QUỐC GIA?
Định nghĩa: là hành vi chính trị pháp lý của quốc gia công nhận dựa trên nền tảng động
cơ nhất định mà chủ yếu là động cơ chính trị, kinh tế, quốc phòng, nhằm xác nhận sựtồn tại của thành viên mới trong cộng đồng quốc tế, khẳng định quan hệ của quốc giacông nhận đối với chính sách, chế độ chính trị, kinh tế của thành viên mới và thể hiện
Trang 4ý định thiết lập quan hệ bình thường, ổn định với thành viên mới của công đồng quốc tếtrong nhiều lĩnh vực khác nhau của cộng đồng quốc tế
Hình thức công nhận:
- Công nhận De jure: công nhận quốc tế chính thức, ở mức độ đầy đủ nhất làtrong một phạm vi hoàn thiện nhất
- Công nhận De facto: công nhận quốc tế thực tế ở mức độ không đầy đủ, hạn chế
và trong một phạm vi không toàn diện Sự kahsc nhau giữa công nhận De jure
và công nhận De facto chủ yếu về mặt chính trị Động cơ chính trị của bên côngnhận De facto thể hiện ở thái độ thận trọng của quốc gia công nhận đới với quốcgia hoặc chính phủ mới được thành lập trong nhiều vấn đề liên quan đến tìnhhình, bối cảnh trong nước cũng như quốc tế
- Công nhận ad hoc: là hình thức công nhận đặc biệt mà quan hệ giữa các bên chỉphát sinh trong một phạm vi nhất định nhằm tiến hành một số công vụ cụ thể vàquan hệ giữa các bên sẽ chấm dứt ngay khi hoàn thành công việc đó
Các phương pháp công nhận:
- Công nhận minh thị: Việc công nhận được thể hiện một cách rõ ràng bằn mộthành vi cụ thể, rõ rết của quốc gia công nhận
- Công nhận mặc thị: Việc công nhận được thể hiện một cách kín đáo, ngấm ngầm
mà bên được công nhận or quốc gia và chính phủ khác phải dựa vào các quyphạm tập quán nhất định hay các nguyên tắc suy diễn trong sinh hoạt quốc tếmới làm sáng tỏ được ý định công nhận của bên công nhận
Hệ quả pháp lý:
- Công nhận là hành vi thể hiện quan điểm chính trị - pháp lý của quốc gia khi có
sự xuất hiện của chủ thể mới hoặc chính phủ mới trên trường quốc tế Điều này
có nghĩa là công nhận hay không công nhận một quốc gia mới or chính phủ mới
là hành vi thể hiện chủ quyền quốc gia, xuất phát từ ý chí và sự tự nguyện củachủ thể luật quốc tế đó
- Công nhận quốc tế không tạo ra quyền năng chủ thể luật quốc tế của chủ thểđược công nhận Quốc gia mới hình thành là chủ thể của luật quốc tế ngay từkhi mới thành lập Tuy nhiên, công nhận sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc duytrì, thiết lập và thực hiện các quan hệ pháp lý quốc tế giữa các quốc gia và cácchủ thể của luật quốc tế
4 PHÂN TÍCH CÁC LOẠI QUY PHẠM PHÁP LUẬT QUỐC TẾ, CHO VÍ DỤ?
Quy phạm PLQT là thành tố nhỏ nhất trong hệ thống cấu trúc luật quốc tế Phạm vi
Trang 5pháp luật quốc tế được hiểu là quy tắc xử sự, được tạo bởi sự thỏa thuận của các chủ thểluật quốc tế và có vị trí ràng buộc các chủ thể đó đối với quyền và nghiac vụ hay trâchsnhiệm pháp lý quốc tế khi tham gia QHPLQT.
QPPLQT có thể phân chia thành nhiều loại theo các tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào hình thức biểu hiện của quy phạm:
Quy phạm điều ước (quy phạm thành văn): là những quy tắc xử sự đượcghi nhận trong các điều ước quốct tế do các quốc gia và chủ thể khác củaluật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên Vd: hiệp định phân vinh bắc bộgiữa vn và TQ 2000
Quy phạm tập quán (quy phạm bất thành văn): là những quy tắc xử sựchung, hình thành trong thực tiễn sinh hoạt quốc tế, được các hủ thể luậtquố tế thừa nhận là quy phạm có giá trị pháp lý bắt buộc Vd: quy phạm
về cấm tra tấn, về ưu đãi miễn trừ,
- Căn cứ vào giá trị hiệu lực của quy phạm:
Quy phạm mệnh lệnh bắt buộc chung Jus cogen: là quy phạm được toàn thểcông đồng các quốc gia chấp nhận và công nhận, là quy phạm ko chó phép
có bất kỳ sự vi phạm nào, là quy phạm có tính giá trị pháp lý tối cao đối vớimọi chủ thể luật quốc tế, là thước đo tính hợp pháp của tất cả quy phạm kháccủa luật quốc tế Vd: các quy phạm về cấm sử dụng vụ lực hay đe dọa sửdụng vũ lực,
Quy phạm tuy nghi (quy phạm thông thường): là quy phạm cho phép cácchủ thể liên quan có quyền tự xác định phạm vi quyền, nghĩa vụ qua lại giữacác bên sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế Vd: quy phạm về mức độ ưuđãi thuế quan, loại hàng hóa và dịch vụ được miễn giảm trong hiệp định củahai quốc gia
- Căn cứ vào phạm vi tác động của quy phạm:
Quy phạm đa phương: dồm quy phạm đa phương toàn cầu )các quyphạm được quy định trong hiến chương LHQ); và quy phạm đa phươngkhu vực (vd: được quy định trong hiến chương ASEAN)
Quy phạm song phương: được ghi nhận trong hiệp định được ký kết giữahai quốc gia vd như hiệp định thg mại VN – Hoa kỳ năm 2000,
5 PHÂN TÍCH CƠ SỞ VÀ NỘI DUNG CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT QUỐC TẾ
VÀ LUẬT QUỐC GIA?
Cơ sở:
Trang 6- Sự gắn bó giữa hai chức năng cơ bản là đối nội là đối ngoại của nhà nước.
- Vai trò of nhà nước trong quá trình ban hành pháp luật quốc gia và xây dựngpháp luật quốc tế
- Sự thống nhất về chức năng của hai hệ thống pl
- Nguyên tắc tự nguyện thực hiện cam kết quốc tế
- Luật quốc tế thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện of luật quốc gia Các quyđinhn tiến bộ of luật quốc tế sẽ dần được nội luật hóa và góp phần hoan thiện hệthống luật quốc gia
- Luật quốc tế tạo điều kiện cho pl quốc gia trong quá trình thực hiện: dưới sựphát triển mạnh mẽ của giao lưu quốc tế, nhiều vấn đề toàn cầu về môi trường,tội phạm xuy quốc gia, yêu cầu sự hợp tác quốc tế Vì vậy, xây dựng một môitrường pháp lý quốc tế dân chủ, tiến bộ là điều kiện tác động tích cức đến phápluật quốc gia Đảm bảo cho việc xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luậttương ứng
6 TÍNH CHÍNH TRỊ - PHÁP LÝ:
7. TRÌNH BÀY CÁC LOẠI NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ?
Theo khoản 1 Điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc tế có thể xác định 5 loại nguồn củaluật quốc tế bao gồm:
- Điều ước quốc tế (thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốcgia và các chủ thể khác của LQT và đc LQT điều chỉnh, ko phụ thuộc vào vcthỏa thuận đó đc ghi nhận trg 1 văn kiện duy nhất hay 2 or nhiều văn kiện vănkiện có quan hệ với nhau, cũng không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của nhữngvăn kiện đó);
Trang 7- Tập quán quốc tế (hình thức pháp lý chứa đựng quy tắc xử sự chung, hình thànhtrong thực tiễn quan hệ quốc tế và được các chủ thể LQT thưcf nhận là luật);
- Nguyên tắc pl chung (nguyên tắc áp dụng cho cả PLQT và PLQG);
- Phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế (phán quyết quan trọng trg vc làm sáng
tỏ nội dung của một quy phạm LQT hiện hành, tạo tiền đề pháp lý hình thànhquy phạm mới của luật quốc tế và có tác động tích cực đến quan niệm, cách ứng
xử của chủ thể quan hệ pháp luật quốc tế và bổ sung nhất định những khiếmkhuyết của luật quốc tế);
- Học thuyết về luật quốc tế (quan điểm của các học gia nổi tiếng về các vấn đềpháp lý quốc tế);
Ngoài ra pl quốc tế còn thừa nhận một số nguồn sau mà chưa đc liệt kệ trg k1đ38:
- Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ;
- Hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia
8 TRÌNH BÀY ĐỊNH NGHĨA VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ THEO
QUY ĐỊNH CỦA LUẬT QUỐC TẾ?
Định nghĩa: là thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các
chủ thể khác của LQT và đc LQT điều chỉnh, ko phụ thuộc vào vc thỏa thuận đó đc ghinhận trg 1 văn kiện duy nhất hay 2 or nhiều văn kiện văn kiện có quan hệ với nhau,cũng không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó
Đặc điểm:
- Về chủ thể: là các chủ thể của luật quốc tế;
- Về phương thức xây dựng: thỏa thuận ký kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng,quá trình ký kết và thực hiện phải tuân theo các quy định of LQT;
- Về nội dung: chức đựng các cam kết về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên;
- Về giá trị pháp lý: có giá trị rằng buộc về mặt pháp lý Hành vi vi phạm điềuuóc làm nảy sinh trách nhiệm pháp lý quốc tế của chủ thể vi phạm
9 NÊU TRÌNH TỰ KÝ KẾT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÂN TÍCH Ý NGHĨA CỦA
CÁC BƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH KÝ KẾT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ?
Ký kết điều ước quốc tế là cả một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau như
đàm phán, soạn thảo, thông qua, ký, phê chuẩn hoặc phê duyệt hoặc gia nhập điều ướcquốc tế Mỗi giai đoạn này có sự liên hệ chặt chẽ với nhau hết sức logic và hợp lý.Quá trình ký kết chia làm 2 giai đoạn Giai đoạn đầu tiên gồm có các bước sau:
- Đàm phán: Đây là sự thương lượng, đấu tranh về lợi ích giữa các chủ thể tham
Trang 8gia ký kết điều ước quốc tế nhằm đi đến một thỏa thuận chung nhất Do đó, sựthành công hay thất bại của đàm phán phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí và sựhợp tác của các bên Có nhiều cách thức đàm phán khác nhau, như: đàm phántrên cơ sở của dự thảo văn bản đã chuẩn bị trước của mỗi bên hay một bên hoặccùng đàm phán để trực tiếp xây dựng văn bản điều ước.
- Soạn thảo: Sau khi đàm phán thành công, văn bản điều ước sẽ được soạn thảochính thức để các bên thông qua Với điều ước quốc tế song phương, các bênthường cử đại diện tham gia soạn thảo, còn đối với điều ước quốc tế đa phươngthì việc soạn thảo sẽ được giao cho một cơ quan do các bên thống nhất lập ra
- Thông qua văn bản điều ước: Thông qua văn bản điều ước chính là giai đoạnthen chốt để các bên biểu hiện sự nhất trí của mình đối với văn bản điều ước đãđược soạn thảo Văn bản được các bên nhất trí thông qua là văn bản cuối cùng,các bên không được phép đơn phương sửa đổi, chỉnh lý hoặc thay đổi bất kỳquy định nào trong văn bản
Giai đoạn 2 gồm các bước sau:
- Ký là một bước không thể thiếu trong trình tự ký kết điều ước quốc tế Có 3hình thức ký điều ước quốc tế, đó là:
- Ký tắt: Ký tắt là hành vi pháp lý do người có thẩm quyền hoặc người được ủyquyền thực hiện để xác nhận văn bản điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam dự định ký là văn bản cuối cùng đã được thỏa thuận với bên
ký kết nước ngoài Ký tắt là chữ ký của các vị đại diện quốc gia tham gia đàmphán nhằm xác nhận văn bản dự thảo điều ước quốc tế Ký tắt chưa làm phátsinh hiệu lực của điều ước
- Ký Ad Referendum: Là chữ ký của các vị đại diện với điều kiện có sự đồng ýtiếp sau đó của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật quốc gia Vềnguyên tắc, hành vi ký ad cũng không làm phát sinh hiệu lực của điều ước, tuynhiên hình thức ký này cũng có thể làm phát sinh hiệu lực cho điều ước nếu cơquan có thẩm quyền của quốc gia tỏ rõ sự chấp thuận chữ ký này
- Ký đầy đủ (ký chính thức): Là chữ ký của các vị đại diện vào văn bản dự thảođiều ước Về nguyên tắc, hình thức ký đầy đủ luôn làm phát sinh hiệu lực củađiều ước Trừ trường hợp điều ước này quy định các bên phải tiến hành phêchuẩn, phê duyệt thì sau hành vi phê chuẩn, phê duyệt này điều ước mới có hiệulực thi hành
- Thẩm quyền ký điều ước quốc tế theo điều 13 Luật điều ước quốc tế năm 2016
Trang 9thì: Căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn, yêu cầu hợp tác quốc tế, cơ quan quy địnhtại Điều 8 của Luật này đề xuất để Chính phủ trình Chủ tịch nước quyết định kýđiều ước quốc tế nhân danh Nhà nước hoặc để Chính phủ quyết định ký điềuước quốc tế nhân danh Chính phủ Trước khi đề xuất ký điều ước quốc tế, cơquan đề xuất phải lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan, ý kiến kiểm tracủa Bộ Ngoại giao và ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp.
- Trong trường hợp cơ quan, tổ chức có liên quan đã có ý kiến về việc đàm phánđiều ước quốc tế mà dự thảo điều ước quốc tế đề xuất ký có nội dung khôngthay đổi so với nội dung đàm phán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyềncho phép thì cơ quan đề xuất lấy ý kiến kiểm tra của Bộ Ngoại giao, ý kiến thẩmđịnh của Bộ Tư pháp; không nhất thiết phải lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức cóliên quan khác
- 3.2 Phê chuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế
- Phê chuẩn là hành vi pháp lý do Quốc hội hoặc Chủ tịch nước thực hiện để chấpnhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đã ký đối với nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam Phê duyệt là hành vi pháp lý do Chính phủ thực hiện để chấpnhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đã ký đối với nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam
- Việc áp dụng thủ tục phê chuẩn hay phê duyệt đối với một điều ước quốc tếthường do các bên thỏa thuận và được ghi rõ ngay trong nội dung của văn bảnđiều ước Cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đều ghi nhận giá trị pháp lýngang nhau của hành vi phê chuẩn và phê duyệt điều ước quốc tế Phê chuẩn,phê duyệt điều ước quốc tế là những hành vi do quốc gia và các chủ thể kháccủa luật quốc tế tiến hành nhằm xác nhận sự đồng ý ràng buộc với một điều ướcquốc tế nhất định Sự khác nhau căn bản giữa hai hành vi này là ở thẩm quyềntiến hành hai hành vi trên và nội dung của điều ước quốc tế đề cập
- 3.3 Gia nhập điều ước quốc tế
- Gia nhập là hành vi pháp lý do Quốc hội, Chủ tịch nước hoặc Chính phủ thựchiện để chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế nhiều bên đối với nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam không ký điều ước quốc tế đó, không phụ thuộc vào việcđiều ước quốc tế này đã có hiệu lực hay chưa có hiệu lực
- Việc gia nhập thường được đặt đối với quốc gia khi thời hạn ký kết điều ước đãchấm dứt hoặc điều ước đã có hiệu lức mà quốc gia đó chưa phải là thành viên
Trang 10Gia nhập điều ước quốc tế là hành động của một chủ thể luật quốc tế đồng ýchấp nhận sự ràng buộc của một điều ước quốc tế đa phương đối với chủ thể đó.
Về thủ tục gia nhập điều ước quốc tế, những điều ước quốc tế nào được gia nhậphoặc không được gia nhập phụ thuộc vào quy định cụ thể của điều ước đó hoặcphụ thuộc vào các thành viên của điều ước Thông thường thủ tục gia nhập đượctiến hành theo các cách sau: gửi công hàm xin gia nhập hoặc ký trực tiếp vàovăn bản điều ước
10 PHÂN TÍCH CÁC HÀNH VI XÁC NHẬN SỰ RÀNG BUỘC CỦA QUỐC GIA VỚI
ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ?
Ký là một bước không thể thiếu trong các hành vi xác nhận sự ràng buộc của quốc giađối với điều ước quốc tế Có 3 hình thức ký điều ước quốc tế, đó là:
- Ký tắt: Ký tắt là hành vi pháp lý do người có thẩm quyền hoặc người được ủyquyền thực hiện để xác nhận văn bản điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam dự định ký là văn bản cuối cùng đã được thỏa thuận với bên ký kếtnước ngoài Ký tắt là chữ ký của các vị đại diện quốc gia tham gia đàm phán nhằm xácnhận văn bản dự thảo điều ước quốc tế Ký tắt chưa làm phát sinh hiệu lực của điều ước
- Ký Ad Referendum: Là chữ ký của các vị đại diện với điều kiện có sự đồng ýtiếp sau đó của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật quốc gia Vềnguyên tắc, hành vi ký ad cũng không làm phát sinh hiệu lực của điều ước, tuy nhiênhình thức ký này cũng có thể làm phát sinh hiệu lực cho điều ước nếu cơ quan có thẩmquyền của quốc gia tỏ rõ sự chấp thuận chữ ký này
- Ký đầy đủ (ký chính thức): Là chữ ký của các vị đại diện vào văn bản dự thảođiều ước Về nguyên tắc, hình thức ký đầy đủ luôn làm phát sinh hiệu lực của điều ước.Trừ trường hợp điều ước này quy định các bên phải tiến hành phê chuẩn, phê duyệt thìsau hành vi phê chuẩn, phê duyệt này điều ước mới có hiệu lực thi hành
Phê chuẩn hoặc phê duyệt ĐƯQT:
- Là những hành vi do quốc gia tiến hành nhằm xác nhận sự đồng ý ràng buộc củaquốc gia này vs 1 ĐƯQT nhất địnhvieecj áp dụng thủ tục phê chuẩn hay phêduyệt do các bên thỏa thuận và được ghi rõ ngay trong nội dung của điều ước
QT hay đưc xác định ngay tg VBPL QG
Về thực chất, phê chuẩn và phê duyệt đều thể hiện sự chấp nhận ràng buộc của quốc giavới điều ước quốc tế đã phê chuẩn hoặc phê duyệt Do đó, chỉ cần thực hiện một tronghai thủ tục này nhằm ràng buộc với điều ước quốc tế Tuy nhiên giữa phê chuẩn và phêduyệt cũng có điểm khác nhau ở loại điều ước quốc tế và thẩm quyền thực hiện hành vi
Trang 11Phê duyệt cũng khác với ký đầy đủ ở chỗ, nếu ký đầy đủ là việc các vị đại diện của cácbên ký vào văn bản điều ước thì phê duyệt là văn bản của cơ quan hành pháp có thẩmquyền thừa nhận hiệu lực pháp lý của điều ước mà các vị đại diện đã ký tượng trưngvào văn bản.
Theo luật quốc tế, việc ký văn bản không bao hàm nghĩa vụ dứt khoát phải phêchuẩn hoặc phê duyệt điều ước quốc tế Phê chuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế haykhông phê chuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế là quyền của các bên tham gia
11 PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ?
Điều ước quốc tế có hiệu lực khi đáp ứng được các điều kiện sau:
- Được ký kết trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện, bình đăng giữa các bên kết ước: Xuấtphát từ tự do ý chí các chủ thể LQT tham gia ký kết ĐƯQT trên cơ sở tự nguyện vàbình đăng, không bị lừa dôi, ép buộc cưỡng bức hoặc đe dọa sử dụng vũ lực
- Nội dung của điều ước quốc tế phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế:Nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là cơ sở nền tảng và là khuôn mẫu pháp lý cho sựtồn tại và phát triển của luật quốc tế Chính vì vậy, bất cứ điều ước quốc tế nào có nộidung trái với các nguyên tắc cơ bản của hệ thống luật quốc tế thì sẽ không có giá trịpháp lý
- Được ký kết phù hợp với quy định của pháp luật các bên về thủ tục và thẩm quyền kýkết: Việc ký kết điều ước tub.uy quốc tế tuân theo trình tự, thủ tục luật định, đúng thẩmquyền theo quy định của pháp luật các bên ký kết là cơ sở pháp lý quan trọng để cácchủ thể đó ràng buộc với các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà điều ước quốc tế Vì vậy,nếu điều ước quốc tế được đảm phán, ký kết không đúng thủ tục, thẩm quyền theo quyđịnh của pháp luật các bên ký kết sẽ không có giá trị pháp lý
Những điều ước không đáp ứng các điều kiện trên sẽ bị coi là vô hiệu Tùy mức độ viphạm những điều kiện non mà điều ước quốc tế có thể bị coi là vô hiệu tuyệt đối hoặc
vô hiệu tương đối
Nếu điều ước quốc tế được ký kết vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng thỏa thuậngiữa các bên kết ước hoặc nội dung của điều ước quốc tế trái với những nguyên tắc cơbản của luật quốc tế thì điều ước đó sẽ vô hiệu tuyệt đối, tức là vô hiệu ngay từ khi kýkết (Điều 51 - Điều 53 Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước giữa các quốc gia).Nếu điều ước quốc tế được ký kết vi phạm quy định của pháp luật các bên về thủ tục vàthẩm quyền ký kết thì điều ước đó chỉ vô hiệu tương đối, tức là điều ước quốc tế vẫn cóthể có hiệu lực nếu sự vi phạm đó không ảnh hưởng nghiêm trọng đến nội dung củađiều ước và nếu như có sự nhất trí của các bên (Điều - 46 - Điều 50 Công ước Viên năm
Trang 121969 về luật điều ước giữa các quốc gia).
11 PHÂN BIỆT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỚI THỎA THUẬN QUỐC TẾ (ĐƯỢC ĐIỀU
CHỈNH BỞI PHÁP LỆNH SỐ 33 NGÀY 20/4/2007)?
Chủ thể Nước Công hòa xã hội CN VN
(NN or CP) vs quốc gia , tổ chứcquốc tế liên quốc gia hoặc cácchủ thể khác được công nhận làchủ thể luật quốc tế
Về phía VN là các cơ quan TW,
cơ quan cấp tỉnh (HĐND, UBND,thành phố trực thuộc TW), CQTWcủa tổ chức với 1 or nhiều bên kýkết nước ngoài
Nội dung Cam kết về quyền và nghĩa vụ
pháp lý, trong mọi lĩnh vực củađời sống quốc tế
Cam kết về quyền và nghĩa vụpháp lý nhưng ko gồm các lĩnhvực sau:
- Hòa bình, an ninh, biêngiới, lãnh thổ, chủ quyềnquốc gia;
- Quyền và nghĩa vụ cơ bảncủa công dân; tham gia tổchức quốc tế liên chínhphủ;
- Hỗ trợ phát triển chínhthưucj thuộc quan hệ cấp
NN or CP VN;
- Các vấn đề khác thuộcquan hệ cấp NN hoặc CPtheo quy định của PL.Luật điều
chỉnh quá
trình ký kết
và thực hiện
Quá trình ký kết và thực hiệnĐƯQT được điều chình bởi cácquy định of các quy định of LQT
Quá trình ký kết và thực hiện thỏathuận quốc tế phải phù hợp vớicác ĐƯQT mà VN lf thành viênquy định về cùng một lĩnh vực;phù hợp vs hiến pháp và [háp luậtcác bên
Giá trị pháp
lý
Làm phát sinh, thay đổi hoặcchấm dứt quyền và nghĩa vụ củanước CHXHCN VN theo PLQT
Chỉ có giá trị ràng buộc đối với cơquan đã thỏa thuận ký kết thỏathuận quốc tế; ko làm phát sinh
Trang 13quyền, nghĩa vụ pháp lý quốc tế
of NN or CP VN
12 PHÂN BIỆT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỚI CÁC TUYÊN BỐ CHÍNH TRỊ TRONG
QUAN HỆ QUỐC TẾ? CHO VÍ DỤ MINH HỌA?
Tiêu chí ĐƯQT Tuyên bốc chính trị trong quan hệ
quốc tếChủ thể Chủ thể của LQT: QG, tôe chức QT
liên QG, các dân tộc đang đấu tranhgiành quyền tự quyết, các chủ thểđặc biệt
Các chủ thể của LQT, các tổ chứcquốc tế phi chính phủ,
tổ chức thương mại thế giới –WTO Đây alf 1 ĐƯQT và quátrình ký kết phải tuân thủ LQT cụthể là Công ước viên 1969 về luậtđiều ước giữa các quốc gia
Có thể thỏa thuận ký kết or đơnphương đưa ra tuyên bố Quá trình
ký kết các tuyên bố chính trị ko bắtbuộc phải tuân theo quy định ofLQT về trình tự và thủ tục ký kết.VD: tuyên bố chung of các quốcgia tại Rio năm 1992 về môitrường và phát triển, Tuyên bố vềcách ứng xử của các bên trên biểnĐông – DOC năm 2002 giữaASEAN và TQ, là các văn kiệnchính trị trình tự, thủ tục ký kết
or đưa ra tuyên bố ko phải tuântheo quy định pff luật quốc tế.Nôi dung Chứa đựng cam kết về quyền và
nghĩa vụ pháp lý giữa các bên
Ko chứa đựng cam kết về quyền vànghĩa vụ giữa các bên mà chỉ thểhiện sự tích cực, thiện chí of cácbên về phương diện chính trị
Ko có giá trị ràng buộc về mặtpháp lý Hành vi vi phạm tuyên bốchính trị ko làm phát sinh tráchnhiệm pháp lý quốc tế Nó thể hiện
sự thiếu thân thiện trong quan hệ
Trang 14quốc tế nên có thể bị trả đũa bởibên bị vi phạm.
13 NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ LÀ GÌ? PHÂN TÍCH CƠ SỞ XÁC ĐỊNH CÁC
LOẠI NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ?
- Khái niệm nguồn của luật quốc tế
+ Theo nghĩa hẹp: Nguồn của luật quốc tế là những hình thức chứa đựng hay biểu hiện
sự tồn tại của các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật quốc tế do các chủ thể của luậtquốc tế thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm điều chỉnhcác quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau
+ Theo nghĩa rộng: Nguồn của luật quốc tế không chỉ bao gồm các hình thức chứa đựnghoặc biểu hiện sự tồn tại của các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật quốc tế mà cònbao gồm tất cả những yếu tố là nguồn gốc hình thành pháp luật quốc tế
Cơ sở xác định các loại nguồn của luật quốc tế:
Việc xác định các loại nguồn của luật quốc tế dựa vào cơ sở sau:
+ Cơ sở pháp lý
Quan điểm chung và phổ biến hiện nay khoản 1 điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc
tế của Liên đều cho rang công hợp quốc là cơ sở pháp lý để xác định các loại nguồn củaluật quốc tế Theo khoản 1 Điều 38 Quy chế Tòa án lý quốc tế có thể xác định 5 loạinguồn của luật quốc tế bao gồm:
(1) Điều ước quốc tế
(2) Tập quán quốc tế
(3) Nguyên tắc pháp luật chung cho
(4) Phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế
(5) Học thuyết về luật quốc tế
+ Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn áp dụng luật quốc tế còn thừa nhận sự tồn tại của một sốnguồn khác chưa được đề cập đến tại khoản 1 Điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc tế,bao gồm:
(i) Nghị quyết of các tổ chực quốc tế liên chính phủ
(ii) hành vi pháp lý đơn phương of quốc gia
14 PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ TẬP QUÁN QUỐC
TẾ? CHO VÍ DỤ MINH HỌA?
ĐƯQT và TQQT có mối quan hệ biện chứng qua lại lẫn nhau:
- Tập quán quốc tế là cơ sở để hình thành ĐƯQT và ngược lại
Trang 15Ví dụ: Thông qua quá trình pháp điển hóa, nhiều quy phạm điều ước có nguồn gốc từtập quán: Quyền miễn trừ ưu đãi ngoại giao lãnh sự ban đầu là quy phạm tập quán quốc
tế, sau đó đc pháp điển hóa trong công ước viên 1961 về quan hệ ngoại giao và côngước viên 1963 về quan hệ lãnh sự Quy định về cách xác định đường cơ sở thẳng đượcpháp điển hóa trogn công ước luật biển 1958 và sau này là công ước luật biển 1982.Ngược lai, thực tiễn ký kết và thực hiện diều ước quốc tế hoàn toàn có thể tạo ra tiền lệ
xử sự mới là cơ sở cho việc hình thành tập quán quốc tế
- Tập quán có thể bị thay đổi, hủy bỏ bởi ĐƯQT và cá biệt, cũng có thể có trườnghợp ĐƯQT bị thay đổi, hủy bỏ bơit tậph quán quốc tế
Ví dụ: xuất hiện Jus cogen mới của luật quốc tế dười hình thức tập quán quốc tế sẽ làmchấm dứt hiệu lực của ĐƯQT
- TQQT tạo điều kiện mở rộng hiệu lực của ĐƯQT
Ví dụ: các quốc gia ko ký kết or tham g\ia những công ước phổ cập nhưng viên dẫn, ápdựng quy phạm of công ước, coi đó là quy phạm pháp lý ràng buộc mình với tư cách làtập quán quốc tế
>>> Như vậy, ĐƯQT và TQQT cùng bổ sung cho nhau để điều chỉnh các vấn đề nảysinh trong đời sống quốc tế Những vấn đề ĐƯQT chưa quy định, tập quán quốc tế điềuchỉnh ĐƯQT ghi nhận những tập quán quốc tế được thừa nhận rộng rãi và tập quánquốc tế là cơ sở để xây dựng và thực hiện ĐƯQT
15 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VÀ CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH TẬP
QUÁN QUỐC TẾ?
Tập quán quốc tế là hình thức pháp lý chứa đựng quy tắc xử sư chung, hình thành trongthực tiến quan hệ quốc tế và được các chủ thể luật quốc tế thừ nhận là luật
Tập quán quốc tế được cấu thành bời hai yếu tố và yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần:
- Yếu tố vất chất – yếu tố klhaschs quan: là sự tồn tại of quy tắc xử sự được hìnhthành trong thực tiễn quan hệ quốc tế và đyuwocj áp dụng lặp đi lặp lại nhiềulần tạo thnahf quy tắc xử sự chung, thông nhất Tuy nhiên, luật quốc tê khôngquy định thực tiễn phải lặp đi lặp lại bao nhiêu lần và trong thời gian bao nhiêulâu nhưng thực tiễn đó phải nhất quán Luật quốc tế cũng ko yêu cầu quy tắc xử
sự chung phải được thực hiện bởi tất cả các quốc gia nhưng phải thể hiện tínhphổ cập, đại diện
- Yếu tố tinh thần – yếu tố chủ quan: quy tắc xử sự phải được các chủ thể luậtquốc tế thừa nhận là “luật”, tức là sự thừa nhập giá trị pháp lý bắt buộc của quytắc xử sự đó Tuy nhiên, luật quốc tế ko đòi hỏi sự thừa nhận của tất cả các quốc
Trang 16gia trên thế giới mà như phán quyết of TA công lý quốc tế trong vụ thềm lục địabiển bắc đã khẳng định “một quy tắc có thể được công nhận là tập quán ngaykhi có sự thừa nhận của những đại diện, miễn sao bao gồm cả những quốc gia bịảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dựng quy tắc đó Yếu tố tinh thần đóng vai tròquan trọng trong việc phân biệt dó là tập quán quốc tế hay chỉ là một quy tắc lễnghi thông thường, chẳng hạn như: nghi thức đón tiếp các đoàn ngoại giao haytàu thuyền chào nhau trên biển mặc dù được áp dụng rỗi rãi và lâu dài nhưngcác quy tắc lễ nghi đó chưa được coi là tập quán quốt tế vì không được các chủthể luật quốc tế thưuaf nhận là luật.
>>> tóm lại, khi xác định một tập quán trong luật quốc tế cần phải chứng minh được haiyếu tố trên
Con đường hình thành:
- Từ thực tiễn thực hiện hành vi xử sự trong quan hệ giữa các chủ thể of luật quốctế: Ban đầu, tập quán quốc tế được thể hiện dưới dạng những quy tắc xử sự domột hay một số quốc gia khác cùng áp dụng Quá trình này diễn ra nối tiếp, liêntục về mặt thời gian và nhất quán về hành vi cho đến khi một tiền lệ được tạodựng Tiền tệ này được hầu hết các chủ thể luật quốc tế áp dụng và thừa nhậngiá trị pháp lý bắt buộc Như vậy, một tập quán quốc tế mới được hình thành
Ví dụ: các quốc gia dành quyền ưu đãi miễn trừ cho đại diện của nhau Việc dành quyền
ưu đãi, miễn trừ như vậy được đa số các quốc gia thực hiện, lặp đi lặp lại qua thời gian
và trở nên nhất quán Khi dành quyền ưu đãi miễn trừ cho đại diện của quốc gia khác,các quốc gia có ý thức rằng làm như vậy là phù hợp với yêu cầu của luật quốc tế hoặcluật quốc tế yêu cầu phải làm như vậy Trong trường hợp này, quy tắc tập quán về ưuđãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự đã hình thành từ thực tiễn quan hệ giữa các quốc gia
- Từ thực tiễn thực hiện nghị quyết của các tổ chức quốc tế: Sau chiến tranh thếgiới thứ hai, nhiều tổ chức quốc tế liên chính phủ ra đời Trong quá trình hoạtđộng các tổ chức quốc tế liên chính phủ đưa ra các nghị quyết có tính chấtkhuyến nghị về những vấn đề trong quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế.Cách thức xử sự đã được ghi nhận trong nghị quyết của tổ chức quốc tế đượccác quốc gia cùng đồng tình làm theo, lặp đi lặp lại và với ý thức thừa nhận là
“luật” thì một tập quán quốc tế mới đã xuất hiện
Ví dụ: Định nghĩa hành vi xâm lược được đưa ra trong Nghị quyết 3314 (XXIX) ngày14/12/1974 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã được các quốc gia đồng tình và hànhđộng theo chuẩn mực được quy định trong Nghị quyết Các quy tắc được đưa ra trong
Trang 17Nghị quyết trở thành tập quán quốc tế.
- Từ thực tiễn thực hiện điều ước quốc tế:
+ Tập quán quốc tế được hình thành từ các điều ước quốc tế pháp điển hoá Nhữngđiều ước này rất lâu mới có hiệu lực Trong khoảng thời gian chưa có hiệu lực, chưaràng buộc quyền, nghĩa vụ đối với các quốc gia, nhưng các quốc gia có thể thừa nhậncác quy tắc xử sự được nêu ra trong điều ước quốc tế đó là tập quán quốc tế Ví dụ:Công ước luật biển năm 1982 bắt đầu có hiệu lực tháng 11 năm Oued cty toul " qoidab
" 1994 nhưng trước thời điểm này có rất nhiều quy tắc xử sự trong Công ước đã đượcthừa nhận là tập quán quốc tế, ví dụ như quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải, đặcquyền đánh cá của quốc gia ven biển ở vùng biển phía ngoài lãnh hải mà không phải làbiển quốc tế
+ Tập quán quốc tế hình thành từ các điều ước quốc tế đa phương phổ cập, ví dụ nhưHiến chương Liên hợp quốc, Công ước về các quyền dân sự chính trị năm 1966 Nhữngquốc gia chưa phải là thành viên của những điều ước đó chịu sự ràng buộc của quy tắc
xử sự ghi nhận trong điều ước với tư cách là tập quán quốc tế
- Từ học thuyết về luật quốc tế: Tập quán quốc tế hình thành từ các học thuyếtcủa các luật gia danh tiếng về luật quốc tế về cơ bản cũng tương tự như cáchthức hình thành tập quán quốc tế truyền thống hoặc từ thực tiễn thực hiện nghịquyết của tổ chức quốc tế Điểm đặc trưng của cách thức này đó là cách thức xử
sự ở đây chính là quan điểm của các luật gia danh tiếng về luật quốc tế được ghinhận trong các công trình nghiên cứu Khi có nhiều quốc gia đồng tình với quanđiểm đó, thực hiện một cách lặp đi lặp lại và thừa nhận là luật thì khi đó một tậpquán quốc tế mới được hình thành
Ví dụ: Trong tác phẩm “Tự do biển cả”, luật gia người Hà Lan Huggo Grotius đã đưa raquan điểm biển cả phải để ngỏ cho tất cả các quốc gia Nhiều quốc gia đồng tình vớiquan điểm này (bày tỏ ý kiến đồng tình hoặc không phản đối) và thừa nhận quy tắc xử
sự này là hợp pháp, là bắt buộc Như vậy, quan điểm về tự do biển cả của HuggoGrotius là cơ sở hình thành nên tập quán về nguyên tắc tự do biển cả, trong đó traoquyền cho tất cả các quốc gia kể cả quốc gia không có biển
- Từ thực tiễn thực hiện phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế: Phán quyếtcủa cơ quan tài phán quốc tế giải quyết các vụ việc cụ thể, trong đó có đề cậpđến cách thức xử sự nhất định Nhiều quốc gia làm theo cách xử sự được nêutrong phán quyết đó, lặp đi lặp lại và với ý thức thừa nhận là luật Khi đó, mộttập quán quốc tế có thể được hình thành
Trang 18Ví dụ: Phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế giải quyết tranh chấp giữa Anh và Nauynăm 1951, trong đó Tòa thừa nhận cách thức Nauy hoạch định đường cơ sở thẳng Sau
đó, nhiều quốc gia hoạch định đường cơ sở thẳng theo cách mà phán quyết đề cập Khihoạch định đường cơ sở thẳng, các quốc gia có ý thức rằng việc làm như vậy là đượcluật quốc tế cho phép Như vậy, tập quán quốc tế về xác định đường cơ sở thẳng đượchình thành từ nguồn gốc ban đầu là phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế
Trong vụ eo biển Corfu, Tòa án công lý quốc tế của Liên hợp quốc đã làm sáng tỏ kháiniệm pháp lý về co biển quốc tế và nguyên tắc quyền qua lại không gây hại qua eo biểnquốc tế Tòa cho rằng, các quốc gia vào thời kỳ hoà bình đều có quyền cho tàu chiếncủa họ đi qua eo biển mà không phải thông báo trước; quốc gia ven biển không đượccản trở quyền này nếu việc đi qua eo biển quốc tế không làm ảnh hưởng đến hòa bình,
an ninh, chủ quyền, các quyền tài phán khác của quốc gia ven biển Quốc gia ven biển
có nghĩa vụ thông báo cho tàu thuyền qua lại eo biển về bất kỳ mối nguy hiểm nào nhưmìn, đá ngầm Sau đó, quyền này được ghi nhận trong Công ước Gionevo về lãnh hải
và vùng tiếp giáp lãnh hải và phát triển thành quyền quá cảnh qua eo biển quốc tế trongCông ước Luật biển 1982
16 TRÌNH BÀY MỐI QUAN HỆ GIỮA NGUỒN CƠ BẢN VÀ NGUỒN BỔ TRỢ CỦA
LUẬT QUỐC TẾ?
Giữa nguồn cơ bản và phương tiện hỗ trợ có mối quan hệ qua lại, hỗ trợ cho nhau Điềunày thể hiện ở chỗ:
Nguồn cơ bản chứa đựng QPPL, là cơ sở pháp lý cho nguồn bổ trợ.
VD: Đưa ra 1 phán quyết phải dựa trên các NT, QPPL và trong 1 số TH thì QPPL của
NCB là thước đo cho tính hợp pháp của nguồn bổ trợ Nguồn bổ trợ tác động tới nguồn
VD: Quy chế, cấu trúc địa chất của đảo được giải thích qua phán quyết của Tòa ántrong vụ kiện Philipin – TQ mà Điều 121 CU Luật Biển 1982 có quy định nhưng khôngrõ
Trang 19VD2: Vụ việc thềm lục địa Biển Bắc 1969 giữa Đức, Hà lan và Đan mạch về việc phânchia Thềm lục địa Biển Bắc đã góp phần làm sáng tỏ NT phân định thềm lục địa mà tại
CU Luật Biển 1958 quy định không rõ ràng
VD3: Phán quyết của trọng tài Max Huber trong vụ Las Palmas đã đóng vai trò to lớntrong việc làm rõ vấn đề chủ quyền lãnh thổ và phương thức chiếm hữu lãnh thổ hợppháp trong luật quốc tế hiện đại, sau đó được viện dân trong rất nhiều vụ quyết định giảiquyết tranh chấp của Tòa có liên quan đến vấn đề tranh chấp lãnh thổ
+ Chứng minh sự tồn tại của các NT, QPPLQT trong nguồn cơ bản
+ Các chủ thể của LQT có thể viện dẫn các phương tiện hỗ trợ (phán quyết của tòa án)
để xác định trách nhiệm của các chủ thể liên quan
VD: Dựa vào phán quyết của tòa án quốc tế về việc giải quyết tranh chấp giữa Thái Lan
và Campuchia liên quan đến đền Preah Vihear, Thái Lan không thể khẳng định ngôi đền
đó thuộc về mình
Góp phần làm hình thành nguồn cơ bản của luật quốc tế
VD: Phán quyết của tòa án quốc tế trong vụ giải quyết tranh chấp ngư trường Anh –Nauy Từ phán quyết này của tòa án, rất nhiều quốc gia có đường bờ biển khúc khuỷunhư của Nauy đã áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng để xác định các vùng biểncủa quốc gia mình Như vậy, ban đầu phán quyết này của tòa án quốc tế chỉ có giá trịbắt buộc đối với các bên tranh chấp, nhưng sau đó nó được sử dụng rộng rãi được ghinhận trở thành tập quán quốc tế và được cộng đồng quốc tế thừa nhận trong công ướcLuật Biển
VD2: Các luận điểm trong tác phẩm “Biển quốc tế” của tác giả Hugues Grotius có ảnhhưởng rất lớn đến quá trình xây dựng Luật biển quốc tế
VD3: Các phán quyết của các Tòa trọng tài trong vụ các đơn kiện giữa Mỹ và Iran vàphán quyết của Tòa trọng tài trong vụ xét xử những tội phạm chiến tranh ở Nam Tư đã
có những đóng góp quan trọng cho sự pháp điển hóa các quy phạm luật quốc tế về vấn
đề trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia cũng như trách nhiệm hình sự của cá nhân
17. TRÌNH BÀY NỘI DUNG VÀ PHÂN TÍCH CÁC NGOẠI LỆ CỦA NGUYÊN TẮC
BÌNH ĐẲNG VỀ CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC QUỐC GIA?
Nội dung nguyên tắc
*Về khái niệm “Bình đẳng chủ quyền”:
Trang 20Chủ quyền là thuộc tính chính trị-pháp lý vốn có của quốc gia, thể hiện quyền tốithượng của quốc gia trong lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan
hệ quốc tế Trong phạm vi lãnh thổ của mình, mỗi quốc gia có quyền tối thượng về lậppháp, hành pháp và tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài, đồngthời quốc gia được tự do lựa chọn cho mình phương thức thích hợp nhất để thực thiquyền lực trong phạm vi lãnh thổ
Trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia có quyền tự quyết định chính sách đối ngoại củamình mà không có sự áp đặt từ chủ thể khác trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọiquốc Điều này có nghĩa là các quốc gia dù lớn hay nhỏ, gia trong cộng đồng quốc tế
dù giàu hay nghèo đều có quyền độc lập như nhau trong quan hệ quốc tế
(Lưu ý rằng, sự “bình đẳng” được đề cập đến trong nguyên tắc này không phải là bìnhđẳng theo nghĩa “ngang bằng nhau” về tất cả các quyền và nghĩa vụ, mà được hiểu làbình đẳng trong quyền tự quyết mọi vấn đề liên quan đến đối nội và đối ngoại của mỗiquốc gia
Thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy, khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế của cácquốc gia không giống nhau, do đó Luật quốc tế trong một số trường hợp đã có nhữngquy phạm nhằm trao cho một số quốc gia nhất định những quyền đặc biệt mà các quốcgia khác không có (Ví dụ: quyền phủ quyết của 5 thành viên thường trực Hội đồng bảo
an Liên hợp quốc) Tuy nhiên, việc được hưởng các quyền đặc biệt này bao giờ cũngđồng nghĩa với việc các quốc gia này phải gánh vác thêm những nghĩa vụ đặc biệtkhác)
* Như vậy, bình đẳng về chủ quyền của quốc gia bao gồm các nội dung:
a Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý;
b Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ;
c Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền năng chủ thể của các quốc gia khác;
d Sự toàn vẹn lãnh thổ và tính độc lập về chính trị là bất di bất dịch;
e Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, xã hội, kinh tế
và văn hóa của mình;
f Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và tận tâm các nghĩa vụ quốc tế của mình
và tồn tại hoà bình cùng các quốc gia khác
*Theo nguyên tắc này mỗi quốc gia đều có các quyền bình đẳng sau:
a Được tôn trọng về quốc thể, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị, kinh
tế, xã hội và văn hóa;
b Được tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình;
Trang 21c Được tham gia các tổ chức quốc tế, hội nghị quốc tế với các lá phiếu có giá trị ngangnhau;
d Được ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan;
e Được tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế bình đẳng với các quốcgia khác;
f Được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi, miễn trừ và gánh vác các nghĩa vụ như cácquốc gia khác
Ngoại lệ của nguyên tắc
Cùng xem xét ví dụ: Trong việc thông qua những vấn đề thông thường (không thuộc vềthủ tục) 9 lá phiếu này của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc phải có 9/15 phiếu thì nghịquyết sẽ được thông qua là 9 phiếu của bất kỳ thành viên nào của Hội đồng bảo anLiên hợp quốc (không có sự phân biệt giữa lá phiếu của ủy viên không thường trực và
ủy viên thường trực)
Tuy nhiên, đối với các vấn đề không thông thường (vấn đề liên quan đến thủ tục), trong
9 phiếu này phải có 5 phiếu thuận của 5 ủy viên thường trực của Hội đồng bảo an Liênhợp quốc mới hợp lệ Trong trường hợp có 1 trong 5 ủy viên thường trực phản đối thìnghị quyết đó sẽ không được thông qua
Quy định trên đây không tạo ra sự bất bình đẳng cũng như vi phạm nguyên tắc cơ bảncủa Luật quốc tế, vì trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các chủ thể Luật quốc tế đã thừanhận một số trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc này đó là:
- Trường hợp các quốc gia tự hạn chế chủv quyền của mình: Đây là trường hợpcác quốc gia tự lựa chọn vì lợi ích của chính mình hoặc họ tự hạn chế chủ quyềncủa mình bằng cách trao quyền cho 1 thể chế khác (như tổ chức quốc tế, quốcgia khác…) được thay mặt mình trong các hoạt động liên quan đến lợi ích củaquốc gia
Trong trường hợp này, quốc gia đã tự không vi phạm nguyên tắc bình đẳng chủquyền[nguyện hạn chế chủ quyền của mình giữa các quốc gia (Ví dụ: – Công quốcMônacô cho phép Pháp thay mặt họ trong mọi quan hệ đối ngoại, dù nó là một quốc giađộc lập, có chủ quyền
- Pháp luật quốc tế thừa nhận các quốc gia có quyền tham gia vào các tổ chứcquốc tế, tuy nhiên có một số quốc gia đã tự hạn chế quyền này của mình Nhưtrường hợp của Thụy sỹ khi tuyến bố mình là quốc gia trung lập vĩnh viễn Điềunày đồng nghĩa với việc họ không được tham gia vào bất kỳ tổ chức quốc tế nàonhằm theo đuổi mục đích quân sự hay các liên minh kinh tế, chính trị trên thế
Trang 22giới…)Trường hợp các quốc gia bị hạn chế chủ quyền: Trường hợp này chỉ đặt rav đối với cácchủ thể có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế, và việc bị hạn chế chủquyền là một biện pháp trừng phạt từ phía cộng đồng quốc tế đối với quốc gia họ.
Ví dụ: Irắc tấn công Cô-oét năm 1990-đây là một hành vi vi phạm trắng trợn cácnguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Do đó, Hội đồng bảo an đã tiến hành áp dụng mộtloạt các biện pháp cấm vận về kinh tế đối với Irắc
18 TRÌNH BÀY NỘI DUNG VÀ PHÂN TÍCH CÁC NGOẠI LỆ CỦA NGUYÊN TẮC
KHÔNG CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA QUỐC GIA?
Nội dung chính của nguyên tắc
Nội hàm của nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác đượcghi nhận cụ thể và rõ ràng trong Nghị quyết 2625 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợpquốc Nghị quyết này được xem là “giải thích có giá trị” (authoritative interpretation)của 07 nguyên tắc trong Hiến chương Liên hợp quốc.[3] Trước đó, nội dung tương tựcũng đã được Đại hội đồng ghi nhận trong Tuyên bố về Việc không thể chấp nhận hành
vi can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác (Nghị quyết 2131 năm 1965).Năm nội dung chính của nguyên tắc theo Nghị quyết 2625 như sau:
1 Không Quốc gia nào hay nhóm Quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay giántiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoại của bất kỳ Quốc gia nào khác.Theo đó, can thiệp vũ trang và tất cả các hình thức can thiệp hay đe dọa chống lại tưcách của Quốc gia hay chống lại các đặc trưng chính trị, kinh tế và văn hóa của Quốcgia đó, đều là vi phạm luật pháp quốc tế [Tòa ICJ xác nhận trong Vụ Nicaragua v Mỹ]
2 Không Quốc gia nào có thể sử dụng hay khuyến khích sử dụng các biện pháp cưỡng
ép bằng kinh tế, chính trị hay các hình thức khác nhằm buộc Quốc gia khác phải phụthuộc mình khi thực hiện các quyền chủ quyền và nhằm bảo đảm các lợi thế ở bất kỳhình thức nào Cũng vậy, không Quốc gia nào được tổ chức, hỗ trợ, khuyến khích, tàitrợ, kích động hay dung thứ cho hành vi lật đổ, khủng bố hay các hoạt động vũ trangtrực tiếp nhằm lật đổ bằng bạo lực thể chế của Quốc gia khác, hoặc can thiệp vào cáccuộc bạo động dân sự ở Quốc gia khác; [Câu thứ hai đã được Tòa ICJ xác nhận trong
Vụ Nicaragua v Mỹ]
3 Việc sử dụng vũ lực để ngăn cản các dân tộc có bản sắc quốc gia cấu thành hành vi viphạm các quyền không thể tách rời của các dân tộc đó và vi phạm nguyên tắc khôngcan thiệp;
Trang 234 Mỗi Quốc gia đều có quyền không thể tách rời trong việc lựa chọn thể chế chính trị,kinh tế, xã hội và văn hóa mà không chịu sự can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào củaQuốc gia khác; [Tòa ICJ xác nhận trong Vụ Nicaragua v Mỹ]
5 Không có bất kỳ đoạn nào nêu trên sẽ được giải thích như phản ánh các quy định củaHiến chương liên quan đến duy trì hòa bình và an ninh quốc tế
Ngoại lệ của nguyên tắc
Trong luật pháp quốc tế, có hai ngoại lệ đối với nguyên tắc cấm can thiệp vào công việcnội bộ của quốc gia khác Ngoại lệ thứ nhất, can thiệp theo quy định của các điều ướcquốc tế Ví dụ điển hình nhất là các biện pháp cưỡng chế của Hội đồng Bảo an theoChương VI Điều 2(7) ghi nhận nguyên tắc không can thiệp, đồng thời cũng ghi rõ rằngnguyên tắc này “không ảnh hưởng đến việc áp dụng các biện pháp theo Chương VII.”Khi phê chuẩn Hiến chương, các quốc gia thành viên đã chấp nhận quyền can thiệp này
và khả năng bị can thiệp bằng một nghị quyết của Hội đồng Bảo an Như vậy, với cácquốc gia thành viên Liên hợp quốc, Hội đồng Bảo an là cơ quan có quyền can thiệp vàobất kỳ vấn đề nội bộ nào của bất kỳ quốc gia thành viên nào nếu xét thấy “có mối đedọa đến hòa bình, phá hoại hòa bình và hành vi xâm lược.” Quyền can thiệp của Hộiđồng Bảo an rất rộng và gần như không có giới hạn Tính chất không có giới hạn nàyđược thể hiện qua hai mặt Một, Hiến chương không áp đặt bất kỳ tiêu chí cụ thể nào đểxác định khi nào thực sự có mối đe dọa đến hòa bình, phá hoại hòa bình hay hành vixâm lược Hội đồng Bảo an tự mình và tự do quyết định theo ý chí tập thể của 15 quốcgia thành viên Hai, các biện pháp can thiệp có thể bao gồm biện pháp vũ lực (Điều 42)hoặc phi-vũ lực (Điều 41, gồm cắt đứt quan hệ kinh tế, ngoại giao, giao thông, thông tinliên lạc,…)
Ngoại lệ thứ hai là can thiệp có sự đồng ý của quốc gia sở tại (consent) Nói cách khác,can thiệp của một quốc gia vào công việc nội bộ của quốc gia khác theo lời mời củachính quốc gia khác đó (intervention by invitation).[12] Không có quy định bắt buộc vềhình thức của lời mời hay rút lời mời.[13]
Trong phán quyết năm 2005 trong Vụ Hoạt động quân sự trên lạnh thổ Công-gô, TòaICJ xác nhận lại ngoại lệ này,[14] và nhận định thêm rằng quốc gia mời có quyền chophép quốc gia khác can thiệp, có điều kiện hoặc vô điều kiện Tòa nhận định:
“Sự đồng ý cho phép Uganda đồn trú quân đội trên lãnh thổ của Công-gô, và tham giavào các hoạt động quân sự, không phải là vô điều kiện Công-gô chỉ chấp nhận Uganda
có thể hoạt động, hay hỗ trợ hoạt động chống lại các nhóm phiến quân ở biên giới phíađông và cụ thể là ngăn chặn các nhóm này hoạt động xuyên biên giới chung [giữa hai
Trang 24nước] Thậm chí sự đồng ý cho phép Uganda hiện diện quân sự kéo dài hơn hạn địnhtháng 7 năm 1998 thì các điều kiện của sự đồng, về mặt vị trí địa lý và mục đích, vẫn bịgiới hạn như thế.”[15]
19 TRÌNH BÀY NỘI DUNG VÀ PHÂN TÍCH CÁC NGOẠI LỆ CỦA NGUYÊN TẮC
CẤM DÙNG VŨ LỰC VÀ ĐE DỌA DÙNG VŨ LỰC TRONG QUAN HỆ QUỐCTẾ?
Nội dung của nguyên tắc
Điều 2(4) Hiến chương quy định “các Quốc gia thành viên hạn chế việc đe dọa sử dụnghay sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lậpchính trị của các quốc gia khác hoặc trái với các Mục đích của Liên hợp quốc.” Về mặtcâu chữ, Điều 2(4) chỉ yêu cầu các quốc gia “hạn chế” (refrain) và việc sử dụng vũ lựcchỉ bị hạn chế nếu mục đích của nó là nhằm xâm phạm chống lại “sự toàn vẹn lãnhthổ”, “độc lập chính trị” hoặc “trái với Mục đích của Liên hợp quốc” Qua thực tiễn củaLiên hợp quốc, nghĩa vụ hạn chế đã được chuyển hóa thành nghĩa vụ cấm và việc cấm
sử dụng vụ lực cũng không bị hạn chế vào những mục đích theo câu chữ của Điều 2(4)
dù giải thích theo cách rộng hay hẹp Tóm lại, hiện trạng luật pháp quốc tế hiện naycấm việc đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế giữa các quốc giavới nhau
“Vũ lực”: Vũ lực thông thường được hiểu là vũ lực quân sự, vũ lực do vũ khí, khí tài
Có ý kiến cho rằng vũ lực bao gồm cả vũ lực chính trị và kinh tế, ví dụ như sử dụngcấm vận kinh tế, sức ép chính trị Tuy nhiên, có vẻ cách hiểu rộng này không được chấpnhận Và việc sử dụng cấm vận kinh tế hay sức ép chính trị để tác động vào toàn vẹnlãnh thổ và độc lập chính trị nên được xem xét trong khuôn khổ nguyên tắc cấm canthiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác
“Đe dọa sử dụng vũ lực”: Trong Ý kiến tư vấn về Tính hợp pháp của việc đe dọa sửdụng hay sử dụng vũ khí hạt nhân, Tòa ICJ giải thích rằng việc một quốc gia tuyên bố
sẽ sử dụng một loại vũ khí nào đó (có thể là vũ khí hạt nhân) để tự vệ nếu bị tấn công
có được xem là “đe dọa sử dụng vũ lực” theo Điều 2(4) hay không còn phụ thuộc vàonhiều yếu tố.[9] Tòa cho rằng tiêu chí xác định nằm ở việc quốc gia đe dọa sử dụng cáigì;[10] nếu việc sử dụng vũ lực theo cách thức nhất định là vi phạm Điều 2(4) thì việc
đe dọa sử dụng vũ lực theo cách thức đó sẽ là “đe dọa” vi phạm Điều này Nói nôm na,nếu nước A đe dọa thực hiện việc A, mà việc A đó được xác định là sử dụng vũ lực theoĐiều 2(4) nếu xảy ra, thì việc đe dọa sẽ cấu thành “đe dọa sử dụng vũ lực” bị cấm ởĐiều 2(4) Trong vụ này, Tòa cho rằng chính sách răn đe hạt nhân có hay không có cấu
Trang 25thành đe dọa sử dụng vũ lực theo Điều 2(4) phụ thuộc vào “cách sử dụng vũ lực cụ thểđược dự trù” theo chính sách đó có nhằm chống lại toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chính trịhay Mục đích của Liên hợp quốc hay không, hay liệu khi được sử dụng như một biệnpháp quốc phòng thì có nhất thiết vi phạm nguyên tắc cần thiết và tương xứng haykhông.[11]
Gần đây hơn một tòa trọng tài luật biển trong Vụ Guyana và Suriname đã có vẻ quánhạy cảm với đe dọa sử dụng vũ lực Tòa trọng tài đã xem xét hành vi của tàu hải quânSuriname phát ra cảnh báo một tàu khoan dầu được Guyana cấp phép phải đi ra khỏikhu vực đang khoan “nếu không sẽ chịu mọi hậu quả” Sau cảnh báo tàu khoa dầu đãrút đi và không có bất kỳ va chạm nào Tuy nhiên Tòa trọng tài đã cho rằng việc cảnhbáo “chịu mọi hậu quả” quá mơ hồ nhưgn rõ ràng hàm ý sẽ sử dụng vũ lực nếu tàukhoan dầu không rút đi.[12] Hơn nữa hành vi của tàu hải quân Suriname được xem là
đe dọa có hành động quân sự hơn là hành vi chấp pháp thông thường, do đó, đã cấuthành đe dọa sử dụng vũ lực![13] Điểm đặc biệt của phán quyết trọng tài trong vụ việcnày, cùng với phán quyết trước đó trong Vụ Saiga trước đó, là việc khẳng định luậtpháp quốc tế không cấm việc sử dụng vũ lực trong hoạt động thực thi pháp luật với điềukiện việc sử dụng đó là không thể trách khỏi (unavoidable), hợp lý (reasonable) và cầnthiết (necessary).[14]
Ngoại lệ theo Hiến chương
Mặc dù vậy nguyên tắc này không phải không có ngoại lệ Các quốc gia vẫn được phép
sử dụng vũ lực ít nhất trong hai trường hợp
Thứ nhất, việc sử dụng vũ lực vì tự vệ chống lại một cuộc tấn công vũ trang là đượcphép (quyền tự vệ) theo Điều 51 Quyền tự vệ bao gồm tự vệ cá nhân và tự vệ tập thể vàđây là quyền tự nhiên của tất cả mọi quốc gia không chỉ theo quy định ở Điều 51 màcòn theo tập quán quốc tế.[15] Các biện pháp vũ lực được sử dụng để tự vệ phải thỏamãn điều kiện về tính cần thiết (necessity) và tính tương xứng (proportionality).[16]Thứ hai, các quốc gia có thể sử dụng vũ lực nếu Hội đồng Bảo an cho theo theo thẩmquyền của cơ quan này quy định tại Chương VII Hiến chương Điều 39 và 42 củaChương VII trao cho Hội đồng Bảo an quyền lực gần như không có giới hạn về việc xácđịnh khi nào sử dụng vũ lực và biện pháp sử dụng vũ lực nào được sử dụng
Đây là hai ngoại lệ được chấp nhận rộng rãi và không một quốc gia nào phủ nhận hayphản bác chúng (có tranh cãi thì cũng chủ yếu liên quan đến nội hàm của hai ngoại lệ
mà không phải về sự tồn tại của chúng) Trong bối cảnh hiện nay khác rất nhiều so vớibối cảnh năm 1945 khi Hiến chương được viết ra, hai ngoại lệ này cũng đang phát triển
Trang 26để đáp ứng hiện trạng của việc sử dụng vũ lực Những vấn đế hiện nay như (a) việc sửdụng vũ lực của các nhóm vũ trang phi-quốc gia, (b) tấn công mạng, (c) trách nhiệmbảo vệ (R2P), (d) tự vệ phủ đầu, tự vệ phòng ngừa,…
“Ngoại lệ khác”?
Tuy nhiên thực tiễn thì luôn phong phú hơn lý thuyết Các quốc gia và những luật sưchính phủ của họ rất sáng tạo; những ngoại lệ khác đôi khi được viện dẫn: can thiệpnhân đạo và sự đồng ý của quốc gia liên quan Can thiệp nhân đạo (humanitarianintervention) có thể hiểu là việc một quốc gia sử dụng vũ lực để can thiệp vào một quốcgia khác nhằm mục đích loại trừ một thảm họa nhân đạo ở quốc gia bị can thiệp Cáchthức áp dụng và những điều kiện cụ thể để viện dẫn can thiệp nhân đạo gần đây đượcnêu trong quan điểm pháp lý của Chính phủ Anh về khả năng sử dụng vũ lực chống lạiSyria khi có cáo buộc nước này sử dụng vũ khí hóa học năm 2013.[17] Theo tài liệuquan điểm này, can thiệp nhân đạo có thể được tiến hành và tiến hành hợp pháp theoluật pháp quốc tế, nếu thỏa mãn 03 điều kiện:
Có bằng chứng thuyết phục, được toàn thể công đồng quốc tế công nhận rộng rãi về sựtồn tại của thảm họa nhân đạo cần thiết phải được loại trừ ngay;
Hoàn cảnh của vụ việc rõ ràng và khách quan là không có bất kỳ biện pháp thay thế nàongoài sử dụng vũ lực – sử dụng vũ lực là biện pháp cuối cùng khả thi; và
Việc sử dụng vũ lực ở mức cần thiết tối thiểu và tương xứng để loại trừ thảm họa nhânđạo đó.[18]
Nếu nhìn qua mục đích và điều kiện tiến hành can thiệp nhân đạo, chúng ta có thể sẽ gậtđầu với nhau về tính chính đáng của can thiệp nhân đạo và nghĩ rằng luật pháp quốc tếnên ghi nhận ngoại lệ này vì sự tốt đẹp chung của nhân loại và nhân phẩm của conngười Tuy nhiên, một quy định tốt cần phải, inter alia, không thể bị lạm dụng Quyđịnh về can thiệp nhân đạo như trên nhìn ban đầu có vẻ chặt chẽ và hợp lý nhưng khảnăng bị lạm dụng vẫn tồn tại, do thiếu cơ chế khách quan đánh giá các điều kiện nêutrên Ai sẽ là người đánh giá về sự tồn tại của thẩm họa nhân đạo, vũ lực là biện phápcuối cùng hay mức độ sử dụng vũ lực Kể cả trong trường hợp điều kiện đầu tiên, Chínhphủ Anh rất thiện chí khi cho rằng “toàn thể cộng đồng quốc tế” là người quyết địnhbằng chứng về sự tồn tại của thẩm họ; nhưng “toàn thể cộng đồng quốc tế” là ai và cóthể hiểu là tất cả, đa số 2/3 hay đa số thông thường các quốc gia? Liệu một nước có thểdựa vào một nghị quyết được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua với 2/3 thành viênủng hộ lên án một tình huống cụ thể nào đó để sử dụng vũ lực can thiệp nhân đạo? Haygiống như Anh dựa vào Nghị quyết 1199 của Hội đồng Bảo an và các báo cáo của Cơ
Trang 27quan Tị nạn Liên hợp quốc (UNHCR) để cho rằng toàn thể cộng đồng quốc tế đã côngnhận có thảm họa tại Kosovo?[19] Cho đến khi các vấn đề thể chế được giải quyết canthiệp nhân đạo sẽ không được chấp nhận rộng rãi như một quy định tập quán quốc tế –một ngoại lệ mới của nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực.
Mặc dù, có thể tồn tại nhiều nguy cơ nguy hiểm do lạm dụng nhưng cũng không thểkhông suy nghĩ khi Tổng thư ký Liên hợp quôc Kofi Anan đặt ra câu hỏi của lương tâmrằng: “Nếu can thiệp nhân đạo được xem là một sự xâm phạm không thể chấp nhận vàochủ quyền quốc gia, vậy làm cách nào mà chúng ta có thể xử lý những thảm họa ởRwanda, ở Srebrenica, và những vi phạm nhân quyền rộng lớn và có hệ thống, xúcphạm đến tất cả các giới luật của nhân loại chúng ta nói chung?”.[20] Khái niệm Tráchnhiệm bảo vệ (R2P) ra đời từ đòi hỏi phải trả lời câu hỏi này mà có thể được các quốcgia có thể chấp nhận rộng rãi hơn
Cũng gần đây trong cuộc chiến chống Nhà nước Hồi giáo (IS) các quốc gia đã viện dẫnmột căn cứ khá mới để sử dụng vũ lực: sự đồng ý của quốc gia sở tại Để sử dụng vũlực chống IS ở Iraq, Anh đã dựa vào lời mời của Chính phủ Iraq.[21] Tương tự như thế,Nga hiện diện quân sự ở Syria.[22] Cả hai nước này không viện dẫn đến quyền tự vệtập thể để tự vệ giúp Iraq và Syria mà viện dẫn “sự đồng ý của quốc gia sở tại” (consent
of territorial State) Do đó có vẻ đây hai nước này cho rằng đây là căn cứ tách biệt khỏicăn cứ quyền tự vệ khi bị tấn công vũ trang Nếu đúng như thế thì có vẻ căn cứ này rất
có cơ sở theo nguyên tắc chủ quyền – quốc gia có chủ quyền và quốc gia có thể chophép quốc gia khác sử dụng vũ lực bên trong quốc gia của mình Tuy nhiên, vẫn chưa
rõ ràng rằng liệu hai nước có thực sự cho rằng hành động của họ là “sử dụng vũ lực”với ý nghĩa của nguyên tắc và Điều 2(4) hay không Anh hạn chế sử dụng từ “sử dụng
vũ lực” mà dùng những từ thay thế như “hành động quân sự”, “sử dụng vũ lực quânsự” Trong khi đó Nga việc dẫn đến hỗ trợ quân sự chống lại chủ nghĩa khủng bố tạiSyria Căn cứ khá mới này có vẻ được ủng hộ trong phán quyết Vụ Công-gô v Uganda,Tòa ICJ đã công nhận rằng một quốc gia có thể triển khai quân độ và thực hiện các hoạtđộng quân sự ở lãnh thổ nước khác, nếu có sự đồng ý của quốc gia sở tại.[23] Quốc gia
sở tại có thể rút lại sự đồng ý của mình bất kỳ thời điểm nào và dưới bất kỳ hình thứcnào
20 TRÌNH BÀY NỘI DUNG VÀ PHÂN TÍCH CÁC NGOẠI LỆ CỦA NGUYÊN TẮC
TẬN TÂM, THIỆN CHÍ THỰC HIỆN CAM KẾT QUỐC TẾ?
Nội dung chính
Nguyên tắc pacta sunt servanda có hai nội dung chính: (1) các điều ước quốc tế có hiệu
Trang 28lực ràng buộc, và (2) các bên ký kết có nghĩa vụ phải thực thi các điều ước đó một cáchthiện chí Thứ nhất, các điều ước quốc tế đang có hiệu lực đối với các bên ký kết thì đềuràng buộc (binding) đối với các bên đó, bất kể chính điều ước quốc tế có ghi nhận trongđiều khoản về nguyên tắc pacta sunt servanda hay không Một điều ước quốc tế đang cóhiệu lực thì sẽ tạo ra ràng buộc pháp lý đối với quốc gia thành viên Nội dung này cótính chất đương nhiên, minh thị, và không thể phủ nhận, và cũng không cần thiết chứngminh thêm Ở đây, nguyên tắc pacta sunt servanda có hai điều kiện để có thể áp dụng:văn kiện liên quan phải là điều ước quốc tế (xem thêm post về định nghĩa điều ước quốctế) và đã bắt đầu có hiệu lực đối với quốc gia thành viên (xem thêm post về hiệu lực củađiều ước quốc tế, phần hiệu lực theo thời gian) Điều ước “đang có hiệu lực” cũng baogồm cả trường hợp áp dụng tạm thời điều ước theo Điều 25 của Công ước Viên 1969(provisional application).[3] Điều ước không “đang có hiệu lực” bao gồm điều ướcchưa có hiệu lực, điều ước bị vô hiệu, và điều ước đã bị đình chỉ thi hành hay hủy bỏ.Thứ hai, các bên ký kết có nghĩa vụ phải thực thi các điều ước đang có hiệu lực mộtcách thiện chí Khi điều ước đã bắt đầu có hiệu lực ràng buộc, thì các quốc gia cũng bắtđầu phải thực thi điều ước quốc tế đó, và phải thực thi theo cách thức thiện chí “Thiệnchí” (good faith) là một nguyên tắc của luật quốc tế, mặc dù nội hàm có thể không xácđịnh được rõ ràng Năm 1974, Tòa ICJ trong Vụ thử hạt nhân nhận định rằng:
“Một trong những nguyên tắc cơ bản điều chỉnh việc xác lập và thực thi các nghĩa vụpháp lý, bất kể thuộc nguồn nào, là nguyên tắc thiện chí Sự tin tưởng, tin cậy là bảnchất của hợp tác quốc tế, đặc biệt là trong thời đại mà hợp tác trong nhiều lĩnh vực đangtrở thành một phần thiết yếu Cũng giống như nguyên tắc pacta sunt servanda trong luậtđiều ước quốc tế cũng dựa vào sự thiện chí, tính chất ràng buộc của một nghĩa vụ quốc
tế được xác lập bằng tuyên bố đơn phương cũng dựa trên sự thiện chí Do đó, các quốcgia có lợi ích liên quan có thể ghi nhận tuyên bố đơn phương và tin tưởng vào các tuyên
bố đó, và có quyền yêu cầu nghĩa vụ được tạo ra từ các tuyên bố này phải được tôntrọng.”
Nguyên tắc thiện chí là nội hàm không thể tách rời của nguyên tắc pacta sunt servanda.[5] Nội hàm của nguyên tắc thiện chí rất khó để xác định, mà có thể dễ xác định nhấtkhi xem xét từng trường hợp cụ thể Anthony Aust lấy ví dụ về một trường hợp áp dụngnguyên tắc thiện chí như sau Điều 23(1) của Hiến chương Liên hợp quốc quy định ủyviên thường trực của Hội đồng Bảo an gồm Cộng hòa Trung Hoa và Liên Xô Nếu giảithích bám sát câu chữ thì Cộng hòa Nhân dân Trung Hòa và Nga không thể là ủy viênthường trực cho đến khi sửa đổi Hiến chương Anthony Aust cho rằng giải thích như thế
Trang 29không thiện chí (an act of bad faith).[6] Áp dụng tương tự với Điều 7 của Công ướcViên 1969 cũng như thế: Điều 7 quy định người đại diện quốc gia dùng từ “ông ấy”(He), và sẽ không thiện chí nếu cho rằng phụ nữ không thể làm đại diện quốc gia.III Áp dụng cho tất cả các cam kết quốc tế?
Hầu hết các thảo luận đều chỉ xem nguyên tắc pacta sunt servanda là một nguyên tắccủa luật điều ước quốc tế, hay chỉ áp dụng đối với điều ước quốc tế Điều này là đúng,bởi vì từ “pacta” có nghĩa là thỏa thuận, là hợp đồng, là điều ước, và vì nguyên tắc nàyghi nhận chính yếu trong Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 Tuynhiên, nguyên tắc này nên được hiểu theo nghĩa rộng, theo đó, áp dụng cho tất cả cácnghĩa vụ pháp lý quốc tế phát sinh từ tất cả cam kết quốc tế (bao gồm cả điều ước quốc
tế, tập quán quốc tế, các nguyên tắc pháp luật chung hay hành vi pháp lý đơn phương).Như trong Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế (Nghị quyết 2526 năm
1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc) – văn bản được xem là giải thích có giá trị(authoritative interpretation) của các nguyên tắc cơ bản ghi nhận trong Hiến chương –nguyên tắc pacta sunt servanda được giải thích rõ ràng áp dụng cho tất cả các nghĩa vụpháp lý bất kể nguồn chứa đựng: Mỗi Quốc gia có nghĩa vụ phải thực thi thiện chí cácnghĩa vụ của mình “theo các nguyên tắc được công nhận rộng rãi và các quy định củaluật pháp quốc tế” (its obligations under the generally recognized principles and rules ofinternational law)
Cũng lưu ý rằng, theo Tòa ICJ trong Vụ thử hạt nhân nêu trên, nguyên tắc pacta suntservanda là một nguyên tắc của luật điều ước quốc tế Quan trọng hơn, Tòa cho rằngchính nguyên tắc thiện chí mới là cơ sở pháp lý để xác lập tính chất ràng buộc của tất cảnghĩa vụ pháp lý trong luật quốc tế, bất kể nguồn thể hiện.[7]
vụ theo bất kỳ thỏa thuận quốc tế khác, nghĩa vụ theo Hiến chương này được ưutiên áp dụng.”
Như vậy, nguyên tắc pacta sunt servanda sẽ không được xem là vi phạm nếu một quốcgia từ chối thực thi một nghĩa vụ điều ước để thực thi nghĩa vụ theo Hiến chương
- Trường hợp ngoại lệ thứ hai có thể là trong trương hợp đình chỉ thi hành điều
Trang 30ước Điều 72 Công ước Viên quy định về hệ quả pháp lý phát sinh khi đình chỉthi hành điều ước quy định rằng Khi điều ước quốc tế bị đình chỉ thi hành, cácbên không phải thực thi điều ước trong thời gian đình chỉ Mặc khác, Điều 72(1)(b) cũng nhấn mạnh việc đình chỉ thi hành không ảnh hưởng đến quan hệ pháp
lý giữa các bên được xác lập bởi điều ước đó Điều đó có nghĩa là điều ước vẫn
có hiệu lực ràng buộc giữa các bên, dù đã bị đình chỉ thi hành Như vậy, nguyêntắc pacta sunt servanda cũng có thể được xem là tạm thời không áp dụng dùrằng điều ước vẫn có hiệu lực (in force) Hơn nữa, Điều 72(3) quy định rằngtrong thời gian đình chỉ, các bên không được có hành vi làm cho việc tái thực thiđiều ước không thể thực hiện được Ủy ban Luật pháp Quốc tế (ILC) thuyếtminh khoản 3 này như sau: “Ủy ban cho rằng nghĩa vụ này đã ngầm định ngaytrong bản chất của khái niệm ‘đình chỉ’, và là nghĩa vụ áp đặt lên các bên theonguyên tắc pacta sunt servanda về thực thi điều ước một cách thiện chí.”[8]
21. NÊU ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN TÍCH CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA QUỐC TỊCH CÁ
NHÂN?
Định nghĩa: Quốc tịch là mối quan hệ 2 chiều, được xác nhận giữa cá nhân và 1 quốc
gia nhất định, có nội dung là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của người đó và quốc gia
- Thứ hai, quốc tịch có tính cá nhân Quốc tịch luôn gắn liền với một cá nhân xác định Quốc tịch ko thể mua bán, trao đổi, chuyển nhượng Các sự kiện pháp lý
làm thay đổi quốc tịch của người thân như vợ/chồng ko đương nhiên làm thayđổi quốc tịch cá nhân
- Thứ ba, quốc tịch là mối quan hệ mang tính hai chiều giữa cá nhân và quốc gia,
Trang 31có nội dung là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của người đó và quốc gia mà họ
là công dân.
Công dân được hưởng các quyền, đồng thời phải thực hiện đầy đủ cácnghĩa vụ của mình đối với nhà nước
Nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với công dân
- Thứ tư, quan hệ quốc tịch được điều chỉnh bơi hai hệ thống pháp luật: pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế Quốc tịch là vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia Tuy nhiên, khi quy định các vấn đề về quốc tịch, mỗi quốc gia phải tôn
trọng các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại và các ĐƯQT mà quốc gia
đã ký kết hoặc tham gia Bên cạnh đó, mỗi cá nhân tồn tại với tư cách là côngdân của mỗi quốc gia đồng thời là chủ thể của quyền con người Bởi vậy, quốctịch còn thể hiện tính quốc tế Mặt khác, quốc tịch còn là cơ sở pháp lý để quốcgia bảo hộ công dân của mình cũng như từ chối dẫn độ công dân quốc gia theoyêu cầu quốc gia khác
22. TRÌNH BÀY CÁC CÁCH THỨC HƯỞNG QUỐC TỊCH? CHO VÍ DỤ MINH HỌA?
Các cách thức hưởng quốc tịch bao gồm:
- Hưởng quốc tịch do sinh ra:
Thực tiễn xác định quốc tịch của một đứa trẻ khi mới đời các quốc gia thường áp dụngcác nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc quyền huyết thống: Theo nguyên tắc này, quốc tịch của đứa trẻ đượcxác định theo quốc tịch của cha mẹ, không phụ thuộc vào nơi mà đứa trẻ đó được sinh
ra Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc này bộc lộ hạn chế trong trường hợp không xácđịnh được cha mẹ của đứa trẻ hoặc cha mẹ là người không quốc tịch
+ Nguyên tắc quyền nơi sinh: Theo nguyên tắc này, quốc tịch của trẻ em khi sinh rađược xác định theo nơi đứa trẻ được sinh ra mà không phụ thuộc vào quốc tịch của cha
mẹ Áp dụng nguyên tắc này có thể dẫn tới tình trạng đứa trẻ mang hai hoặc nhiều quốctịch khi đứa trẻ được sinh ra trên lãnh thổ quốc gia áp dụng nguyên tắc quyền nơi sinh,nhưng cha mẹ của đứa trẻ là công dân của quốc gia áp dụng nguyên tắc quyền huyếtthống
Việc áp dụng riêng rẽ một trong hai quốc tịch có thể dẫn đến tình trạng trẻ emkhông có quốc tịch hoặc hai hay nhiều quốc tịch Do đó, để hạn chế tình trạng này, đaphần các quốc gia đều áp dụng nguyên tắc hỗn hợp, tức là các quốc gia sẽ kết hợp mộtcách hài hòa, chặt chẽ và đồng thời cả hai nguyên tắc quyền huyết thống và quyền nơisinh để xác định quốc tịch của trẻ em khi sinh ra trên cơ sở ưu tiên áp dụng 1 trg 2 ng
Trang 32tắc này
- Hưởng quốc tịch do sự gia nhập quốc tịch:
Hưởng quốc tịch do sự gia nhập là việc một nước ngoài có quốc tịch của một quốc gia
do việc xin nhập quốc tịch của người đó Việc xin gia nhập quốc do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền chấp nhận theo những điều kiện, trình tự, thủ tục do pháp luật quốc giaquy định Việc xin gia nhập quốc tịch phải xuất phát từ ý chí nguyện của đương sự,được thể hiện thông qua việc làm đơn xin gia nhập quốc tịch Bên cạnh đó, pháp luậtcác nước thường đưa ra các điều kiện cơ bản sau:
+ Đạt đến độ tuổi nhất định, thường là từ 18 tuổi trở lên Có thời gian sinh sống nhấtđịnh tại nước xin gia nhận quốc tịch
+ Biết ngôn ngữ của quốc gia xin gia nhập
+ Có điều kiện sống đảm bảo theo quy định của quốc gia xin gia nhập quốc tịch + Có đạo đức và tư cách tốt
Đây là những điều kiện chung có tính chất cơ bản Ngoài ra, phụ thuộc vào bảnchất chế độ, phong tục tập quản, điều kiện và trình độ phát triển của từng quốc gia màpháp luật từng nước có thể bổ sung thêm các điều kiện khác nhưng vẫn phải đảm bảonguyên tắc không tạo ra sự phân biệt đối xử và không được trái với các quy định chungcủa pháp luật quốc tế
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, những người muốn gia nhập quốc tịch khôngcần phải đáp ứng đầy đủ tất cả các điều kiện trên, đó là khi kết hôn với người nướcngoài hoặc được người nước ngoài nhận làm con nuôi
- Hưởng quốc tịch do sự lựa chọn
Lựa chọn quốc tịch: Là việc người dân, theo yêu cầu của một quốc gia, tiến hànhlựa chọn cho mình một quốc tịch, hoặc giữ nguyên quốc tịch cũ hoặc nhận quốc tịchcủa quốc gia khác, hoặc lựa chọn một quốc tịch trong số quốc tịch mà mình đang có Việc lựa chọn quốc tịch đặt ra trong các trường hợp sau:
Khi một người có cùng lúc hai hay nhiều quốc tịch Trong trường hợp này,người có hai hay nhiều quốc tịch, theo yêu cầu của quốc gia, phải tự lựa chọncho mình một quốc tịch trong số các quốc tịch đó
Khi có sự thay đổi về lãnh thổ quốc gia (sự hợp nhất hoặc phân chia lãnh thổ)
Ví dụ: trường hợp Alaska bị bản cho Hoa kì
Việc lựa chọn quốc tịch phải được thực hiện trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, phùhợp với nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết, bảo đảm tuyệt đối quyền lợi và tài sản của
Trang 33người lựa chọn quốc tịch.
- Hưởng quốc tịch do sự phục hồi quốc tịch:
Phục hồi quốc tịch là hoạt động pháp lý nhằm đích khôi phục lại quốc tịch chongười đã mất quốc tịch vì các nguyên nhân khác nhau trong đời sống dân sự quốc tế.Vấn đề phục hồi quốc tịch thường được đặt ra đối với các trường hợp sau:
Người ra nước ngoài sinh sống bị mất quốc tịch nay xin phục hồi quốctịch
Người mất quốc tịch do kết hôn với người nước ngoài nay ly hôn, ngườimất quốc tịch do được người nước ngoài nhận làm con nuôi muốn trở lạiquốc tịch cũ
Trình tự, thủ tục, điều kiện được phục hồi quốc tịch do pháp luật của quốc giangười đó xin phục hồi quốc tịch quy định và thường có nội dung đơn giản hơn, ưu tiênhơn so với người gia nhập quốc tịch lần đầu Để có thể trở lại quốc tịch, đương sự cânphải chứng minh đã từng có quốc lịch nước đó Ngoài ra, đương sự cần phải có những
lý do chính đáng để thuyết phục cơ quan nhà nước cho phép trở lại quốc tịch loj coup q
- Hưởng quốc tịch do được thưởng quốc tịch:
Thưởng quốc tịch là hành vi của cơ quan nhà nước có nắm quyền của quốc gia côngnhận người nước ngoài có công lao to lớn với nước mình, với cộng đồng nhân loại làcông dân nước mình Việc thưởng quốc tịch phải được sự đồng ý của người đượcthưởng quốc tịch Việc thưởng quốc tịch dẫn đến hai hệ quả pháp lý:
Người được thưởng quốc tịch trở thành công dân thực sự của nhà nướcthưởng quốc tịch với đầy đủ quyền và nghĩa vụ như công dân của nhànước này;
Người được thưởng quốc tịch trở thành công dân danh dự của nhà nướcthưởng quốc tịch, việc thưởng quốc tịch chỉ có giá trị và ý nghĩa về mặttinh thần
23 PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN, HỆ QUẢ VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH
TRẠNG NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH?
Ko quốc tịch là tình trạng pháp lý của một cá nhân không có quốc tịch của bất cứquốc gia nào
- Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là:
Có xung đột của các nước về vấn đề quốc tịch;
Khi 1 người đã mất quốc tịch cũ nhưng chưa có quốc tịch mới;
Khi trẻ em được dinh ra trên lãnh thổ của nước áp riêng biệt nguyên tắc “huyết
Trang 34thống” mà cha mẹ là người ko có quốc tịch.
- Hệ quả của tình trạng người không quốc tịch:
Về phía Nhà nước: gặp khó khăn trong việc quản lý dân cư;
Về phía cá nhân: người không quốc tịch gặp nhiều bất lợi, họ có địa vị pháp
lý thấp và hạn chế hơn so với công dân quốc gia sở tại và người có quốc tịchnước ngoài to không được hưởng quyền mà các bộ phận dân cư khác đượchưởng, không được hưởng chế độ bảo hộ công dân và khi đến quốc gia nàocũng có thể bị trục xuất
- Biện pháp để giải quyết tình trạng người không quốc tích: để hạn chế tình trạngkhông quốc tịch và đảm bảo quyền, lợi ích cho những người rơi vào tình trạngpháp lý này, các quốc gia tiến hành ký kết nhiều điều ước quốc tế, ví dụ nhưCông ước năm 1954 về địa vị pháp lý của người không quốc tịch, Công ước củaLiên hợp quốc năm 1961 về hạn chế tình trạng không quốc tịch Bên cạnh đó,mỗi quốc gia quy định trong pháp luật nước mình các biện pháp phù hợp nhằmgiải quyết tình trạng không quốc tịch, ví dụ như tạo điều kiện để người khôngquốc tịch được gia nhập quốc tịch của quốc gia đó
24 PHÂN TÍCH CÁC TRƯỜNG HỢP CHẤM DỨT QUỐC TỊCH CỦA CÁ NHÂN?
Chấm dứt quốc tịch là việc kết thúc sự tồn tại của mối quan hệ pháp lý bền vững và ổnđịnh giữa công dân và nhà nước Có các trường hợp chấm dứt quốc tịch sau:
- Mất quốc tịch do xin thôi quốc tịch:
Quốc tịch của một người mất đi khi họ xin thôi quốc tịch theo ý chí và nguyện vọng
cá nhân Khi muốn xin thôi quốc tịch đương sự cần phải làm đơn xin thôi quốc tịch gửilên cơ quan nhà nước có thẩm quyền Pháp luật của các quốc gia thường quy địnhnhững trường hợp sau đây không được thôi quốc tịch:
Đang nợ thuê với nhà nước;
Đang thi hành bản án;
Đang thực hiện nghĩa vụ quân sự
Khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định cho phép thôi quốc tịch, đương
sự sẽ không còn là công dân của quốc gia đó nữa
Theo quy định tại điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sửa đổi, bổ sungnăm 2014), Công dân Việt Nam có đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịchnước ngoài thì có thể được thôi quốc tịch Việt Nam Người xin thôi quốc tịch Việt Namchưa được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:
Đang nợ thuế đối với Nhà nước hoặc đang có nghĩa vụ tài sản đối với cơ
Trang 35quan, tổ chức hoặc cá nhân ở Việt Nam;
Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
Đang chấp hành bản án, quyết định của Toà án Việt Nam;
Đang bị tạm giam để chờ thi hành án;
Đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào
cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng
Người xin thôi quốc tịch Việt Nam không được thi quốc tịch Việt Nam, nếu việc đólàm phương hại đến lại ích quốc gia của Việt Nam
Cán bộ, công chức và những người đang phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dânViệt Nam không được thể quốc tịch Việt Nam
- Mất quốc tịch do bị tước quốc tịch:
Tước quốc tịch là biện pháp trừng phạt của nhà nước áp dụng đối với công dân nướcmình khi họ có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật của quốc gia mà họ mang quốctịch Hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật của quốc gia ở đây thông thường là dophạm những tội có tính chất phản quốc hoặc có hành động không xứng đáng với danhhiệu công dân quốc gia nữa
Có hai trường hợp tước quốc tịch:
Tước quốc tịch gốc: Chỉ áp dụng khi công dân của quốc gia đang sinh sống ởnước ngoài và có những hành vi xâm hại đến lợi ích quốc gia
Tước quốc tịch gia nhập: dù công dân đang ở trên lãnh thổ quốc gia hay ở nướcngoài thì đều bị tước quốc tịch khi có hành vi xâm hại lợi ích quốc gia hoặc cóhành vi gian dói trong các thủ tục xin gia nhập quốc tịch
Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định hai trường hợp áp dụng chếtài tước quốc tịch Việt Nam:
+ Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thể bị tước quốc tịch Việt Namnếu có hành vi gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sựnghiệp xây dụng và bảo vệ Tổ quốc hoặc đến uy tín của Việt Nam;
+ Người đã nhập quốc tịch Việt Nam theo các căn cứ luật định, dù cư trú ở tronghoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà cố ý khai báo không đúng sự thật hoặc giảmạo giấy tờ khi xin nhập quốc tịch Việt Nam thì Quyết định cho nhập quốc tịchViệt Nam có thể bị hủy bỏ, nếu được cấp chưa quá 5 năm
- Đương nhiên mất quốc tịch
Đương nhiên mất quốc tịch là tình trạng pháp lý của một người “rơi vào” các trườnghợp đã được luật dự liệu như là: đã nhập quốc tịch nước khác; phục vụ trong lực lượng
Trang 36vũ trang nước khác hoặc tổ chức quốc tế; hoặc tham gia vào bộ máy nhà nước của nướckhác sẽ tự động mất quốc tịch mà họ đang có Những quy định về đương nhiên mấtquốc tịch Việt Nam chủ yếu được áp dụng đối với đối tượng là người chưa thành niên.Điều 35 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy địnhquốc tịch của người chưa thành niên thay đổi theo quốc tịch của cha mẹ:
Khi có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Namcủa cha mẹ thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha mẹcũng được thay đổi theo quốc tịch của họ;
Khi chỉ cha hoặc được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam thì con chưathành niên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam hoặc màquốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ;
Trường hợp cha hoặc mẹ được nhập, trở lại tịch Việt Nam thì con chưa thànhniên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam, nếu cha mẹ khôthỏa thuận bằng văn bản về việc giữ quốc tịch nước ngo của người con
Điều đó có nghĩa, con chưa thành niên sống cùng cha mẹ, nếu cha mẹ thôi quốc tịchViệt Nam thì trẻ đương nhiên sẽ thôi quốc tịch Việt Nam
25 PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN, HỆ QUẢ VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH
TRẠNG NGƯỜI CÓ HAI HAY NHIỀU QUỐC TỊCH?
Hai hay nhiều quốc tịch là tình trạng pháp lý của một cá nhân cùng một lúc là công dâncủa hai hay nhiều quốc gia khác nhau
- Nguyên nhân dẫn đến tình trạng người hai hay nhiều quốc tịch:
+ Có sự quy định khác nhau trong pháp luật của các nước về cách thức hưởng quốctịch Ví dụ: đứa trẻ khi sinh ra sẽ có hai (hoặc nhiều quốc tịch) nếu cha mẹ đứa trẻ mangquốc tịch của quốc gia xác định quốc tịch gốc theo nguyên tắc huyết thống, trong khi đóđứa trẻ được sinh ra trên lãnh thổ của quốc gia xác định quốc tịch gốc dựa theo nguyêntắc nơi sinh;
+ Do những thay đổi về điều kiện thực tế của cá nhân Ví dụ: người gia nhập quốc tịchcủa quốc gia mới nhưng chưa thôi quốc tịch của quốc gia cũ;
+ Cá nhân được hưởng thêm quốc tịch mới do kết hôn với người nước ngoài hoặc đượcngười nước ngoài nhận làm con nuôi, hoặc được thưởng quốc tịch
- Hệ quả của tình trạng người hai hay nhiều quốc tịch nhận :
+ Về phía Nhà nước: gặp một số khó khăn trong việc thực hiện chủ quyền đối với côngdân, đặc biệt trong việc áp dụng luật để giải quyết các quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài; xung đột về thẩm quyền tài phán với các quốc gia khác trong hoạt động bảo hộ
Trang 37công dân với người có hai hay nhiều quốc tịch
+ Về phía cá nhân người mang hai hay nhiều quốc tịch: được hưởng quyền nhưng đồngthời phải thực hiện nghĩa vụ của công dân với hai hay nhiều quốc gia; việc đi lại giữacác quốc gia mà người đó là công dân thì sẽ thuận tiện, dễ dàng hơn; tuy nhiên, trongmột số trường hợp không nhận được sự bảo hộ công dân từ phía quốc gia mà mìnhmang quốc tịch
- Các biện pháp để giải quyết tình trạng người hai hay nhiều quốc tịch:
Hai hay nhiều quốc tịch là hiện tượng pháp lý phức tạp, liên quan đến nhiều quốc giakhác nhau, đặc biệt là việc xác định và thực hiện các nghĩa vụ cơ bản của công dân Do
đó, cộng đồng quốc tế đã soạn thảo và ký kết các điều ước quốc tế song phương hoặc đaphương để ngăn ngừa, hạn chế hoặc loại bỏ những trường hợp hai quốc tịch hoặc nhiềuquốc tịch Theo các điều ước quốc tế hữu quan, những người có hai hay nhiều quốc tịch
có quyền tự do lựa chọn quốc tịch của một trong các nước tham gia điều ước quốc tế.Trong các trường hợp cụ thể, vấn đề người hai hay nhiều quốc tịch thường được giảiquyết như sau:
+ Đối với người có hai hay nhiều quốc tịch tham gia vào các quan hệ pháp luật trênlãnh thổ của quốc gia mà người đó không phải là công dân, nguyên tắc quốc tịch hữuhiệu được áp dụng (Điều 5 Công ước La Haye 1930 về một số vấn đề liên quan tớixung đột luật quốc tịch)
Về mặt pháp lý, người hai hay nhiều quốc tịch vẫn được coi là công dân của các quốcgia mà họ mang quốc tịch Tuy nhiên, để giải quyết những vấn đề phát sinh trên thực tếnhư chọn luật điều chỉnh quan hệ nhân thân, tài sản thì quốc gia thứ ba (quốc gia mà
cá nhân không mang quốc tịch) sẽ coi người hai hay nhiều quốc tịch mang một quốctịch duy nhất của quốc gia nơi người đó cư trú thường xuyên và cư trú chủ yếu hoặc cómối quan hệ găn bỏ nhất Trên thực tế, để xác định nơi mà người có hai hay nhiều quốctịch có mối quan hệ gắn bó nhất, các quốc gia thường dựa trên những tiêu chí như thờigian cư trú, các mối quan hệ nhân thân, tài sản, nơi thực hiện chủ yếu quyền và nghĩa
vụ công dân
+ Đối với người có nhiều quốc tịch tham gia vào quan hệ dân sự trên lãnh thổ của quốcgia mà người đó là công dân, pháp luật của nước sở tại mà người đó mang quốc tịchthường được ưu tiên áp dụng
26 PHÂN TÍCH SỰ KHÁC NHAU GIỮA CÁC CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ DÀNH CHO
NGƯỜI NƯỚC NGOÀI?
Chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài được hiểu là tổng thể các quyền và nghĩa vụ
Trang 38pháp lý mà người nước ngoài được hưởng và thực hiện khi sinh sống, cư trú trên lãnhthổ nước sở tại Chế độ pháp lý này do pháp luật nước sở tại quy định trên cơ sở phùhợp với các điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên
Luật quốc tế và pháp luật các quốc gia thường quy định cho người nước ngoài các chế
độ pháp lý sau đây:
- Chế độ đối xử như công dân;
- Chế độ tối huệ quốc;
Đối
tượng
áp dụng
Ng nước ngoài trên
lãnh thổ quốc gia sở tại
Ng nước ngoài trênlãnh thổ quốc gia sở tại
Viên chức ngoại giao,viên chức lãnh sự,nhân viên của tổ chứcquốc tế trên lãnh thổquốc gia sở tại
dân sự, kinh tế, văn hóa
cơ bản như công dân
của nướ c sở tại, ngoại
trừ một số quyền, nghĩa
vụ của quốc gia sở tại
do pl of quốc gia sở tại
có quy định hạn chế
nhất định vì lợi ích và
an ninh của quốc gia đó
Cá nhân, pháp nhân ncngoài ở ns sở tại đchưởng các quyền và ưuđãi như các cá nhân,pháp nhân of bất kỳ ncthứ 3 nào đang và sẽ đchưởng trg tương lai
Chế độ này nc sửo tạidành cho cá nhân, phápnhân nc ngoài luôn trên
cơ sở các thỏa thuận
QT giữa các nc hữuquan, ko phải là chế độphổ cập, đương nhiênđược áp dụng cho cánhân, pháp nhân nướcngoài
Người nước ngoài đchươmgr các quyền, ưuđãi đặc biệt mà chínhcông dân của nước sởtại cũng ko đượchưởng, đồng thờingười nước ngoài kophải chịu trách nhiệmpháp lý mà trongtrường hợp tương tựthì công dân nước sởtại phải chịu
Áp dụng trg quan hệngoại giao, lãnh sự
Trang 39dụng kinh tế, thương mại và
hàng hải
Mục
địch
Cân bằng địa vị pháplýt giữa người nướcngoài với công dânnước sở tại
Cân bằng địa vị pháp lýgiữa người nước ngoàivới nhau trên lãnh thổnước sở tại
Trên cơ sở bình đẳnggiữa các quốc gia.Tạo điều kiện để cácviên chức ngoại giao,viên chức lãnh sự,nhân viên của tổ chứcquốc tế thưucj hiện tốtnhiệm vụ của mìnhtrên lãnh thổ nước sởtại
27 NÊU ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN TÍCH CƠ SỞ, CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ CÔNG
DÂN?
- Theo nghĩa hẹp, bảo hộ công dân là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyềnbảo vệ quyền và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài, khi các quyền và lợi íchnày bị xâm hại ở nước ngoài
- Theo nghĩa rộng, bảo hộ công dân bao gồm tất cả các hoạt động giúp đỡ về mọi mặt
mà nhà nước dành cho công dân của nước mình đang ở nước ngoài, kê cả trong trườnghợp không có hành vi xâm hại nào tới các công dân của nước này
Như vậy, bảo hộ công dân có thể bao gồm các hoạt động:
+ Bảo vệ quyền và lợi ích của công dân khi các quyền và lợi ích bị xâm hại ở nướcngoài;
+ Giúp đỡ công dân khi ở nước ngoài như các hoạt động có tính chất công vụ (cấp phát
hộ chiếu, giấy tờ hành chính ) hoặc các hoạt động có tính giúp đỡ (trợ cấp tài chính khicông dân gặp khó khăn )
- Điều kiện bảo hộ công dân: Để được một quốc gia bảo hộ, cá nhân được bảo hộ phải
thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Là công dân của quốc gia tiến hành bảo hộ Việc xác định này được thực hiện thôngqua mối liên hệ pháp lý là quốc tịch Nói cách khác, quốc gia có quyền và nghĩa vụ bảo
hộ đối với những cá nhân có quốc tịch của quốc gia đó;
+ Công dân cần được bảo hộ đang ở nước ngoài, có nhu cầu cần giúp đỡ hoặc có quyền,lợi ích hợp pháp bị xâm hại
- Thẩm quyền bảo hộ công dân
Trang 40Hoạt động bảo hộ công dân được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩmquyền, do pháp luật của từng quốc gia quy định Thông thường, thẩm quyền bảo hộcông dân được trao cho các cơ quan có thẩm quyền trong nước và cơ quan có thẩmquyền ở nước ngoài
+ Cơ quan có thẩm quyền ở trong nước: hầu hết các quốc gia đều thực hiện việc bảo hộcông dân thông qua Bộ Ngoại Giao Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm trước chính phủ vềcác hoạt động bảo hộ công dân như ở nước ngoài
+ Cơ quan có thèm quyền ở nước ngoài theo nguyên tắc chung, thẩm quyền bảo hộcông dân nước mình ở nước ngoài thuộc về các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quanlãnh sự của nước cử đại diện tại nước nhìn đại diện Khi tiến hành các hoạt động bảo hộcông dân, các cơ quan chức năng có thẩm quyền phải dựa trên cơ sở pháp lý là các vănbản pháp luật quốc gia và các điều trước quốc tế hữu quan về bảo hộ công dân
- Các biện pháp bảo hộ công dân:
Các quốc gia có thể thực hiện bảo hộ công dân thông 1 nhiều biện pháp khác nhau,tùy thuộc vào từng điều qua kiện, hoàn cảnh và vụ việc cụ thể
Các biện pháp hành chính - pháp lý thường được áp dụng để giúp đỡ công dân ởnước ngoài như: cấp hộ chiếu, hỗ trợ tiền, tiếp nhận đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn,hướng dẫn các thủ tục pháp lý liên quan đến lý lịch tư pháp, chứng nhận quốc tịch Đối với các vụ việc phức tạp, quốc gia có thể thực hiện các biện pháp bảo hộ như gửicông hàm đề nghị, phản đối hành vi của quốc gia sở tại, đưa vụ việc ra thảo luận, giảiquyết tại cơ quan tài phán quốc tế
Việc lực chọn biện pháp bảo hộ ở mức độ nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quyền lợi
bị vi phạm, mực độ vi phạm, thái độ của nước sở tại, Nhìn chung biện pháp ngoạigiao là biện pháp thường được sử dụng trong hoạt động bảo hộ công dân Cơ sở pháp lýcủa biện pháp này là nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế Biện phápngoại giao được thực hiện để bảo hộ công dân có thể thông qua trung gian hòa giải hoặcđàm phán trực tiếp Ngoài ra, trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các quốc gia còn sử dụngcác biện pháp như trừng phạt kinh tế hoặc trừng phạt về ngoại giao
Trong một số trường hợp, xuất hiện tình trạng xung đột thẩm quyền bảo hộ công dân do
cá nhân được bảo hộ là nguòi có nhiều quốc tịch Trong trường hợp này, nước sở tại sẽxem xét, chấp nhận yêu cầu bảo hộ theo nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu
28. NÊU ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN TÍCH CÁC BƯỚC XÁC ĐỊNH BIÊN GIỚI QUỐC