3.2 Nhận xét và đề nghị cho kế hoạch củng cố các Hội Nghề Cá địa phương đã thành lập 4.0 Điều lệ và qui chế tỉnh về giải quyết xung đột và giám sát cho Hội Nghề Cá 4.1 Điều lệ mẫu 4.2
Trang 1Báo cáo tổ chức hội nghề cá
Trang 33.2 Nhận xét và đề nghị cho kế hoạch củng cố các Hội Nghề Cá địa phương đã thành lập
4.0 Điều lệ và qui chế tỉnh về giải quyết xung đột và giám sát cho Hội Nghề Cá
4.1 Điều lệ mẫu
4.2 Qui chế tỉnh về giải quyết xung đột và giám sát
5.0 Đề xuất và nhận định về vai trò của các cấp quản lý xã, huyên và tỉnh để đảm bảo đồng quản lý thuỷ sản thành công ở tỉnh Thừa Thiên Huế
6.0 Các hội thảo tập huấn
6.1 Hội thảo tập huấn xác định mục đích, mục tiêu và qui chế quản lý
6.2 Hội thảo tập huấn cho nhân viên kĩ thuật dự án IMOLA đánh giá nông thôn nhanh và các công cụ có cộng đồng cùng tham gia để thu thập và ghi chép thông tin, giám sát và đánh giá các hoạt động của nhóm cộng đồng.
7.0 Đề xuất thành lập Hội Nghề Cá vì mục đích quản lý nghề cá thành công cho nhân viên kĩ thuật dự án IMOLA và các trung tâm thúc đẩy đóng tại xã
7.1 Những hoạt động theo sau tập huấn cho nhân viên kĩ thuật dự án IMOLA 7.2 Các trung tâm thúc đẩy đóng tại xã
Phụ lục I: Một số công cụ đánh giá nông thôn nhanh dùng để thu thập thông tin Phụ lục II: Công cụ để các hội nghề cá tự giám sát và đánh giá
Phụ lục III: Đánh giá môi trường và các điều kiện hiện có của các khu vực để các hội
nghề cá đồng quản lý thành công nghề cá Phụ lục IV: Các điều kiện đồng quản lý thuỷ sản thành công
Phụ lục V: Hệ thống dữ liệu của thôn: sổ ghi chép cấp thôn
Phụ lục VI: Lịch trình
Phụ lục VII: Cá nhân đã gặp
Trang 41.0 NỀN TẢNG
Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai là hệ thống đầm phá ven biển lớn nhất ỏ vùng Đông Nam Á và được xem
có ý nghĩa quan trọng đối với tỉnh Thừa Thiên Huế. Hệ thống đầm phá này trải dài trên 5 huyện, tiếp xúc với 86 thôn với 7000 ngư cụ. Đầm phá này dài 70 km dọc theo bờ biển đông, diện tích mặt nước 22000 ha của nó hỗ trợ sinh kế cho 300000 người mà phần lớn là cư dân nghèo làm nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản hoặc các hoạt động nông nghiệp khác dọc ven biển. Trong 300000 người đó thì có khoảng 100000 người phụ thuộc vào đánh bắt và nuôi trồng thủy sản làm sinh kế, còn 200000 người sinh nhai bằng các hoạt động khác, gồm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản phụ trợ (Tuyên, 2005). Trước tầm quan trọng về sinh thái và sinh kế của đầm phá, và trước thực trạng gia tăng xung đột giữa các thành phần khai thác tài nguyên do áp lực đánh bắt gia tăng, chính quyền Tỉnh Thừa Thiên Huế đã nhìn thấy nhu cầu phải có chiến lược quản lý hiệu quả để đảm bảo bền vững cho nghề cá đầm phá.
Tháng Mười Hai 2005, UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế phê duyệt Qui Chế Quản Lý Thủy Sản Đầm Phá ở Tỉnh Thừa Thiên Huế (Qui chế quản lý đầm phá). Qui chế này tạo ra một môi trường pháp lý mới trong tỉnh vì nó thiết lập Hội Nghề Cá làm đối tác quan trọng trong quản lý nghề cá đầm phá. Những đặc điểm quan trọng của qui chế là: a) phân quyền quản lý, trong đó có quyền thông qua qui chế và biện pháp quản lý cho các Hội Nghề Cá đã thành lập chính thức, và b) xác định Hội Nghề Cá chịu trách nhiệm giám sát và giải quyết xung đột trên vùng mặt nước đánh bắt đầm phá.
Do vậy, Dự án Quản Lý Tổng Hợp Đầm Phá (IMOLA) ở Tỉnh Thừa Thiên Huế, do Chính Phủ Ý hỗ trợ ngân sách và Tổ chức Lương Nông LHQ (FAO) điều hành kĩ thuật, đã hỗ trợ UBND tỉnh Thừa Thiên Huế,
cụ thể là, Sở Thủy Sản phát triển chiến lược đồng quản lý tài nguyên nghề cá ở đầm phá. Theo chương trình hỗ trợ kĩ thuật cho dự án, Sunil N. Siriwardena (sau đây gọi là báo cáo viên), Tư vấn Quốc Tế về tổ chức hội nghề cá đã hoàn thành nhiệm vụ được giao trong một chuyến công tác 15 ngày. Báo cáo này trình bày nhiệm vụ và kết quả của chuyến công tác 15 ngày này. Trong một chuyến công tác dài hai tuần trước
đó, báo cáo viên đã báo cáo những khía cạnh của qui chế này, việc thành lập và cơ cấu hoạt động của Hội
Nghề Cá.
2.0 ĐIỀU KHOẢN THAM CHIẾU
Báo cáo viên đã thực hiện công tác từ 21 tháng Bảy đến 02 tháng Tám và đã thực hiện các hoạt động theo Điều Khoản Tham Chiếu như sau:
§ Phân tích kế hoạch công việc hiện tại của dự án IMOLA và những hợp phần cùng phương pháp v.v. thành lập và củng cố Hội Nghề Cá và kết quả của hai chuyến công tác về pháp lý của bà Anniken Skonhoft để đưa ra những đề xuất.
§ Đưa ra những đề xuất để lồng các hoạt động thành lập chi hội nghề cá vào hoạt động của trung tâm thúc đẩy tại xã để khuyến khích những hoạt động quản lý nghề cá đầm phá.
§ Đưa ra đề xuất cách các cấp quản lý khác nhau (như Xã, Huyện và Tỉnh) có thể tham gia vào đồng quản lý tài nguyên đầm phá tốt nhất.
Người đọc nên chú ý rằng những đề xuất này lồng vào những phần liên quan và báo cáo này không có phần
đề xuất riêng biệt
Trang 53.0 KẾ HOẠCH THÀNH LẬP VÀ CỦNG CỐ HỘI NGHỀ CÁ ĐỊA PHƯƠNG
3.1 Nhận xét và đề nghị về kế hoạch công việc soạn để thành lập và củng cố Hội Nghề Cá địa phương mới
Những nhận xét và đề nghị dưới đây là dựa vào thảo luận với các tư vấn quốc gia (Gs. Trương Văn Tuyển
và ông Nguyễn Lương Hiền) và Chuyên viên Hợp tác (ông Arie van Duijn) và những thảo luận tiếp theo với CVT dự án (Gs. Massimo Sarti). Kế hoạch gồm có hai loại công việc, họp hội thảo và công việc chuẩn
bị. Công việc chuẩn bị gồm những sắp xếp trước và chuẩn bị tài liệu cho những cuộc họp sắp đến. Khi đưa
ra những ý kiến và đề nghị này, chúng tôi đã xét đến dữ kiện trên.
a) Hoạt động I của kế hoạch đã tất vào thời gian diễn ra các cuộc thảo luận và do vậy, nên xem đó là hoạt động I trong kế hoạch đã chỉnh sửa.
b) Hoạt động II và III nên gộp lại thành một vì mục tiêu của hai hoạt động có thể thành tựu cùng lúc (hai hoạt động này trình bày chung là hoạt động II trong kế hoạch đã chỉnh sửa). Một khi đã nâng cao được nhận thức về điều lệ của VINAFIS, điều lệ Tỉnh hội và tầm quan trọng của đồng quản lý nghề cá như đã kế hoạch trong hoạt động III, mục tiêu của hoạt động II là cung cấp hiểu biết ban đầu về Hội Nghề Cá và đồng quản lý nghề cá đã thành tựu. Do vậy, hai cuộc họp riêng biệt theo như mục tiêu đề ra trong hoạt động II & III là không cần thiết vì trùng lặp.
d) Những công việc trong hoạt động V, ‘Báo cáo kết quả họp thôn về việc thành lập Hội Nghề Cá địa phương (một trong những kết quả của hoạt động gộp II & III), Ra mắt BCH lâm thời với UBND xã, (một trong những kết quả của hoạt động gộp II & III), và Hiệp thương giữa chính quyền xã và Tỉnh Hội’ không bảo đảm việc sắp xếp các cuộc họp nhóm kiểu hội thảo. Việc này cần các cuộc họp trực tiếp giữa cán bộ dự
án và cán bộ liên quan và quảng bá thông tin.
e) Hoạt động VI nên xem là một trong những hoạt động quan trọng nhất và nên dành để xây dựng các mục tiêu quản lý và qui chế quản lý cho các Hội Nghề Cá (hoạt động này đại diện là hoạt động III trong kế hoạch công việc đã chỉnh sửa). Dự án đã phác thảo điều lệ Hội Nghề Cá và điều lệ này có thể đưa ra cho các thành phần liên quan thảo luận trong hoạt động II & III để đạt được thỏa thuận cho bản thảo cuối cùng (hoạt động II trong kế hoạch đã chỉnh sửa). Quá trình này có thể thúc đẩy nhanh bằng cách phát bản thảo cho các thành phần liên quan trước cuộc họp (xem kế hoạch đã chỉnh sửa dưới đây). Dự án nên tạo điều kiện dễ dàng cho các thành phần liên quan cùng tham gia phát triển các mục tiêu quản lý và qui chế quản lý càng sớm càng tốt. Khi đã đạt được điều này thì cộng đồng sẽ hiểu được trách nhiệm và nhiệm vụ của họ. Các mục tiêu quản lý và qui chế quản lý đã được soạn cho hai hoặc ba Hội Nghề Cá có thể dùng để thảo luận với các bên liên quan ở những vùng khác, điều chỉnh cho thích nghi với những vấn đề đặc trưng ở
Trang 6Bước Họp với Đối tượng Nội dung Tài liệu Kết quả Ghi chú
I UB xã Đảng Uỷ xã, Chủ tịch HĐND,
C.T UBND xã, P.CT phụ trách kinh tế, Chánh VP xã, cán bộ địa chính, thống kê xã, CT Mặt trận xã, Hội nông dân, Hội phụ nữ, trưởng thôn.
Thảo luận với địa phương các nộ dung sẽ làm để thành lập chi hội nghề ở địa phương (thôn hoặc xã hoặc nghề).
Điều lệ hội nghề
cá VN.
Quyết định của UBND tỉnh thông qua Điều lệ hội nghề cá T.T.Huế.
Mạng lưới hội nghề cá T.T.Huế.
Quyết định của UBND tỉnh về:
Quy chế quản lý khai thác thuỷ sản đầm phá.
Quy chế quản lý vùng nuôi tập trung.
* UBND xã, Dự án IMOLA thống nhất giới thiệu để thôn hoặc cụm nghề để được giúp đỡ tuyên truyền thành lập chi hội nghề cá cơ sở
UBND xã cử 1 cán bộ theo giỏi giúp đỡ để vận động thành lập hội.
Nửa ngày
Công việc chuẩn bị 1: Chuẩn bị sẵn tờ rơi về Hội Nghề cá và Đồng Quản lý, Điều lệ TW Hội và Tỉnh Hội, Điều lệ Hội nghề cá mẫu, mẫu đơn gia nhập cho những người tham gia Hoạt động II trước hoạt động này. Yêu cầu họ cung cấp những vấn đề quan tâm về những mặt đề cập trong các văn bản trước Hoạt động II. Dành thời gian thích hợp cho họ chuẩn bị. Giao cho cán bộ kĩ thuật gom các tờ viết về vấn đề quan tâm trước hoạt động II. Yêu cầu những người tham dự đưa các vấn
đề quan tâm ra tại cuộc họp nếu chưa nộp trước.
Trang 7Bước Họp với Đối tượng Nội dung Tài liệu Kết quả Ghi chú
II Thôn hoặc cụm
Một số cá nhân (tích cực, sản xuất giởi )
Điều lệ Hội nghề cá VN.
Điều lệ Hội nghề cá tỉnh.
Mạng lưới hội nghề cá T.T.Huế.
Tờ rơi về hội nghề cá và Đồng quản lý
Điều lệ mẫu của Hội nghề cá
Mẫu gia nhập
Hiểu biết ban đầu về Hội nghề cá và đồng quản lý.
Thống nhất Điều lệ Hội
Thống nhất Mẫu đơn gia nhập
Danh sách thành viên BCH lâm thời và phân công nhiệm vụ
Bắt đầu thu nhận thành viên
Một ngày
Công việc chuẩn bị 2: Soạn bản thảo cuối cùng của điều lệ Hội Nghề Cá, danh sách hội viên và ủy viên BCH và đưa vào báo cáo kết quả hoạt động II để phân phát. Chuẩn bị mẫu hiệp thương cho UB xã và Tỉnh Hội. Thỏa thuận về mẫu hiệp thương giữa xã và Tỉnh Hội có thể tiến tới dần dần qua các cuộc họp. Phát các qui chế liên quan hiện hành cho người tham dự trước hoạt động VI (chẳng hạn, qui chế về ngư cụ, qui chế về môi trường, qui chế quản lý NTTS và các qui chế liên quan khác)
III Thôn hoặc cụm
nghề
BCH lâm thời
Trưởng thôn
Đại diện HTX, đại diện tổ, đội tự quản
Một số đại diện gia đình ngư dân.
Một số cá nhân (tích cực, sản xuất giởi )
Qui chế về ngư
cụ, qui chế về môi trường, qui chế quản lý NTTS và các qui chế liên quan khác.
Việc xây dựng mục tiêu quản lý
và qui chế quản lý
sẽ do các bên tham gia đóng góp
Lễ ra mắt Chi hội nghề
cá và Chi hội bắt đầu hoạt động
Quyết định thành lập Hội Nghề Cá và BCH lâm thời.
Giấy phép cùng con dấu của Sở Công An
Phát biểu giao nhiệm vụ của Thường vụ hội nghề cá,
Phát biểu của Chủ tịch UBND
xã về phương hướng hoạt động của Chi hội,
Phát biểu nhận nhiệm vụ của BCH Chi hội;
Phát biểu của đại diện IMOLA
Đọc Quyết định thành lập Chi hội;
Phát biểu của CT UB
xã về phương hướng hoạt động Chi hội,
Phát biểu giao nhiệm
vụ của Tỉnh Hội, trao con dấu cho BCH lâm thời,
Ra mắt BCH lâm thời
Kế hoạch tài chính cho chi hội
Nửa ngày
Trang 8Bước Họp với Đối tượng Nội dung Tài liệu Kết quả Ghi chú
VI Họp Chi hội Trưởng thôn;
BCH lâm thời;
Hội viên
Số lượng: 4550
Mục đích của cuộc họp hội thảo này là để điều chỉnh:
điều lệ chi hội
kế hoạch tài chính
mục tiêu quản lý và qui chế quản lý
Các văn bản của các hoạt động trước có liên quan tới:
điều lệ chi hội
kế hoạch tài chính
Bầu BCH chi hội
Bầu Ban kiểm tra
Các văn bản của chi hội đã được thông qua trong cuộc họp VI
Thông qua:
Điều lệ chi hội,
mục tiêu quản lý và qui chế quản lý
Các nhóm quản lý và những người sử dụng tài nguyên
Bản đồ sử dụng đất và đầm phá
Kế hoạch phát triển nghề
cá và/hoặc NTTS Xác định đầu vào cho kế hoạch tổng thể hiện có
d) Hoạt động IIB có thể tiến hành theo kế hoạch.
e) Hoạt động III dành để điều chỉnh Điều lệ và qui chế quản lý Hội Nghề Cá (hoạt động này sửa
thành hoạt động III trong kế hoạch chỉnh sửa.) Có một chỗ lược bỏ đáng lưu ý trước bước này là hội thảo cho các bên tham gia xây dựng mục tiêu và qui chế quản lý. Xin xem những nhận xét/đề xuất tại mục e) của phần 3.1 trên. Sự tham gia của các thành phần liên quan rất quan trọng cho việc xây dựng các mục tiêu và qui chế quản lý. Chúng tôi đề nghị làm khác với phương pháp mang tính thủ tục đã dự định cho việc xây dựng mục tiêu và qui chế quản lý mà chỉ có trưởng thôn, thành viên BCH lâm thời và người của UB xã tham gia.
f) Xin coi những nhận xét/đề xuất cho hoạt động IV tại mục h) của phần 3.1 (hoạt động này đã sửa
thành hoạt động IV và VII trong kế hoạch chỉnh sửa.) g) Hoạt động V có thể tiến hành theo kế hoạch, có một số chỉnh sửa về nội dung đã trình bày trong kế
hoạch chỉnh sửa (xem hoạt động V của kế hoạch chỉnh sửa)
Trang 9Bài về Thành lập và Củng cố Hội nghề cá)
Bước Họp với Đối tượng Nội dung Tài liệu Kết quả Ghi Chú
I UBND xã Đảng Uỷ xã, Chủ tịch HĐND,
C.T UBND xã, P.CT phụ trách kinh tế, Chánh VP xã, cán bộ địa chính, thống kê xã, CT Mặt trận
xã, Hội nông dân, Hội phụ nữ, trưởng thôn
Thảo luận với địa phương các nội dung sẽ làm để thành lập/củng
cố chi hội nghề ở địa phương (thôn hoặc xã hoặc nghề).
Điều lệ hội nghề
cá VN.
Quyết định của UBND tỉnh thông qua Điều lệ hội nghề cá T.T.Huế.
Mạng lưới hội nghề cá T.T.Huế.
Quyết định của UBND tỉnh về:
Quy chế quản lý khai thác thuỷ sản đầm phá.
Quy chế quản lý vùng nuôi tập trung.
* UBND xã, Dự án IMOLA thống nhất giới thiệu để thôn [ ]
hoặc cụm nghề [ để được giúp đỡ tuyên truyền thành lập chi hội nghề cá cơ sở
UBND xã cử 1 cán bộ theo giỏi giúp đỡ để vận động thành lập hội.
lý
Tổng kết hội viên và các nhóm tổ,
Tổng kết văn bản Hội Nghề Cá
Thống nhất kế hoạch phân hội và củng cố,
Tổng kết đơn gia nhập hội
Điều lệ hội nghề
cá TW và tỉnh hội.
Điều lệ mẫu chi hội nghề cá cơ sở
Danh sách mạng lưới hội nghề cá TT Huế.
Mẫu đơn xin gia nhập chi hội nghề
cá cơ sở.
Biên bản hiệp thương.
Tờ rơi về hội nghề cá.
Củng cố danh sách hội viên
và phân hội;
Nâng cao được nhận thức về hoạt động cộng đồng và hội nghề cá
Phát triển hội viên
Thống nhất kế hoạch phân hội và củng cố
Phân công để tổ chức
lễ ra mắt Chi hội nghề
cá
Quyết định thành lập Chi hội nghề cá cơ sở cùng BCH lâm thời Chi hội
Phân công trách nhiệm để tổ chức lễ ra mắt (e.g. các báo cáo và diễn văn đọc tại buổi lễ)
1/2 ngày
Trang 10Bước Họp với Đối tượng Nội dung Tài liệu Kết quả Ghi Chú
II.B Lễ ra mắt Chi
Hội
Lãnh đạo UB xã và các phòng ban (Đảng Uỷ; HĐND; UBND xã; MTTQ; Hội nông dân;
Quyết định thành lập Chi hội cùng BCH lâm thời;
Phát biểu giao nhiệm vụ của Thường vụ hội nghề cá,
Phát biểu của Chủ tịch UBND
xã về phương hướng hoạt động của Chi hội,
Phát biểu nhận nhiệm vụ của BCH Chi hội;
Phát biểu của đại diện IMOLA
Đọc Quyết định thành lập Chi hội;
Phát biểu của CT UB xã về phương hướng hoạt động Chi hội,
Phát biểu giao nhiệm vụ của Tỉnh Hội, trao con dấu cho BCH lâm thời,
Ra mắt BCH lâm thời và phát biểu nhận nhiệm vụ
Nửa ngày (chỉ có ở Vinh Hiền)
III Thôn hoặc
Qui chế về ngư
cụ, qui chế về môi trường, qui chế quản lý NTTS và các qui chế liên quan khác.
Việc xây dựng mục tiêu quản lý
và qui chế quản
lý sẽ do các bên tham gia đóng góp
Kế hoạch tài chính cho chi hội
điều lệ chi hội
kế hoạch tài chính
mục tiêu quản lý và qui chế quản lý
Các văn bản của các cuộc họp III,
IV
Các văn bản được điều chỉnh
để thông qua
Nửa ngày
Trang 11Bước Họp với Đối tượng Nội dung Tài liệu Kết quả Ghi Chú
VI Đại Hội chi hội Đảng Uỷ, HĐND, UBND,
MTTQ, Hội nông dân;
Hội Phụ nữ, Công an, Thanh niên;
Đại diện Tỉnh Hội,
Đại diện Hội nông dân huyện,
Đại diện Phòng NNPTNT huyện;
Điều lệ chi hội nghề
cá,
Các quy chế quản lý của chi hội,
Bầu BCH chi hội Bầu (Phó) CT Hội nghề
cá
Bầu Ban kiểm tra
Các văn bản thông qua tại cuộc họp V
Thông qua:
Kế hoạch tổng thể
Điều lệ chi hội nghề cá
Các quy chế quản lý của chi hội
Các nhóm quản lý và những người sử dụng tài nguyên
Bản đồ sử dụng đất và đầm phá
Kế hoạch phát triển nghề cá và/hoặc NTTS
Xác định đầu vào cho kế hoạch tổng thể hiện có
quản lý và điều chỉnh những chiến lược đồng quản lý để quản lý nghề cá ở đầm phá. Những hoạt động
đồng quản lý cần một mức độ hợp tác và tham gia nhất định giữa các thành phần; vì vậy, quản lý tùy thuộc
rất nhiều vào hành động và tương quan của cộng đồng người sử dụng tài nguyên, vào những thiết chế nghề
cá và tổ chức nhà nước. Nếu tính đến mục đích của qui chế gần đây về việc triển khai đồng quản lý qua các
Hội Nghề Cá thì cần phải có nhiều hợp tác và tham gia của các bên vì qui chế này ngoài điều khoản này ra
thì không còn chỗ nào qui định việc các thành phần sử dụng tài nguyên khác trở thành hội viên và đối tác
Trang 12‘không có thành viên Ban Chấp Hành nào được chỉ định vào Ban Kiểm Tra’ vì chỉ định như vậy sẽ tạo nên xung đột về lợi ích. Thành viên Ban Kiểm Tra nên là người thuộc về các thành phần khác trong quá trình
Trang 13Biện pháp chế tài trong trường hợp phát hiện một hoạt động có thể đưa tới vi phạm là nhanh chóng ngăn chặn hoạt động phi pháp đó bằng cách vô hiệu hóa, cảnh cáo hoặc tịch thu ngư cụ và dụng cụ. Việc một hội viên Hội đang đi tuần tra tịch thu ngư cụ có thể là một vấn đề rất nhạy cảm, và có thể việc này đòi hỏi can thiệp của cán bộ cưỡng chế luật. Nếu hội viên đó không thể ngăn hoạt động phi pháp thì hoạt động này nên báo cho các cán bộ cưỡng pháp luật để tịch thu hơn là tự thực hiện. Tất cả hội viên nên chịu trách nhiệm giám sát, trong khi cưỡng chế nên là trách nhiệm của UBND xã và công an xã. Hơn nữa, qui chế mẫu không qui định mức phạt nào làm biện pháp chế tài. Nên có mức phạt cho những vi phạm qui chế và nên có
cơ chế cho Hội nghề cá nhận một phần của khoản tiền thu phạt
Trang 145.0 ĐỀ XUẤT VÀ NHẬN ĐỊNH VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC CẤP QUẢN LÝ XÃ, HUYỆN VÀ TỈNH
ĐỂ ĐẢM BẢO ĐỒNG QUẢN LÝ THỦY SẢN THÀNH CÔNG Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Đồng quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều phương thức quản lý có người sử dụng hay chủ tài nguyên tham gia vào quá trình quản lý. Những phương thức đó sẽ có nhiều mức độ can thiệp và tham gia của các cơ quan chính phủ làm đối tác. Do vậy, các hoạt động đồng quản lý cần một mức độ hợp tác và tham gia nhất định giữa các đối tác, vì đó, thành tích quản lý tùy thuộc nhiều việc làm và tương quan giữa nhóm/cộng đồng sử dụng tài nguyên và tùy thuộc tổ chức thủy sản và cơ cấu nhà nước có tại chỗ. Theo điều 4 của Qui Chế Quản Lý Đầm Phá, Hội Nghề Cá cấp địa phương là “các tổ chức xã hộinghề nghiệp”
và các hội này hoạt động do Đảng Cộng Sản và chính quyền xã lãnh đạo, Sở Thủy Sản và Phòng NNPTNT Huyện hỗ trợ, và hội nghề cá cấp cao hơn, tức là Tỉnh Hội, hướng dẫn. Do vậy, các tổ chức này trở thành
“đối tác trực tiếp” của đồng quản lý và những đề xuất/nhận xét sau liên quan tới các đối tác trên
· Những điều kiện ảnh hưởng đến đồng quản lý thành công có thể áp dụng cho ba cấp khác nhau: tổng cộng đồng (the supracommunity), cộng đồng và cá nhân (Pomeroy và những người khác, 2001). Cấp tổng cộng đồng thì những yếu tố thành công chính là có hay không có một chính sách định nghĩa quyền sử dụng đối với thủy sản, có hay không có một nhân tố thay đổi ngoại lai để khởi đầu quá trình đồng quản lý. Trong trường hợp này, dự án IMOLA đóng vai trò nhân tố thay đổi ngoại lai đó, nhân tố này tài trợ và hỗ trợ thành lập các Hội Nghề Cá cho đồng quản lý nghề
cá. Cấp cộng đồng thì ranh giới, hội viên nhóm, quyền sở hữu và mục tiêu quản lý cần phải định nghĩa rõ ràng, còn lãnh đạo địa phương, hỗ trợ của chính phủ, sự tham gia của cộng đồng và nguồn tài chính bền vững là những điều kiện thiết yếu cho thành công. Cuối cùng, cấp cá nhân thì cần phải có động lực cho người tham gia cân nhắc chi phí và lợi ích
· Do vậy, muốn hữu ích thì xem xét các điều kiện thành công đồng quản lý nghề cá hiện có tại nhiều
xã ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế để xem những “đối tác trực tiếp” ở cấp xã và cấp tỉnh có thể đóng góp cách nào hữu hiệu nhất để đảm bảo thành công của đồng quản lý. Đồng quản lý thành công không cần thiết luôn luôn phải thỏa mãn tất cả điều kiện, nhưng thông thường thì, càng thỏa mãn nhiều điều kiện chừng nào thì cơ hội thành công đồng quản lý lớn chừng đó. (Pomeroy và
IMOLA hỗ trợ nâng cao năng lực và cộng đồng tham gia. (Chuyển giao quyền lực tùy thuộc vào bao nhiều quyền được chuyển giao cho cộng đồng.)
10 Hỗ trợ lâu dài cho chính quyền Có Có hỗ trợ của các Ban Ngành Thủy Sản
Trang 1515 Cơ chế quản lý xung đột Có Có qui chế mẫu về việc giải quyết xung đột
18 Cấu trúc thúc đẩy cá nhân Có Có động cơ thúc đẩy Chính quyền
Tỉnh/Huyện/Xã và người sử dụng tài nguyên tham dự vào đồng quản lý.
Nguồn các chỉ số: (Pomeroy và những người khác, 2001)
· Có một số điều kiện thành công của đồng quản lý tìm thấy ở các xã ven biển Tỉnh Thừa Thiên Huế. Điều quan trọng là có một chính sách và qui chế chuyền năng lực và hội viên Hội Nghề Cá định nghĩa rõ ràng, qui chế mẫu bảo đảm trách nhiệm giải trình và giải quyết xung đột, và một nhân tố thay đổi ngoại lai (dự án IMOLA), hỗ trợ lâu dài của chính quyền, và động cơ cho các cá nhân tham dự vào quá trình. Tuy nhiên, có những điều kiện khác hiện chưa có, và do vậy kết quả đồng quản lý có thể chỉ ở mức độ giới hạn. Những “đối tác trực tiếp” nên đảm bảo thỏa mãn những điều kiện thành công sẽ thảo luận dưới đây
· Mặc dù có qui chế để phân quyền quản lý tài nguyên thủy sản đầm phá cho người sử dụng tài nguyên, nhiều cộng đồng vẫn chưa nhận thức được quyền và trách nhiệm của họ có được do qui chế. Sở Thủy Sản cùng với Tỉnh Hội Nghề Cá qua các dự án phát triển, tổ chức phi chính phủ ở các xã, UBND xã và trưởng thôn nên sắp xếp cho các cộng đồng nghề cá và nuôi trồng thủy sản nhận thức được các qui chế mới và trách nhiệm và quyền họ có được do qui chế mới. Có thể sử dụng tờ rơi tại các cộng đồng thôn cho mục đích này
· Nếu không thấy trước được lợi ích thiết thực thì thành viên cộng đồng ngại dành thời gian và công sức cho đồng quản lý nghề cá. Chủ yếu là họ có thể nhận ra có thể giảm thiểu đánh bắt phi pháp nhờ đồng quản lý. Tuy nhiên, mục tiêu chính của họ trong đồng quản lý cũng là gia tăng hay duy trì sản lượng. Mặc dù thành viên cộng đồng thường tin là đồng quản lý nghề cá sẽ giúp giữ gìn trữ lượng cá để đảm bảo đánh bắt bền vững, nhưng nếu trữ lượng hiện tại vẫn chưa biết được thì không thể xác định mục tiêu giữ gìn trữ lượng có thể thành tựu được ở mức độ nào hay không. Do vậy, để có đồng quản lý thành công thì quan trọng là phải xác định trữ lượng hiện tại. Sở TS nên nắm lấy vai trò trong quá trình đánh giá này nhờ một nhân tố thay đổi ngoại lai. Hoặc dự án IMOLA cũng có thể hoàn thành mục tiêu này trong pha hai
· Sở TS và Tỉnh Hội cùng các ban ngành liên quan có tham gia vào nghiên cứu, giáo dục và quản lý nghề cá và NTTS nên giúp đỡ cho các Hội Nghề Cá có đủ thông tin cần thiết để thành lập và triển khai các qui chế quản lý vùng đánh bắt và các biện pháp quản lý. Những thông tin đó có thể gồm qui định về kích thước mắt lưới, kích thước cực tiểu và cực đại hiệu quả nhất, công nghệ mới về các ngư cụ thân thiện môi trường, đường di cư của cá, bãi đẻ và vùng sinh dưỡng, các phương pháp quản lý tối ưu trong nuôi tôm và NTTS trong vùng nước kín, v.v. Không chỉ qui định mắt lưới tối thiểu để ngăn chặn tác động tiêu cực đối với trữ lượng cá mà cả mắt lưới cực đại được phép sử dụng cũng quan trọng không kém. Nếu không, một thời gian sau khi triển khai đồng quản
lý thì thành viên trong cộng đồng nhận ra là đánh bắt trái phép đã giảm, nhưng sản lượng đánh bắt riêng biệt cũng giảm theo thời gian. Cho nên có thể họ thấy có ít lợi ích từ đồng quản lý vì đồng quản lý chưa đạt được một trong những mục tiêu chính của nó. Kinh nghiệm ở những nước khác
Trang 16đã được khoa học xác minh như kích thước mắt lưới lớn được phép sử dụng cũng nên cho Hội Nhgề Cá biết
· Vì qui chế mới có ý định giảm tình trạng khai thác quá mức tài nguyên đầm phá nhờ các hội nghề
cá cấp địa phương (bằng phương pháp đồng quản lý) nên cần có một kế hoạch quản lý và bảo tồn đầm phá tổng thể được mọi người hiểu đúng đắn. Sở Thủy Sản nên nhắc cho Ban Quản Lý Dự án Sông Hương đưa nhu cầu này thành một nhu cầu ưu tiên để tìm kiếm hỗ trợ của các cơ quan bên ngoài hoặc nên chủ động sắp xếp hỗ trợ bên ngoài để xây dựng được một kế hoạch có xác định các vùng bảo tồn và quản lý
· Một trong những trở ngại đối với đồng quản lý Thủy Sản ở đầm phá Thừa Thiên Huế có liên quan đến ranh giới của tài nguyên cần quản lý. Không có các ranh giới phân định rõ ràng tài nguyên cần quản lý có thể đưa tới các khó khăn đối với việc xác định người trong vùng và ngoài vùng. Do vậy, có thể phát sinh tình trạng thiếu kiểm soát đối với việc tiếp cận quá tải, giới hạn vai trò người
sử dụng tài nguyên có thể thực hiện rất hiệu quả trong một số hoạt động quản lý nhất định (như kiểm soát mức độ khai thác trong nghề cá), và hạn chế người sử dụng tài nguyên tham gia vào quá trình đồng quản lý. Qui Chế Quản Lý Đầm Phá phân quyền sở hữu và quyền quản lý cho một nhóm người sử dụng đã xác định như hội viên Hội Nghề Cá, có thể qui chế này đã có ý xác định ranh giới đối với tài nguyên và bảo đảm quyền sở hữu và tính pháp lý của nghề cá đầm phá. Có những khó khăn thực tiễn trong việc phân định ranh giới cho các đơn vị nhỏ hơn như thôn. Tuy nhiên, nên có các ranh giới dễ nhận biết giữa các xã. Cấp xã có thể là cấp độ đồng quản lý tốt vì những tính chất vật lý và sinh học của một nghề cá không cho phép đồng quản lý nhỏ lẻ vì cá không bị giới hạn bởi ranh giới địa lý. Do vậy, nỗ lực đồng quản lý với các biện pháp quản lý tương tự trong một vùng lớn hơn sẽ dễ hiệu quả hơn và “các đối tác trực tiếp” nên thỏa thuận để phân định ranh giới giữa các xã và khuyến khích đồng quản lý nghề cá trên cấp xã
· Cấp ra quyết định càng cao chừng nào thì đồng quản lý càng ít phụ thuộc vào người sử dụng bấy nhiêu. Do vậy, “các đối tác trực tiếp” nên có vai trò hợp tác trong xây dựng mô hình đồng quản lý
và triển khai nó, trong đó có cả xây dựng mục tiêu quản lý và qui chế quản lý. Việc xây dựng mục tiêu quản lý và qui chế quản lý cùng với các bên liên quan sẽ tạo ra tinh thần sở hữu nghề cá đầm phá. Nếu không, các bên liên quan khác nhau sẽ có những mục tiêu khác nhau đối với nghề cá đầm phá, và những mục tiêu khó đạt được có nguy cơ đưa đến thất vọng trong quá trình đồng quản
lý. Hơn nữa, Sở TS nên đảm bảo Tỉnh Hội liên hệ trực tiếp với Hội Nghề Cá địa phương và đảm bảo không có tầng lớp quản lý phụ nào giữa Tỉnh Hội và Hội Nghề Cá địa phương về cấu trúc chức năng
· Qui Chế Quản Lý Đầm Phá qui định việc UBND Tỉnh phân quyền quản lý cho các chi Hội Nghề
Cá qua UBND Huyện, bằng cách trao cho họ “quyền đánh bắt” và thông qua “các biện pháp quản lý”. Tuy nhiên, những “quyền đánh bắt” (theo qui định tại điều 13 của qui chế này) và “biện pháp quản lý” này (theo qui định tại điều 11 của qui chế này) chủ yếu là để bảo vệ môi trường đầm phá
Quyền khai thác thủy sản trên vùng nước đầm phá bao gồm các quyền hạn và trách nhiệm ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật thủy sản, trách nhiệm bảo vệ ngư trường, phát triển nguồn lợi thủy sản, trách nhiệm bảo đảm luồng tuyến giao thông thủy, trách nhiệm phòng chống suy thoái môi trường vùng nước và nghĩa vụ thuế cho Nhà nước.”
Điều 11 của Qui Chế qui định Chi Hội Nghề Cá có quyền thông qua các biện pháp quản lý:
Trang 17Nhà nước khuyến khích Chi hội Nghề Cá cấp cơ sở xây dựng “qui chế tự quản” trên cơ sở pháp luật Nhà nước, để cụ thể, chi tiết hóa các qui định của cộng đồng, nhằm bảo vệ ngư trường, nguồn lợi thủy sản và một số vấn đề liên quan: môi trường vùng nước, giao thông thủy nội địa, quản lý thuế khai thác thủy sản, v.v.
Nếu việc ước định tài nguyên và phân định tài nguyên không nằm trong tầm “quyền đánh bắt” phân cho người dân, thì quyền lực ra quyết định về những khía cạnh quản lý này thuộc về các cấp độ cao hơn và do vậy, đồng quản lý ít dựa vào người sử dụng tài nguyên hơn. Vì vậy, trong việc ra các quyết định liên quan đến ước định tài nguyên và phân định tài nguyên cần phải có các “đối tác trực tiếp” trong đồng quản lý này đóng vai trò hợp tác hơn với người sử dụng tài nguyên. Theo cách này thì các “đối tác trực tiếp” nâng người sử dụng tài nguyên lên thành các nhà đồng quản lý tài nguyên, nhờ đó mà chia sẻ được quyền lực và cân bằng quyền và trách nhiệm
· Qui chế giải quyết xung đột mẫu không có qui định chế tài nào, chẳng hạn như tiền phạt vi phạm các qui chế quản lý. Các “đối tác trực tiếp” nên thảo luận với các Hội Nghề Cá để áp đặt chế tài như tiền phạt và phương thức thực hiện và phân chia tiền thu phạt. Đó sẽ là một nguồn sinh quĩ cho Hội Nghề cá để hỗ trợ các chi phí hành chính và thực hiện luật. Cần phải có các khoản sinh
thu nhập cho Hội Nghề Cá để duy trì bền vững các hoạt động đồng quản lý.
6.0 CÁC HỘI THẢO TẬP HUẤN 6.1 Hội thảo tập huấn xác định mục đích, mục tiêu và qui chế quản lý
Mục tiêu
Mục tiêu chính của hội thảo tập huấn xác định mục đích, mục tiêu và qui chế quản lý là xây dựng năng lực cho cộng đồng thôn, hội viên Tỉnh Hội Nghề Cá và cán bộ kĩ thuật IMOLA thực hiện phương pháp cùng tham gia để hỗ trợ các thành viên Hội Nghề Cá tương lai xác định mục đích, mục tiêu và qui chế quản lý cho Hội Nghề Cá của họ. Chúng tôi có ý định để phương pháp cùng tham gia sử dụng trong hội thảo tập huấn nhân này cho viên kĩ thuật IMOLA sử dụng để hỗ trợ các cộng đồng thôn xác định mục đích, mục tiêu
và qui chế quản lý tại các thôn.
Tham dự
Hội thảo tập huấn tổ chức tại xã Quảng Công có tổng cộng 15 người gồm hộ viên của hai Chi Hội Nghề Cá
xã Quảng Công, hội viên một Chi Hội Nghề Cá xã Hải Dương, Phó CT UBND xã Hải Dương, Chuyên viên NTTS và đại diện TT Thúc Đẩy xã Quảng Công đến tham dự. Có một nhược điểm lớn là sự thiếu cân bằng giới nghiêm trọng, trong tất cả người tham dự chỉ có một là nữ. Nhân viên kĩ thuật IMOLA nhận được tập
trách nhiệm cung cấp thông tin này và nguồn các thôn tin này nằm ở đâu.
Kết quả của hội thảo cùng tham gia
Các nhóm phát biểu kỳ vọng về việc phát triển môi trường đầm phá đến 2017
Nhóm 1:
Trang 19· Xác định và phân vùng sinh sản, vùng sinh dưỡng và bảo tồn tài nguyên cá để quản lý nghề cá hiệu quả
Mục tiêu
Mục tiêu chính của tập huấn là xây dựng năng lực cho nhân viên kĩ thuật của IMOLA thực hiện và tập huấn lại cho hội viên Hội Nghề Cá cách thu thập thông tin phục vụ qui hoạch và tự giám sát và đánh giá hoạt động của họ, giúp hoàn thành tốt hơn các mục đích và mục tiêu, nhờ đó mà đảm bảo được tính bền vững. Những người tham dự cũng được tập huấn về các tiêu chí sử dụng để đánh giá tính thích hợp của các vùng
Trang 20đoàn kết nhóm/cộng đồng; tinh thần đoàn kết này chúng tôi có định nghĩa theo.
Các điều kiện cần thỏa mãn để đảm bảo đồng quản lý thủy sản thành công (Phụ lục IV)
Hội thảo có thực hiện một bài thực tập để đánh giá mức độ có mặt của các điều kiện thành công của đồng quản lý tại các xã của dự án. Nhờ đánh giá môi trường/điều kiện hiện có cho quản lý thành công mà có thể xác định được các hành động để bổ sung những thiếu sót.
Kết quả của bài thực tập này được dùng làm cơ sở để đề xuất hoạt động cho các cấp quản lý xã, huyện và
tỉnh để đảm bảo đồng quản lý thủy sản thành công. (xem phần 5.0)
7.0 ĐỀ XUẤT THÀNH LẬP HỘI NGHỀ CÁ VÌ MỤC ĐÍCH ĐỒNG QUẢN LÝ NGHỀ CÁ THÀNH CÔNG CHO NHÂN VIÊN KĨ THUẬT DỰ ÁN IMOLA VÀ CÁC TRUNG TÂM THÚC ĐẨY
ĐÓNG TẠI XÃ
Để cộng đồng người sử dụng tài nguyên (đại diện là Hội Nghề Cá) làm đối tác hoặc đồng quản lý trong quản lý tài nguyên thủy sản, cần phải bảo đảm Hội Nghề Cá được củng cố và nâng cao năng lực đủ để đóng vai trò của người đồng quản lý tài nguyên thủy sản. Do vậy, nâng cao năng lực cho cộng đồng nghề cá trở thành bức thiết cho phương pháp đồng quản lý thủy sản thành công. Cụm từ ‘nâng cao năng lực’ có nghĩa
là tạo năng lực cho cộng đồng nghèo để tăng sức mạnh cho họ, cho họ tự tin để sử dụng tài nguyên của chính họ và giúp đỡ của các tổ chức đối tác khác để hoàn thành mục đích thành công trong phát triển. Theo hướng đó, nhân viên kĩ thuật của Nhóm Xã Hội Dự án IMOLA và Các Trung Tâm Thúc Đẩy có thể có vai
trò trong xây dựng năng lực cho hội viên Hội Nghề Cá.
7.1 Những hoạt động theo sau tập huấn cho nhân viên kĩ thuật dự án IMOLA.
Sau đây là đề xuất những hoạt động theo sau tập huấn cho nhân viên kĩ thuật dự án IMOLA để củng cố các hoạt động Hội Nghề Cá
· Hỗ trợ xây dựng năng lực cho các Hội Nghề Cá bằng cách hỗ trợ quá trình cùng tham dự do chuyến công tác này phác ra để xác định mục đích lớn, mục tiêu quản lý và qui chế quản lý của Hội Nghề Cá dựa vào các vấn đề địa phương. Đây là đòi hỏi chính cho một Hội Nghề Cá đi vào hoạt động. Cần chú ý cân bằng giới trong thành phần tham gia vì nữ có thể hiểu ‘quản lý’ khác với đàn ông
· Bước đầu tiên để hỗ trợ xây dựng năng lực cho Hội Nghề Cá xây dựng các kế hoạch phát triển NTTS và nghề cá cấp thôn là biên soạn sổ ghi chép cấp thôn. Thông tin ghi được trong sổ này sẽ giúp ích rất nhiều cho quá trình các bên cùng tham dự biên soạn kế hoạch phát triển NTTS và nghề cá cấp thôn. Kế hoạch phát triển NTTS và nghề cá cấp thôn sẽ giúp xác định được các cơ hội sinh kế chuyển đổi cũng như sắp xếp lại các ngư cụ. Hơn nữa, khi xem xét lại việc sắp xếp ngư cụ
cố định theo qui chế mới và để đền bù những mất mát sinh kế do mất nghề đánh bắt thì việc xác định các sinh kế chuyển đổi là điều tiên quyết
Trang 21· Tập huấn Hội Nghề Cá thực hiện một cách khách quan việc giám sát nội bộ để đánh giá hoạt động của mình. Chúng tôi đề nghị nhân viên kĩ thuật sử dụng các công cụ tự đánh giá và giám sát biến đổi lớn để tập huấn cho các Hội Nghề Cá. Báo cáo viên đã tập huấn cho nhân viên kĩ thuật về ứng dụng của cả hai công cụ trên (xem đính kèm tại phụ lục II của báo cáo này)
· Dùng cả hai công cụ này để tập huấn Hội Nghề Cá vì những lý do sau. Tự giám sát hoặc giám sát nội bộ tạo ra một môi trường học hỏi nội bộ cho các Hội Nghề Cá về tiến bộ của hội. Hoạt động này cũng cho phép họ đánh giá được tình trạng của mình và hành động để cải thiện tiến tới một tình trạng ‘lý tưởng’ hoặc hoàn thành các mục tiêu quản lý. Các phương pháp tự giám sát chú trọng các chỉ số định trước để tìm ra chứng cứ về việc hoàn thành các hoạt động và kết quả đã lên
kế hoạch. Những phương pháp đó giúp xác định các chỉ số, hoặc đo hoặc ghi dữ liệu liên quan đến các chỉ số. Tuy nhiên, các chỉ số xác định trước thì có hạn chế. Không phải tất cả thông tin về thay đổi có thể nắm bắt dễ dàng nhờ các chỉ số đó. Cũng không phải các chỉ số đó có tác dụng lâu dài.
Vì cách nhìn thay đổi và thông tin cần cập nhật nên các chỉ số cũng cần điều chỉnh. Vì vậy, giám sát những thay đổi lớn nên tiến hành đồng thời với tự giám sát, vì giám sát thay đổi lớn không truy biến đổi trên các chỉ số mà chỉ truy biến đổi về mặt sự kiện hoặc biến cố sau khi đã xảy ra và mang nội dung về một chủ đề nhất định, các chủ đề này chính là đối tượng tìm hiểu và không thể dùng một hay vài chỉ số rõ ràng mà có thể nắm bắt được
· Đánh giá nhanh nông thôn, sử dụng các công cụ như bảng thông tin, đường thời gian, biểu đồ, và
sơ đồ tài nguyên sinh học tại một số thôn để xác định những vấn đề quan yếu, lý do thay đổi để xem nhiều vụ mùa, loài nuôi và lâm nghiệp xen lẫn với NTTS như thế nào, và để xem cơ hội nâng cao sinh kế. Kết quả nền tảng của những bài tập này nên đưa cho các thôn và xã khác xem làm hướng dẫn cho họ tự thực hiện lại các bài tập
· Áp dụng các điều kiện thành công của đồng quản lý nghề cá để xác định những điều kiện thành công cụ thể cho từng xã cần củng cố và báo cáo cho dự án IMOLA
· Khuyến khích và sử dụng các thành viên đã được tập huấn của hội nghề cá một xã để tập huấn lại cho hội viên ở các xã khác về các công cụ cùng tham gia trên tại mục 14 này. Làm như vậy sẽ giúp phát hiện tự nguyện viên cộng đồng, những tự nguyện viên này có thể giúp ích nhiều cho các chương trình phát triển do chính phủ hoặc các dự án tài trợ với khả năng tập huấn và dẫn dắt của
lý đầm phá cũng như các thích thức do ô nhiễm đầm phá ngày càng tăng, suy giảm tài nguyên và giảm thu nhập. Các trung tâm này cũng có mục đích là để cung cấp phương tiện để xã cập nhật thông tin và dịch vụ liên quan đến phát triển kinh tếxã hội.
Các mục tiêu này mang tính chất đa ngành và cần một cán bộ ít nhất có đủ kinh nghiệm trong các lĩnh vực đánh bắt, NTTS và kinh tế xã hội. Dự án đã trích ngân quĩ để thành lập các trung tâm và đã xác định các xã sau là thích hợp cho mục đích này
· Xã Lộc Bình
· Xã Vinh Hiền
· Xã Vinh Phú
· Xã Phú Xuân
Trang 22Sau đây là những đề xuất cho các Trung Tâm thúc đẩy để hỗ trợ thành lập các Hội Nghề các và quá trình đồng quản lý nghề cá
· Nhân viên chọn dùng hoặc cử cho TTTĐ nên tham dự quá trình đề xuất cho nhân viên kĩ thuật trên đây để giúp hỗ trợ xây dựng năng lực cho các Hội Nghề Cá. Tham dự như vậy, để khi dự án hết và nếu cần, TTTĐ sẽ tiếp trục quá trình này. The cách này thì tính bền vững của quá trình có thể đảm bảo
· Hỗ trợ các hội viên Hội Nghề Cá đã được nhân viên kĩ thuật dự án IMOLA tập huấn, bằng cách tập huấn và khuyến khích các hội viên này làm tình nguyện viên giúp cho các xã khác
· Các TTTĐ nên đáp ứng nhu cầu của một “đơn vị kĩ thuật” để hỗ trợ Tỉnh Hội Nghề Cá theo qui định trong cấu trúc chức năng của Hội Nghề Cá đã mô tả trong báo cáo trước của nhân viên báo cáo
· Thiết lập quan hệ khắng khít với TT Khuyến Ngư Quốc Gia, Viện Nghiên Cứu NTTS và các đại học và cơ quan quốc gia có làm việc về nội dung thuỷ sản và quản lý vùng bờ để hưởng lợi từ các chương trình và có thông tin kĩ thuật chuyển đến cho các Hội Nghề Cá
· Giúp phổ biến thông tin, cho các Hội Nghề Cá, chủ yếu là thông tin kĩ thuật và qui chế cần thiết cho triển khai các qui chế quản lý vùng đánh bắt
· Báo cáo những vấn đề nền tảng liên quan đến quản lý nghề cá và phát triển NTTS cần nghiên cứu thêm cho các cơ quan nghiên cứu, giáo dục và kĩ thuật
· Dịch các kết quả nghiên cứu và công nghệ mới liên quan đến quản lý thuỷ sản đầm phá và phát triển NTTS ra ngôn ngữ của người dân để cho họ đọc
· Xây dựng đối tác với các dự án phát triển và Tổ chức Phi Chính phủ khác làm việc trong các xã liên quan đến phát triển tài nguyên thuỷ sản và quản lý vùng ven bờ
· Thu thập và tổng hợp các bài học kinh nghiệm về đồng quản lý nghề cá ở các nơi khác và phổ biến cho các Hội Nghề Cá
Trang 23• Chuẩn bị một bản câu hỏi hướng dẫn và xác định một khoảng thời gian để thực hiện mục đích
• Xác định một nhóm 15 người gồm cả nam lẫn nữ, trong đó có 3-5 người cao tuổi (tốt nhất là
có cả cụ ông và cụ bà) biết về chủ đề mục đích của bạn
• Giải thích mục đích của bài tập cho những người tham gia Thảo luận với họ về những sự kiện trọng đại hoặc những ngày quan trọng rơi vào khoảng thời gian được nhắm đến (ví dụ: các ngày lễ hội, sinh nhật hay ngày giỗ, các cuộc chiến, các trận thiên tai, các ngày theo lịch địa phương, ) Những ngày hoặc sự kiện này sẽ đóng vai trò là các mốc thời gian
• Xác định các sự kiện về chủ đề muốn điều tra Ví dụ, nếu bạn muốn tìm hiểu những thay đổi ở môi trường đầm phá, phương pháp so sánh lịch sử có thể mô tả các loài được đánh bắt và những thay đổi về mức độ phong phú của chúng, hoặc giới thiệu về các công cụ đánh bắt, những hoạt động đánh bắt, các thay đổi trong phạm vi đầm phá, hoặc giới thiệu về các hoạt động nuôi trồng thủy sản, sự thiếu hụt về sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào đầm phá, các biện pháp bảo tồn và quản lý được áp dụng, các mâu thuẫn chủ yếu, v.v
• Thu thập thông tin về từng lĩnh vực hoặc sự kiện trong tất cả các giai đoạn nhắm đến bằng cách so sánh lịch sử Để thu thập các thông tin này, bạn có thể đặt các câu hỏi như:
- Anh có nhớ lúc anh còn nhỏ, hoặc lúc mẹ, ông bà anh còn sống thì người ta đánh cá bằng công cụ gì, có các tập tục đánh bắt như thế nào không?
- Thế còn những năm 1950 thì sao?
Bạn có thể bắt đầu với tình huống hiện tại và hỏi dần về trước, từng giai đoạn một, hoặc bắt đầu với giai đoạn xa xưa nhất và đi dần đến kết thúc ở hiện tại Quan trọng là phải thu thập các thông tin có thể
so sánh được về các khía cạnh của chủ đề cần điều tra trong từng giai đoạn
• Ghi lại các thông tin đó hoặc yêu cầu mọi người vẽ hoặc viết xuống các hoạt động, kỹ thuật trong từng giai đoạn khác nhau Thông tin có thể thể hiện dưới dạng bảng, các hình vẽ, hoặc theo cách khác thuận tiện cho người tham gia
• Thảo luận và so sánh các đầu ra khác nhau trong các giai đoạn khác nhau với người tham gia
• Trình bày kết quả và thảo luận về kết quả đó với dân làng, đưa cho họ một bản sao thông tin đầu ra
Lợi ích:
Công cụ đánh giá này giúp nâng cao nhận thức về các thay đổi, giúp mở rộng kiến thức về những điểm
đã qua, cho biết các nguyên tắc tập quán, giải thích những thay đổi trong hoạt động và trong quá trình, nhấn mạnh những thuận lợi và khó khăn của các hoạt động cụ thể
Vật liệu cần có: