Do vậy, ngành Dược Việt Nam cần phải có một công cụ quản lý được dựa trên một hệ thống phân loại thuốc thống nhất trong quản lý, cung ứng và sử dụng.. dựng chương trình quản lý thuốc dựa
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI iỉọc Dược HÀ NỘI
-NGUYỄN MẠNH HÙNG
B ư ớ c ĐẦU THIẾT KẾ VÀ XÂY DựNG
CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ THUỐC DựA TRÊN
HỆ THỐNG PHÂN LOẠI ATC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược s ĩKHOÁ ỉ 997-2002
Người hướng dẫn: TS THÁI NGUYỄN HÙNG THU
ThS NGUYỄN TUẤN ANH
Nơi thực hiện : BỘ MÔN Tổ CHÚC - QUẢN LÝ DƯỢC
BỘ MÔN TIN HỌC
Thời gian thực hiện: 3/2002-5/2002
Hà N ộ i-5/2002
ầ
Trang 2Lời cam ơn
Trong quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp em đã nhận dược sự hướng dẫn trực tiếp, tận tỉnh chỉbẳo của của các thầỵ giáo:
Thạc s/Nßu/Sn Thanh Bình.
Tiến sỹ Thái N^uỵễn ũùng Thu.
Thạc sỵNguỵễn Tuấn Ánh.
Cùng vối sự giúp đõ, quan tâm, tham gia ý kiến của các thầỵ cô giáo
bộ môn Tổ chức kinh tế dược, bộ môn Tin học, sự dộng viên khích lệ của gia dinh, bè bạn.
Em xin bàỵ tổ ỉòng biết ơn chần thành tói các thầỵ cô giáo, nhà trường, gia dinh, bè bạn dã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho cm trong quá trình thực hiện vả hoàn thành khoá luận tốt nghiệp nà/.
m Nội Nsồỵ 18 thảng 5 Mm 2002
Sinh Viên Nguỵễn Mạnh ĩỉùũg
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang 4CÁC CHỮVIẾT TẮT
DRG: Nhóm nghiên cứu sử dụng thuốc
DDD: Liều trung bình xác định theo ngày
IWGDSM: Nhóm hoạt động về phương pháp thống kê thuốcNMD: Trung tâm lưu trữ thuốc Na Uy
TEPhMRA: Hiệp hội nghiên cứu thị trường dược châu ÂuWCCDSM: Trung tâm phối hợp về phương pháp thống kê
thuốc của Tổ Chức Y Tế thế giớiWHO: Tổ chức Y Tế thế giới
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỂ
Trong những năm cuối thế kỷ 20, vói sự phát triển của khoa học kỹ thuật, mỗi năm có hàng ngàn thuốc được nghiên cứu và một tỷ lệ nhất định trong số
đó được đưa vào sử dụng Sản lượng thuốc trên thế giới hàng năm tăng với tốc
độ 9-10% [1] ở Việt Nam, tính đến hết ngày 31/12/2000, tổng số thuốc là 9.051 số đăng ký còn hiệu lực Trong đó, số đăng ký của thuốc trong nước là 5.659 ứng vói 346 hoạt chất và số đăng ký của thuốc nước ngoài là 3.392 ứng với 890 hoạt chất [6] Nguồn thuốc dồi dào, đa dạng về chủng loại đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, nhưng cũng gây ra không ít khó khăn cho công tác quản lý và sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn, hợp lý Do vậy, ngành Dược Việt Nam cần phải có một công cụ quản lý được dựa trên một hệ thống phân loại thuốc thống nhất trong quản lý, cung ứng và sử dụng
Từ năm 1981, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo sử dụng hệ thống phân loại thuốc ATC (Anatomical Therapeutic Qiemical classification system) Hiện nay, rất nhiều quốc gia sử dụng hệ thống phân loại này, đặc biệt
là trong công tác quản lý thuốc [2] Thực tế đã cho thấy, hệ thống phân loại ATC có tác dụng trong giám sát tiêu thụ và sử dụng thuốc, cung cấp thông tin cho thầy thuốc, chuẩn hoá trong quyết định điều trị, cung ứng và thay thế thuốc [3]
Mặt khác, mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý đang là một xu hưófng phát triển của xã hội, ngày càng có nhiều chương trình được đưa vào sử dụng và trở thành những công cụ hỗ trợ đắc lực Công tác quản lý thuốc cũng không nằm ngoài xu hướng trên Tuy nhiên, để áp dụng nó trên thực tế, cần thiết phải xây dựng được một cơ sở dữ liệu (CSDL) thuốc được dựa trên một hệ thống phân loại thuốc thống nhất và được tiêu chuẩn hoá
trên phạm vi toàn thế giới Do vậy, khoá luận: “Bước đầu thiết k ế và xây
Trang 6dựng chương trình quản lý thuốc dựa trên hệ thống phân loại ATƯ ’ được
tiến hành nghiên cứu với mục tiêu sau:
o Thiết kế mô hình và xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống phân ỉoại ATC làm cơ sở để xây dựng một hệ thống dữ liệu hoàn chỉnh về thuốc,
o ]Ù 2 y dựng một chương trình khai thác cơ sở dữ liệu trên một cách thuận lợi và đơn giản.
Trang 7Phần 1
TỔNG QUAN
1.1 HỆ THỐNG PHÂN LOẠI ATC
1.1.1 Lịch sử hệ thống phân loại ATC [9]
Từ những năm 60, lĩnh vực nghiên cứu sử dụng thuốc đã thu hút được
sự quan tâm của cộng đồng thế giới Kết quả nghiên cứu trong thòi gian 1966-1967 của Trụ sở Tổ chức Y Tế thế giới tại châu Âu, cho thấy có sự khác biệt rất lớn về vấn đề sử dụng thuốc giữa các nhóm dân cư ở 6 nước châu Âu Năm 1969, tại Oslo, hội nghị chuyên đề về “Sự tiêu dùng thuốc” được tổ chức Hội nghị thống nhất cần phải có một hệ thống phân loại thuốc sử dụng cho các nghiên cứu về tiêu dùng thuốc và để áp dụng trên toàn thế giới Cũng tại Hội nghị này, Nhóm nghiên cứu sử dụng thuốc (DRG) được thành lập với nhiệm vụ xây dựng, phát triển và ứng dụng các phương pháp nghiên cứu sử dụng thuốc
Khoảng đầu những năm 70, Trung tâm lưu trữ thuốc Na Uy (NMD) đã xây dựng hệ thống phân loại ATC (Anatomic Therapeutic Chemical classification system) bằng cách mở rộng và thay đổi hệ thống phân loại thuốc EPhMRA của Hiệp hội nghiên cứu thị trường dược châu Âu (TEPhMRA)
Song để đánh giá việc sử dụng thuốc, điều quan trọng là phải có đồng thời hệ thống phân loại và một đơn vị đo lưòíng NMD đã đưa ra một đơn vị đo lường để sử dụng cho nghiên cứu sử dụng thuốc được gọi là liều xác định theo ngày DDD (Defined Daily Dose) Hệ thống ATC/DDD này đã được sử dụng ở Na Uy từ đầu những năm 70 khi đưa ra những dữ liệu về vấn đề tiêu dùng thuốc
Năm 1975, Hội đồng Y học Bắc Âu được thành lập phối hợp với NMD
để phát triển hệ thống phân loại ATC/DDD Năm 1976, Hội đồng đã sử dụng
Trang 8phưoỉng pháp phân loại ATC/DDD để đưa ra những số liệu thống kê về sử dụng thuốc ở Bắc Âu Kể từ đó, hệ thống phân loại ATC/DDD được sử dụng rộng rãi cho hầu hết các loại thuốc trên thị trường Bắc Âu Cùng thòi gian này, thông qua hoạt động của DRG, hệ thống phân loại ATC/DDD ngày càng thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế.
Năm 1981, Trụ sở WHO tại Châu Âu đã giói thiệu hệ thống phân loại ATC/DDD trước cộng đồng quốc tế cho nghiên cứu sử dụng thuốc Để phổ biến và áp dụng hệ thống phân loại ATC/DDD trên toàn thế giới, Trung tâm
phối hợp về phưcmg pháp thống kê thuốc của Tổ Chức Y Tế thế giói (WCCDS
M) đã được thành lập vào năm 1982 với nhiệm vụ phối hợp sử dụng phuofng pháp phân loại này
Năm 1996, WHO thấy cần thiết phải phổ biến việc sử dụng hệ thống phân loại ATC như một tiêu chuẩn quốc tế để nghiên cứu sử dụng thuốc Từ
đó WCCDS M đã liên hệ trực tiếp với trụ sở chính của WHO ở Geneva thay vì
văn phòng đại diện ở Châu Âu tại Copenhagen Sự phối hợp này tạo điều kiện
cho WHO tiếp cận với nhiều loại thuốc thiết yếu và vấn đề sử dụng thuốc hợp
lý trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, giúp WHO giải quyết các tồn tại, xác định các vấn đề phức tạp cũng như nhu cầu thông tin,
để tiến tới tiêu chuẩn hoá và lượng giá thông tin trong sử dụng thuốc
WHO và NMD thống nhất rằng nhiệm vụ chính của WCQDSM là duy trì và phát triển hệ thống phân loại ATC/DDD Cụ thể bao gồm những công việc sau:
■ Phân loại thuốc theo hệ thống ATC/DDD ư u tiên phân loại những đơn chất
■ Xây dựng DDD cho các loại thuốc đã có mã ATC
■ Phối hợp với các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực sử dụng thuốc để phổ biến hệ thống ATC
Trang 9■ Xem xét và duyệt lại hệ thống phân loại ATC và DDD trong trường hợp cần thiết.
Năm 1996, Cơ quan quản lý và chính sách về thuốc của WHO (WHO Division of Drug Management and Policies) đã thành lập Nhóm hoạt động về phương pháp thống kê thuốc (IWGDSM) gồm 13 chuyên gia của WHO về các lĩnh vực: dược lý, dược lâm sàng, sử dụng thuốc, qui chế thuốc, đánh giá thuốc Các thành viên của nhóm có quốc tịch khác nhau, đại diện cho những người sử dụng hệ thống ATC/DDD ở 6 khu vực khác nhau trên thế giới WCCDSM nhận được những góp ý chuyên môn từ IWGDSM
Nhiệm vụ chính của IWGDSM là:
■ Tiếp tục phát triển hệ thống phân loại ATC/DDD
■ Thảo luận và đưa ra những thay đổi cũng như quyết định về DDD
và mã ATC mới thay cho những liều DDD và mã ATC cũ khi cần thiết
■ Phát triển hơn nữa việc sử dụng hệ thống ATC/DDD như một tiêu chuẩn quốc tế cho các nghiên cứu sử dụng thuốc
■ Duyệt, xem xét lại các thủ tục áp dụng những qui định và thay đổi về mã ATC và DDD trong trường hợp cần thiết để đảm bảo sự nhất quán và rõ ràng
■ Tiếp cận những nguồn dữ liệu thống kê về việc sử dụng thuốc trên thế giới, khuyến khích việc thu thập thông tin thống kê có hệ
thống, toàn diện về sử dụng thuốc ở tất cả các khu vực và các
nước có sử dụng hệ thống ATC/DDD như một tiêu chuẩn quốc tế
■ Phát triển các phương pháp, sách và những hướng dẫn để có thể ứng dụng thực tiễn, hợp lý hệ thống phân loại ATC/DDD trong lĩnh vực nghiên cứu và sử dụng thuốc ở nhiều khu vực, đặc biệt
Trang 10những vấn đề có thể áp dụng được cho những nước đang phát triển.
Mục đích của hệ thống phân loại ATC/DDD là cải thiện chất lượng của việc sử dụng thuốc
Mục tiêu chính của WCCDS M và rVVGDSM là duy trì sự ổn định của
mã ATC và DDD nhằm mục đích giảm thiểu những phức tạp do sự thay đổi thường xuyên của hệ thống phân loại này trong nghiên cứu xu hưófng tiêu dùng thuốc
Sự phân loại một chất trong hệ thống ATC/DDD không phải là khuyến cáo sử dụng thuốc, cũng không nhằm đánh giá về chất lượng của một thuốc hay một nhóm thuốc mà là công cụ cho nghiên cứu sử dụng thuốc Một phần của mục đích này là đưa ra và so sánh các số liệu thống kê về vấn đề tiêu
Hệ thống phân loại thuốc ATC được xây dựng dựa trên cơ sở ba yếu tố:
■ Bộ phận cơ thể mà thuốc tác động vào (Anatomical)
■ Tác dụng điều tn của thuốc (Therapeutic)
■ Các đặc trưng hoá học của thuốc (Chemical)
Trang 11Trong hệ thống phân loại này, mỗi thuốc sẽ có ít nhất một mã bao gồm năm bậc phân loại được ký hiệu dưới dạng những nhóm chữ và số khác nhau [2, 9].
Bảng 1 - Cấu trúc hệ thống phân loại ATC
1 01 chữ cái
Chỉ bộ phận giải phẫu của cơ thể là nơi mà thuốc tác động vào Bậc 1 được chia thành 14 nhóm nhỏ tương ứng vói 14 chữ cái
2 02 ký tự số Chỉ tác dụng điều trị chính có liên quan đến bộ phận
giải phẫu của cơ thể mà thuốc tác động vào
mã bậc 1 là N\ chỉ hoạt chất có tác dụng trên Hệ thần kinh
mã bậc 2 là 05 (thuộc N): chỉ các thuốc tâm thần
mã bậc 3 là ß (thuộc N.02): chỉ tác dụng cụ thể là an thần
mã bậc 4 là A (thuộc N.02.B): chỉ các dẫn chất benzodiazepin
mã bậc 5 là 01 (thuộc nhóm N.02.B.E): là mã của diazepin
1.1.3 Nguyên tắc phân loại
a Nguyên tắc phân loại chung [2,9]
Xếp theo tác dụng điều trị chủ yếu để thuốc có ít nhất một mã phân loại Nhưng thuốc cũng có thể có nhiều mã phân loại nếu có các tác dụng điều trị khác hẳn nhau một cách rõ rệt Ví dụ: hormon sinh dục thưòỉng có mã bắt
Trang 12đầu bằng G.03., nhưng ở nồng độ nào đó lại có tác dụng điều trị ung thư nên
nó lại có thêm mã bắt đầu bằng L.02 Các trường họfp này đều phải có chú thích [2]
Mã đề nghị cho một thuốc mói phải do hội đồng của WHO thông qua
và ban hành Thay đổi một mã thuốc cũng phải theo trình tự như vậy [2]
Tên thuốc trong phân loại ATC phải theo danh pháp quốc tế (INN) [2].Một thuốc có thể có nhiều chỉ định điều trị chủ yếu và tác dụng điều trị chính của một thuốc cũng có thể khác nhau giữa nước này với nước khác Những thuốc như vậy thường cũng chỉ được xếp một mã, chỉ định chính được quyết định dựa trên cơ sở các tài liệu đã có sẵn [9] Các trường hợp này đều
phải có chú thích thêm ở mục tra cứu.
Một thuốc mới không thuộc bất kỳ nhóm các chất có liên quan đến nhau theo hệ thống phân loại ATC ở bậc bốn thì sẽ được đặt vào một nhóm gọi là nhóm các thuốc khác và được ký hiệu là X (Ví dụ Terfenadine có mã R06AX12) Theo qui định chung, bậc phân loại thứ tư chỉ được lập ra khi có
ít nhất 2 thuốc thuộc nhóm này Quy định này nhằm tránh hiện tượng có nhiều bậc phân loại thứ tư mà trong mỗi bậc chỉ có duy nhất một thuốc Do vậy, các thuốc mới thường được xếp vào nhóm X Và khi có thêm một thuốc cùng nhóm được đưa ra thị trường trong một thòd gian ngắn thì một bậc phân loại thứ tư mới sẽ được lập ra [9]
b Phân loại các chế phẩm đơn [9]
Chế phẩm đơn thành phần là chế phẩm chỉ chứa một hoạt chất chính (kể
cả hỗn hợp đồng phân lập thể), có thể có thêm thành phần khác có tác dụng phụ trợ :
Ví Dụ:
■ Kháng sinh và chất gây tê nơi tiêm
Trang 13■ Aspirin và NaHCOg giảm kích ứng niêm mạc đường tiêu hoá.
■ Hoạt chất chính và tác nhân ổn định chế phẩm
■ Hoạt chất chính + vitamin và tác nhân ổn định chế phẩm khác,
c Phân loại các dạng phối hợp [2, 9]
Các chế phẩm có chứa từ hai hay nhiều hoạt chất chính được coi là các dạng thuốc phối hợp Dạng thuốc phối hợp được phân loại dựa vào các nguyên tắc sau:
■ Hai hay nhiều thành phần hoạt chất thuộc cùng nhóm tác dụng điều trị thì hỗn hợp được xếp thứ 20 hoặc 30 ở bậc phân loại thứ 5 [9]
Ví dụ: N01BB02 Lidocaine
N01BB04 PrilocaineN01BB20 là dạng phối hợp Lidocaine và Prilocaine
■ Hai hay nhiều thành phần hoạt chất không cùng nhóm, nhưng tác dụng điều tn như nhau thì xếp cùng một mã nhưng xếp sau số 50
Ví dụ: Chế phẩm Acetyl salicilic acid có thêm một thành phần khác
là codein hoặc caíein nhưng có cùng tác dụng giảm đau thì đều được xếp vào mã N02BA51 Các dạng thuốc phối hợp có cùng hoạt chất chính thì thường có cùng mã ATC Ví dụ chế phẩm chứa Phenylpropanolamine + cinnarizine và Phenylpropanolamine+ brompheniramine đều có cùng mã là R01BA51 [2]
■ Các dạng phối hợp có chứa chất hướng tâm thần mà không phân loại theo mã N05-hướng tâm thần hoặc N06-hướng tâm thần thì phân loại theo bậc thứ 5 có mã từ 70 trở lên Ví dụ: N02BA71 acid acetyl salycylic kết hợp vói các chất hướng thần (những chế phẩm có thành phần khác phối hợp vói chất hướng thần cũng được phân loại theo cách này) [9]
Trang 14Để xác định xếp mã ATC cho một thuốc dạng phối hợp là rất khó Trong trường hợp này người ta thường dựa vào tác dụng điều trị chính của thuốc Một thuốc có chứa cả chất gây mê và giảm đau được sử dụng chủ yếu
để giảm đau sẽ được xếp vào nhóm thuốc giảm đau Tương tự như vậy, một chế phẩm có chất chống co thắt và huỷ cholin thậm chí chứa một lượng nhỏ thuốc giảm đau hoặc hướng thần nhưng được sử dụng chủ yếu làm thuốc chống co thắt đường tiêu hoá thì vẫn được xếp theo mã A03 [9]
1.1.4 Các qui tắc vê những thay đổi trong hệ thống phân loại ATC [9]
Vì các thuốc hiện có và tác dụng của chúng liên tục thay đổi nên việc kiểm tra thường xuyên hệ thống phân loại ATC là cần thiết
Nguyên tắc:
Các thay đổi trong hệ thống phân loại ATC nên giữ ở mức tối thiểu Trước khi có bất kỳ thay đổi nào cần phải cân nhắc giữa khó khăn đối với người sử dụng hệ thống này và những thuận lợi thu được do sự thay đổi đó
Mã ATC sẽ được thay đổi khi mục đích sử dụng của một thuốc đã hoàn toàn thay đổi, và khi có những nhóm thuốc mới cần phải xếp vào những bậc phân loại mới
Khi quyết định sửa đổi hệ thống phân loại ATC cần tuân theo qui tắcsau:
■ Dành một khoảng trống trong một nhóm phân loại ATC cho những thuốc mới có thể xuất hiện trong tương lai
■ Những mã ATC cho các thuốc phối hợp cần phải phù hợp vói việc phân loại các đơn chất
Trang 15■ Những mã ATC đã được dùng cho những chế phẩm không được
sử dụng nữa thì không được áp dụng lại cho các thuốc mới
■ Những thuốc quá cũ không còn được sử dụng hoặc những thuốc
đã thu hồi trên thị trường vẫn được giữ trong hệ thống phân loaị ATC bởi vì sự loại bỏ thuốc ra khỏi hệ thống phân loại ATC có thể gây nhiều khó khăn cho ngưòi sử dụng khi xem xét các dữ liệu trong lịch sử
■ Các thay đổi về mã hiện thời nên giữ ở mức tối thiểu, việc để một khoảng trống trong mã phân loại thích hợp hơn so với việc thay đổi mã
Khi thay đổi một mã phân loại ATC, DDD cũng cần được xem xét lại Bởi vì cùng một thuốc có thể có nhiều tác dụng điều trị nhưng liều sử dụng cho mỗi tác dụng điều trị thường khác khau Ví dụ khi mã ATC của Cloroquin
từ nhóm M chuyển thành nhóm p (Cloroquin chỉ được xét là thuốc chữa sốt rét), DDD cũng phải thay đổi theo vì liều để điểu trị sốt rét khác với liều để chữa các rối loạn về khớp
1.2 ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG SỬDỤNG THUỐC - DDD
Liều dùng xác định hàng ngày của mỗi thuốc - DDD (Defined Daily Dose) là liều tổng cộng trung bình của một thuốc dùng cho một ngày cho một
chỉ định ở người trưởng thành Khái niệm DDD được đưa ra và nghiên cứu
cùng vói phân loại ATC, người ta đã sử dụng nó làm đơn vị đo lường sử dụng thuốc [2]
Đối vói thuốc sử dụng có rất nhiều cách đo lưòfng như giá trị thương phẩm trên thị trường, khối lượng Nhưng các đơn vị này không đánh giá được tình hình tiêu thụ và sử dụng thuốc [3]
Trang 16DDD chỉ là một đofn vị đo lường kỹ thuật về sử dụng thuốc, nó không phản ánh liều dùng thực tế nhưng có ý nghĩa để theo dõi giám sát về tình hình tiêu thụ và sử dụng thuốc có hợp lý hay không [2].
DDD có giá trị quan trọng trong đánh giá dữ liệu kê đơn, phác đồ chuẩn
và xác định nhu cầu thuốc [3]
DDD không phản ánh liều dùng thực tế vì thuốc được chỉ định trong từng trường hợp với liều khác nhau Liều điều trị cho những nhóm bệnh nhân
và bệnh nhân riêng lẻ thường khác DDD và tất yếu phải dựa vào những đặc trưng riêng như: tuổi, trọng lượng và các xem xét về dược động học [9]
Đơn vị đo lường sử dụng thuốc DDD chỉ được gán cho những thuốc đã được xếp loại theo mã ATC [3]
Một số thuốc không thể dùng DDD để theo dõi như: Dịch truyền, vacin, thuốc tê, thuốc gây mê, thuốc ngoài da, thuốc cản quang [3]
1.3 Cơ SỞ D ữ LIỆU:
1.3.1 Khái niệm CSDL [7]
Cơ sở dữ liệu là một hệ thống các file dữ liệu có liên quan nhằm quản lý
và lưu trữ dữ liệu về các đối tượng cần quản lý Các file dữ liệu về bản chất là các bảng 2 chiều bao gồm các cột và các hàng Các file dữ liệu được cất giữ trên các đĩa từ Số hàng thể hiện số đối tượng cần quản lý, còn số cột phụ thuộc vào số thuộc tính của đối tượng Ví dụ để quản lý một danh sách nhân viên với mỗi nhân viên có các thông tin: mã nhân viên, tên, họ, địa chỉ người
ta tạo ra một file dữ liệu Trong đó, thông tin về mỗi nhân viên được chứa trong một hàng bao gồm thông tin về mã nhân viên, tên, họ đệm và địa chỉ được chứa trong từng cột tương ứng
Mỗi hàng trong file dữ liệu được gọi là một record (bản ghi) Vậy bản ghi
là một bộ các thuộc tính đại diện cho một đối tượng trong danh sách hay trong
Trang 17một bảng Mỗi cột được gọi là một trường chứa một thuộc tính của tất cả các đối tượng cần quản lý Cấu tạo một file dữ liệu có thể mô hình hoá như một bảng ở hình 1.
Trường 1 Trường 2 Trường 3Bản ghi 1
Bản ghi 2Bản ghi 3
Hình 1- Mô hình cấu tạo file dữ liệu.
1.3.2 Mô hình CSDL quan hệ [7]
Người ta có thể quản lý dữ liệu chỉ trên một bảng (CSDL tập tin phẳng) Bảng này có thể được đưa ra bằng nhiều cách khác nhau như dạng bảng hay dữ liệu về mỗi đối tưcmg được đưa ra trên từng dòng riêng biệt
Ví dụ: Các thông tin về thuốc với các nội dung về mã thuốc, tên biệt dược, hoạt chất , nguồn gốc , ngày nhập kho, hạn dùng có thể được viết dưới dạng:
1, Aspirin, aspirin, XNDP TW II, 12/6/2001, 12/2/2003
1, Aspirin, aspirin, XNDP TW II, 10/7/2001, 12/5/ 2003
2, Paracetamol, paracetamol, XNDP TW III, 5/7/2001, 1/1/2003
Có một vài vấn đề nảy sinh với CSDL tập tin phẳng
- Trước hết là sự trùng thông tin trong các bản ghi, trong đó có một số trường là thực sự cần thiết còn các trưòfng khác đã có sẵn giá trị trong bản ghi khác rồi Trong ví dụ trên, chúng ta thấy có sự trùng tên biệt dược, hoạt chất
và nguồn gốc của biệt dược Aspừin CSDL kiểu này sẽ tốn tại rất nhiều bản ghi có thông tin trùng tạo ra sự phí phạm tài nguyên lưu trữ, tốn nhiều công sức để nhập số liệu
- Một vấn đề khác cũng không kém phần quan trọng là có thể dẫn đến sự không thống nhất dữ liệu ở các bản ghi khác nhau do nhập liệu không chính
Trang 18xác Ví dụ tên thuốc của cùng một loại thuốc có thể được nhập không hoàn toàn như nhau ở các bản ghi khác nhau dẫn đến những sai lạc khi khai thác thông tin từ bảng.
Để khắc phục các nhược điểm trên người ta thưòỉng sử dụng các CSDL gồm nhiều file có quan hệ với nhau gọi làm mô hình CSDL quan hệ Trong
mô hình CSDL quan hệ thông tin không nằm trong một bảng mà được tách ra thành nhiều bảng nhưng vẫn đảm bảo cung cấp đủ các thuộc tính của đối tượng do các bảng này được liên kết với nhau thông qua các trường khoá CSDL được thiết kế theo mô hình CSDL quan hệ cho phép tránh được sự phí phạm tài nguyên lưu trữ vì giảm thiểu được sự trùng lặp thông tin
Khoá bao gồm một trường hay một số trường duy nhất để xác định một hàng trong một bảng Nói rõ hơn chúng ta cần một phương pháp để xác định được hàng chứa các thuộc tính về một đối tưcmg trong một bảng, khoá là cách duy nhất xác định một hàng trong một bảng
Trang 19- 01 Máy tính cá nhân PC Celeron 433.
- 01 Máy quyét SCANNE ACER 640BT
- 01 Máy in: HP LazerJet 1100
b Phần mềm:
- Phần mềm Microsoft Access 97
- Ngôn ngữ lập trình Visual ơ"*' 6.0
- Phần mềm trợ giúp MSDN library - Junuary 2000
c Tài liệu:
- ATC Index with DDDs, 2000
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp xây dựng cơ sở dữ liệu
Môi trườns xây duns cơ sở dữ liêu:
Cơ sở dữ liệu hệ thống phân loại ATC được thiết kế bằng phần mềm
Microsoft Access
Cách xây dưns cơ sở dữ liêu:
Dữ liệu các bậc phân loại ATC được thiết kế thành các file dữ liệu Cơ sở
dữ liệu hệ thống phân loại ATC được xây dựng dựa trên các file trên, mỗi file đảm nhận một vai trò riêng:
■ File HOATCHAT chứa tên các hoạt chất Mỗi hoạt chất có một
mã dùng để thiết lập quan hệ với file dữ liệu chính là MaATC
■ File Mal_ID chứa mã và nội dung của bậc thứ nhất của hệ thống