Tìm hiểu về ổ đĩa cứng
Trang 1
NWA VIIẤT paw wun
Trang 2LỮ ĐỨC HÀO
10 Phút lạc Máy Tủà Mỗi Ngày
Tìm hiểu về
Ũ đĩa cứng
Trang 3Lei nói đầu
Tà học ngày nay là một ngành học không thể thiếu được trong mọi lĩnh uực Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của độc giả, đặc biệt
là những người mới bắt đâu hay những người bản rộn oới công oiộc, không có giờ đến lớp Chúng
tôi biên soạn bộ sách “10 Phút Học Máy Tính
Mỗi Ngày” Bộ sách gầm nhiêu quyển Trong chuyên mục hôm nay, chúng tôi giới thiệu những tác oụ cơ bản uê “Tìm hiểu 0ê ổ đĩa cứng” Quyển sách “Tìm hiểu uê ổ đĩa cứng” được trình bày theo hình thúc học nhanh, rõ rùng uà những kiến thúc mới nhất,
Với lượng kiến thúc cơ bản nhất được trình bày trong cuốn sách này, các bạn có thể tự nghiên cứu để có được những kỳ thuật sử dụng thành thạo máy tính uăn phòng một cách nhanh chóng
tà chính xúc nhất Và sách cũng là nên tảng oà
cơ hội tiến xa hơn trong lĩnh oực tín học
Mặc dù đã hết súc cố gắng nhưng chúng tôi không thể tránh khỏi những sai sót ngodi ¥ muén Mong các bạn góp ý một cách chân thành, Chúc các bạn thành công
Soạn giả.
Trang 4Tìm hiểu về Ổ đĩa cứng
2
TÌM HIỂU VỀ 6 DIA CUNG
1 Cac khai niém co ban của ổ đĩa
Bước đầu tiên trong việc tìm hiểu ổ cứng là hiểu những khái niệm cơ bản có liên quan Nhiều thuật ngữ được để cập đến trong ổ mềm cũng được áp dụng cho ổ cứng, nhưng các yêu cầu thực hiện và nhu cầu hoạt động bổ sung đặt vào ổ cứng dan đến một loạt các khái niệm quan trọng mới
Về nguyên lý, ổ cứng rất giống với 6 mém - mot môi trường ghi từ tính được phủ lên một chất nền, chất nền này sau đó quay ở Lốc độ cao Các đầu từ đọc/ ghi ở trạng thái rất gần với môi trường
có thể bước nhanh qua môi trường đang quay để phát hiện hay thiết lập sự chuyển tiếp thông lượng như được yêu cầu Tuy nhiên khi nhìn gần bạn có thể thấy rằng có một số khác biệt chính giữa ổ mềm và ổ cứng
ĐĨA NỀN VÀ MỖI TRƯỜNG
Ở nơi mà đĩa mềm sử dung vật liệu từ phủ lên một lớp nền Mylar (thay một số loại nhựa khác) mỏng, linh động, các ổ cứng sử dụng các chất nên cứng và xù xì được gọi là đĩa nên Bạn có thể thấy
rõ ràng các đĩa nên của ổ cứng trên hình 23-2 Đĩa nền truyền thống được làm bằng nhôm v nhôm là vật liệu nhẹ, nó đễ gia công máy tớ dung sai mong muốn, và nó giữ nguyên hình dạng
của mình dưới tác động của các lực ly tâm lớn
xuất hiện ở các tốc độ quay cao Nhưng ngày nay hầu hết các đĩa nên được làm bằng các vật liệu như hợp chất của thủy tỉnh và gốm Những vật liệu nhẹ và bên này có độ giãn nở nhiệt rất thấp
Trang 5
8 Tim hiểu về Ổ dĩa cứng
(vì thế ít gây ra các vấn đề với môi trường), và so
với nhôm, chúng có thể chịu được lực ly tâm tốt
hơn Vì ưu điểm chính của ổ cứng là tốc độ, các
đĩa nên quay ở vận tốc khoảng 7600v/phút tới
10.000v/ph (so với các ổ cứng cũ chạy ở vận tốc
3600 tới ã200v/nh) Một ổ cứng nói chung sử dụng
hai hoặc nhiều đĩa nên, tuy nhiên những ổ dia
quá nhỏ có thể chỉ sử dụng một đĩa nền
Các ổ cứng phải có khả năng ghỉ ở mật độ
rất cao - trên 10.000 bit/inch (BPI) Dé dat duge
độ ghi lớn như vậy, môi trường đĩa phải cao cấp
hơn nhiều so với môi trường oxyt được sử dụng
cho ổ mềm Trước hết, môi trường phải có độ
kháng từ cao để mỗi sự biến đổi thông lượng đều
được xác định tốt và có thể phân biệt được rõ
mọi sự chuyển đổi thông lượng khác một cách
dé dang D6 kháng từ của môi trường ổ cứng
thường vượt quá 1.400 oersteds Thứ hai, môi
trường phải rất phẳng trên toàn mặt phẳng đĩa,
với dung sai siêu nhỏ Các đầu đọc/ ghi của ổ
cứng thực tế không tiếp xúc với môi trường như
ở các ổ đĩa mềm, nó cưỡi trên dòng không khí
vài micrômet thổi trên bể mặt đĩa Khiếm khuyết
rất nhỏ trên bề mặt hay các vật lạ (như các hạt
bụi) có thể va chạm với đầu từ và phá hỏng nó
Sự va chạm đầu từ như vậy thường là một sai
sót thảm họa đòi hỏi phải thay thế ổ cứng Bạn
sẽ thấy rõ hơn về sự bay của đầu từ và các khiếm
khuyết bề mặt trong phần sau của chương này
Ngày nay, môi trường màng mỏng đã thay thế
từ lâu cho các oxyt từ tính Môi trường màng
rnồng là một lớp kim loại nguyên chất (hay hợp
chất kim loại) siêu móng được liên kết với bể
mặt nền bằng lớp chuyến tiếp Sau đó môi trường
được phủ một lớp bảo vệ để giúp bảo toàn khi có
sự va chạm đầu từ Môi trường màng mỏng cũng
có khuynh hướng được làm rất phẳng, vì thế các đầu đọc/ ghi có thể chạy ở những khoảng cách siêu nhỏ so với bể mặt của đĩa
Hình 1 Ổ đĩa cứng Maxtor (Maxtor
Corporation) DONG KHONG KHi VA Sif say CUA BAU TỪ Các đầu đọc/ ghi trong ổ cứng phải di chuyển rất gần với bể mặt của mỗi đĩa, nhưng có thể không bao giờ tiếp xúc thực sự với môi trường trong khi ổ đĩa đang chạy Đầu từ có thể được gắn
cố định bằng cơ học, nhưng sự bay ở độ cao cổ định không cho phép sự rung tự nhiên hay đội xuất thường luôn có mặt trong cụm ổ đĩa Thay vào đó, đầu đọc/ ghi được làm cho nổi bên trên bề mặt đĩa bằng cách treo đầu từ trên một lớp không khí chuyển động Hình minh họa dòng không khí
cơ bản trong ổ cứng Sự quay của đĩa tạo lớp hơi đệm nhẹ nâng đầu từ Bạn cũng có thể thấy rằng một ít không khí xoáy thành luỗổng qua một bộ lọc tỉnh giúp lấy đi các loại hạt khói vỏ ổ đĩa Điểm quan trọng cần lưu ý là tất cả các ổ đĩa đều gói kín các bộ phận lắp ráp của đĩa trong một khoang kín khi Việc gói kín này là để ngăn chan
sự nhiễm bụi, các phần tử nhỏ, mảnh vụn hay sợi tóc, Sự nhiễm các chất bẩn trên bề mặt đĩa có thể
dễ dàng dẫn đến sự va chạm đầu từ Sự va chạm
Trang 68 Thm hiểu về Ổ dia cứng
(vi thé Ít gây ra các vấn để với môi trường), và so
với nhôm, chúng có thể chịu được lực ly tâm tốt
hơn, Vì ưu điểm chính của ổ cứng là tốc độ, các
đĩa nên quay ở vận tốc khoảng 7600v/phút tới
10.000v/ph (so với các ổ cứng cũ chạy ở vận tốc
3600 tới ð200v/ph) Một ổ cứng nói chung sử dụng
hai hoặc nhiều đĩa nên, tuy nhiên những 6 dia
quá nhỏ có thể chí sử dụng một đĩa nền
Các ổ cứng phải có khả năng ghi ở mật độ
rất cao - trén 10.000 bit/inch (BPI) Dé dat duge
d6 ghi lớn như vậy, môi trường đĩa phải cao cấp
hơn nhiều so với môi trường oxyt được sử dụng
cho ổ mềm Trước hết, môi trường phái có độ
kháng từ cao để mỗi sự biến đổi thông lượng đều
được xác định tốt và có thể phân biệt được rõ
dé dang Độ kháng từ của môi trường ổ cứng
thường vượt quá 1.400 oersteds Thứ hai, môi
trường phải rất phẳng trên toàn mặt phẳng dĩa,
với dung sai siêu nhỏ Các đầu đọc/ ghỉ cúa ổ
cứng thực tế không tiếp xúc với môi trường như
ở các ổ đĩa mềm, nó cười trên dòng không khí
vài micrômet thổi trên bể mặt đĩa, Khiếm khuyết
rất nhỏ trên bề mặt hay các vật lạ (như các hạt
bụi) có thể va chạm với đầu từ và phá hồng nó
Sự va chạm đầu từ như vậy thường là một sai
sót thảm họa đòi hỏi phải thay thế ổ cứng Bạn
sẽ thấy rõ hơn về sự bay của đầu từ và các khiếm
khuyết bể mặt trong phần sau của chương nay
Ngày nay, môi trường màng mồng đã thay thế
từ lâu cho các oxyt từ tính Môi trường màng
mỏng là một lớp kim loại nguyên chất (hay hợp
chất kim loại) siêu mỏng được liên kết với bề
mặt nền bằng lớp chuyển tiếp Sau đó môi trường
được phủ một lớp bảo vệ để giứp bảo toàn khi có
sự va chạm đầu từ Môi trường màng mỏng cũng
Hình 1 Ổ đĩa cứng Maxtor (Maxtor
Corporation)
DONG KHONG KHi VA SU BAY CUA BẦU TỪ
Các đầu đọc/ ghi trong ổ cứng phải đi chuyển
rất gần với ặt của mỗi đĩa, nhưng có thể không bao giờ tiếp xúc thực sự với môi trường trong khi ổ đĩa đang chạy Đâu từ có thể được gắn
cố định bằng cơ học, nhưng sự bay ở độ cao cố định không cho phép sự rung tự nhiên hay đột xuất thường luôn có mặt trong cụm ổ đĩa Thay vào đó, đầu đọc/ ghi được làm cho nổi bên trên bê mặt đĩa bằng cách treo đầu từ trên một lớp không khí chuyển động Hình minh họa dòng không khí
cơ bản trong ổ cứng Sự quay của đĩa tạo lớp hơi đệm nhẹ nâng đầu từ Bạn cũng có thể thấy rằng một ít không khí xoáy thành luồng qua một bộ lọc tỉnh giúp lấy đi các loại hạt khỏi vỏ ổ đĩa Điểm quan trọng cần lưu ý là tất cả các ổ đĩa đều gói kín các bộ phận lắp ráp của đĩa trong một khoang kín khí Việc gói kín này là để ngăn chặn
sự nhiễm bụi, các phần tử nhỏ, mảnh vụn hay sợi tóc Sự nhiễm các chất bẩn trên bê mặt đĩa có thể
dé dàng dẫn đến sự va chạm đầu từ Sự va chạm
Trang 7
12 Tìm hiếu về Ổ đĩa cứng
Độ phẳng hơn của bề mặt cho phép đầu từ bay gần
môi trường hơn
Có các yếu tố khác xác định cách thức mà dữ
liệu được gói trong một ổ dĩa, hầu hết đầu liên
quan đến mật độ diện tích Mật độ rãnh biểu thị
số rãnh trên 1 inch (hay TPI) Mật độ rãnh cũng
bị ảnh hưởng bởi sự chính xác của hệ thống đầu
đọc/ ghi - sự chính xác càng lớn cho phép càng
nhiều rãnh hơn được xác định, Mật độ thông lượng
làm nổi bật số lượng sự biến chuyển thông lượng
từ riêng trên 1 inch đài của khoảng trống của
ranh được đánh giá như sự thay đổi thòng lượng
trên 1 inch (được gọi là FCI, hay KFCI cho "ngàn
£CI) Cuối cùng, có lẽ bạn sẽ xem xét mật độ ghi,
về cơ bản nó là số bit trên một inch đài của rãnh
được tính như bit/inch (được goi la BPI, hay KBPI
cho "ngàn BPI")
TÍNH TIEM ẨN
Khi chạy nhanh như ổ cứng vốn có, nó không
thể hoạt động ngay lập tức Có một khoảng thời
gian trễ nhất định giữa thời điểm mà lệnh đọc
hay ghi được bắt đầu trên giao diện vật chất của
ổ đĩa, và thời điểm mà thông tin mong muốn có
thể sử dụng được (hay được đặt vào) Sự chậm trễ
này được xem như sự tiểm ẩn Chính xác hơn,
tính tiểm ẩn ngụ ý chỉ thời gian cần để các byte
cẩn thiết đi qua đưới đầu doc/ ghi Néu dau tir
không đến được vị trí mong muốn nhanh chóng
thì có thể là thời gian tiểm ẩn quá ngắn Nếu
đầu từ chỉ vừa vượt qua vị trí mong muốn, đầu từ
phái đợi gần như là một vòng quay tròn trước khi
có thể đến lại được bít cần thiết, vì thế thời gian
tiểm ẩn cé thể khá đài Thông thường, một ổ đĩa
được ghi đặc tính với tính tiềm ẩn trung bình,
ngụ ý chỉ thời gian để trục thực hiện nửa vòng
quay đây đủ Đối với đĩa quay ở 3600 v/ph (hay 60 vòng/giây), một vòng quay đầy đủ được hoàn thành trong (1/60) 16.7mS, Tinh tiém ẩn trung bình lúc
đó sẽ là (16.7/2) 8.3mS Dia quay 6 van tée 5200
víph có tính tiém ẩn trung bình 5.8m8, và vân
tinh tiém ẩn của nó càng thấp May là tốc độ đĩa
bị giới hạn bởi lực ly tâm tác động trên các đĩa nên
RANH, BOAN VA HINH TRỤ
Như với các ổ mềm, bạn không thể đặt đữ liệu
một cách đơn giản vào bất cứ đâu trên đĩa nền của ổ cứng - ổ dia khong hé có ý tưởng phải tìm
dữ liệu ở đâu hay thậm chí dữ liệu có hiệu lực hay không Thông tin trên mỗi đĩa nên phải được phân loại và sắp xếp thành các chuỗi vị trí tiêu chuẩn
đã biết Mỗi mặt đĩa nền có thể được xem như một vùng hai chiều có chiểu đài và chiều rộng Với sự phân loại hình học này, dữ liệu được ghi trong tập hợp các vòng tròn đẳng tâm chạy từ
trục đĩa ra tới rìa đĩa nên Ổ đĩa có thể di chuyển
đầu đọc/ ghi của nó trên môi trường quay để xác định vị trí dữ liệu hay chương trình cản thiết trong vài miligiây Mỗi đường tròn đồng tâm trên đĩa nên được gọi là một rãnh Một đĩa nên hiện đại thường chứa khoảng 2.048 tới hơn 16.278 rãnh Hình 4 cho thấy sự bố trí dữ liệu trên một cụm đĩa nên đơn giản Lưu ý rằng chỉ một mặt của ba đĩa nên này được trình bày
Trang 8
Mặc dù mỗi bể mặt của đĩa nên lamét dién
tích hai chiều, nhưng số lượng bề mặt của dia
nền được tính đến trong một ổ cứng (4, 6, 8 hay
hơn nữa) mang tới chiêu thứ ba (độ cao) khi biểu
điễn Vì mỗi rãnh được định vị trí trên các rãnh
giống vậy của các đĩa nên nằm dưới, mỗi rãnh
trong một cụm đĩa có thể được bình dung như
một "ống hình trụ” đi qua mỗi đĩa nên Số lượng
các hình trụ bằng với số rãnh trên một mặt của
đĩa nên
Khi đầu đọc/ ghi hòan thành việc đọc một
rãnh, đầu phải được bước sang một rãnh khác
(thường là kể bên) Quá trình bước này, không
quan trọng nhanh như thế nào, đòi hỏi một ít
thời gian để hoàn thành Thới gian này được gọi
là thời gian tìm kiếm, và thường là dưới 1ms để
tìm kiếm từ rãnh này sang rãnh khác Khi đầu từ
cố gắng bước trực tiếp từ điểm kết thúc rãnh này
sang điểm bắt đầu của rãnh khác, đầu từ sẽ đến
quá chậm để có thể nắm bắt được các xưng chỉ
báo của rãnh mới, vì thế ố đĩa sẽ phải chờ gần
như một vòng quay hoàn chỉnh để đồng bộ với xung chí báo Bằng cách làm lệch các điểm khởi đầu của mỗi rãnh, như trong hình 5, thời gian di chuyển của đầu từ có thể được bù trừ Kỹ thuật làm lệch hình trụ này được sử dụng để cải tiến hoạt động của ổ cứng bằng cách giảm sự mất thời gian trong quá trình thực hiện các bước đi bình thường của đầu từ Đầu từ phải có thể nhận dang
và đọc được thông tin được yêu cầu từ một rãnh
trong vòng một vòng quay cua dia
Hình 5 Một ví dụ minh họa sự làm lệch hình
trụ
Các rãnh được ngắt thành nhiều mảnh nhỏ hơn được gọi là đoạn Như với các đĩa mềm, một đoạn chứa 512 byte dữ liệu, cùng với đữ liệu kiểm
Trang 9t6 Tìm hiểu về Ổ dĩa cứng
tra lỗi và quản lý nhận dạng đoạn, rãnh và các
kết quả được tính bởi sự kiểm tra tuần hoàn dư
(CRC) Vi tri va théng tin ID cia mỗi đoạn được
bộc lộ khi 6 dia được định dạng bậc thấp tại nhà
máy Sau khi định dạng, chỉ dữ liệu của đoạn và
các byte CRC được cập nhật trong quá trình ghi
Nếu thông tin ID đoạn vô tình bị ghi chéng hay
bị hỏng, đỡ liệu được ghi trong đoạn bị tổn hại sẽ
không thể đọc được
Hình 6 cho thấy sự bố trí của một đoạn tiêu
biểu trên 6 dia Maxtor SCSI Như bạn có thé
thấy, có nhiều hơn 512 byte dữ liệu Sự bắt đầu
mỗi đoạn được đánh đấu bằng một xung Xung
báo tín hiệu đoạn đầu tiên của rãnh được gọi là
xung chỉ báo Mỗi đoạn có hai phần: phần địa chỉ
và phần dữ liệu Vùng địa chỉ được sử dụng để
nhận biết đoạn Điểm này rất quan trọng vi 6 dia
phải có thể nhận biết được chính xác hình trụ,
đầu và đoạn nào được đọc hay ghi Thông tin
định vị trí này được ghi trong vùng địa chỉ và
được kèm sau bởi hai byte dữ hệu thừa kiểm tra
tuần hoàn (CRC) Khi ổ đĩa nhận biết được một
vị trí, nó sinh ra mã CRC, mã này sẽ so sánh với
mã CRC được ghi trên đĩa Nếu 2 mã CRC phù
hợp, địa chỉ được xem là xác đáng, và có thể tiếp
tục vận hành đĩa Nếu không, một lỗi sẽ xuất
hiện và toàn bộ đoạn đó bị xem như vô hiệu Sự
hư hỏng này thường đưa đến thông báo lỗi thảm
họa của DOS
có thể được đọc hay ghi vào vùng dữ Hệu Dữ liệu được xử lý để nhận 11 byte mã báo lỗi ECC bằng cách sử dụng sự mã hóa Reed Solomon Nếu dữ liệu được đọc, SCC nhận được sẽ được so sánh với BCC ghi được Khi các mã phù hợp nhau, đữ liệu được xem là có hiệu lực và có thể tiếp tục vận hành ổ đĩa Nếu không thi lỗi đọc dữ liệu sẽ được đưa ra Trong khi ghi, dữ liệu ECC cũ bị thay thế bởi dữ liệu ECC mới nhận được cho các dữ liệu
vùng ECC cia đoạn là được ghi vào sau khi định đạng Tất cả các phần dữ liệu còn lại khác của đoan không được đụng đến trừ khi ổ đĩa được định đạng lại Nếu vấn đề lưu giữ lâu khiến cuối cùng 1 hay nhiều bit bị hỏng trong vùng địa chỉ, đoạn đó sẽ hỏng
SỰ GHI THE0 VÙNG
Thuở ban đầu của ổ cứng, mỗi rãnh đều có cũng một số lượng đoạn giống nhau (64, hay 0 tới 63) Các ổ này đã hoạt động tốt, nhưng những nhà thiết kế nhận ra rằng đối với một ổ đĩa có vận tốc góc không đổi (CAV), dữ liệu được ghi
Trang 1018 Tìm hiểu về Ö đĩa cứng
chặt hơn ở các rãnh trong là nơi có chu vi nhỏ
hơn, và rời hơn ở những rãnh ngoài là nơi có chủ
vi lớn hơn Tính năng đã biết là ghi theo vùng đã
được bổ sung cho ổ đĩa, cho phép có cúc số khác
nhau của rãnh,Tổng số rãnh được phân chia thành
một số vùng (16 vùng) Tất cả các rãnh trong một
vùng sử dụng cùng một số đoan, nhưng các vùng
trong sử dụng ít đoan hơn, trong khi các vùng
ngoài sử dụng nhiều đoan hơn Sự ghi theo vùng
cho phép ổ đĩa sử dụng hữu hiệu hơn khoảng lưu
trữ của nó Sự ghi theo vùng được điều khiển bởi
chính ổ đĩa, vì thế bạn vẫn có thể đưa vào một số
nhat dinh trong muc “Sectors per track” khi cài
đặt CMOS Các ổ cứng ngày nay có thể chạy từ
195 tới 312 đoạn trong một rãnh
BOAN DỰ TRỮ (SỰ QUẢN LÝ LỖI)
Không phải tất cả các đoạn trên một ổ cứng
đêu có thể sử dụng được Khi ổ đĩa được định
dạng, các đoạn xấu phải được loại bỏ khỏi việc sử
dụng bình thường Quá trình dự trừ hoạt động đề
bao dam rằng môi rãnh đều tiếp cận với một số
lượng thích hợp của các đoạn có thê hoạt động
hi việc dự trừ được Lhực hiện trong tuyến (khi ổ
đĩa đang được định dạng) các đoạn hỏng sẽ làm
cho tất cả các đoạn sau nó chuyển thành một đọan
Kiểu dự trữ này không được sử dụng rộng rãi Kiểu
dự trữ hỏng hóc theo vùng (sau khi quá trình định
dạng được hoàn tất) ấn định các đoạn hỏng cho
các đoạn khác đang hoạt động nằm trong các rãnh
dự trữ của đĩa được để dành cho mục đích này Ví
dụ như các ổ cứng EIDE/UDMA su dụng sự dy trữ
hồng hóc theo vùng Nó để dành nguyên 16 rành
cho các đoạn dự trữ (thường được gọi là vùng quản
lý hỏng hóc) Các đoạn hỏng thường được đánh
dấu để phân định lại khi đĩa được định dạng
Tim hi
Nơi duy nhất mà các đoạn hỏng tuyệt đối không được phép là ranh 00 Rãnh 00 được sử dụng để chứa thông tin ngăn chia va thông tin
FAT của ổ cứng Nếu ổ đĩa không thể đọc hay ghỉ
vào rãnh 00, toàn bộ ổ đĩa không thể sử dụng được Nếu một đoạn trong rãnh 00 bị hỏng trong
khi vận hành, việc định dạng lại ổ đĩa để khóa
các đoạn hỏng sẽ không đạt được sự hoạt động bình thường cần thiết của ổ đĩa Sự hỏng rãnh 00 thường đòi hỏi phải định dạng lại ổ đĩa từ đầu
hoặc thay toàn bộ nó
VUNG HẠ XUONG
Các đầu đọc/ ghi của ổ cứng bay trên một độ cao siêu nhỏ trên bê mặt đĩa nền tương ứng của chúng Chúng được giữ ở trên cao nhờ các dòng không khí được tạo bởi các đĩa nên quay Tuy nhiên khi ổ đĩa bị tắt, các đĩa nên quay chậm lại đến khi đừng hẳn Trong giai đoạn giảm tốc độ quay này, các dòng không khí hạ xuống rất nhanh,
và các đầu từ có thể va chạm thật sự với bể mặt của đĩa nên, Bất cứ khi nào đầu từ chạm vào bễ mặt đĩa nền, đữ liệu đều có thể bị phá hủy không thể phục hồi được Thâm chí trong khi hoạt động bình thường, sự va chạm bất ngờ có thể làm cho một hay nhiều đầu từ trượt trên bề mặt đĩa Mặc
du 6 đĩa thường có thể được dinh dang lai sau khi
có sự va chạm đầu từ, nhưng các dữ liệu và chương trình sẽ phải được nạp lại từ điểm xuất phát
Để tránh sự va chạm đầu từ trong quá trình giảm tốc quay bình thường, một hình trụ sẽ được
để đành (hình trụ ngoài cùng hoặc trong cùng) như một vùng hạ xuống (L⁄Z) Không dữ liệu nào được ghi trong vùng hạ xuống, vì thế các vấn đẻ bất kỳ về bể mặt gây bởi sự hạ xuống của đầu từ đầu vô hai Tất cá các ổ cứng ngày nay đều tư
Trang 1120 Tìm hiểu về Ổ đĩa cứng
động chuyển dịch cụm đầu từ đến vùng hạ xuống
trước khi giảm tốc độ quay, sau đó từ từ khóa đầu
từ vào vị trí cho đến khi năng lượng được khôi
phục lại Việc khóa này giúp bảo đảm rằng sự va
chạm và sự rung ngẫu nhiên không làm lay chuyển
đầu từ sang các rãnh mang dữ liệu bên cạnh và
gây tổn hại trong khi năng lượng bị ngắt Cac 6
cứng cũ hơn đòi hỏi một mục "vùng hạ xuống" xác
định trong phần cài đặt CMOS Nhưng ngày nay
quá trình này hoàn toàn tự động, vì thế bạn có
thể chỉ nhập 0 cho L⁄Z, hay cho phép hệ thống tự
dò tìm LZ
SU CHEN VAO
Sự chen vào của một ổ cứng ngụ ý chỉ thứ tự
mà trong đó các đoạn được đánh số trên một đĩa
nên Sự chen vào là yếu tố quan trọng trong các
hệ thống máy tính để bàn cũ, ở đó các mạch logic
cốt lõi (CPU và bộ nhớ) khá chậm so với hoạt
động của ổ đĩa Cần phải tạo lập một sự trì hoãn
nhân tạo trong ố đĩa để cho phép mạch logic cốt,
lõi theo kịp Sự trì hoãn này được thực hiện bằng
cách ngăn tách các đoạn (đánh số các đoạn liên
tiếp không theo thứ tự) Kiểu đánh số này buộc ổ
đĩa đọc một đọan, rồi bỏ cách một hay nhiều đoạn
(1, 2, 3 hoặc hơn) để đến được đoạn có thứ tự kế
tiếp Thực tế, các ổ đĩa có lệnh "chèn" phải thực
hiện một số vòng quay trước khi tất cả các đoạn
trên rãnh có thể được đọc
Tỉ số giữa độ dài của đọa với khoảng cách
giữa hai đoạn có thứ tự kế tiếp nhau được gọi là
thừa số chèn Ví dụ như nếu ổ đĩa đọc một đoạn
và bỏ cách một đoạn để đến được đoạn có thứ tự
kế tiếp, thừa số chèn sẽ là 1:3, và vân vân Sự
chèn càng lớn càng cầnnhiều vòng quay để đọc
được tất cả các đoạn trên một rãnh, và ổ đĩa càng
chậm Để đạt được hoạt động tốt nhất của đĩa, sự
chèn phải bị loại trừ Vì ổ đĩa và các mạch logic giao diệnngày nay nhanh hơn nhiều so với ổ cứng
thậm chí nhanh nhất, nên vấn để chèn bây giờ không còn thích hợp rộng rãi nữa Các ổ đĩa không còn chèn các đoạn của nó nữa, vì thế tất cả các
đoạn đều được đánh thứ tự theo một trình tự liên
tiếp quanh rãnh, và thừa số chèn là 1:1 - tất cá các
đữ liệu trên một rãnh có thể được đọc trong một, vòng quay đĩa (sự tiểm ẩn âm) Thừa số chèn 1:1 tạo ra hoạt động tối ưu của ổ đĩa
Như một quy luật, không được phép dùng tiện ích
bất kỳ của ổ đĩa để điều chỉnh hay "tối ưu hóa" sự chèn của ổ đĩa Việc thay đổi sự chèn không chỉ phá hủy dữ liệu hiện hiú., mà còn có thể làm suy giảm nghiêm trọng hoạt động của ö đĩa
SỰ BÙ GHI TRƯỚC
Như bạn đã thấy, ổ cứng quay đĩa nền của nó
ở vận tốc không đổi Điều này được gọi là vận tốc góc không đổi (CAV) Mặc dù sự quay không đổi chỉ đòi hỏi một mạch động cơ rất đơn giản, nhưng các yêu cầu bổ sung lại đòi hỏi đối với môi trường Các rãnh nằm gần trục quay hơn thì ngắn hơn các rãnh ở phía rìa đĩa nên Các rãnh ngắn hơn dẫn đến các đoạn ngắn hơn Đối với các đoạn trong, để chứa được cùng lượng thông tin như các đoạn ngoài, dữ liệu phải được gói chặt hơn ở các đoạn trong - mỗi sự biến đổi từ thông thực tế sẽ gần nhay hơn Đang tiếc là những sự biến đổi từ thông nhỏ hơn tạo ra các từ trường yếu hơn trong các đầu đọc/ ghi khi đọc
Nếu các đoạn trong được ghi với từ trường mạnh hơn, sự chuyển đổi thông lượng được hứu
Trang 1222 _ Tìm hiểu về Ổ đĩa cứng
trong môi trường sẽ mạnh hơn Khi các đoạn trong
được đọc, một tín hiệu rõ rằng hơn, được xác định
tốt hơn sẽ được tạo ra Việc sử dụng dòng ghí gia
tăng để bù sự phản hỏi suy giảm của đĩa được gọi
là sự bù ghi trước (WP) Ranh ma ở đó sự bù ghi
trước được mong muốn khởi đầu được xác định
trong bảng thông số của ổ đĩa trong phần cài đặt
CMOS Su bu ghi trước đóng vai trò quan trọng
trong các ổ đĩa thuở ban đầu sử dụng môi trường
củ dựa trên các oxyt Môi trường màng mỏng ngày
nay và các kích thước hình học rất nhỏ của ê đĩa
(kết hợp với các kỹ thuật ghi theo vùng) dẫn
đếnnhững sai biệt tín hiệu thấp trên khắp diện
tích đĩa nền, vì thế sự bù ghi trước anặc dù vẫn
được xác định rõ) rất hiếm khi còn có ý nghĩa
thêm nữa Trong hầu hết các trường hợp bạn có
thể nhập 0 cho WP, hoặc cho phép hệ thống tự
déng dd tim WP
CAC THONG SO CUA Ổ ĐĨA VÀ SỰ CHUYỂN DỊCH
Bạn có thể nói nhiều về ổ đĩa bằng cách xem
lại các thông số của nó Xét Maxtor 88400D8 được
thể hiện trên bảng 23-1 Với 16 đầu, 63 đoạn
trên một rãnh, và 16.278 rãnh (hình trụ), dung
lượng làm việc là (16.278 x 16 x 65 x 512) =
8.401.010.688 byte (hay 8.4GB)
Có hai điều thú vị cẩn lưu ý về ổ các ổ đĩa,
“Thứ nhất, các mục bù ghi trước và vùng hạ xuống
không được sử dụng một cách thiết yếu Trong
hầu hết các trường hợp, vùng hạ xuống hiện nay
là tính năng tự động của một ổ đĩa riêng Vấn đề
thứ hai được xem xét là những con số này là các
số logic, không phải là vật chất Hình dung rằng
với hai đầu từ trên một đĩa nền, bạn cần 8 đĩa
nền để trợ giúp 16 đầu từ - không thích hợp với
các ổ đĩa có hình dạng nhỏ ngày nay Ngoài ra
nhau vì có các kỹ thuật ghi theo vùng Điều này nghĩa là các thông số ổ đĩa mà bạn nhập vào CMOS là các thông sô diễn địch Phần điện tứ trên ổ đĩa sẽ tự biến đổi (hay dịch) những thông
số này thành những vị trí vật lý thực tế của ổ đìa
THỦI GIAN KHỦI ĐỘNG
Việc khởi động máy tính có thể mất chừng 30 giây - thường là nhiều hơn thế Một vài giây trong
số thời gian này là sự trì hoãn cần thiết để khởi động ổ cứng Từ thời điểm mà năng lượng được cung cấp cho ổ cứng, nó có thể lấy khoảng 7 - 10 giây bất kể lúc nào để bộ điều khiển trên bảng mạch của ổ đĩa khởi động và kích hoạt ổ đĩa ở nơi
mà nó có thể được nhận biết bởi POST cúa hệ thống Khoảng thời gian này được gọi là thời gian khởi động của ổ đĩa Các vấn đề khởi động với một ổ cứng mới thường gây bởi sự trì hoãn không
đủ trong thời gian khởi động BIOS cố gắng kiểm tra sự có mặt của ổ cứng mà không có thời gian
để kích hoạt
CÁC SỰ XÁC ĐỊNH KIỂU NĂNG LƯỢNG Các ổ cứng hiện đại không đơn giản chỉ 'tắ
và "bật" Chúng hoạt động ở một trong một số kiểu, và mỗi kiểu đòi hỏi nâng lượng khác nhau cho hệ thống chủ Đây là điều hết sức quan trọng
vì các PC ngày nay đang trở nên tỉnh táo với năng lượng, vì vậy khả năng điều khiển năng lượng của ổ đĩa là một phần không thể thiếu của các hệ thống duy trì năng lượng của PC Cac 6 cứng tiêu biểu hoạt động ở một trong 5 kiểu năng lượng khác nhau:
khi có nàng lượng ban đầu và chưa đạt
Trang 1324 Tìm hiểu về Ố đĩa cửng
được đẩy đủ tốc độ Điều này đòi hỏi
khoảng 14W và là nhu cẩi riêng của việc
cấp năng lượng (Nếu việc cấp năng lượng
đạt đến rìa hay bị quá tải, ổ cứng có thể
sẽ không tăng tốc quay thích hợp)
® Tìm hiếm Đây là hoạt động tiếp cận ngẫu
nhiên thực hiện bởi ổ đĩa khi nó cố gắng
định vị trí rãnh được yêu cầu để đọc hay
ghỉ Hoạt động này đòi hỏi khoảng 8.5 -
9W
@ Doc/ ghi Su tim kiếm đã được hoàn tất,
và dữ liệu đã được đọc hay ghi vào ổ đĩa
Hoạt động này sử dụng khoảng 5W
® Chạy không Đây là kiểu duy trì năng
lượng cơ bản, ở đó ố dia dang quay va tat
cả các mạch điện khác cũng bật lên, nhưng
bộ phận khởi động đầu từ lại ở nguyên và
ngắt năng lượng Điều này làm giảm nhu
cầu năng lượng xuống còn khoảng 4W,
còn ổ đĩa có khả năng phản hồi để đọc
các lệnh trong vỏng 40mS
® Chờ Động cơ trục không chạy (ổ đĩa giảm
* quay) Day la kiểu duy trì năng lượng chủ
yếu, nó chỉ đòi hỏi 1W Mất khoảng vài
giây để ổ đĩa rời khỏi kiểu này (quay
nhanh lên) khi nhận được lệnh đòi hỏi sự
tiếp cận ổ đĩa
CÁC KHÁI NIỆM CỦA Ổ CỨNG IDE/ElDE
Các ổ cứng IDE đã tiến xa kể từ khi được giới
thiệu vào cuối thập kỷ 1980 Trong thực tế, công
nghệ IDE đã tiến xa như vậy nên rất khó giữ
tính đúng đắn cho tất cả các khái niệm Hãy bắt
đầu bằng cách xem xét các khái niệm và thuộc
tính quan trọng của nó
Tìm hiểu về Ổ đĩa cứng Megabyte nhi phan so véi megabyte thap phan Nhiéu ngudi biét ring kich thuée 6 eting duge
do b&ng megabyte (MB) hay gigabyte (GB) Tuy nhiên những người mới vào nghề và các kỹ thuật
viên nhiều kỉnh nghiệm đều thường nhầm lẫn
như nhau về sự khác nhau giữa "megabyte nhị
phân" và "megabyte thập phân" (cũng như đối
với megabyte) Ví dụ như bạn nhận thấy rằng khi lắp một ổ cứng 4GB mới, các tiện ích như phan cai dat CMOS, FDISK, va Windows Explorer
sẽ chỉ báo cáo khoảng 3.72GB, nhưng các tiện ích khác như CHKDSE báo cáo khoảng 4GB Sự khác nhau này thường gây nhầm lẫn, nhưng đó là do cách tính toán dung lượng đĩa của các nhà sản xuất và các nhà chế tạo phần mềm Về mặt kỹ thuật, dung lượng ổ cứng được tính bằng cách nhân các số hình trụ, số đoạn và số đầu và số 512 với nhau như sau:
Để so sánh, ổ đĩa AC34000 với 7752 hình trụ,
16 đầu, và 63 đoạn sẽ có dung lượng:
7752 x 16 x 68 x 512 = 4.000.776.192 byLe
Vấn để là ở chỗ các nhà sản xuất ố cứng sử đụng quan niệm megabyte thập phần (hay gigabyte thập phân) để xáx định kích thước các ở cứng của họ Để tính kích thước ổ đĩa bằng megabyte thập phân, chỉ cần chia kích thước ổ dia cho 1.000.000 (hay 1.000.000.000 đối với GB) Đối với AC2850 bạn có:
853.622.784/ 1.000.000 = 853.6 MB
Trang 1426 Tìm hiểu về Ổ đĩi
Đối với AC34000 bạn có
4.000.776.192/ 1.000.000.000 = 4.0 GB
Vấn đẻ là nhiều nhà sáng tạo phần mẻm sử
dụng megabyte nhị phân (hay gigabyte nhị phân)
để tính kích thước ổ đĩa Một megabyte nhị phân
là 1.048.576 byte, và 1 gigabyte nhị phân là
1.073.741.824 byte; vì thế ử đây có bao nhiêu phần
mềm sẽ trình báo A2850:
853.622.784 byte/ 1.048.576 = 814 MB
Và sau đây là sự tính toán cho AC34000:
4.000.776.192 byte / 1.073.741.824 = 3.72GB
Đây là hai cách đơn giản hơi khác nhau biểu
diễn các ổ đĩa giống nhau, vì thế cá hai phương
pháp đều đúng Vấn để quan trọng ở đây là bạn
nhận biết được sự khác nhau này và không hiểu
sai rằng sự khác nhau đó là một vấn để gắp phải
vdi 6 dia
IDE/ATA
IDE (Integrated Drive Electronics) va ATA (AT
Attachment) vé co ban đều như nhau - một so dé é dia
được thiết kế để tích hợp bộ điều khiển trên chính ổ
đĩa của nó thay vì nằm trên một bảng điều khiển đứng
rièng như ở trong các ổ đĩa MEM và RLL cũ hơn Cách
giải quyết này làm giảm các chỉ phí giao điện và khiến
cho việc thực hiện của phần sụn ổ đĩa dé đàng hơn
IDE đã được chứng tỏ là một hệ thống dễ định cấu
hình, chi phi thấp - đến nỗi mà nó tạo ra một sự bùng
nô trong công nghiệp ổ đĩa Mặc dù các thuật ngữ IDE
và ATA đôi khi được sử dụng lẫn lận với nhau, ATA là
tiêu chuẩn chính thức xác định ổ đĩa và cách thức nó
vận hành, trong khi IDE thật ra là tên thương mại chỉ
giao diện 40 chốt và cấu trúc điều khiến ổ đĩa được
thiết kế để thực hiện tiêu chuẩn ATA
ATAPI Một trong những nhược điểm chính của ATA
là nó được thiết kế chỉ để cho ổ cứng Với sự giới thiệu các ổ đĩa CD-ROM vào cuối thập kỷ 1980 các nhà thiết kế cần một phương tiện để gắn CD- ROM (và các thiết bị khác như ổ băng) vào giao diện ATA (TDE) hiện hữu - hơn là sử dụng một
thể điều khiển (có sở hữu) đứng một mình ATA
Packet Interface (ATAPI) là sự mở rộng của giao
diện ATA (IDE) được thiết kế đổ cho phép các
thiết bị không phải là ổ cứng cắm vào một cổng
ATA (IDE) binh thường Trong khi các 6 cứng
thích ATA (IDE) trợ giúp qua BIOS, các thiết bị
ATAPI đòi hỏi một bộ phận điều khiển thiết bị
trợ giúp chúng Việc khởi động từ một CD-ROM ATAPI chỉ có thể thực hiện với một CD-ROM El Torito va BIOS mới nhất,
ATA-2, Fast-ATA va EIDE Vào đầu thập kỷ 1990, rõ ràng là cấu trúc ATA sớm bị áp đảo do những tiến bộ trong công nghệ ổ cứng Ngành công nghiệp ổ cứng đã đáp trả bằng sự phát triển tiêu chuẩn ATA-2 như một
sự mở rộng của ATA ATA-2 được xem như sự cải tiến đáng kể cho ATA Nó xác định các kiểu truyền
dữ liệu PIO (I/O được lập trinh) va DMA (Direct
Memory Access) nhanh hơn, bổ sung thêm các
lệnh mạnh hơn (như lệnh "Identify Drive" dé trợ
giúp sự nhận dạng tự động trong CMOS), bổ sung
sự trợ giúp cho một kênh ổ đĩa thứ hai, điều khiển việc truyền khối dữ liệu (Block Transfer Mode),
và xác định một công cụ mới định địa chỉ các đoạn trên ổ cứng bằng cách str dung Logical Block Addressing (LBA) LBA đã được chứng tỏ là một phương tiện rất hiệu quả để khác phục giới
vã kich thitde ate & ovine ROQMR xài
Trang 15_28 Tìm hiểu về Ổ dĩa cứng
Nhưng ATA-2 tiếp tục sử dụng giao diện vật chất
40 chốt giống như được sử dụng bởi ATA và tương
thich nguoe vdi cde 6 dia ATA (IDE)
Cùng với ATA-2, co lẽ bạn sẽ tim thấy hai
thuật ngữ bổ sung: EIDE (Enhanced 1DE) và Fast-
ATA Đây không phải là các tiêu chuẩn - chi đơn
thuần là những bổ sung khác nhau của tiêu chuẩn
ATA-2 EIDE biểu diễn sợ bổ sung Western Digital
của ATA-2 được xây dựng dựa trên ca hai tiêu
chuẩn ATA-2 và ATAPI Điều này hiệu quả đến
nỗi mà EIDE trở thành thuật ngữ "chưng" Seagate
và Quantum đã quẳng sự trợ giúp của họ đằng
sau sự bố sung Fast-ATA của tiêu chuẩn ATA-2
Tuy nhiên Fast-ATA được xây dựng chỉ trên ATA-
3 Đối với tất cả các mục tiêu thực tế, không có sự
khác nhau đáng kể giữa ATA-2, EIDE và Fast-
ATA, và có lẽ bạn sẽ thấy ba thuật ngữ này được
chính xác về mặt kỹ thuật)
ATA-3
Sự bổ sung mới hơn của tiêu chuẩn ATA là
ATA-3 Nó không xác định các kiểu truyền đữ
liệu mới, nhưng nó cải thiện độ tin cậy của kiểu
PIO 4 Nó cũng đưa ra sơ đồ bảo vệ đơn giản dựa
trên mật khẩu, các tính năng quản lý năng lượng
phức tạp hơn, và Self-Monitoring Analysis va
Reporting Technology (SMART) ATA-3 cũng
tương thích ngược với các thiết bị ATA-2, ATAPI,
và ATA Vì ATA không xác định các kiểu truyền
dữ liệu mới, nên có thể bạn cũng thấy thuật ngữ
chung EIDE được sử dụng lẫn lộn (mặc dù nó
không được chính xác về mặt kỹ thuật)
bổ sung của Ultra-ATA thường được gọi là UHra-
DMA/33 (hay UDMA/33) Bạn sẽ cần một ổ đĩa Ultra-ATA, một bộ điều khiển, và BIOS để trợ
giúp một hệ thống ổ đĩa Ultra-ATA, nhưng thường
nó hoàn toàn tương thích ngược các chuẩn ATA trước đây Bạn có thể sử dụng cáp loại IDE 40 chốt thông thường cho UDMA/33 trờ khi một trong các vấn để sau xảy ra:
® Cáp tiêu chuẩn chất lượng htấp hai hay bi yéu di do lap dat nhié
® Hệ thống chịu mức ôn tín hiệu quá mức Những hệ thống này có thể có nhiều ổ đĩa, hai nguồn cấp năng lượng, hay một CRT tích hợp
cấu hình ngoài các chỉ tiết kỹ thuật được nhà sản xuất trợ giúp)
ULTRA-ATA/66 Tiéu chudn Ultra-ATA cho ATA/ATAPI-4 được nâng cấp để trợ giúp tốc độ truyền dữ liệu DMA 66MB%s của thanh chủ tính năng cao Sự bổ sung mới hơn này của Ultra-ATA thường được gọi là UItra-DMA/66 (hay UDMA/66) Bạn sẽ cần một ổ đĩa Ultra-ATA/66, một bộ điều khiển, và BIOS để trợ giúp hệ thống ổ đĩa Ultra-ATA, nhưng thường
nó hoàn toàn tương thích ngược các chuẩn ATA trước đây Không giống như Ultra-ATA/33, bạn không thể sử dụng cáp dạng IDE 40 chốt thông
ối các ô đĩa và bộ điều khiển Thay
thường để nố
vào đó, bạn phải sử dụng cáp 40 chốt/80 dây dẫn
Trang 1630 _ Tìm hiểu về Ổ đĩa cứng
với cdc 6 đĩa UDMA/66) Ngoài ra phải nhớ răng
hệ điêu hành phải có thể thích hợp cho việc truyền
DMA
Dưới day là những vấn để thường gặp của
UDMA/66 mà bạn cần nhận thức được:
sử dụng cho UDMA/66 Cáp tương thích
với UDMA/66 là cáp 40 chốt/80 đây dẫn
với đầu nối đen ở đầu dây này, và đầu nối
xanh ở đầu kia, và đầu nối xám ở giữa
Ngoài ra 34 chốt trên cáp phải được khía
hay cắt (dù điểu này có thể khó thấy được
thể phát hiện sai sự có mặt của cáp LJltra-
ATA/66 và cố định cấu hình thiết bị cho
một tốc độ truyền cao hơn
mạch chính) của hệ thống không thể điều
khhiến thành công Ultra-ATA/66 trên cả
hai kênh sơ cấp và thứ cấp Nếu bạn gặp
khó khăn với thiết bị UDMA/66 trên kênh
điều khiển thứ cấp, hãy xem xét giải quyết,
sự cố với thiết bị trong vị trí chủ sơ cấp
4® Nếu bạn gặp sự cố do hệ thống UDMA/66
được định dạng không thích h ợp, liên hệ
với nhà sản xuất thẻ điều khiển hay bảng
mnạch (bảng mạch chính) của hệ thống để
lấy được phần nâng cấp BIOS mới nhất
{vA ede whan điển khiển hav nhần hổ simơ
của thiết bị Ultra-ATA/66)
với DMA, và xác minh rằng kiểu DMA
được kích hoạt Đối với Windows 95/98,
kiếm tra hộp thoại Properties của ổ đĩa
trong Device Manager
+ Bảo đảm rằng ổ đĩa có năng lực Ultra- ATA/66 được định cấu hình để chạy ở các tốc độ truyền của Ultra-ATA/66 Một số ổ đĩa được gắn với kiểu UDMA/66 bị làm
mất hiệu lực bởi mặc định và đòi hỏi sự
thay đổi cầu nối nhảy cóc và/ hay tiện ích
phần mềm để kích hoạt kiếu UDMA/66
CÁC TỐC ĐỘ TRUYỀN DỮ LIỆU
Tốc độ truyền đữ liệu đóng vai trò chính trong
sự hoạt động của ổ đĩa Trong thực tế, có hai phương pháp đánh giá việc truyền dữ liệu: tốc độ
mà tại đó dữ liệu được lấy từ đĩa và tốc độ mà tại
đó đữ liệu được chuyển đi giữa ổ đĩa và bộ diều khiển Sự truyền dữ liệu bên trong giữa các đĩa
và bộ đệm của ổ đĩa thường là tốc độ chậm hơn Cae 6 dia cũ có thể chạy ở khoảng SMB/giây, nhưng các ổ đĩa Ultra-ATA mới hơn như Maxtor DiamondMax 2160 chạy ở 14MB4s Sự truyền dữ liệu bên ngoài giữa ổ đĩa và bộ điều khiển ("tốc độ giao diện")thường là tốc độ nhanh hơn Các ổ đĩa
cũ có thể chạy ở khoảng từ 5 - 8 MB/s, nhưng các ổ đĩa ATA-2 (EIDE) có thể vận hành ở tốc độ tới 16MB/s Các ổ đĩa Ultra-DMA/33 có thể chạy ở 33MB4s, và các ổ đĩa Ultra-DMA/66 có thể vận hành việc truyền dữ liệu ở 66MB/s Các tiêu chuẩn hiện đại của việc truyền đữ liệu bên ngoài IDE/ EIDE được ghi như kiéu PIO (Programmed 1/O)
va DMA (Direct Memory Access), Kiéu PIO xác dinh téc dé truyén dữ liệu vào và ra khỏi ổ đĩa
Trang 17
32 Tìm hiểu về 6 dia cứng
nhanh như thế nảo, như được trình bảy trên bang
23-2
Bạn có thể lưu ý rằng các kiểu EIDE xác định
{PIO-3 và PIO-4) sử dụng tuyến điều khiển dòng
phần cứng IORDY Điều này nghĩa là ổ đĩa có thể
sử dụng tuyến IORDY để làm chậm giao diện khi
cần thiết Các giao diện không có sự trợ giúp
IORDY thích hợp có thể gây ra sự sai lạc dữ liệu
trong các kiểu PIO nhanh (vì thế bạn bị kẹt với
các kiểu chậm hơn) Khi chon iva 6 dia EIDE va
bộ điều khiển, luôn bảo đảm kiểm tra rằng tuyến
TORDY đang được sử dụng
Việc truyền đữ liệu DMA có nghĩa là đữ liệu
được truyền trực tiếp giữa ổ đĩa và bộ nhớ mà
không sử dụng CPU như một bộ phận trưng gian
(như là trường hợp với PIO) Trong thực tế các hệ
điều hành đa chức năng như OS/2, Windows NT,
hay Linux, việc truyền DMA cho phép CPU tự do
thực hiện một điều gì đó có ích trong khi đang
truyền đĩa Trong môi trường DOS hay Windows,
CPU sẽ phải chờ cho việc truyền dữ liệu kết thúc,
vì thế trong những trường hợp này việc truyền
DMA không đưa ra nhiều ưu điểm đa chức năng
như thế Có hai kiểu tiếp cận bộ nhớ trực tiếp
(DMA) rõ rệt: DMA thông thường và DMA thanh
chủ DMA thông thường sử dụng bộ điều khiển
DMA trên bảng mạch chính của hệ thống để thực
hiện nhiệm vụphân xử phức tạp, túm lấy thanh
chủ, tất cả đều được thực hiện bởi mạch logic
trong chính bộ điều khiển của ổ đĩa
Đáng tiếc là bộ điều khiển DMA trên các hệ
thống thanh ISA khá chậm - và nằm ngoài vấnd
đề đối với việc sử đụng với một đĩa cứng hiện đại
Các thẻ điều khiển thanh VŨ không thể được sử
dụng như các mục tiêu DMA, và chỉ có thể điều khiển DMA thanh chủ Chỉ các giao diện dựa trên
PCI và EISA làm cho DMA không thanh chủ có
thể tần tại được: DMA ”B" kiểu EISA sẽ truyền
4MB/s, va DMA "E" kiểu PCIsẽ truyền ở khoảng giữa 6 và 8MB/s Ngày nay, sự trợ giúp thích hợp
của phần mềm đối với DMA là khá hiếm (cũng
như các giao diện trợ giúp nó)
TRUYỀN KIỂU KHỐI
Theo truyền thống, sự gián đoạn (IRQ) được tạo ra mỗi lần lệnh đọc hay ghi được đưa tới ổ đĩa Điều này khiến cho một lượng tổng chỉ phí
nào đó làm việc cho hệ thống chủ và CPU Nếu có
thé truyén nhiều đoạn dữ liệu giữa ổ đĩa và máy chủ mà không tạo ra [R@, việc truyền đữ liệu có thể được thực hiện hiệu quả hơn nhiều Việc truyền kiểu khối cho phép tới 128 đoạn đữ liệu được truyền
đi tại cùng một thời điểm, và có thể cải thiện việc truyền dữ liệu tới 30% Tuy nhiên việc truyền kiểu khối không có hiệu quả ghê gớm trên các hệ điều hành một nhiệm vụ nhu DOS - sy cai tiến bất kỹ với vài phần trăm thường báo hiệu sự quản
lý lưu trữ đệm tải trên một phần của ổ đĩa Tóm
lại kích thước khối tối ưu cho công suất ổ đĩa
không phải luôn là điều tốt nhất cho hoạt động của hệ thống Ví dụ như hệ thống tập tin BOS FAT có khuynh hướng thích dùng kích thước khối bằng với kích thước một cụm (cluster)
CÁC KHÁI NIỆM VỀ THANH GHỦ Thanh chủ là sự tăng cường hoạt động cao
“cho giao diện của bộ điều khiển ổ đĩa trên hệ thống của bạn (Bạn có thể thấy một số bảng mạch chủ hay bộ vi mạch đề cập đến sự trợ giúp
như "BM-IDE) Khi Được định cấu hình thích hợp,
thanh chủ sử dung viêc truyền dữ liêu DMA để
Trang 1834 Tìm biểu về Ổ đĩa cứng
giảm tải trọng công việc của CPU khi nó đến lưu
trữ hay gọi lại dữ liệu từ ổ đĩa ELDE/IDE tnhư ổ
cứng hay CD-ROM ATAPI), Khi so sánh, các kiểu
truyền dữ liệu PIO là kiểu rất tăng cường cho
CPU Thanh chủ đặc biệt có ích nếu bạn có các
ứng dụng tăng cường đĩa nhiều chức năng dang
chạy đồng thời Nhiều PC hiện đại trợ giúp thanh
chủ, nhưng để thực hiện hầu hết các khả năng
của thanh Chủ, hệ thống của bạn phải có tất cả
các yếu tố sau:
phải tương thích với thanh chủ IDE
® Bạn cần một thiết bị EIDE/IDE tương
thích thanh chủ (ổ đĩa, CD-ROM) trợ giúp
các kiểu ”DMA nhiều từ"
Bạn có thể sử dụng các thiết bị IDE thanh
chủ và IDE không thanh chủ trong cùng hệ thống,
nhưng các thiết bị IDE không thanh chủ sẽ làm
giảm toàn bộ hoạt động củacác thiết bị thanh
chủ Tuy nhiên IDE thanh chủ không phải là
“thuốc trị bách bệnh" cho các vấn dé hoạt động
của hệ thống Trong thực tế thanh chủ sẽ không
có lợi đáng kể cho hệ thống nếu bạn chạy các ứng
dụng của DOS, hoạt động chỉ với các ứng dụng
đơn tại một thời điểm, hay sử dụng các đa ứng
dụng không tăng cường đĩa
Các phân điều khiển thanh chủ IDE củaWindows 95/
98
Như bạn đã thấy ở trên, bạn cần có một phần
điều khiển thanh chủ để trợ giúp hệ điều hành
của bạn (đó là Windows 95/98) Phiên bản thương mai của Windows 9ð chỉ đưa ra giải pháp chung (ESDI-506.PDR) và phiên bản được dưa ra với OSR2 v4n cón khá cơ bản Phần điều khiển thanh
hoạt động tốt hơn Để có hoạt động tot nhất, bạn phải sử dụng phần điều khiển thanh chủ đi kèm
bảng mạch chính hay một bộ điểu khí n 6 dia
tra một số nguồn sau để có các phần điều khiển thanh chủ hiện hành:
Intel Bus Master Driver 3.0: http:
Intel Bus Master Driver 2.85: http: ASUS Bus Master Driver : ftp:
Elitegroup (ECS) Bus Master Driver: ftp:
Tyan Bus Master Driver 2.0: ftp:
Các vấn để của phần điều khiển thanh chủ trong
Windows 95/98
Mặc dù thanh chủ có thể tăng cường rõ rệt hoạt động ổ đĩa cua một bệ thống đa chức năng, bận rộn, nhưng nó vẫn có những vấn đề của nó Rhi nó gọi ra, các vấn để của phần điều khiển thanh chủ là những vấn để thường thấy nhất
Hai vấn đề phổ biến nhất là (1) CD-ROM hay
HDD dạng IDE trên kênh ổ đĩa thứ cấp biến mất sau khi cài đặt phần điều khiển thanh chủ, và (2) Windows 95/98 cần nhiều thời gian để khởi động
Trang 19—86 Tìm hiểu về Ổ đĩa cứng
sau khi eac1 phần điều khiển thanh chủ được cài
đặt vào
Trong cả hai trường hợp, bạn cần lưu ý rằng
kênh điều khiển thứ cấp (IDE) không còn xuất
hiện trong Device Manager nữa Điều này là do
các phần điều khiển thanh chủ không trợ giúp
chính xác các bộ điều khiển ATA (IDE) Bạn cần
cài đặt phần diều khiển thanh chủ cho kênh ổ
dia so cap (EIDE) va để phan điều khiết PIO
đúng chỗ để trợ giúp kênh 6 dia thứ cấp Cài đặt
phần điều khiển thanh chủ, rồi sau đó thay đổi
phần đăng ký để ra lệnh lại cho kênh ổ đĩa IDE
thứ cấp sử dụng lại phần điễukhiển chuẩn:
Việc thay đổi phản đăng ký của Windows 95/
98 có thể tác động sâu sắc đối với hệ thống
của bạn, hoặc thậm chí có thể ngăn hệ thống
khỏi sự khởi động Luôn thực hiện sao chép dự
phòng các tập tin đăng ký ban đầu
(578STEM.DAT và USER.DAT) trước khi thử
sửa đổi chúng
ee
tim muc HKEY-LOCAL-MACHINE/System/
CurrentControlSet/Services/Class/hac
2 C6 4 thu muc con: 0000 - 0003
3 Tim thy muc con mà ở đó DriverDese đọc một
điều gì đó kiểu như "Primary Bus Master
controller" hay "Secondary Bus Master con-
troller", tùy theo cổng mà bạn muốn thay đổi
(phải là 0009 hay 0003) Thích hợp nhất là
bạn cần thay đổi mục thứ cấp
4 Trongthư mục này, thay đổi PortDriver từ
ESDI-506 (hay bất cớ phần điều khiến thanh
chủ nào mà bạn đang sử dụng) thành
IDEATAPI.MPD
5 Bạn cũng có thể thay đổi DriverDesc thành
một diéu gi dé nho “Standard IDE/ESDI controller", m4 né sé tao ra mét muc quen thudc
hơn khi duge xem trong System Manager
6 Lưu các thay đổi của bạn và khởi động lại máy tính
Kênh điều khiển ổ đĩa thứ cấp (IDE) của bạn bây giờ đang sử dụng phần điều khiển IDE tiêu chuẩn, và các thiết bị IDE trên kênh đó (như CD- ROM) bây giờ sẽ xuất hiện bình htường Có một mẹo khác có thể rút ngắn thời gian khởi động: khởi động Windows 95/98 trong kiểu an toàn và
đo tìm tất cả các ổ đĩa trong System Manager Sau đó khởi động lại PC vàcho phép Windows 95/
TÌM HIỂU CONG NGHE SMART
SMART (Self-monitoring Analysis and Reporting Technology) lA mét hé théng ty chẩn đoán khiến PC có khả năng dự đoán những hỏng hóc sắp xảy đến của thiết bị như các ổ đĩa Với sự
Trang 2038 ‘Tim hiểu về Ổ đĩa cứng
dự đoán hỏng hóc đưa ra trước, người sử dụng hay
quản lý hệ thống có thể sao chép dự phòng các dữ
liệu quan trọng, thay thế thiết bị bị nghi ngờ
trước khi mất dữ liệu và tránh được thời gian
chết máy không mong muốn SMART là điểm
chủ chốt để cải thiện tính nguyên vẹn của đữ liệu
và khả năng sẵn sàng sử dụng của dữ liệu của PƠ
BMART có nhiều tên khác nhau trong ngành
công nghiệp máy tính Thuật ngữ "Predictive
Failure Analysis" (PFA) được gán cho công nghệ
SMART bởi nhà phát minh ra nó - IBM PFA
được bổ sung trong tất cả các hệ máy tính dàn
chính của IBM Compaq cũng là một trong những
công ty đầu tiên bổ sung SMART trong các ổ cứng
của họ, và nó được đặt tên là "Drive Failure
Prediction" (ĐẸP) Các tính năng kỹ thuật ban
dau của Compaq Computer SMART đã được sửa
đổi và đệ trình cho Uy ban Small Form Factor
Committee dé xem xét Hién nay SMART duge
tiêu chuẩn hóa bởi ANSI trong bảng chỉ tiết ATA-
4 (ANSI X38T13 ATA\ATAPI-4)
Để thực hiện SMART, máy tính chủ phải có
BIO8 hay sự trợ giúp phần điều khiển thiết bị có
khả năng gửi các lệnh SMART tới và từ các bản
phát triển rộng rãi, và tất cả các ổ đĩa Maxtor
hiện hành đều sẵn sàng với SMART Bạn có thể
tìm hiéu thém vé SMART tir Maxtor tai http://
www-maxtor.com /technology/whitepapers/
smart0.html Bạn cũng có thể kiểm tra với
StorageSoft tại http/www.storagesoft.com/ để
lấy thông tin chỉ tiết trên tiện ích SMART của
họ
1ý tưởng là ổ đĩa phải trả lời ngay lập tức - dữ
yêu câu Đáng tiếc là sự tiếp cận và việc truyền
đữ liệu ngay lập tức là không thể được thậm chi
cả với các công nghệ lưu trữ từ tính (và quang học) hiện nay Các quy luật vật lý không thể tránh được chi phối các giới hạn của các hệ thống cơ như các trục và bộ phận bước của đầu, và sự trì hoãn cơ học sẽ luôn có mặt trong các hệ thống ổ đĩa, Vấn để hiện nay đang thách thức các nhà thiết kế máy tính là các hệ thống cơ của ổ đĩa - sự nhanh nhẹn và chính xác mà chúng có - vẫn còn chậm trễ rất xa đằng sau mạch điện điều khiển thông tin của máy tính Trong thế giới PC,
miligiây là một khoảng thời gian rất dài Đối với
các hệ th ống dựa trên DOS, bạn thường phải chờ
để việc tiếp cận đĩa được hoàn tất trước khi DOS cho phép một hoạt động khác được bắt đầu Những
sự châm trễ như vậy có thể khá khó chịu khi 6 đĩa đang tiếp cận các chương trình và tập dữ liệt
đồ sộ tiêu biểu của các gói phần mềm hiện nay Các ổ đĩa sử dụng một kỹ thuật được gọi là tạm lưu 6 dia dé gia tăng tốc độ biểu kiến của các hị thống ổ đĩa
Nơi lưu trữ về cơ bản chỉ một lượng nhỏ bị nhớ trạng thái rắn mà tác động như một vùng lưu trữ tạm thời (hay đêm) nằm ngay trên ổ đĩa Nơi tạm trữ thường được nạp thông tin chờ đợ được hệ thống yêu cầu đến Khi việc đọc đĩa bá đầu, nơi tạm trữ được kiểm tra để tìm thông tì mong muốn Nếu thông tin mong muốn trong thu
tế có ở nơi tạm trữ, thông tin đó sẽ được truyền ti
bộ đệm tạm trữ tới mạch logic ở các tốc độ điện
tử Không xảy ra sự tiếp cận dia, va da dat dug: việc truyền đữ liêu nhanh Nếu thông tin mon muốn không có ở nơi tạm trữ, dữ liệu sẽ được lấ
ra từ ổ cứng với tốc độ bình thường của ổ dia m:
Trang 21`40 Tìm hiểu về Ổ dĩa cứng
không có sự cải thiện nào về hoạt động Các ổ đĩa
ngày nay sử dụng bộ nhớ hiện đại tính năng cao
256KB như RDO RAM (cùng loại RAM được sử
dụng trong nhiều bảng mạch chỉnh của Pentium)
làm nơi tạm trữ trên bảng mạch của ổ đĩa Nhiều
thuật toán phần mềm phức tạp được sử dụng để
dự đoán thông tin của đĩa nào được nạp và lưu
_ Mặc dù phan chính của bộ nhớ tạm được dự
định để giúp cho các thao tác đọc, nhưng một số
bộ nhớ tạm cũng giúp cho các thao tác ghi Bộ nhớ tạm ghi chấp nhận dữ liệu được ghi từ các mạch logic lõi, rôi trở lại việc điều khiển hệ thống trong khi 6 đĩa hoạt động riêng biệt để lưu thông tin Hãy nhớ rằng bộ nhớ tạm không làm tăng tốc chính ổ đĩa Bộ nhớ tạm chỉ đơn thưần giúp di chuyển đọc hệ thống của bạn sao cho bạn không cần phải đợi vì sự trễ của ổ đĩa Nói chung, bộ nhớ tạm có thể được đặt trên chính ổ cứng, hoặc trên bảng mạch điều khiển ổ đĩa Đối với hầu hết các máy tính sử dụng các giao diện ổ cứng mức hệ thống (UDMA hay SCSI), bộ nhớ tạm bất kỳ thường nằm trên chính ổ đĩa
? tấu trúc của ổ đĩa
Bây giờ bạn đã có nền tảng về những khái niệm chính và sự vận hành của ổ cứng, đây là lúc
để tháo rời ổ cứng ra và cho bạn thấy các bộ phận chủ chốt lắp với nhau như thế nào Rất hiếm khi bạn cần phải tháo rời một ổ cứng ra, nhưng việc tìm hiểu mỗi bộ phận và vị trí của nó sẽ giúp bạn đánh giá kiểm tra ổ đĩa và các kiểu hỏng hóc cứng khác nhau Một sơ đồ trình bày cấu trúc bên trong của ổ cứng Quantum Quyển sách này tập trung trên 6 bộ phận: khung, đĩa, đầu đọc/ ghì, bộ phận dẫn động đầu từ, động cơ trực, và phần điện
tử Hãy xem xét lần lượt mỗi bộ phận
KHUNG GIÀN Giàn khung cơ học rất quan trọng đối với sự hoạt động thành công của ổ đĩa Giàn khung ảnh hưởng đến cấu trúc, nhiệt, và tính nguyên vẹn điện của ổ đĩa Giàn khung phải chắc chắn, và cung cấp một bệ đỡ để gắn các bộ phận hoạt động vào Các ổ đĩa lớn thường sử dụng giàn khung bằng nhôm đúc, nhưng các ổ đĩa nhỏ trong các
Trang 2242 Tìm hiểu về Ổ dĩa cứng
máy tính ghi chép của bạn có thể sử dụng giàn
khung bằng nhựa Vật liệu làm khung phụ thuộc
vào yếu tố hình đạng (các kích thước) của ổ đĩa
ĐĨA NỀN
Nhu ban đã đọc ở phần trước của chương này,
các đĩa nên là những đĩa tải trọng khá nặng bằng
nhôm, thủy tỉnh hoặc vật liệu hỗn hợp ceramic
Các đĩa nền sau đó được phủ một lớp vật liệu từ
(môi trường thực) trên hai mặt và sau đó được
phủ một lớp bảo vệ Các đĩa nền đã được hoàn tất
và đánh bóng sẽ được xếp chồng và ghép vào
động eơ trục Lưu ý rằng một số ổ đĩa có thể chi
sử dụng một đĩa nền Trước khi chồng đĩa nén
được gắn cố định vào giàn khung, cụm đầu đọc/
ghi được lắp vào giữa mỗi đĩa Thường thì có một
đầu trên mỗi mặt của đĩa nên, vì thế ổ đĩa có hai
đĩa nền phải có 3 hoặc 4 đầu từ “Trong khi ổ đĩa
hoạt động, chồng đĩa nên quay ở vận tốc 5200 v/
ph hoặc hơn (tới 10.000 v/ph),
ĐẦU ĐỌC/ GHI
Như với các 6 đĩa mềm, các đầu đọc/ ghi tạo
nên giao điện giữa mạch điện tử của ổ đĩa và môi
trường từ Trong khi ghi, dau tir dich cdc tin hiệu
điện tử thành những sự biến đổi từ thông làm
bão hoà các điểm trên môi trường mà ở đó sự
biến đổi từ thông xảy ra Thao tác dọc xây ra
hoàn toàn ngược lại Sự biến đổi từ thông dọc
theo đĩa tạo ra các tín hiệu điện tử trong đầu từ
và nó được khuếch đại, lọc và chuyển thành các
tín hiệu logic tương ứng, Phần điện tử của 6 dia
có nhiệm vụ xác định xem đầu từ đang đọc hay
đang ghi
Những đầu đọc/ ghi của các ổ cứng thuử ban
đầu thường giống với các đầu từ của ổ đĩa mềm -
các lõi sắt mềm với một lõi gồm 8 đến 34 vòng dây đồng mảnh Những đầu từ như vậy khá to va nặng, nó giới hạn số lượng rãnh có thể cô trên bê mặt đĩa nền và tạo ra nhiêu tính ì khiến hệ thống
định vị trí đầu tà: phải khác phục Hầu như tất cả các kiểu ổ cứng hiện hành đều bỏ các đầu từ kiểu
“cuộn đây quân” cố điển với sự giúp đỡ của các đầu đọc/ghi màng mỏng Các đầu từ màng mong được sản xuất gần giống như cách thức sản xuất các IC hay môi trường đĩa nên, sử dụng các quy trình quang hóa Kết quả là tạo ra đầu đọc/ ghi rất nhỏ, phẳng, nhạy và bền, nhưng các đầu từ màng mỏng sử dụng một khe không khi và 8 đến
34 vòng dây đồng Kích thước nhỏ và trọng lượng nhẹ cho phép các bể rộng của rãnh nhỏ hơn (các
ổ đĩa lớn ngày nay có thể sử dung hon 16.000 rãnh) và thời gian chạy của đầu từ nhanh hơn, Tính phẳng vốn có của các đầu từ màng mỏng giúp giảm độ cao bay xuống chỉ còn khoảng 5 micron
Hình 8 Sơ đồcác vị trí bên trong của các bộ
Trang 2344 Tìm hiểu về Ổ đĩa cứng
- Trong cụm, các đầu từ được gắn vào các cần
kim loại đài được làm chuyển động bởi động cơ
dẫn động đầu từ, như được thể hiện trên hình
23-10 Các vi mạch đọc/ ghi thường được gắn trên
một bảng mạch nhỏ của PC, và bảng mạch này
được nối vdi cum dau từ/ bộ dẫn động Toàn bộ
cụm được đóng kín trong ngăn đĩa nền, và thường
không thể tiếp cận được trừ khi nó được mở ra
trong một môi trường phòng sạch Ngăn này được
đóng kín bằng nắp kim loại hay bộ phận lắp đệm
Hình 9 Cận ảnh cụm dẫn động đầu từ (Maxtor
Corporation)
BQ PHAN DAN BONG DAU TU
- Không như các động cơ của đĩa mềm dua các
dâu đọc/ ghỉ bước vào và ra, các ổ cứng dung dua
các dau tir doc theo một cung mảnh để thực hiện
đường di tir ria đến trục Nhiều ổ cứng sử dụng
các động cơ dạng cuộn (cũng còn gọi là động cơ
cuộn quay hay động cơ trợ động) để dân động đâu
từ Các động cơ này hoạt động theo nguyên lý
giống như sự chuyển động của mô hình máy đo:
mot thanh nam châm vinh cửu được đặt trong
hai cuộn dây đối nhau Khi dòng điện chạy qua
các cuộn đây, một từ trường được tao ra chống lai
nam châm vĩnh cửu Các cần đầu từ được gắn vào nam châm quay, như thế một lực đối kháng sẽ gây ra sự lệch tỉ lệ thuận với lượng dòng điện dan động Các tín hiệu dòng lớn hơn sẽ dẫn đến sự đối kháng lớn hơn và độ lệch lớn hơn Các hình trụ được chọn lựa bởi độ gia tăng tín hiệu trợ động và duy trì tín hiệu ở mức mong muốn Các động cơ dạng cuộn rất nhỏ và các bộ phận lắp ráp nhẹ, rất thíchhợp với thời gian tiếp cận nhanh
và các cụm ổ cứng nhỏ
Thách thức lớn nhất với sự chuyển động của đầu từ là giữ cho các đầu từ đặt được vào giữa rãnh mong muốn Nếu không, sự nhiễu loạn khí động lực, các biệu ứng nhiệt trên đĩa nên, và sự rung trong các tín biệu điều khiển cuộn dây có thể gây sai sót cho việc định vị trí đầu từ Vị trí đầu từ phải được kiểm tra và điều chỉnh thường xuyên theo thời gian thực để bảo đảm đầu từ di theo các rãnh mong muốn một cách chính xác Quá trình đi theo rãnh được gọi là sự phụ trợ chị đầu từ Thông tin được yêu cầu để so sánh vị tr
dự đoán của đầu từ với vị trí thực của nó Sự khá: nhau bất kỳ giữa chúng sau đó có thể được hiệt chỉnh bằng cách điểu chỉnh tín hiệu cuộn đây
"Thông tin phụ trợ được đặt ở bất kỳ nơi nào trêr các đĩa nên bằng các kỹ thuật khác nhau Thông tín phụ trợ chuyên biệt được ghí trêi mặt dự trữ của đĩa nên, Ví dụ như ổ đĩa 2 đĩa nên
có sử dụng sự theo dõi phụ trợ chuyên biệt có thị
sử dụng ba mặt cho đữ liệu, nhưng sử dụng mặ thứ tư riêng cho rãnh định vị thông tin Vì tất œ các đầu từ được định vị trí theo cùng một rãn] (một hình trụ), nên một bề mặt đơn có thể cun, cấp dữ liệu cần thiết để hiệu chính đẳng thời tã
cả các đầu từ Tuy nhiên thông tin phụ trg dug Chị ÀA đa mãn hán thành những ahữm dit lid
Trang 24
46 Tìm hiểu về Ổ đĩa cứng
ngắn được đặt vào giữa mỗi đưạn Sau đó tất cả
các bể mặt có thể chứa dữ liệu và cung cấp thông
tin theo dõi Hệ thống trợ động sử dụng sự đổi
pha xung giữa các rãnh kể nhau để xác định xem
các đầu từ có nằm giữa trên rãnh aiong muôn hay
không, bay trượt từ phía bên này sang phiá kia
Với các mục tiêu cúa cuốn sách này, bạn không
cần quan tâm đến các kỹ thuật theo dõi riêng -
chỉ một điều là thông tin theo dõi phải được cùng
cấp để giữ cho đầu từ được sắp thẳng hàng thích
đáng
ĐỘNG CƠ TRỤC
Một trong những yếu tố chính góp phần vào
sự hoạt động của ổ cứng là vận tốc mà tại đó môi
trường đi qua dưới các đầu đọc/ ghi Môi trường
được đưa qua dưới đầu đọc/ ghỉ bằng cách quay
các đĩa nên ở tốc độ cao (ít nhất là 3600v/ph, và
có thể tới 10.000 v/ph), Động cơ trục chịu trách
nhiệm quay các đĩa nên Động cơ trục tiêu biểu là
động cơ DC không chổi có biên dạng thấp (có
nguyên lý tương tự với các động cơ trục được sử
dụng trong các ổ đĩa mềm)
Một bộ cảm biến chỉ báo cung cấp tín hiệu
xung phản hỏi dò tìm trục khi nó quay Phần
điện tử điều khiển của ổ đĩa sử dụng các tín hiệu
chỉ báo này để điều chỉnh tốc độ quay càng chính
xác càng tốt, Các 6 đĩa ngay nay thường sử dụng
các bộ cảm biến từ tính, chúng đồ tìm các mảng
sắt trên trục của trục quay, hay các bộ phận cách
quang giám sát các lỗ hay các mảng quay theo
trục Động cơ trục và bộ cảm biến chỉ báo cũng
được đóng kín trong ngăn đĩa nên,
¿ Các ổ cứng cũ hơn sử dụng các miếng đệm
bằng bấc hay cao su để giảm tốc độ quay của trục
đấn khi đìmơ lai san khi năng lương nủa Ẩ dia
được lấy đi, nhưng hầu hết các 6 dia IDE stt dung
kỹ thuật được gọi là hãm động lực Khi năng lượng được cấp cho động cơ trục, một từ trường sẽ phat triển trong các cuộn dây của động cơ Khi năng lượng bị lấy đi, năng lượng từ lưu trữ trong các cuộn đây được giải thoát như một xung điện thế đảo Sự hãm động lực hướng năng lượng của điện thế đảo để làm đừng ổ đìa nhanh hơn và đáng tìn
cậy hơn sự hãm vật lý
PHẦN BIỆN TỬ GỦA Ổ BÍA
Các 6 cứng được điều khiển bởi một hệ mạch điện rất tính ví Bảng điện tử của ổ đĩa được gắn bên dưới giàn khung chứa tất cả các mạch cần thiết để liên lạc các tín hiệu điều khiến và đữ liệu với giao điện vật lý riêng, làm chuyển động đầu
từ, đọc hay ghi khi được yêu cầu, và quay các đĩa nên Mỗi trong các chức năng này phải được thực hiện với mức độ chính xác cao Cho dù có các yêu cầu và sự phức tạp liên quan đến phần điện tử của ổ đĩa, nhưng toàn bệ mạch có thể được chế tạo trên một bảng mạch đơn của PC
Bạn phải hiểu mục đích của mỗi bộ phận Trái
tim của ổ đĩa là một bộ vì điều khiến (nC) Một
nC về cơ bản là một phiên bản được đặt hàng của
bộ vì xử lý, nó có thể xử lý các hướng dẫn của chương trình cũng như cung cấp sự chọn lựa các tin hiệu điều khiển chuyên biệt không thể có trong các bộ vỉ xử lý thông thường Một nC có thể được xem là một IC ứng dụng riêng (ASIC) Chương trình vận hành ổ đĩa này được lưu trữ trong bộ nhớ chỉ đọc nhỏ được lập trink (PROM)
Bộ vi điều khiển cung cấp các tín hiệu có thể sử dung cho IC điều khiến cuộn dây, IC tiên khuếch đại đọc/ ghi, ASCI đọc/ ghi, và ASIC giao diện/ điều khiển đĩa ASIC giao điện/ điều khiến hoạt
Trang 25
ø liên kết với (C bằng cách quản lý đữ liệu và
các tín hiệu điều khiển trên giao diện vật lý Đối
với ổ đĩa được trình bày, ASIC được thiết kế để
trợ giúp giao điện SCSI, nhưng những biến thể
của kiểu này có thể sử dụng các ASIC giao điện
trợ giúp các giao điện IDE
HAY NI ree
Hình 10 Sơ đồ khối của hệ thon 6 dia tinh
năng cao Quantum (Quantum corperation)
- Hoạt động ban đầu của ASIC giao điện/ bộ
điều khiển là phối hợp đồng đữ liệu vào hay ra
khỏi ổ đĩa Bộ điều khiển xác định các thao tác
đọc/ ghi, điều khiển sự đồng bộ hóa của đồng hồ,
và tổ chức dòng dữ liệu tới ASIC đọc/ ghỉ Bộ điều
khiển cũng quản lý bộ nhớ lưu trữ tạm cục bộ
(được đặt trên chính ổ đĩa) Các lênh nhân được
Tìm hiểu về Ổ đĩa cứng
và phản hải Bộ đồng bộ hóa tần số giúp đồng bộ
hóa bộ điều khiển và ASIC đọc/ ghi Cuối cùng,
ASIC của bộ điều khiển đĩa chịu trách nhiệm chọn lựa vị trí đầu từ và điều khiển trục và phần dẫn
động động cơ
ASIC đọc/ ghi là một IC chủ yếu khác trên bảng mạch PC của ố đĩa Một ASIC đọc/ ghi tiếp nhận dữ liệu từ IC bộ điều khiển và chuyển các
điều khiển ghi để ghi ASIC đọc/ ghi cũng nhận
các tín hiệu được khuếch đại, rồi chuyến các chuỗi tín hiệu thành thông tin kỹ thuật số song song
mà ASIC của bộ điều khiển có thể hiểu được Một
bộ lọc riêng tác động đến các tín hiệu kiểu tương
tự cũng được điều khiển Các đầu đọc/ ghi được
nối trực tiếp với IC tiễn khuếch đại đọc/ điều khiến
ghi, nó nhiều hơn một chút so với IC khuếch đại hai chiều
tắt bởi tín hiệu logic từ ASIC bộ điều khiển Khi
phần điều khiển động cơ trục có khả năng hoạt động, nó sẽ tự điểu chỉnh tốc độ riêng của nó bằng cách sử dụng sự phản hồi từ bộ cảm biến chí báo Tất cả các bộ phận trong vùng gạch chấm được đánh dấu "HDA" đều nằm trong khoang đĩa
nên đóng kín, trong khi các bệ phận khác trong
vùng được đánh dấu "PCB" lại nằm trên bảng mạch PC của ổ đĩa Phần lớn khả năng hoạt động của ổ đĩa được chứa trong (C, ASIC bộ điều khiển,
và ASIC đọc/ ghi
Trang 2650 Tìm hiểu về Ổ đĩa cứng
8 Cac khái niệm định dang ổ đĩa
Bạn có thể tưởng tượng một ổ đĩa như một
cái tủ đựng hề sơ lớn Khi ổ đĩa được lắp lần đầu
tiên, "tủ hỗ sơ” hoàn toàn trống - không có các
ngàn hay các tệp theo kiểu bất kỳ nào để sắp xếp
thông tin Để làm cho ổ đĩa có ích, phải định
đạng và ngăn chia nó Có ba bước cơ bản của quá
trình định dạng: định dạng bậc thấp, ngăn chia,
và định dạng bậc cao Mỗi trong ba bước này đều
rất quan trọng đối với việc vận hành chính xác
cua 6 dia
SY BINH DANG BAC THAP
Sự định dạng bậc thấp có lẽ là bước quan trọng
nhất (và chịu trách nhiệm về hầu hết các vấn đề
lâu đài của ổ đĩa) Thông tin lần theo dấu vết và
ngắt đoạn được ghi cùng với đủ ¡iỆ¬' giả Các kê
hở giữa các đoạn và giữa các rãnh cũag được tạo
ra Như bạn có thể hình dung, sự định dạng bậc
thấp tạo ra nên tảng của việc sắp xếp ổ đĩa Vì
thông tín này chỉ được ghi một lần, nên thời gian
và sự mài mòn có thế khiến các thông tin về đoạn
bị hỏng Khi điều này xảy ra, các đoạn hỏng không
thể đọc được Các tính năng cao cấp của ổ đĩa như
địch, quản lý hư hỏng, và sự ghỉ theo vùng cũng
gây rắc rối cho việc định dạng bậc thấp thích
hợp
Vấn để này còn phức tạp hơn nếu sự định
dạng bậc thấp là đặc trưng riêng của phần cứng,
vì hầu hết các nhà sản xuất ổ đĩa hiện nay thực
hiện việc định dạng bậc thấp tại nhà máy Những
quy trình này rất hiếm được tạo ra để các kỹ
thuật viên và người sử đụng sau cùng có thể sứ
dụng được Nếu bạn xác định rằng ổ đĩa IDE hay
SCSI phải được định dạng bậc thấp, hãy liên hệ
với nhà sản xuất ổ điavà lấy tiện ích định dang bậc thấp thích hợp được viết nhanh cho kiểu ô đĩa riêng đó Ngay cả các tiện ích chuyên nghiệp hàng đầu như DrivePro cùng thuyết phục mạnh
mẽ rằng tránh định dạng bậc thấp cho các ö địa
TIDE/EIDE ngoại trừ dùng nó như một phương
sách cuối cùng Nếu bạn cố gắng định dạng bặc
thấp cho IDE/EID với chuỗi DOS DEBUG hay
tiện ích phần mềm, một trong bốn điều sau có thể xảy ra:
xóa thông tin bổ trợ thiết yếu và các thông tin khác của đoạn (như thế, ổ đĩa sẽ trở nên không thể sử dụng được hoàn toàn)
@ 6 dia sẽ chấp nhận phần định dạng và thực hiện sự định dạng bậc thấp chính các - điều này không hứa hẹn cao
Quy trình định dạng bậc thấp bất kỳ sẽ phá hủy hoàn toàn tất cả các đữ liệu trên ổ đĩa Sao chép dự phòng ổ đĩa càng nhiều càng tốt trước khi cế gắng định dạng bậc thấp Không
cố định dạng bậc thấp ổ cứng trừ khi bạn có tiện ích thích hợp từ nhà sản xuất ổ đìa - và lúc đó chỉ dùng như một phương sách cuối cùng
Có ba lý do bắt buộc phải cố gắng định đạng ổ
cứng:
® Ổ đĩa bị nhiễm virút mà thể lấy đi được
Trang 27
mà không phá hỏng đọan khởi động
với tốc độ gia tang (thường do thời gian
hay hỏng hóc)
sang hệ khác và muốn lấy đi mọi thứ khỏi
6 dia
Nếu bạn xác định rằng việc định dang bac
thấp là cần thiết, có hai hướng mở ra cho bạn:
bạn có thể sử dụng công cụ định dạng bậc thấp có
trong BIOS (như AMI BIOS0 hoặc bạn có thể sử
đụng công cụ phần mềm cung cấp bởi nhà sản
xuất ổ đĩa của bạn
Định đạng bậc thấp qua BI0S
Một số phiên bản BIOS có tiện ích "định đạng
tương thích với ATA cài sẵn (AMI nổi
tiếng về vấn để này, nhưng các nhà sản xuất
BIOS khác có thể kết hợp dạng tính năng này)
Trước khi sử dụng tiện ích định dang AMI BIOS,
bao dam rang AMI BIOS duge dé ngay muén hon
9/4/1990 Tit phan cai dat CMOS, chon Hard Disk
Ultilities, va sau dé chon Hard Disk Format Tién
ich định dạng sẽ tự động lấy các thông số của ổ
cứng từ phần cài đặt CMOS sao cho bạn có thé
xác mình chúng Vấn để chủ yếu duy nhất là việc
cài đặt Interleave Các mặc định của BIOS là 3,
nhưng thay nó bằng 1 Một vấn đẻ khác là Mark
Bad Tracks Tra lời "no" cho câu hỏi này và tiếp
tục quá trình Quy trình này có thể mất khoảng
15 phút đến 1 giờ hoặc hơn Khi quy trình được
hoàn thành, khởi động lại hệ thống với đĩa khởi
động DOS Chạy FDISK hân chia ổ đĩa, và
sau l6 sử dung FORMAT để định đau d Ga,
phan cài đặt Interleave phải luôn là 1
4 Định dạng hậc thấp qua phần mềm
Cách giải quyết an toàn và linh động hơn một chút là sử dụng phần mềm định dạng bậc thấp do nhà sản xuất ổ cứng của bạn cung cấp Phần mềm như vậy thích hợp một cách lý tưởng cho ổ địa riêng của bạn, và giảm khả năng tổn hại bất ngờ cho ổ đĩa Ví dự như nếu bạn cần định dạng bậc thấp một ổ đĩa Seagate, bạn có thể sử dụng công
cụ SGATFMT4.ZIP (Seagate Format) có thể lấy
www.seagate.com/support/dise/drivers/ discfile.shtml (Cac hướng dẫn chỉ tiết sẽ được
đề cập đến trong tài liệu tự trích)
SỰ NGĂN CHIA Trong khi định dạng bậc thấp là một quy trinh đặc trưng của phần cứng thì sự ngăn chia lại là một quy trình đặc trưng của hệ điều hành Sau khi hoàn thành sự định dạng bậc thấp, ổ đĩa phải
được ngăn chia trước khi hệ thống tài liệu OS
hay thông tin khởi động được ghi vào ổ đĩa Ngoài
ra việc ngăn chia cho phép một ổ đĩa rộng về mặt vật chất được chia thành một số ổ đĩa logic nhỏ hơn Có một vài hệ thống tập tin được sử dụng ngày nay, nhưng DOS và Windows 95/98 vẫn tiếp
tuc su dung he thing Pile Mlocathon Table (FAT)
Sự chỉ trích chủ yếu của FAT là các đoạn được
Trang 28Tim hiểu về Ổ đĩa cứng
ổ đĩa (đặc biệt là đối với các ổ
đĩa lớn, ở đó có thể có tới 64 đoạn - 32B - trong
một cạm) Một trong những phần ngăn chia mới
được tạo thành sẽ được chỉ định như ngăn khởi
động, và một đoạn khởi động chính (MBS) chứa
báng ngăn chia và chương trình khởi động đặc
biệt sẽ được ghỉ vào đoạn thứ nhất MBS thường
được xem như bản ghi khởi động chính (MBR)
FDISK là một tiện ích của DOS được sử dụng để
ngăn chia ổ đĩa Các hệ điều hành khác nhau có
sự giới hạn ngăn chia riêng của chúng:
® Các phiên bản của MS-DOS và PC-DOS
sau 3.3 (nhưng trước 4.0) có giới hạn của
mỗi phần ngăn chia là 32MB
hạn 1024 hình trụ Để tiếp cận nhiều hình
trụ hơn, bạn cần một phần điều khiển
thiết bị hay thẻ điều khiển cung cấp một
“kiểu dịch" (ví dụ như LBA)
@ DOS va Windows 95 bi gidi han 2.1GB
cho mỗi phần ngăn chia
phiên bản sớm hơn bị giới hạn tới 4.2GB
cho phần ngăn khởi động
các phần ngăn FAT32 mà có thể trợ giúp
các phần ngăn 2TB,
SỰ ĐỊNH DẠNG BAC CAO (DOS)
Ngay sau khi ngăn chia, hệ điểu hành không
thể lưu trừ các tập tin trên ổ đĩa Một chuỗi các
cấu trúc dữ liệu phải được ghi vào ổ đĩa Một đoạn
khởi động khối (VBS), hai bản sao của Pile
Allocation Table (FAT), và một thư mục gốc được
ghi vào mỗi phần ngăn chia logic Sự địng dang
bác cao cũng kiếm tra và khóa các đoạn hỏng sao
cho chúng sẽ không được sử đụng trong quá trình hoạt động bình thường FORMAT là tiện ích của DOS được sử dụng để định dạng bậc cao Cần lưu
ý là tiện ích FORMAT sẽ thực hiện cả định dạng bậc thấp lẫn bậc cao cho đĩa mềm, nhưng với đĩa
nghĩa là thông tin đoạn, rãnh và hình trụ đã
được ghi trên ổ dia Điều này nghĩa là bạn có thể ngăn chia ổ dia voi FDISK va dinh dang 6 dia với
FORMAT ngay ngoai hép FDISK va FORMAT
sửa soạn ổ đĩa cho một hệ thống tập tin riêng Tôi không nói nhiều chỉ tiết về sự phức tạp của
hệ thống tập tin, nhưng bạn phải hiểu hệ thống
FAT co sé và biết một số điều liên quan của FAT32
va FAT16
CÁC GƠ SỐ CỦA FAT
Mierosoft DOS và Windows 95/98 sử dung FAT
để tổ chức sắp xếp các tập tin trên ổ đĩa Các đoạn được sắp xếp thành các nhóm được gọi là cụm, và mỗi cụm được gán cho một số Các ổ đĩa ban đầu (các ổ mềm) đã sử dụng số gồm 12 bit (được gọi là FAT12), nhưng các ô cứng thường sử dụng một số 16 bit (được gọi la FAT16) Cac phién bản mới nhất của Windows 9ð (OSR2) và Windows
98 chỉ định một số 32 bit cho mỗi cụm (được gọi
là FAT32) Bằng cach gan cho mdi cum một con
số của riêng nó, ta có thể lưu các tập tin trong các cụm bất kỳ có thể có (không được sử dụng) trên khắp ổ đĩa mà không phải lo lắng vả kích thước của tập tin Khi các tập tin bị xóa đi, những cụm
Trang 2956 Tìm hiểu về Ổ đĩa cứng
này lại có thể sử dụng lại được Hệ thống FAT da
được chứng tỏ là một hệ thống quản lý tập tin
linh hoạt và đáng tin cậy
Vấn đề với hệ thống FAT là bạn chỉ có thể có
số lượng các cụm nhiều bằng số được xác định bởi
4096 (212) cụm Đối với FAT16, bạn có thể có
65.536 (216) cum Néu 6 dia la 120MB, méi cum
khi đó phải khoảng (120MB/ 65.536) 1.8KB (2KB
trong thực tế) Nếu ổ đĩa là 500MB, mỗi cựm khi
đó phải khoảng (B00MB/ 65.536) 7.6KB (8KB
trong thực tế) Vì chỉ một tap tin có thể được gán
cho một cụm bất kỳ cho trước, nên toàn bộ khoảng
trống dành cho cụm đó đã bị chỉ định (thậm chí
nếu tập tin rất nhỏ) Vì thế nếu bạn lưu một tập
tin 2KB trong một cụm 8KB, ban đà bỏ phí (8KB
- 2KB) 6KB! Khoảng trống bỏ phí này được gói là
khoảng trống nghi Di nhiên hệ thống FAT12
khá dài vì bị bỏ trống trong khi các ổ cứng vẫn
chỉ khoảng 32MB, nhưng bạn có được ý tưởng
rằng các ổ đĩa lớn có thể bỏ phí một lượng khoảng
trống rất lớn khi sử dụng hệ thống FAT
Một điều đáng than phiền thường xuyên khác
về hệ thống tập tin FAT là hiện tượng phân đoạn
tập tin, Vì các cụm đều độc lập với nhau, và các
cụm được ấn định ở bất kỳ đâu mà chúng có thể
được tìm thấy, nên mộttập tin đòi hỏi hơn một,
cụm có thể bị phân tán khắp nơi trên đĩa Ví dụ
như giả sử bạn đang chỉnh sửa một hình ảnh lớn
(chiếm khoảng vài MB) Tập tin có thể sử dung
20 cụm trên rãnh 345, hai cụm khác trên rãnh
1012, và 50 cụm trên rãnh 2011, và vân vân Về
lý thuyết, sự phân đoạn đơn giản là hậu quả vô
hại của hệ thống FAt Nhưng trong thực tế, các
tập tin bị phân đoạn tôi có thể khiến ổ cứng hoạt
động căng thẳng bất thường khi đuổi theo các
87
cụm khác nhau liên quan dén tép tin Diéu nay
không chỉ làm chậm hoạt động hitu hiéu cua 6 đĩa, mà sự đòi hỏi ổ đĩa hoạt động quá mức có thể rút ngắn tuổi thọ của nó Cách tốt nhất để điều
chỉnh vấn đẻ này là định kỳ khử bỏ sự phân đoạn
đĩa với tiện ích như Defrag Sự khử phân đoạn
các chùm dành cho một tập tin được nằm kế tiến nhau
FAT16 DOS (bao gém ca DOS trong Windows 95/98)
sử dụng hệ thống tập tin FAT16 để lưu trữ dữ
liệu Hệ thống FAT16 sử dụng các số định địa chỉ cụm 16 bit cho phép cođđ tới 65.536 cụm Trong
FAT16, một cụm có thể lớn tới 32KB, kích thước tối đa của một phần ngăn là (65.536 x 32768) 2.147.483.648 byte (2.1GB) Trong khi số định
dia chi cum 16 bit hiéu qua hon sé 12 bit, m p
tin phải lấy ít nhất một cụm - dù kích thước tập
tin nhỏ hơn nhiều kích thước của một cựm Đối với các ô đĩa lớn mà chúng ta có ngày nay, các
cụm lớn tương ứng có thể dẫn đến một khối lượng cáo khoảng trống bỏ phí đáng kể Nếu 6 dia vat lý lớn hơn 21.GB, bạn phải tạo các phần ngăn chia hợp lý kế tiếp nhau để tận dụng các khoảng trống
bổ sung Ví dụ như nếu bạn có 6 dia 3.1GB, ban
có thể tạo một phần ngăn 2.1GB, rồi tạo một
khoảng trống bỏ phí là tạo nhiều các phần ngăn chia hon Diéu nay sẽ dẫn đến kích thước các cụm nhỏ hơn
NGAN CHIA CÁC Ổ CỨNG LỒN Khả năng là bạn đã hoàn toàn quen thuộc với tiện ích ngăn chia DOS FDISK và đã từng sử
dane nd AA nein ohia ada & Ata ait hem Tow nhian
Trang 30
58 Tim hiểu về 6 dia cứng
các ổ cứng lớn (trên 2GB) đặt ra cho các kỹ thuật
viên một vấn để bất thường vì DOS và Windows
95 chỉ trợ giúp ngăn chia các ổ đĩa không quá
2GB Khi bạn lắp các ổ cứng lớn hơn 2GB, bạn
cần tạo nhiều ngăn trên ổ đĩa - nếu không, bạn
không thể lợi dựng được toàn bộ dưng lượng của ổ
đĩa Quy trình dưới đây hướng dẫn từng bước để
bạn ngăn chia ổ cứng lớn với FAT16 FDISK:
1 Tai danh muc FDISK Option, chon "4 Display
partition information” và nhấn ENTER Nếu
màn biểu diễn thông tin ngăn chia báo rằng
có các ngăn chia hiện hữu trên ổ đĩa, những
hành (Chọn 3 Delete partition information"
trên danh muc FDISK Option dé loai bé tat ca
sự ngăn chia hiện có)
3_ Tại danh mục FDISK Option, chọn "1 Create
DOS partition or Logical DOS drive” và nhấn
ENTER Danh muc “Create DOS partition or
Logical DOS drive" duge hién thi Chon “1
Create Primary DOS partition" va nhé&n
ENTER
3 Thông báo "Bạn có muốn sử dụng kích thước
tối đa có thể được cho Primary DOS Partition
và kích hoạt Partition không (Y/N)' được hiển
thị Nhấn N và sau đó là ENTER
Khi thông báo ở bước 3 được hiển thị, bạn
phải trả lời "không" Nếu bạn trả lời "có", sự
ngăn chia nguyên thủy 2.048GB sẽ được tạo
ra, và hệ thống sẽ không thể tiếp cận phần
còn lại của dung lượng ổ đĩa trừ khi sự ngăn
chia nay dude xoa dh
4 Gã kích thước của Primary Partituon (tính bằng
MB) vào Giá trị này có thể là giá tri bất kỳ trong khoảng từ 1MB đến 2048MB (mặc định) Sau đó nhấn ENTER Thông báo "Primary DOS
Partition created” duge hién thi Nhén ESC
để tiếp tục
Tại danh muc FDISK Option, chon "1 Create
DOS partition or Logical DOS drive” va nhấn
ENTER Danh mục “Create DOS partition or
Logical DOS drive” được hiển thị Chọn "2
Create Extended DOS partition" và nhấn ENTER
Màn hình Created Extended Dos Partition được hiển thị Nhấn ENTER để dat khoảng trống còn lại có thể sử dụng được trên 6 dia vào Extended DOS Partition
eee Nếu tất cả khoảng trống còn lại của 6 dia khong được đặt vào Extended DOS partition, tong dung lượng của ổ cứng sẽ không có giá trị đối với hệ thống
_ 19 YXH
Z Nhấn ESC để tiếp tục khi thông báo của FDISK
"Extended DOS Partition created" xuất hiện trên màn hình FDISK sẽ nhắc bạn tạo ra các
6 dia logic cho Extended DOS partition Thong
báo " Nhập kích thước ổ đĩa logie tính bằng
megabyte hay tỉ lệ phần trăm của khoảng trống
đĩa (%) " được hiển thi
Nhập giá trị mong muốn cho giá trị dung lượng của kích thước ổ đĩa logic (tới 2048MB) và nhấn ENTER Nếu bạn chọn một giá trị thấp hơn tổng giá trị được hiển thị, bạn phải tiếp tục
Ša vào các kích thước của ổ địa cho đến khi
tất cả các khoảng trống có giá trị được ấn địn) các chữ cái của ổ đĩa logic
Trang 31_60 Tìm hiểu về Ổ đĩa cứng
Nhớ rằng mỗi 6 dia logie DOS được tạo ra ứng
với một chữ cái ô dia (C:, D:, E:, hay F:)
9_ Nhấn ESC để tiếp tục khi thông báo "Tất cá
các khoảng trống có thể sử dụng trong
Extended DOS Partition duge gán cho các ổ
đĩa logic" xuất h
10 Nếu ổ đĩa sẽ là ổ khởi động nguyên thủy, chọn
"2, Set active partition” va nhén ENTER tai
danh muc FDISK Option Man hinh Set Active
Partition duge hién thi, va thong bdo "Nhập
vào số lượng ngăn chia ban muốn kích hoạt”
được hiển thị, Nhấn 1, rồi nhấn ENTER Thông
bdo “Partition 1 made active” duge hién thi
Nhan ESC
11 Nhan ESC dé thoat khoi FDISK Viéc thoat
khoi FDISK trong DOS sẽ khiến hệ thống khởi
động lại Trong Windows 95 hệ thống sẽ trở
về đấu nhắc C:\Windows\ commandđ>, và người
sử dụng sẽ phải khởi động lại hệ thống bằng
cách thủ công
12 Sau khi hệ thống khơi động lại, mỗi chữ cái
của ổ đĩa được ấn định cho ổ cứng được ngăn
chia phải được định dạng với FORMAT Bây
giờ bạn có thé sit dung 6 dia
Có một số vấn để được báo với phiên bản
Windows 95 của FDISK Như một quy luật, sử
dụng phiên ban DOS 6.22 cua FDISK, hay
phiên ban 16 bit của FDISK có trong OSR2
FAT32
Rõ ràng là các giới hạn của FAT16 đang đặt
ra một vấn đề nghiêm trọng với các ổ cứng trên
6GB va hon nifa Microsoft da dap tra bang cach dua ra hé théng FAT 32 bit dé bé sung trong phiên bản phục vụ của Windows 9ö (được gọi là
OSR2) - và bây giờ là trong Windows 98 4 bịt
trên được dự trừ, vì thế hệ thống thực tế sẽ tăng
lên (228) 268.435.456 cụm (hơn 256 triệu cụm)
Điều này cho phép các phẩnngăn chia 8GB có các
cụm kích thước chỉ 4KB Kích thước tối đa của
một ngần cho trước nào đó là 2TB (terabyte - hàng ngàn của gigabyte) FAT32 cũng loại trừ kích thước cố định cho thư mục gốc, vì thế bạn có thể có nhiều tập tin và thư mục trong gốc theo ý muốn
Điều này nghe có vẻ như một giải pháp lớn, nhưng có một số vấn để chính mà bạn cần phải xem xét trước khi cập nhật cho FAT32 Thứ nhất, các ứng dụng DOS (không được ghi lại) chỉ có thể tiếp cận các tập tin tới 2GB, và các ứng dụng
Win32 có thể làm việc với các tập tin tới 4GB
Thực chất điều này không tồi, nhưng các ngăn chia của FAT32 chỉ có thể tiếp cận được thông qua Windows 95 được tăng cường OSR-2, Windows
98, và DOS 7.X tương ứng Không một hệ điều hành nào khác có thể đọc các ngăn chia (bao gồm
cả Windows NT) Ngoài ra, các tiện ích đĩa bất
kỳ được viết cho FAT16 không làm việc cho FAT32
(và có thể làm tổn hại nghiêm trọng dữ liệu của
bạn)
Mặc dù OSR2 được gắn với phiên ban FAT32
của SDISK, FORMAT, ScanDisk, và Defrag, phiên bản của DriveSpace 3 sẽ không trợ giúp FAT32
Vì thế nếu bạn đang sử dụng kỹ thuật nén ổ đĩa, bạn đã không gặp may Hơn nữa, có các API (giao diện lập trình ứng dụng) cũ đang hoạt động mà không trợ giúp FAT32; vì thế một số chương trình
có thể từ chối làm việc ngay lập tức cho đến khi
Trang 326z _—_— Tim hiêu về Ổ dĩa cứng
phan mềm lại tuân theo các API tương thích
FAT32 Cac phan điều khiển thiết bị DOS (như
những phần cần để trợ giúp các thiết bị SCSI)
cũng sẽ phải được cập nhật cho FAT32 Nói cách
khác, bạn sẽ mất các ổ đĩa SCSI của mình cho
đến khi các phần điều khiển thích hợp trở nên có
biệu lực Cuối cùng, phiên bản OSR2 của Windows
95 xuất hiện làm giảm hoạt động FAT32 của ổ
địa tnặc dù đó không phái là vấn đề thực sự trong
Windows 98)
NGĂN CHIA VA DINH DANG CHO FAT32
“Trước khi quyết định sử dụng FAT32, bạn cần
làm quen với các vấn đề liên quan với việc ngăn
chia và định đạng Các bước cơ bản trong việc
chuẩn bị ổ đĩa cũng giếng như FAT16, nhưng
FAT32 đưa ra một số điểu mà bạn cần phải hiểu
Phần này của chương mô tả quy trình chưng được
si dung dé ngan chia va dinh dang 6 dia trong
FAT32 Thứ nhất, sự ngăn chia FAT32 chỉ có thể
được tạo ra (với Windows 95 OSR2 hay Windows
98) trong các tình huống sau:
® Ổ cứng phải có tổng dung lượng lớn hơn
528MB
528MB
® Bạn cần đĩa cài đặt OSR2 hay đĩa khởi
động OSR2 được thực hiện tờ một PC khác
có định cấu hình OSR2 (hay một đĩa khởi
động Windows 98 thích hợp)
có thể sử dụng sự trợ giúp đĩa lớn không?
Gó hay không" Bạn cần trả lời "có" Nếu
bạn trả lời "không", sự ngăn chia FAT16
sẽ được tạo ra,
Sự ngăn chia ổ cứng lớn với FAT32 (0SR2/98,
FDISK
OSR2 (hay Windows 98)
2 Tai màn hình “Welcome to Setup, nhan Fé hai lần Điều này sẽ xác định sự thực hiệr chương trình Setup và đưa bạn đến dấu nhắ:
A
Nếu bạn có đĩa khởi động OSR2 từ một P( khác, bạn có thể khởi động từ đĩa đó và trán] đụng chạm đến lệ trình cài đặt OSR2 hiện có _ PVngcnameeng T7." mm 3_ Gõ FDISK và nhấn ENTER Bạn sẽ được nhá với thông báo "Bạn có muốn có thể sử dụng sĩ
4 Nhấn Y để tạo lập sự ngăn chia FAT32, v nhấn ENTER Tại điểm này, danh mục FDISI
©ption sẽ xuất hiện trên màn hình Nếu c hơn một ổ cứng trong hệ thống, sử dụng sự lự chon 5 ("Change current fixed drive") dé cho
ổ đĩa mong muốn ngăn chia Cẩn than - s ngăn chia sai 6 dia sẽ làm cho mọi dữ Hệ hiện có trên ổ đĩa đó trở nên không thể tiế cận được
Information, và nhấn ENTER Đối với ổ cứn mới toanh, FDISK sẽ trả lời "No Partition D iined." Các ngăn chia bất kỳ có từ trước (nk các ngăn chia FAT16) phải được xóa đi trực khi tiếp tục Nhớ rằng điều này sẽ xóa tất ‹ các dữ liệu hiện có trên ổ cứng
6 Nhấn ESC để quay về danh mục FDIS Options, chon option 1 cho “Create DO nartition ar Lagical DOS drive” va nha
Trang 3364 Tim hiểu về Ổ di
Primary DOS partition” va nhấn ENTER
Sau khi tham tra tinh nguyên vẹn của ô đĩa,
nó sẽ nhắc bạn “Bạn có muốn sử dụng kích
thước tối đa có thể được cho Primary DOS Par-
tition va kich hoat Partition khong (Y/N)" duge
hiển thi Nhén Y va sau dé la ENTER
8 Thoát khải FDISK bằng cách nhấn phím ESC
cho đến khi bạn thấy thông báo: "bạn phải
khởi động lại hệ thống để các thay đổi này có
hiệu lực" Nhấn phim ESC để thoát khỏi
FDISK va lay dia mém khoi 6 A: Khoi động
lại máy tính bằng cách sử đụng
CTRL+ALT+DEL
Định dạng ổ cứng lớn với FAT32 (ORS2/98)
FORMAT
OSR2 (hay Windows 98)
2 Tai man hinh “Welcome to Setup, nhén F3
hai lần Điều này sẽ xác định sự thực hiện
chương trình Setup và đưa bạn đến dấu nhắc
3 Gõ FORMAT và chữ cái ổ đĩa của bạn, và nhấn
ENTER để bắt đầu định dạng (ví dụ như
FORMAT D:) Sau khi FORMAT khdi động,
bạn sẽ thấy thông báo "có cảnh báo rằng tất
cả dữ liệu trên ổ đĩa không lấy đi được <letter>
sẽ bị mất khi tiến hành định dạng không? Y/
N."
Tìm hiểu vé 6 dia cứng 65 4_ Nhấn Y và sau đó nhấn ENTER Tiện ích OSR2 FORMATT sau đó sẽ sửa soạn ổ cứng để sử dụng
với FAT32
SỬ DỤNG Bộ CHUYỂN BỔI Ổ ĐÍA FAT32
Windows 98 cung cấp bộ chuyển đổi ổ dia cho phép bạn chuyển đối các ngăn FAT16 sang sự định dạng FAT32 Phương pháp đơn giản nhất là
gõ evt<drive>/cvt32, và sau đó nhấn SNTER Nhớ
rằng <drive> là ổ đĩa mà bạn muốn chuyển đổi sang hệ thống tập tin FAT32 Một cách khác có
các bước như được liệt kê đưới đây:
Accessories, chọn System Tools, nhấp Drive Converter (FAT32), và sau đó nhấp Next
2 Trong hộp Drives, nhấp ổ đĩa mà bạn muốn chuyển đổi sang hệ thống tập tin FAT32
3 Nhấp Next, và sau đó nhấp OK
4 Nhấp Next, nhấp Next và rồi nhấp Next lần
nữa
5_ Cho phép quá trình chuyển đổi hoàn thành
hi sự chuyển đối hoàn thành, nhấp Finish
và khởi động lại PC nếu cần
a Sau khi bạn chuyển đĩa cứng của bạn sang FAT32, bạn không thể chuyển ngược trở về hệ thống FAT ban đầu Trước khi chuyển đổi sang
hệ thống tập tin FAT32, tháo tất cả các tiện
ích hay công cụ bảo vệ hay mã hóa MBR hay bảng ngăn chia (ví dụ như tháo Bootloek, được bao gồm trong Symantec Norton Your Eyes Only)
—————_——————
Bộ chuyển đổi FAT32 có thể hỏng nếu ổ cứng
Trang 34
của bạn nhỏ hơn 512MB hoặc có các đoạn hỏng
(thường dẫn đến sự hỏng dữ liệu)
TẠO LẬP BĨA KHỔI ĐỘNG FAT32 CHO WINDOWS 98
Khi khởi động từ một đĩa mềm, thường bạn
khó tiếp cận các ngăn chia FAT32 vì phiên bản
hệ điều hành trên đia mềm không nhận biết được
FAT32 Windows 98 CD-ROM chứa một chương
trình mà bạn có thể sử dụng để tạo ra đĩa khởi
động có khả năng thiết lập và đọc các ngăn chia
FAT42, Rhi bạn lập ra đĩa mới, đơn giản là bạn
có thể đặt đĩa vào đổ đĩa và khởi động lại PC, Lưu
ý rằng đĩa khởi động này không chứa tất cả các
chương trình có trong địa khởi động Windows
98
“Tạo ra một đĩa khởi động Windows 98 nhận
biết FAT32 trong Windows 98:
1 Dat CD Windows 98 trong 6 CD-ROM cua ban,
và có một đĩa mềm trên tay
nhấp Windows Explorer
3 Mở tập tin sau trên CD Windows 98
\Tools\Mtsuti\Fat32ebd
Nhấp đúp lên tập tin Fat32ebd.exe, và sau đó
theo các chỉ dẫn để hoàn tất việc tạo lập đĩa
Chống ghi cho đĩa mềm
Nếu bạn muốn thiết lập một đĩa khởi động
nhận biết FAT32 từ DOS:
và có một đĩa mềm trên tay
2_ Đánh mỗi trong các đồng sau (ở vị trí <drive>
là chữ cái ổ đĩa của ổ CD-ROM của bạn):
Windows \smartdrv.exe <drive>:
3 Bay gid tuân theo các chỉ dẫn để tạo lập đĩa
4 Chống ghỉ chỉ đĩa mềm
Tiện ích SMARTDRV.EXE không đòi hỏi thiết
lập một đĩa khởi động Windows 98 - nồ đơn giản là giúp tăng tốc cho quá trình thiết lập
Bian ta giup tang ke cay Tr
TÌM HIỂU PHAN GHI KHỔI ĐỘNG CHỦ
Phân ghí khởi động chủ (MBR) là thông tin thường được lưu trong đoạn đầu tiên của ổ cứng Thông tin này đơn giản là một cấu trúc dit liệu nhỏ xác định xem hệ điều hành (O8) được đật ở đâu trên ổ đĩa sao cho O8 có thể được nạp vào bộ
nhớ (RAM) của hệ thống khi khởi động MBR
chứa hai thành phần: mã thực hiện (chương trình a.k.a.a) và bảng ngăn chia xác định mỗi ngắn có trên ổ đĩa
Mã thực hiện (hay chương trình MBR) bắt đầu quy trình khởi động bằng cách tìm kiểm bang
ngan chia để xác định ngăn nào chứa hệ điểu
hành Sau đó nó nạp tải đoạn khởi động của ngăn chứa hệ điều hành vào RAM, và chuyển việc thực hiện của "chương trình" cho đoạn khởi động của ngăn Đoạn khởi động của ngăn sau đó hoàn tất việc nạp các tập tin hệ điều hành vào RAM Thiết lập/ phục hồi MBR
MBR được thiết lập trong quá trình ngăn chia (bằng cách sử dụng FDISE) Nếu MBR bị sai lạc hay bị tổn hại, bạn có thể phục hồi MBR, bằng cách sử dụng FDISK với sự chuyển đổi /MBR, như:
C:\> FDISK/MBR
Trang 3568
————— — iểu về Ổ đĩa cứng
Nhớ sao chép dự phòng ổ đĩa trước khi thử
lệnh này Nó khó mà làm sai lạc sự ngăn chia ổ
đĩa hay đữ liệu của nó, nhưng điều đó có thể xảy
ra
MBR và phần mềm "Che phủ ổ đĩa"
Khi BIOS hệ thống hay bộ điều khiển ổ địa
không trợ giúp toàn bộ kích thước của ổ đĩa, bạn
thường lựa chọn việc nâng cấp BIOS (và/ hay bộ
điều khiển ổ đĩa) hay sử dụng phần mềm che phú
ổ đĩa như EZ-Drive, MaxBlast, hay các sản phẩm
khác Việc sử dụng phần mềm che phủ sẽ ánh
hưởng cách thức định cấu hình MBR, Khi phần
mềm che phủ ố đĩa (như EZ-Drive) điều khiển
một ổ cứng, MBR được lưu trên đoạn thứ hai của
ô cứng - đoạn thứ nhất chứa mã EZ-Drive (còn
gọi là EZ-BIOS) Các đoạn từ 3 đến 17 chứa mã
EZ-Drive ngụ ý chi "INT 13 Handler" (INT 13 xử
lý các dịch vụ đĩa cứng) Khi hệ thống được cấp
nằng lượng, nó xem xét đoạn thứ nhất của ổ cứng
dé tim chỉ dẫn khởi động Trong trường hợp này,
trình tự khởi động sẽ như sau:
@ Ma EZ-Drive nạp tải từ đoạn 1 trên ổ đĩa
® E2-Drive nạp [INT13 Handler nằm từ đoạn
3 đến đoạn 17 và sử dụng thông tin này
để cài đặt ổ cứng để truy cập thích đáng
với toàn bộ dung lượng của nó
® E2-Drive nạp phần ghi khởi động chủ
thông thường được tìm thấy trên đoạn 2,
nó lần lượt nạp hệ điều hành
Virút và MBR
Loại virút phổ biến là loại thay thế MBR bằng
mã của chính nó Mỗi khi máy tính được khởi
động, mã trong MBR được nạp vào bộ nhớ Nếu
'MBR chứa virút, mã virút sẽ được nạp mỗi khi hé
báo trên màn hình, nhưng một sế khác có thê
phá hủy dữ liệu của bạn Virút MBR thường xâm
nhập vào hệ thống thông qua một đĩa mềm mà
hệ thống truy cập khi khởi động hoặc trong khi
hệ thống đang bật Nếu BIOS của bạn trợ giúp tính năng "bảo vệ MBR”", tính năng này sẽ ngăn
không cho những thông tin mới được ghỉ vào MBR;
vi thé phải bảo đảm tính năng này có hiệu lực
trong phan cai dat CMOS
8 Tìm hiểu các giới hạn của dung lượng ổ
đĩa
Các giới hạn của dung lượng thường gặp bất
cứ khi nào BIOS của hệ thống (và hệ điều hành) không thể nhận điện (hay định địa chỉ) các vị trí vật lý trên ổ cứng Đây không phải là vấn đề với kiểu thiết kế hay cấu trúc của chính ổ cứng, mà là
sự giới hạn của hệ điều hành hay BIOS của hệ
thống Đối với BIOS, nó không thể địch được địa
chỉ của các đoạn nằm ngoài một số hình trụ nào
đó - vì thế làm giới hạn dung lượng của ổ cứng dưới tổng lượng có thể của nó Đối với hệ điều hành, cấu trúc tập tin (FAT) bị giới hạn về số lượng các vị trí vật lý (hay các địa chỉ) có thể nhập vào trong FAT Các nhà sản xuất ổ đĩa lần
dau tiên đối mặt với sự giới hạn BIOS vào năm
1994 với việc dưa ra các ổ cứng 540MB (ATA-2/ BIDE) Các giới hạn của hệ điều hành được phát hiện với sự đưa ra các ổ cứng lớn hơn 2.1GB Các
sự giới hạn chính xác của bạn thay đổi tùy theo phiên bản BIOS và hệ điêu hành của bạn Ngày nay, bạn có lẽ gặp BIOS với các giới hạn ở các
ức 2.1GB, 4.2GB, và 84GB Các hệ điều hành