Bởi từ các công việc tìm sách, xem thông tin về nội dung sách, đến các công việc liên quan khác sẽ trở nên nhanh chóng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của bạn đọc cũng như tiện lợi trong khâu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HỂU VỀ HTML, ASP VÀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
QUẢN LÍ THƯ VIỆN TRÊN MẠNG INTERNET
NGÀNH: CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Giáo viên hướng dẫn: Th.s Hoàng Hữu Việt
Người thực hiện: Lê Tiến Lực
Lớp: 39 A TIN HỌC
Khoa: CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Vinh tháng 5 năm 2002
Trang 2Lời tựa !
Thưa các bạn chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI thế kỷ của CNTT, của nền kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hoá và của nền văn minh tin học Sự bùng nổ thông tin và đặc biệt là sự ra đời mạng Internet làm cho các quốc gia trên thế giới trở nên gần gũi nhau hơn, hiểu nhau hơn, trái đất như một ngôi nhà nhở bé,
ấm cúng hơn, thân mật hơn Máy tính ra đời làm thay đổi cả thế giới, nó thâm nhập vào mọi lĩnh vực của cuộc sống Chiếc máy tính trở thành phương tiện xử
lý thông tin nhanh chóng, hiệu quả Việc ứng dụng tin học vào các lĩnh vực là việc làm vô cùng hữu ích, đặc biệt là trong quản lý nói chung và quản lý sách của một thư viện nói riêng Bởi từ các công việc tìm sách, xem thông tin về nội dung sách, đến các công việc liên quan khác sẽ trở nên nhanh chóng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của bạn đọc cũng như tiện lợi trong khâu quản lý sách, nếu chúng ta tổ chức quản lý thông qua máy tính và thiết kế một web site cho thư viện Trong thực tế hiện nay đã có một vài thư viên đã làm ở một số khâu và đưa ra ý tưởng hoàn chỉnh về thư viện trên mạng, nhưng chủ yếu vẫn là qủan lý trên một máy của thư viện theo cách truyền thống Trong đề tài này tôi xin trình bày ý tưởng một ứng dụng "Quản lý thư viện trên mạng Internet" Điều này là có thể thực hiện được, không mấy khó khăn vì Microsoft đưa ra ASP ( Active Server Pages) để liên kết một số công nghệ nhằm tạo ra trang web hiện đại, cho phép người dùng tương tác với các máy chủ và các cơ sở dữ liệu một cách dễ dàng hơn Trong những công nghệ đó có ADO (ActiveX Data Object) Vậy ASP và ADO là gì, chúng hoạt động ra sao và có quan hệ gì ? Tất cả sẽ được nghiên cứu trong đề tài “Tìm hiểu về HTML, ASP và xây dựng chương trình quản lý sách thư viện trên mạng Internet” Đề tài chia làm ba chương:
Chương 1 : Phân tích và thiết kế hệ thống
Chương này nêu một số vấn đề thiết kế hệ thống quản lí sách thư viện trên mạng
Trang 3Chương 2 : Tìm hiểu về HTML và công cụ ASP
Phần này trình bày các vấn đề cơ bản nhất về HTML, ASP, và các vấn đề liên quan
Chương 3 : Xây dựng chương trình
Chương này in ra một số form chính và mã cho các form tương ứng
Một chương trình hay, hoàn hảo đáp ứng nhu cầu thực tế là mục tiêu của tất cả những ai quan tâm đến phần mềm ứng dụng nói chung và chương trình này nói riêng Tuy nhiên lần đầu tiên thực hiện, do kiến thức còn chưa nhiều, và đây cũng là ý tưởng, nên chương trình không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong được sự góp ý, giúp đỡ của các thầy cô trong khoa và các bạn Nhân đây em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Thầy giáo-Thạc sỹ Hoàng Hữu Việt đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành đề tài này Trong quá trình thực hiện tác giả đã nhận được nhiều sự động viên, giúp đỡ của thầy cô và bạn bè, tác giả xin được bày tỏ lòng cảm ơn và hứa sẽ cố gắng hơn nữa để chương trình này ngày càng hoàn chỉnh hơn
Vinh ngày 3 tháng 5 năm 2002
Lê Tiến Lực Lớp: K39A Tin Khoa CNT-ĐH Vinh
Trang 4CHƯƠNG 1
PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG
1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG
Quan điểm hệ thống luôn xem xét sự vật trong sự thống nhất toàn thể và trong các mối liên hệ tương tác của các yếu tố tạo thành Trong mấy thập kỷ gần đây với sự phát triển mạnh mẽ của toán học, điều khiển học, kỹ thuật tin học quan điểm đó đã có được sức mạnh mới và được phát triển thành khoa học
hệ thống hiện đại Hệ thống thông tin quản lý cũng là một hệ thống, nó mang những đặc điểm chung của hệ thống và còn có các đặc điểm riêng Hệ thống thông tin quản lý (HTTTQL) là một hệ thống tích hợp người máy, tạo ra các thông tin giúp con người trong sản xuất, kinh doanh, quản lý và ra những quyết định Hệ thống thông tin quản lý sử dụng các thiết bị tin học, các phần mềm CSDL, các thủ tục thủ công, các mô hình phân tích, lập kế hoạch và ra quyết định Tin học hoá công tác quản lý trong các đơn vị kinh tế, hành chính, đang là lĩnh vực quan trọng nhất của ứng dụng tin học Có khoảng 70-80% các nhà tin học thế giới hoạt động trong lĩnh vực này, còn chỉ 20-30% hoạt động trong các lĩnh vực khác như: Các tính toán khoa học, các điều khiển, kiểm tra quá trình, thiết lập và phát triển các hệ điều hành Những con số này khẳng định vị trí quan trọng hàng đầu của tin học quản lý Theo quan điểm hệ thống tin học, một
"xí nghiệp" được thiết lập từ ba hệ thống sau:
Trang 5Hệ thống thông tin có hai nhiệm vụ đối nội và đối ngoại, chất lượng của
hệ thống Để mô tả hệ thống người ta dùng mô hình và biểu đồ Phân tích thiết
kế là mô tả các xử lý và diễn tả dữ liệu Các công cụ phục vụ cho công việc trên là:
- Biểu đồ phân cấp chức năng
- Biểu đồ luồng dữ liệu
- Sơ đồ thuật toán
Thông tin nội
Trang 6- Các kí hiệu mở rộng của IBM
Trong chương này khi phân tích thiết kế hệ thống "Quản lý thư viện trên mạng Internet" dùng hai công cụ: Biểu đồ phân cấp chức năng và biểu đồ luồng
dữ liệu, nhằm mô tả hệ thống quản lý thư viện
- Biểu đồ phân cấp chức năng
Là công cụ đầu tiên để mô tả các công việc của hệ thống qua các chức năng Nó cho phép phân rã các chức năng chính thành các chức năng nhỏ dần và chi tiết dần Kết quả ta thu được một cây chức năng Trong đó các mức sau là chi tiết của mức trước nó
- Biểu đồ luồng dữ liệu
Biểu đồ luồng dữ liệu diễn tả tập các chức năng của hệ thống trong các mối quan hệ trước sau của tiến trình xử lý, trong việc trao đổi thông tin cho nhau Biểu đồ luồng dữ liệu giúp ta thấy những gì xảy ra bên trong hệ thống, bao gồm các thành phần sau:
+ Các chức năng xử lý
Diễn đạt các thao tác, nhiệm vụ hay tiến trình xử lý nào đó Tính chất quan trọng của nó là xử lý thông tin, làm biến đổi thông tin đầu vào thành thông tin đầu ra theo yêu cầu
+ Các luồng dữ liệu
Luồng dữ liệu là một luồng thông tin vào hay ra của một chức năng xử lý,
nó được xem như là giao diện giữa các thành phần của biểu đồ
Trang 7với hệ thống Sự có mặt của tác nhân ngoài chỉ ra ranh giới của hệ thống với môi trường và định rõ mối quan hệ của hệ thống với thế giới bên ngoài
+ Tác nhân trong
Tác nhân trong là một chức năng hay một hệ thống con của hệ thống, được
mô tả ở trang khác của biểu đồ
Theo nghĩa hẹp phân tích thiết kế hệ thống bao gồm hai giai đoạn sau:
- Giai đoạn một: Khảo sát, phân tích, đánh giá hệ thống cũ, thu thập các
thông tin cần thiết Giai đoạn này chúng ta khảo sát đánh giá hiện trạng của hệ thống cũ và đồng thời xác định phương hướng giải quyết của hệ thống mới
- Giai đoạn hai: Là xây dựng hệ thống mới, giai đoạn này lại chia ra các
bước thiết kế tổng thể và thiết kế chi tiết
+ Thiết kế tổng thể, sử dụng biểu đồ phân cấp chức năng và biểu đồ luồng
dữ liệu và các liên kết thực thể
+ Thiết kế chi tiết bao gồm:
- Thiết kế các thủ tục thủ công và các giao diện người máy
- Thiết kế các kiểm soát
- Thiết kế các File CSDL
- Thiết kế chương trình Trên đây là những khái quát chung nhất về phân tích thiết kế hệ thống, còn nhiều vấn đề khác trong phân tích thiết kế hệ thống, mà ở phạm vi đề tài này không thể trình bày hết được, vì đây vừa là một môn khoa học, vừa là một bước quan trọng nhất trong việc xây dựng một chương trình hoàn chỉnh cho ứng dụng tin học trong quản lý Phần tiếp theo sẽ đi vào khảo sát thực tế và hướng xây dựng hệ thống "Quản lý thư viện trên mạng Internet"
1.2 KHẢO SÁT THỰC TẾ
Hiện nay nhu cầu thông tin trong xã hội hiện đại ngày càng cao, người ta tìm kiếm thông tin mọi nơi mọi lúc và từ nhiều phương tiện khác nhau (sách
Trang 8,báo, đài , qua mạng ) Sách báo cũng là một nguồn thông tin thuận lợi nhất, để tra cứu các thông tin về: kinh tế, khoa học, chính trị, văn hoá, thể thao Thư viện
là nơi mà bạn đọc có thể tìm thấy các loại sách báo, tài liệu mà mình cần Hầu hết các thư viện hiện nay có nhiều loại sách, nhiều đầu sách, số lượng bạn đọc ngày càng tăng, thư viện ngày càng có quy mô lớn hơn, nhằm đáp ứng yêu cầu của đông đảo bạn đọc Mặt khác nhu cầu của bạn đọc ngày càng cao ( Nhiều tài liệu , nhanh chóng , thuận lợi và hiệu quả) Việc tra cứu và mượn nhanh, đúng tài liệu cần thiết, giảm công sức, thời gian là mục tiêu phục vụ của thư viện và là mong muốn của bạn đọc Trong thực tế khảo sát ở hai thư viện, thư viện Nghệ
An và thư viện trường Đại học Vinh cho thấy: Thư viện có nhiều đầu sách, số lượng độc giả đông, nhu cầu phong phú, các bạn đọc chủ yếu là học sinh, sinh viên, các cán bộ nghiên cứu khoa học Công tác tổ chức phục vụ của thư viện còn mang tính thủ công, từ việc tra cứu sách đến kiểm tra xem có còn sách không, kiểm tra thẻ bạn đọc, rồi đưa sách đến tay bạn đọc là rất mất thời gian và đôi khi gây trở ngại
Vì vậy thiết kế một mô hình quản lý thư viện trên mạng là một công việc cần thiết, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, thuận lợi cho công tác phục vụ bạn đọc của thư viện
1.3 PHÁT BIỂU BÀI TOÁN
Khi có nhu cầu nhập sách và sách được nhập về từ nhà xuất bản nhân viên
sẽ cập nhật thông tin về sách vào CSDL của thư viện theo sự phân loại Khi có nhu cầu mượn sách độc giả vào web site của thư viện tìm kiếm các thông tin về sách mà mình quan tâm, sau khi tìm, độc giả có thể yêu cầu mượn sách, căn cứ vào thẻ, vào số lượng của sách hiện có, sẽ cho kết luận, cho mượn nếu hợp lệ (thẻ hợp lệ, số lượng sách yêu cầu còn hay hết) Sau khi cho mượn thông tin về sách mượn, thẻ mượn, ngày mượn, ngày hẹn trả sẽ được lưu vào tệp sách mượn Đến hạn trả sách sau khi nhận sách, kiểm tra hợp lệ, và kiểm tra các thông tin
Trang 9cần thiết, thì thông tin về sách, về bạn đọc, ngày trả sẽ nhập vào tệp sách trả Khi
có nhu cầu thống kê sách thì thông tin sẽ đƣợc lấy ra từ ba tệp trên
Trang 101.4 BIỂU ĐỒ PHÂN CẤP CHỨC NĂNG
1.5 BIỂU ĐỒ LUỒNG DỮ LIỆU
1.5.1 Mức khung cảnh ( Mức 1)
QUẢN LÝ THƯ VIỆN
Xử lý thông tin Tìm sách Mượn, trả sách
Yêu cầu nhập sách Trả lời yêu cầu, sách Yêu cầu, trả lời yêu cầu
Yêu cầu, trả lời yêu cầu
Trang 131.6 BIỂU ĐỒ CẤU TRÚC DỮ LIỆU
1.6.1 Các thông tin cần thiết
-Thông tin về bạn đọc khi yêu cầu làm thẻ:
Đến kỳ cấp thẻ và bổ sung thẻ thì bạn đọc có nhu cầu làm thẻ phải cung
cấp các thông tin sau: Họ tên bạn đọc , địa chỉ, sau đó thư viện sẽ tổ chức làm
thẻ và cấp thẻ cho bạn đọc theo mẫu sau:
-Thông tin về sách khi nhập về sách mới:
Khi sách được nhập về thì căn cứ vào sách để phân loại và nhập các thông
tin về sách: loại sách, tên sách, tác giả, nội dung tóm tắt, nhà xuất bản, năm xuất
bản, số lượng cuốn nhập về, số lượng sách loại này hiện có trong kho
-Thông tin khi mượn sách Khi sách đã cho mượn thì các thông tin sau: Mã thẻ, mã sách, tên sách, ngày mượn, ngày hẹn trả, được lưu vào để theo dõi quá trình mượn trả của bạn đọc -Thông tin khi trả sách Đến hạn trả sách, sách được trả thì thông tin sau: Mã thẻ, mã sách mượn, ngày mượn, và ngày trả sẽ được lưu vào để phục vụ công tác quản lý sách và bạn đọc THƯ VIỆN THẺ BẠN ĐỌC Năm
Mã thẻ:
Họ tên :
Địa chỉ:
Trang 141.6.2 Danh sách các thuộc tính và chuẩn hoá
Tài liệu/Kiểu thực thể Chưa chuẩn hoá 1NF 2NF 3NF
Mã loại Mã loại Mã loại Mã loại
Tên loại Tên loại Tên loại Tên loại
Mã sách Mã sách
Mã loại Tên sách Mã sách Mã sách
Tên sách Tác giả Mã loại Mã loại
Tác giả Nhà XB Tên sách Tên sách
Nhà XB Năm XB Tác giả Tác giả
Năm XB Nội dung Nhà XB Nhà XB
Nội dung Số lượng Năm XB Năm XB
Số lượng Mã thẻ Nội dung Nội dung
Mã thẻ Họ tên bạn đọc Số lượng Số lượng
Họ tên bạn đọc Địa chỉ
Địa chỉ Ngày mượn Mã thẻ Mã thẻ
Mã sách mượn Ngày hẹn trả Họ tên bạn đọc Họ tên bạn đọc
Mã thẻ mượn Ngày trả Địa chỉ Địa chỉ
Tên sách mượn Ghi chú
Ngày mượn Mã thẻ Mã thẻ
Ngày hẹn trả Mã sách Mã sách
Mã sách trả Tên sách Ngày mượn
Mã thẻ trả Ngày mượn Ngày hẹn trả
Ngày trả Ngày hẹn trả
Tên sách trả
Mã sách Mã sách Tên sách Ngày trả Ngày trả Ghi chú Ghi chú
Trang 151.7 THIẾT KẾ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Trang 17Tài liệu Internet nguyên thuỷ là một tài liệu được sử dụng ngôn ngữ định dạng HTML (Hyper Text Markup Language) Ngôn ngữ này do Tim Berners Less sáng tạo, để định dạng tài liệu trao đổi thông tin giữa các đồng nghiệp Ngày nay HTML đã trở nên phổ biến có mặt khắp mọi nơi trên Internet Tuy vậy HTML không phải là ngôn ngữ lập trình, nó không tạo ra các kịch bản hay các ứng dụng được lập trình như C++, Java mà thay vào đó nó tạo ra các trang web thường được nói tới như là một sáng tác (authoring) và cũng đơn giản hơn nhiều so với việc tạo ra các ứng dụng chạy trên máy tính HTML sử dụng các thẻ (tag) để đưa ra các dữ liệu, hình ảnh lên web Vậy thẻ của HTML như thế nào chúng ta sẽ đề cập phần sau
HTML có thể tạo ra các tài liệu với nhiều thông tin phong phú Tuy nhiên trang HTML thường được xem như là tài liệu tĩnh ( static document hay static
Trang 18page) Nếu tác giả của trang web không thay đổi hay hiệu chỉnh, thì nội dung tài liệu không thay đổi Dữ liệu cho trang HTML thường phải nhập bằng tay một cách thủ công Các ứng dụng mà người dùng mong muốn là các ứng dụng có cơ chế tài liệu động (dynamic page) Trang tài liệu kiểu này có khả năng biến đổi thông tin và định dạng trang dựa vào chương trình xử lý và nội dung bên trong
cơ sở dữ liệu Chẳng hạn khi một bạn đọc vào mạng của một thư viện, sau khi tra cứu tìm sách và muốn yêu cầu mượn, nhưng vì số lượng sách có hạn, các bạn khác đã mượn hết rồi Để thông tin tới bạn đọc những thông tin về sách của thư viện cần đưa thông tin ấy lên một trang web động, nhằm phản ánh đúng thực tế
số lượng sách hiện có trong thư viện, thông tin này được lưu trong tệp cơ sở dữ liệu Hàng loạt công nghệ web đã ra đời phục vụ cho mục đích, nhu cầu này
Để tạo ra các trang web động, chúng ta sử dụng ASP ( Active Server Pages) vì nó có thể kết nối tới các tập tin văn bản hay các tập tin cơ sở dữ liệu (gọi chung là data store) để lấy, xử lý và hiển thị thông tin, để khi khách hàng xem trang web họ sẽ thấy trạng thái hiện thời của cơ sở dữ liệu Mặt khác ASP là công nghệ mới nhất của Microsoft phục vụ cho mục đích này Bất cứ khi nào cơ
sở dữ liệu của trang thay đổi thì trên trang đã phản ánh ngay, mà không cần phải thay đổi dòng HTML nào Công việc này có dễ dàng không ? Thật may và tuyệt vời vì đã có công cụ ASP có thể làm, hơn nữa nó có khả năng truy xuất đến một tập hợp các thành phần để thực hiện tác vụ này Các thành phần đó là ActiveX Data Object (ADO) ADO kết hợp sức mạnh của cơ sở dữ liệu với tính phổ biến của web Phần sau xin được trình bày về ASP và ADO
Từ những vấn đề trên có thể nói rằng, trong những điều kiện thuận lợi nhất chúng ta có thể trở thành nhà xuất bản web với HTML và ASP Việc tạo ra những trang web đẹp, hấp dẫn đang trở nên dễ dàng hơn với HTML và ngày càng hoàn thiện, đa năng hơn, hoàn hảo hơn với trợ giúp của ASP
Trang 192.2 HTLM- NGÔN NGỮ ĐÁNH DẤU SIÊU VĂN BẢN
2.1.1 Khái quát chung
HTML ( Hyper Text Markup Language) là ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản, là hàng loạt các đoạn mã chuẩn quy định cách viết và được thiết kế cho việc tạo trang web, đồng thời cũng được hiển thị bởi một trình duyệt web nào đó HTML là nền móng của world wide web, dịch vụ toàn cầu Internet Web là một dịch vụ có tính hướng đồ hoạ cao trong các dịch vụ của Internet, điều này cho phép người dùng tự tạo cho mình những trang web phong phú, đa dạng vừa mang nét chung vừa mang nét sáng tạo độc đáo của cá nhân
Một trong những đặc điểm chính của HTML là xác định cách thức hoạt động của web, hỗ trợ các liên kết siêu văn bản (hypertext) bằng việc sử dụng các lệnh đặc biệt Từ một lệnh nào đó, một đoạn chữ nào đó sẽ biến thành dạng clickable và có khả năng ấn như một nút lệnh (command) Khi người dùng ấn vào thì đáp ứng có thể là kịch bản của trang ASP hay một trang web mới Tuy nhiên không phải mọi liên kết đều là chữ mà có thể là hình ảnh, khi đó ta gọi là siêu liên kết (hyperlink)
Làm thế nào để đến được trang mới khi có siêu liên kết ? Chúng ta phải chỉ ra địa chỉ của trang đó, bởi mỗi trang đều có một địa chỉ xác định và duy nhất gọi là địa chỉ URL ( Uniform Resource Locator) World wide web có một phương thức đánh địa chỉ riêng và có dạng:
Trang 20thứ hai là hệ thống địa chỉ URL sẽ gán cho mỗi tài liệu, chương trình và tập tin trên Internet một địa chỉ riêng biệt
2.2.2 Các thẻ của HTML (Tag)
Cấu trúc của một trang HTML gồm hai phần, phần đầu (head) và phần thân (body) Cả hai phần đều được xác định bởi các tag đặc trưngvà nằm giữa tag <HTML> </HTML> Đây là một trang HTML
<body bgcolor="#FFFFFF" text="#000000">
<p> </p><form name="form1" method="post" action="">
Trang 21</form>
</body>
</html>
Phần đầu: Phần này được giới hạn bởi tag <HEAD> </HEAD> Phần
chữ chứa trong tag này là thông tin chung về tập tin và nó không được hiển thị trong phần văn bản của tài liệu khi duyệt
Tag <HEAD> </HEAD> có thể chứa trong nó một số tag thành phần: + <TITLE> </TITLE> mô tả tựa đề của tài liệu, ví dụ sau tạo tựa đề cho trang web của mình
<title>Wel come to library </title>
+ <BASE> </BASE> URL gốc của tài liệu, gắn chặt với việc tạo các hypertext và hyperlink
+ <META> </META> nhúng thêm thông tin cho tài liệu, bao gồm các thông tin chỉ mục và thông tin phân loại, nó được xem như là thẻ phân loại web site chẳng hạn dòng sau:
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html;
charset=iso-8859-1">
Đây là kiểu tài liệu HTML chứa Form
Trong các tag thành phần này chỉ có tag <TITLE> là bắt buộc phải có, các thành phần còn lại không bắt buộc và thường không xuất hiện trong các tài liệu web đơn giản Chúng ta thường chọn những tựa đề độc đáo cho trang web với tag <TITLE>
Phần thân tài liệu: Phần này được bắt đầu bằng tag mở <BODY> và kết
thúc bằng tag đóng </BODY> Trong phần thân sẽ có văn bản, hyperklink, hình ảnh, các bản đồ hình ảnh, form, và các thứ khác Tất cả các đoạn văn bản hiển thị trên trang đều nằm trong phần này với tag <P> Sau đây sẽ là các loại tag thuộc thân của trang web:
-Tag <P> thêm đoạn chữ
Trang 22Muốn cho các đoạn chữ hiển thị lên trang được chứa vào trong tag
<p></P> khi đó các trình duyệt bỏ qua các đoạn trắng thừa, các ký tự hết dòng
để tạo thành một đoạn văn mặc dù trong khi soạn ta thêm vào các ký hiệu ấy
- In gạch chân <U> </U>
- In nghiêng <I> </I>
- Các tag định dạng logic:
+Làm nổi văn bản: <EM> </EM>
+Làm nổi văn bản, in đậm: <STRONG> </STRONG>
-Tag tiêu đề: Có sáu mức tiêu đề khác nhau tương ứng với các tag <H1>
</H1> đến <H6> </H6>, tiêu đề giúp trang trí các thành phần trong trang rõ ràng hơn như tiêu đề văn bản
-Đường kẻ ngang: Tag <HR> </HR> dùng tạo một đường kẻ ngang qua
bề rộng của trang, khi thay đổi kích thước của cửa sổ trình duyệt thì đường kẻ này cũng thay đổi theo
-Tag định dạng văn bản khác: Muốn dạng văn bản hiển thị giống lúc soạn
thảo ta đặt vào giữa tag <PRE> </PRE>
-Tạo bảng: Để tạo bảng chúng ta dùng tag chính <TABLE> </TABLE> và
các tag <TR> </TR> tạo hàng, tag <TD> </TD> tạo các cột, tag <TH> </TH> tạo tiêu đề cho các cột Các thuộc tính width và height xác định độ rộng và độ cao cho các ô trong bảng Đoạn sau đây tạo bảng điểm:
Trang 27-Chèn hình ảnh: Khi ta chèn một hình ảnh lên trang web thì ta thực sự cần
một địa chỉ URL để chỉ tới tập tin hình ảnh trên Internet, nhưng cũng có thể tập tin nằm ngay trên máy với tài liệu HTML, tag <IMG> sẽ giúp chúng ta giải quyết vấn đề này
<IMG SRC=image_URL> ví dụ:
<IMG SRC="Image4.gif" WIDTH=125 HEIGHT=154>
-Tạo phông nền cho tài liệu
Màu nền được xác định bởi thuộc tính background của tag <BODY> -Tạo ảnh làm nền
Màu văn bản được thiết lập bằng thuộc tính text của tag <BODY>
<BODY text="#rrffbb"> ( màu rrffbb )
</BODY>
Đó là những tag chính cơ bản nhất của HTML Vậy các đoạn mã ASP nằm
ở đâu, thật đơn giản chúng ta chỉ cần chèn đoạn mã tuỳ ý trong thân của HTML
và đặt chúng giữa hai dấu <% , %> và lúc đó tập tin sẽ mang tên có phần mở rộng là ASP, gọi là trang ASP Đoạn mã của ASP sẽ được nghiên cứu phần sau
Các nhà xuất bản web thường rất muốn tạo cho trang của mình một sức hấp dẫn kì lạ, thu hút đông số người ghé thăm Phông nền được họ chú ý đặt các hình ảnh làm nền cho trang web Với HTML chúng ta còn có thể thiết kế các Frame, các Form, phục vụ cho việc trang trí và nâng cao hiệu quả của trang web, phần sau trình bày về hai vấn đề này
Trang 282.2.3 GIỚI THIỆU VỀ FRAME VÀ FORM
2.2.3.1 Frame
Frame là một cửa sổ tạo giao diện đơn giản nhưng hiệu quả cho web site
Nó chia trang thành nhiều phần khác nhau, mỗi phần được cập nhật riêng biệt
Frame thích hợp cho những loại giao diện sau:
- Liên kết chỉ mục: Khi đặt các siêu liên kết lên một cột của một frame trên
một trang, chúng ta có thể cho phép người dùng duyệt qua toàn bộ web site mà không cần quay lại trang chỉ mục, thay vào đó họ chỉ cần nhấp vào các liên kết trong trang và duyệt qua tất cả các trang ở Frame kia
- Những thành phần giao diện cố định: Chúng ta có thể đưa các hình ảnh,
các logo và những thông tin khác làm siêu liên kết Những thứ này được đặt cố định trên trang, phần còn lại của trang là nơi hiển thị nội dung tương ứng
- Giao diện dạng trình xem ảnh hay tài liệu: Giao diện loại này cho phép
duyệt qua các tài liệu hình ảnh không cần tuân theo một thứ tự nạp
Dùng tag <Frameset> tạo frame tag này thay thế hoàn toàn tag <body> và
áp dụng cho toàn trang Ví dụ tag nay có mã như sau:
<%
'Day la trang MENU.ASP
'Vi co lenh response.redirect ("quanly.asp") nen phai dat
Trang 29Các thuộc tính của Frame:
Tag Frameset có hai thuộc tình là ROWS và COLS nhận kích thước
tính bằng pixel, tỷ lệ phần trăm hoặc kết hợp cả hai, trị * có thể dùng xác định cho một Frame chiếm toàn bộ phần còn lại của trang tài liệu Số hàng và số cột được xác định bởi những giá trị gán vào
Trang 30Đây là một cách tổ chức Frame của trang Help của DREAMWEAVER
một công cụ tạo trang web
-Thêm các frame
Trong một frame chúng ta lại có thể lồng nhiều frame khác bằng cách
dùng nhiều tag <frameset> lồng nhau
Trang 31-Đặt tên cho Frame
Đặt tên cho frame bằng thuộc tính NAME của nó, dạng của thuộc tính này
như sau:
< Frame scr= " original URL " Mame= " windowws_name">
-Nạp trang lên frame
Để nạp trang lên Frame chúng ta dùng thuộc tính Target để đưa địa chỉ URL vào Frame window:
<a> href = "new UL" Target "Window_name" Link text </a>
2.2.3.2 Form
Trong các trang có lúc ta cần lấy thông tin từ người dùng, như thông tin yêu cầu mượn sách, số thẻ của bạn đọc, số lượng sách mươn Từ những thông tin này sẽ cho ta kết luận có còn sách không, thẻ có hợp lệ không Thông tin này được nhập vào cần có một form Form là một mẫu cho phép nhận thông tin từ người dùng và cũng có thể đưa thông tin ra Muốn xử lý dữ liệu trên form thì dữ liệu phải được gửi đến Web server, tại đây dữ liệu được xử lý bởi một scrip nhỏ,
là một chương trình nhỏ, được thiết kế để xử lý dữ liệu
- Tạo form
Trong tài liệu HTML form tạo ra bằng tag <form> tag này viết như sau:
<form method ="how_to_send" Action= "UL of scrip">
</form>
Tag này có hai thuộc tính:
Method: nhận một trong hai giá trị là post và get Post thường được dùng
nhiều hơn vì nó cho phép gửi một lượng dữ liệu lớn, trái lại get cho phép gửi một lượng dữ liệu nhỏ, đơn giản, dùng trong các ứng dụng đơn như hộp soạn thảo văn bản Ví dụ sau về form nhập sách ứng dụng nhập sách trong chương trình
Action: là thuộc tính thứ hai, nó nhận một URL trỏ đến trình script xử lý
dữ liệu cho form
Trang 32Trong ví dụ trên còn có các thành phần mà trong phần trước chưa đề cập
Đó là các tag hỗ trợ việc thu thập thông tin, các tag này tạo ra: textbox, combobox, option, button như trong VisualBasic
Tag < input> cho lựa chọn nhiều loại thông tin từ người dùng, nó có dạng:
<input type=''type_of_box" name="variable" size=nuber maxlength=number>
Các tag trên form để nhận dữ liệu từ người dùng:
-Tag tạo texbox: <input type="text" name="textfield">
-Tang tạo listbox: <select name="select"></select>
Trang 33-Tag tạo button:
<input type="submit" name="Submit" value="Submit">
Trong tag tạo button thuộc tính Type có ba kiểu: Kiểu submit (Submit thông tin nhập vào từ form, kiểu reset dùng reset lại thông tin trên form và kiểu
none không tác dụng lên form.
-Tag tạo Optionbox <input type="radio" name="radiobutton"
<title>Chao ban den voi trang thong tin thu vien</title>
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html;
charset=iso-8859-1">
</head>
<body bgcolor="#FFFFFF" text="#000000">
<p> </p><form name="form1" method="post" action=""> radiobutton
<input type="radio" name="radiobutton"
Trang 342.2.4 TỔNG QUAN VỀ KỸ THUẬT LẬP TRÌNH SCRIPTING
HTML chỉ có tác dụng trình bày tài liệu lên trang, vậy quá trình xử lí phải
do ngôn ngữ kịch bản (scripting) đảm nhận Phần này xin được giới thiệu tổng quan về scripting
-Ngôn ngữ đầu tiên nói tới là JavaScrip
Javascrip hoàn toàn không phải là phần mở rộng của HTML, mặc dù nó
làm việc trực tiếp với HTML từ bên trong các trang web Về góc độ lập trình thì JavaScrip dùng cú pháp khá giống Java Tuy nhiên điều này cũng không thực sự nói lên điều gì, vì Java rất giống C++, mà C++ là xây dựng trên nền tảng của C
Về cơ bản JavaScrip dễ tiếp thu hơn Java JavaScrip đã trở thành ngôn ngữ kịch bản nổi tiếng nhất trên web bởi vì đây là sản phẩm đầu tiên được tung ra thị trường và là sản phẩm được tạo ra bởi NetScape Nó thậm chí còn được xem như
là có chứa những nét chuẩn của HTML 4.0 Do đó có thể tin tưởng rằng thế giới đánh giá cao nó, nhiều trình duyệt web hỗ trợ nó trong những năm tới
Tuy nhiên VBScrip đang đóng vai trò quan trọng thứ hai vào thế giới web script cũng như Internet Explorer đang góp phần vào định hình kỹ thuật duyệt web VBScript có hai lợi thế rất lớn: Một là nó là ngôn ngữ kịch bản chủ yếu cho các ActiveX Control, thứ hai nó rất giống ngôn ngữ lập trình Windows nổi tiếng VisualBasic
Muốn thêm VBScript vào trang HTML ta dùng tag <script> </script> Bên trong tag này chúng ta chèn các đoạn mã của VBScript vào
Sau đây là ví dụ trang HTML có chèn VBScript:
Trang 35<html>
<head>
<title>In cau chao</title>
<script language ="VBScript">
2.3 CÔNG CỤ ASP (ACTIVE SERVER PAGES)
2.3.1 Khái quát về ASP
Đề tài này là một ví dụ minh hoạ, áp dụng các kĩ thuật giao thoa giữa hai công cụ vĩ đại Một bên là CSDL quen thuộc, bên kia là World wide web còn đang mới mẻ ASP cùng với ADO cung cấp khả năng kết hợp những công cụ này lại để thành giải pháp hoàn hảo dành cho các CSDL trên web trong những năm gần đây
ASP là một phần mở rộng cho web server Nó cung cấp một tập hợp các thành phần (component) và các đối tượng (object) để quản lý sự tương tác giữa web server và các trình duyệt Các tương tác này có thể được xử lý bởi ngôn ngữ kịch bản (Scripting language) Đây là mô hình đối tượng của ASP
Trang 37- Các đối tượng của ASP
Request Object: Cung cấp tất cả các thông tin mà client cung cấp khi yêu
cầu một trang hay submit ( đệ trình) một form Các yêu cầu từ phía client có thể
là dạng dữ liệu từ form do người dùng nhập vào
Response Object: Dùng truy xuất các đáp ứng từ server gửi về trình
duyệt
Application Object và Session: Dùng để quản lý thông tin ứng dụng đang
chạy và các phiên làm việc
Quá trình diễn ra như thế nào với các đối tượng này Chúng được thể hiện qua các bước thực hiện kịch bản của trang ASP
- Kịch bản của trang ASP
Như chúng ta đã biết, ASP được phát triển bởi Microsoft, nó là môi trường kịch bản phía server giúp ta có khả năng kết hợp HTML, kịch bản phía server và các đối tượng COM (Component Object Mode ) để tạo ra các trình ứng dụng web động, tương tác động Khi có yêu cầu thì một trang ASP được gửi đến Web server Tiếp đó Web server chuyển tập tin trên server vào ASP Engine (ASP.DLL) trên server ASP Engine thực thi các kịch bản trên trang và trả lại trang HTML cho server, đến lượt server chuyển trang HTML cho trình duyệt Quá trình phức tạp này có thể minh hoạ bằng hình ảnh sau:
Client
Server
Server Object
Aplication Object Server Object
Response Object
ObjectContext Object
Request Object
Trang 38
Trình duyệt yêu cầu trang ASP từ server bằng URL hoặc bằng dữ liệu nhập trên form, Server nhận ra trang ASP bằng phần mở rộng asp và gửi trang
ASP vào trong ASP Engine trên server, ASP Engine đọc tập tin này Tập tin
thường chứa hỗn hợp kịch bản chạy trên server và HTML, mặc dù không nhất thiết phải có cả hai
Khi ASP Engine đọc tập tin bất cứ khi nào nó gặp kịch bản nó sẽ thực thi, khi nào nó gặp mã HTML nó sẽ trả về cho server Quá trình này bao gồm nhiều sự chuyển đổi qua lại giữa kịch bản chạy trên server và HTML trong một trang Tuy nhiên chúng ta có một số vòng lặp chứa sự tổng hợp kịch bản của server và HTML, bất kì HTML nào nằm trong vòng lặp cũng xuất thông tin khi vòng lặp thực thi
Kịch bản ASP có thể gói gọn các đối tượng COM được lưu trữ trên server Các đối tượng COM là các DLL ( các thư viện liên kết động- Dynamic Link Libraries ) Chúng là một dạng chương trình được đóng gói thành những
Trình duyệt Máy chủ
ASP Engine Các đối tượng
COM
Bước 1: Trình duyệt yêu cầu trang ASP từ máy chủ
Bước 2: Máy chủ gửi trang ASP cho ASP Engine
Bước 3 : ASP Engine thực thi các kịch bản phía server
Bước4: ASP Engine gọi các đối tượng COM
Bước 5: Đối tượng COM làm các công việc của
Bước 6: ASP Engine trả HTML lại cho máy chủBước 7: Máy chủ trả HTML cho trình duyệt
Trang 39gói nhỏ mà có thể được thực thi từ một chương trình khác Microsoft hình thành COM và nó trở thành tiêu chuẩn của công nghệ phần mềm, bởi các đối tượng này có thể được sử dụng trong bất kỳ trình ứng dụng nào, mà không cần quan tâm trình ứng dụng đó viết bằng ngôn ngữ gì Ta có thể xem COM như là một công cụ Trình ứng dụng sử dụng công cụ này khi cần và trả lại chỗ cũ, nơi mà bất cứ trình ứng dụng nào cũng có thể tìm và dùng khi cần Thực sự thì điều
đang xảy ra là bản sao của đối tượng này sẽ được tạo ra ( ta gọi là một thực thể )
và sẽ ấn định một danh hiệu riêng cho nó để có thể nhận dạng chương trình nào đang sử dụng nó
Có nhiều loại đối tượng COM Một số được tạo ngay trên Web server, một số khác có thể cài đặt trên Web server Sở dĩ các đối tượng COM này trở nên tiện dụng như vậy là do mã chương trình sử dụng chúng được thiết lập ngay trong đối tượng
Kịch bản trong trang ASP thường có thể gọi các đối tượng COM này và chúng sẽ thực thi nhiệm vụ, đôi khi chuyển HTML vào ASP Engine để xuất dữ liệu cho server, và đôi khi chúng cũng xử lý cả những vấn đề mà trình duyệt không thể thấy được
Khi ASP Engine xuất HTML về phía server thì tại đây server lại xuất HTML cho trình duyệt Tuỳ vào hoàn cảnh cụ thể và kịch bản mà kết quả trên trang có thể khác nhau, vì vậy nó được gọi là trang web động
ADO làm gì, mô hình của nó như thế nào, thật là thiếu sót nếu không giải thích về ADO và mối quan hệ giữa nó và ASP
-Mô hình đối tượng ADO (AtiveX Data Object)
ADO (AtiveX Data Object) được thiết kế nhằm cung cấp một phương pháp truy cập dữ liệu chung cho moị người Để thực hiện điều này, nó đưa ra một mô hình đối tượng ADO có ba đối tượng chính trong mô hình này (Connection, Command, Recordset)
*Đối tượng Connection
Connection dùng để tạo một kết nối đến data store (gồm các CSDL và các tài liệu khác) Khi kết nối đã được thiết lập, chúng ta có thể dùng nó bao nhiêu
Trang 40GV hướng dẫn Thạc sỹ: Hoàng Hữu Việt S V thực hiện: Lê Tiến Lực
40
tuỳ ý Mặc dù cần phải tạo một kết nối trước khi truy xuất dữ liệu trong CSDL, nhưng thực ra không phải phải sử dụng Connection để tạo kết nối Cả hai đối tượng Command và Recordset đều có thể tạo kết nối tới data store một cách độc lập
*Đối tượng Command
Đối tượng này dùng thực hiện các lệnh trên CSDL Các lệnh này không phải là kịch bản của ASP mà là các câu lệnh của SQL Dùng các lệnh này để lấy thông tin từ CSDL hay thêm các mẫu tin, các bảng vào CSDL hoặc thậm chí xoá thông tin từ CSDL SQL không có các chương trình, mà nó dùng các câu lệnh truy vấn để truy xuất thông tin từ CSDL
* Đối tượng Recordset
Đây là đối tượng thường dùng nhất trong ADO Vì thế nó có nhiều đặc tính (property) và phương thức (method) nhất Recordset được dùng để gửi các record mà chúng ta tạo ra Nói một cách khác Recordset là tập hợp các mẫu tin
Nó có thể là một vài hay tất cả các mẫu tin trong CSDL mà chúng ta tạo ra
Đối tượng Recordset có thể được dùng để xem hay thay đổi CSDL mà ta quan tâm Cũng có thể dùng nó để tìm, duyệt, xoá các mẫu tin và hạn chế các mẫu tin nhạy cảm với vài người dùng, sắp xếp các mẫu tin, cập nhật các mẫu tin
Mô hình đối tượng của ADO
Connection
Error