1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận: Lịch sử phát triển của phép biện chứng

16 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 43,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hạt nhân lí luận trong Triết học Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng là những phát sinh lớn nhất của Mác - Ănghen và được Lênin kế tục phát triển, là cơ sở lí luận và kim

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: CÁC PHÉP BIỆN CHỨNG TRƯỚC TRIẾT HỌC MÁC

1 Phép biện chứng tự phát ngây thơ thời cổ đại

1.1 Triết học Trung Hoa cổ đại

1.2 Triết học Ấn Độ cổ đại

1.3 Triết học Hy Lạp cổ đại

2 Phép biện chứng Tây Âu thế kỷ XIV - XVIII

3 Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức

CHƯƠNG 2: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT HAY PHÉP BIỆN CHỨNG MÁC-XIT

1 Điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học tự nhiên và lý luận cho sự ra đời của phép duy vật biện chứng

2 Nội dung chính của phép biện chứng duy vật

CHƯƠNG 3: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG SỰ VÂN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử Triết học là một phần học trong chương trình môn Triết học Mác - Lênin ở các trường Đại học và Cao đẳng giúp người học nắm được quá trình hình thành phân tích những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, qui luật của tư duy triết học nhân loại Hạt nhân lí luận trong Triết học Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng là những phát sinh lớn nhất của Mác - Ănghen và được Lênin kế tục phát triển, là cơ sở lí luận và kim chỉ nam cho hoạt động của các Đảng Cộng sản Tuy nhiên không phải Mác - Ănghen xây dựng nên chúng từ mảnh đất không mà phải chọn lựa kế thừa những tư tưởng tiến bộ trong lịch sử phát triển trước đó Việc nghiên cứu lịch sử phát triển của phép biện chứng sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn bản chất củ

a phép biện chứng và sự phát triển của tư duy biện chứng của nhân loại Xuất phát từ mục đích

đó, chúng tôi chọn đề tài tiểu luận về: Lịch sử phát triển của phép biện chứng trong triết học, để nghiên cứu

2 Tổng quan đề tài

Phép biện chứng là một khoa học triết học, là hiện tượng có thế giới quan rộng lớn như bản thân triết học Nó là học thuyết của các mặt đối lập, cho nên vấn đề của phép biện chứng là vấn đề lý giải sự phát triển tính mâu thuẫn của tự nhiên và tư duy về đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập, về các vấn đề gắn liền với nó Hơn nữa, phép biện chứng còn là thước đo căn bản cho sự tiến bộ của nhân loại Như vậy, lịch sử phép biện chứng đã hình thành và phát triển từ khi triết học ra đời mà đỉnh cao của nó là phép biện chứng Macxít dựa trên truyền thống tư tưởng của nhiều thế kỷ, vạch ra những đặc trưng chung của biện chứng khách quan, nghiên cứu những quy luật phổ biến để giúp con người nhận thức và chinh phục thế giới

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Nhằm tìm hiểu kĩ hơn về Lịch sử phát triển phép biện chứng, những ưu nhược điểm, nội dung, sự tiến bộ qua từng giai đoạn và vận dụng lý luận vào phân tích sự vận động và phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay, từ đó đặt ra giải pháp

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Ta nghiên cứu phép biện chứng từ khi nó xuất hiện đến nay, trên toàn thế giới, từng bước phát triển và hoàn thiện

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu lịch sử phát triển của phép biện chứng qua các thời kì gắn liền với hoàn cảnh xuất hiện

6 Đóng góp của đề tài

Trang 3

Từ những điều đã nói ở trên, ta thấy rằng: Nắm vững những nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật không những là nhân tố cơ bản để hình thành thế giới mà là tiền

đề tiên quyết cho sự sáng tạo của con người Do đó, đề tài này có thể là tài liệu khái quát tiếp cận đến những cá nhân muốn tìm hiểu và nghiên cứu chuyên sâu

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của tiểu luận gồm 3 chương:

Chương 1:

Chương 2:

Chương 3:

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CÁC PHÉP BIỆN CHỨNG TRƯỚC TRIẾT HỌC MÁC

1 Phép biện chứng tự phát ngây thơ thời cổ đại

Phép biện chứng thời cổ đại là phép biện chứng tự phát, ngây thơ và mang nặng tính trực quan được hình thành trên cơ sở quan sát tự nhiên, xã hội hoặc thông qua kinh nghiệm của bản thân Ba trung tâm triết học lớn nhất thời bấy giờ là: Triết học Trung Hoa cổ đại, triết học ấn Độ cổ đại và triết học Hy Lạp cổ đại

1.1 Triết học Trung Hoa cổ đại

Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn có lịch sử lâu đời Những biểu hiện tôn giáo, triết học cũng như tư tưởng biện chứng đã xuất hiện rất sớm ở xã hội Trung Hoa cổ đại, và đặc biệt là từ thời kỳ Xuân Thu - Chiến quốc trở đi Nguyên nhân là do xã hội Trung Hoa thời bấy giờ là xã hội đánh dấu sự tan rã của xã hội của chế độ nô lệ và hình thành các quan hệ xã hội phong kiến hết sức phức tạp Hơn nữa, cũng là do các đặc điểm kinh tế có liên quan tới quá trình biến động xã hội này

là sự hình thành nhanh chóng các chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất, vì vậy đã làm xuất hiện hàng loạt các tư tưởng triết học khác nhau để giải quyết nhu cầu của xã hội trong đó tiêu biểu là những

hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng tới mãi về sau này trong lịch sử phong kiến Trung Quốc như đạo Nho, đạo Lão,

Phép biện chứng biến dịch là một nét đặc sắc của triết học Trung Hoa và cũng là tiêu biểu cho phái Nho gia (Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử) Triết lý âm dương đi sâu vào sự suy tư về nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn hữu Theo thuyết âm dương thì mọi sự biến hoá

vô cùng, vô tận, thường xuyên của vạn hữu đều có thể quy về nguyên nhân của sự tương tác giữa hai thế lực đối lập vốn có: Âm và Dương Các nhà biện chứng thuộc phái này cho rằng trời đất luôn biến đổi không ngừng và có tính quy luật Nguyên nhân của mọi biến hoá là do sự giao cảm của hai mặt đối lập như âm dương, nước lửa, đất trời Chính trị - xã hội cũng theo đó mà biến đổi theo quy luật tự nhiên đó Tuy nhiên hạn chế của phép biện chứng này là ở chỗ coi sự biến hoá chỉ

có tính chất tuần hoàn theo chu kỳ khép kín, không có sự phát triển, không có sự xuất hiện cái mới

Đạo Lão (Lão Tử, Dương Chu, Trang Chu) với tư tưởng coi đạo là nguyên lý duy nhất và tuyệt đối trong sự vận hành của vũ trụ, hiện tượng đã thể hiện những tư tưởng biện chứng Tư tưởng đó là vạn hữu đều biến dịch Sự biến dịch này theo hai nguyên tắc cơ bản: quân bình và phản phục (“Cái gì cũ sẽ mới”,”cái gì khuyết ắt tròn đầy”) Tư tưởng phản phục nói lên nguyên lý vận

Trang 5

hành phi phát triển của hiện hữu Hay là tư tưởng các mặt đối lập trong một thể thống nhất, quy định lẫn nhau, là điều kiện tồn tại của nhau, trong cái này có cái kia: “Đẹp tức có xấu, dài ngắn tựa vào nhau Cao thấp liên hệ với nhau, ” Nhưng điều hạn chế của tư tưởng này ở chỗ do các nhà biện chứng nhấn mạnh nguyên tắc quân bình và phản phục trong biến dịch, cho nên họ không đề cao tư tưởng đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn mà nhấn mạnh điều hoà của các mặt đối lập

Tóm lại, học thuyết Âm - Dương là kết quả của quá trình khái quát hoá những kinh nghiệm thực tiễn lâu dài của nhân dân Trung Quốc thời cổ đại Mặc dù còn những tính trực quan, chất phác ngây thơ và tồn tại những quan điểm duy tâm thần bí về xã hội, nhưng học thuyết Âm - Dương đã bộc lộ rõ khuynh hướng duy vật và tư tưởng biện chứng tự phát của mình trong quan điểm về cơ cấu và sự vận động, biến hoá của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội

1.2 Triết học Ấn Độ cổ đại

Xã hội cổ đại Ấn Độ là xã hội mang tính chất công xã nông thôn với sự phân chia đẳng cấp hết sức nghiệt ngã và dai dẳng của 4 đẳng cấp xã hội: tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do và tiện dân (nô lệ) Tư tưởng tôn giáo rất phát triển trong xã hội cổ đại Ấn Độ đã đan xen vào triết học làm nên nét đặc thù của triết học cổ đại Ấn Độ Vào thời kỳ này nhiều tri thức về khoa học tự nhiên cũng ra đời và làm cơ sở cho nhận thức của chủ nghĩa duy vật Tất cả những yếu tố như kinh tế, chính trị,

và tri thức khoa học đó đã hợp thành cơ sở hiện thực cho sự phát sinh và phát triển của những tư tưởng triết học - tôn giáo Ấn Độ cổ đại

Phép biện chứng thô sơ cũng là một giá trị của triết học cổ đại Ấn Độ Có thể nói, các tư tưởng biện chứng đều được thể hiện trong các giáo lý, giáo điều của các giáo phái Tiêu biểu là tư tưởng đạo Phật sơ kỳ và đạo Jaina

Những tư tưởng biện chứng của đạo Phật sơ kỳ được Ph.Ănghen đánh giá là “hết sức sâu sắc” Có thể nói, những tư tưởng triết học về bản thể và phép biện chứng luôn là giá đỡ cho các luận điểm về nhân sinh Tư tưởng biện chứng của đạo Phật sơ kỳ được trình bày tập trung trong các luận điểm: nhân-duyên-sinh, vô ngã, vô thường Theo tinh thần triết lý này thì vạn vật không

do một uy lực thần linh nào chi phối, mà tất cả đều chịu tác động của luật Nhân-duyên-sinh (hay nhân - quả), theo quá trình sinh-trụ-hoại-không Và cũng vì vậy không có cái gì là thường hằng bất biến (vô ngã và cũng không có cái gì là thường hằng không đổi (vô thường) - tức là trên bình diện tồn tại của hai chiều không gian và thời gian đều biến động

Tư tưởng biện chứng của Jaina thể hiện ở học thuyết không tuyệt đối Nó cho rằng tồn tại đầu tiên là bất biến vô thuỷ, vô chung, biến chuyển là không ngừng Theo Jaina, tồn tại vừa bất

Trang 6

biến, vừa biến chuyển Cái vĩnh hằng là bản thể, còn cái không vĩnh hằng, luôn luôn biến đổi, là các dạng của bản thể Đó là một mâu thuẫn mà con người cần phải chấp nhận Tuy nhiên, phép biện chứng của triết học cổ đại Ấn Độ còn nhiều hạn chế như coi linh hồn con người là bất tử (đạo Phật) hay là có quan niệm về biện chứng chưa triệt để (những phán đoán về thế giới hiện tượng của phái Jaina)

Qua các học thuyết triết học Ấn Độ và Trung Hoa cổ đại, chúng ta có thể thấy được những

tư tưởng biện chứng của những nguyên tắc về sự vận động, biến dịch của vũ trụ hiện hữu Nhưng ở đây có thể nói nguyên tắc về sự thăng bằng của biến động đã được đặc biệt quan tâm Trong khi đó những nguyên lý và nguyên tắc về sự biến động phát triển về cơ bản chưa được khai thác

1.3 Triết học Hy Lạp cổ đại

Quá trình tan rã của chế độ bộ lạc nguyên thuỷ và hình thành xã hội có giai cấp của Hy Lạp

cổ đại kéo dài tới vài thế kỷ đã dẫn tới các hậu quả kinh tế xã hội khác như: vai trò sở hữu tư nhân trước hết là sở hữu của giới quý tộc nông nghiệp và quý tộc dòng dõi ngày càng phát triển Vì vậy, nên mâu thuẫn giữa các giai cấp ngày càng gay gắt như đấu tranh giai cấp giữa chủ nô và nô lệ, phe dân chủ - chủ nô tiến bộ và phe quý tộc - chủ nô bảo thủ Thêm vào đó là sự phát triển của nghề thủ công, nông nghiệp, thương mại, hàng hoá đã làm nền tảng cho sự phát triển tri thức về thiên văn, khí tượng, toán học, vật lý Những khoa học này ra đời đòi hỏi sự khái quát cao của triết học, thế nhưng ở thời kỳ này tri thức triết học và tri thức về khoa học cụ thể thường hoà lẫn vào nhau Các nhà triết học đồng thời cũng là các nhà khoa học Do vậy, sự phát triển của kinh tế, xã hội nhất là các môn khoa học cụ thể sẽ kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của triết học Những quan niệm biện chứng đã chiếm một phần đáng kể trong thế giới quan của người Hy Lạp cổ đại Về thực chất, nó

đã xuất hiện cùng với triết học Ngoài ra, ở thời kỳ này cũng đã diễn ra sự giao lưu giữa Hy Lạp và phương Đông nên triết học Hy Lạp cũng mang ít nhiều ảnh hưởng của triết học phương Đông

Một trong những trang sáng chói nhất trong sự phát triển của tư tưởng biện chứng thế giới, với giai đoạn đầu của nó là phép biện chứng Hy Lạp cổ đại Chính các dữ kiện lịch sử hình thành phép biện chứng cổ đại trên đây đã chứng tỏ rằng nó góp phần phát triển phép biện chứng hiện đại ngày nay, là những cuộc luận chiến giữa các đại biểu của nó với những người bảo vệ phương pháp siêu hình, mặt đối lập của phép biện chứng Theo V.I Lênin, quan điểm biện chứng về sự phát triển dựa trên học thuyết mâu thuẫn, về các mặt đối lập, về sự thống nhất, đấu tranh giữa các mặt đối lập đó Ông coi phép biện chứng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là khởi nguyên lịch sử Hay nói cách khác phép biện chứng macxít, khoa học, hiện đại dựa trên truyền thống tư tưởng

Trang 7

nhiều thế kỷ, bắt nguồn từ biện chứng Hy Lạp thời cổ đại với tư cách là khởi nguyên của mình Do vậy, khi nói tới biện chứng giai đoạn này, đây là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử nhận thức mang tính biện chứng về sự phát triển của hiện thực và đó chính là phép biện chứng cổ điển

Tư tưởng biện chứng nhận thức của thời kỳ này qua suy luận của Hêraclit là sự tương tác giữa cảm tính và tư duy, qua phỏng đoán sáng suốt của Đêmôcrit về tính chế định lẫn nhau giữa

“nhận thức mờ ám” và “nhận thức trong sáng”

Trước tiên, chúng ta phải nói đến Hêraclit - người giữ vị trí trung tâm trong lịch sử phép biện chứng cổ đại Lê-nin coi ông là “một trong những người sáng lập ra phép biện chứng” Điều

cơ bản và đặc thù trong học thuyết của Hêraclit là tư tưởng của ông về sự thống nhất biện chứng (mâu thuẫn) của sự hài hoà và đấu tranh giữa các mặt đối lập Các mặt đối lập cùng tồn tại và chuyển hoá cho nhau Sự chuyển hoá đó phải thông qua đấu tranh Về nhận thức luận, ông đứng trên lập trường duy vật và biện chứng Ông cho rằng vũ trụ tồn tại theo những quy luật nội tại của

nó Nhận thức là nhận thức cái tất yếu, cái thống nhất bao gồm các mặt đối lập là nhận thức cái quy luật nội tại của vũ trụ Con đường nhận thức bắt đầu từ cảm tính sau đó qua lý tính Theo ông, chân

lý mang tính cụ thể và tuơng đối Như vậy, sự phát triển ra các mối liên hệ và các quan hệ phổ biến trong vũ trụ, phép biện chứng khách quan của người Hy Lạp cổ đại đã sớm đạt tới đỉnh cao của mình trong học thuyết của Hêraclit về sự đấu tranh phổ biến và về sự thống nhất giữa các mặt đối lập Tuy nhiên, ta vẫn nhận thấy những hạn chế của Hêraclit đó là nặng về tính biểu trưng của thế giới mà chưa giải thích được nguyên nhân sâu xa của nó Hêraclit cho rằng thế giới vật chất bắt nguồn từ bản thân nó, dạng đầu tiên của vật chất là “lửa” Thế giới thống nhất ở ngọn lửa Thế giới vật chất vận động không ngừng

Sự phát triển của vấn đề nhận thức luận trong triết học Hy Lạp cổ đại ở thế kỷ V (tr.CN) đã làm xuất hiện học thuyết của chủ nghĩa duy vật nguyên tử mà đại biểu lớn nhất là Đêmôcrít Tính biện chứng của học thuyết của Đêmôcrit về nhận thức “minh mẫn” và nhận thức “rối rắm”, trong luận điểm về tồn tại vật lý của “không tồn tại” Biện chứng của nhận thức này đã được chuẩn bị nhờ các tư tưởng của của Hêraclit Phép biện chứng mà ở Hêraclit đã có được một tính chất khách quan rõ nét, thì tiếp tục được phát triển ở Đêmôcrít Chính với tư cách là phép biện chứng khách quan “vũ trụ luận” của ông tất yếu đã có ảnh hưởng đến khảo cứu hệ vấn đề nhận thức lý luận Hơn nữa, tư tưỏng biện chứng của Đêmôcrit còn chứa đựng những tư tưởng biện chứng mới mẻ và chưa từng được nghiên cứu: Nếu học thuyết của Hêraclit về cơ bản là sự lý giải biện chứng về vũ trụ, thì phép biện chứng của Đêmôcrit là chính là lý luận nhận thức Ông thừa nhận vai trò của nhận thức

Trang 8

cảm tính và nhận thức lý tính, coi cảm giác là bước đầu của tri thức, nhưng cảm giác là nhận thức

“mờ tối” vì nó không cho ta biết nguyên tử và chân không Vì vậy, cần phải có sự tham gia của lý tính - nhận thức “ chân thực”, tinh tế và sâu sắc hơn Đêmôcrit cũng đã chỉ ra được mối liên hệ qua lại giữa cảm tính và lý tính, giữa cảm giác và tư duy lý luận “nhận thức trong sáng” (tư duy lý luận), nhận thức về chân lý, về hiện thực là không đạt tới đối với cảm tính, nhưng chúng lại được xác thực từ cảm tính Trong lĩnh vực lý luận, về thực chất Đêmôcrit đã trở thành đại biểu của phép biện chứng cổ đại với tư cách là học thuyết về sự phát triển của tư duy trên cơ sở mặt đối lập của

nó - cảm giác Qua đó ông bổ sung phép biện chứng lôgốt của Hêraclit Quan điểm về vũ trụ vĩnh cửu vô tận, cấu thành từ vô số thế giới biến đổi vĩnh hằng, có sự sống và không có sự sống là một trong các thành tựu tuyệt vời của phép biện chứng tự nhiên cổ đại phác hoạ đầu tiên về biện chứng khách quan của thế giới vật chất Ông đã vạch ra một số khâu biện chứng trong đời sống xã hội và hơn hết là đưa vào yếu tố biện chứng vào lý luận nhận thức Tuy nhiên, ông vẫn là người theo chủ nghĩa khắc kỷ, xa lạ với phép biện chứng trong lý luận về vận động của nguyên tử và trong cái kết luận mà ông rút ra từ đó đối với con người

Tuy phép biện chứng Hy Lạp cổ đại đóng vai trò là khởi thuỷ trong sự phát triển của lịch sử phép biện chứng nhưng nó “còn quan niệm giới tự nhiên là một chỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ

mà xét chỉnh thể ấy Mối liên hệ phổ biến giữa các hiện tượng tự nhiên chưa được chứng minh về mặt chi tiết, đối với họ, mối liên hệ đó là kết quả của sự quan sát trực tiếp”[C.Mác-Ănghen - toàn tập] Do vậy, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại mới chỉ phát triển với tư cách là một quan niệm chung về thế giới

Tóm lại, phép biện chứng thời cổ đại về căn bản là đúng nhưng chủ yếu mới dựa trên những phỏng đoán, những trực kiến thiên tài Phép biện chứng tự phát thời cổ đại đã nhìn thấy bức tranh chung của thế giới trong sự tác động, liên hệ của các mặt đối lập, song chưa đi sâu vào chi tiết của bức tranh Vì vậy, nó không tránh khỏi bị phủ định bởi phép siêu hình trong thời kỳ cận đại

2 Phép biện chứng Tây Âu thế kỷ XIV - XVIII

Suốt trong 4 thế kỷ (từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVIII), sự trưởng thành của tư tưởng biện chứng Tây Âu mang nhiều ý nghĩa độc đáo Phép biện chứng trong thời kỳ này phát triển trong thời kỳ thống trị của tư duy siêu hình

Sau đêm trường Trung cổ, triết học là thứ triết học kinh viện giáo điều gắn với đạo Thiên chúa Đến thời kỳ Phục hưng, triết học thời kỳ này đã khôi phục lại những tư tưởng duy vật cổ đại nhưng vẫn còn mang tính phiếm thần, yếu tố duy vật xen lẫn duy tâm Tuy nhiên phép biện chứng

Trang 9

thời kỳ này vẫn có bước phát triển như tư tưởng về "sự phù hợp của các mặt đối lập" của Gioocdanơ Brunô (1548 -1600) Theo G.Brunô mọi cái đều liên hệ với nhau và đều vận động, kể

từ các hạt vật chất nhỏ nhất - nguyên tử đến vô số thế giới của vũ trụ vô tận, cái này tiêu diệt cái kia ra đời Nếu không theo nguyên tắc "các mặt đối lập phù hợp với nhau" thì dù là nhà toán học, nhà vật lý, cả nhà triết học cũng không làm việc được Một trong những đại biểu của triết học Tây

Âu thời kỳ cận đại là Ph.Bêcơn (1561 - 1626) Ph.Bêcơn khẳnh định vật chất không tách rời vận động, nhận thức bản chất của sự vật là nhận thức sự vận động của chúng Ông đã tiến hành phân vận động thành 19 loại Tuy nhiên tính chất siêu hình của ông thể hiện: Ông quy mọi loại vận động

về vận động cơ học Song cống hiến của ông là ở chỗ coi đứng yên là một hình thức của vận động, coi vận động là đặc tính cố hữu của vật chất, ông là người đầu tiên nhận thấy tính bảo toàn vật chất của thế giới

Trong thời kỳ cận đại, khoa học tự nhiên đã phát triển và đi sâu mổ xẻ phân tích giới tự nhiên thành những bộ phận nhỏ để nghiên cứu Những phương pháp đó đã tạo ra thói quen nghiên cứu xem xét sự vật trong trạng thái cô lập, tách rời và bất biến Từ khi Ph.Bêcơn và Lốccơ đem phương pháp trong khoa học tự nhiên áp dụng vào triết học thì phương pháp siêu hình trở thành phương pháp thống trị trong triết học Do đó khi khoa học chuyển sang nghiên cứu các quá trình phát sinh, phát triển của sự vật, hiện tượng thì nó bộc lộ rõ những hạn chế Vì vậy nó không tránh khỏi bị phủ định bởi phép biện chứng của triết học cổ điển Đức với đỉnh cao là phép biện chứng Hêghen

3 Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức

Như Lênin đã từng đánh giá: Dù có sự thần bí hoá duy tâm, nhưng phép biện chứng cổ điển Đức đã đặt ra sự thống nhất giữa phép biện chứng và logic học và lý luận nhận thức Trong các nền triết học trước C.Mác thì triết học cổ điển Đức có trình độ khái quát hoá và trừu tượng hoá cao với kết cấu hệ thống chặt chẽ, logic Đây là tiến bộ của nền triết học Đức

Nền triết học cổ điển Đức bắt đầu từ Kantơ, đạt đỉnh cao ở Hêghen sau đó suy tàn ở triết học Phoiơbắc Kantơ (1724 - 1804) là người sáng lập ra trường phái triết học cổ điển Đức Ông cho rằng chỉ khi nhận thức ở trình độ lý tính thì mới có mâu thuẫn mà chưa thấy được rằng mâu thuẫn là vốn có trong hiện thực khách quan Mâu thuẫn chưa phải là mâu thuẫn biện chứng giữa chính đề và phản đề, chưa có sự thống nhất và chuyển hoá lẫn nhau Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng trong vấn đề này Kantơ đã tiến gần đến phép biện chứng Hêghen (1770 -1831) là nhà biện chứng lỗi lạc Phép biện chứng của ông là một tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mácxit Triết

Trang 10

học của ông có ảnh hưởng rất mạnh đến tư tưởng của nước Đức và cả Châu Âu đương thời Triết học của ông được gọi là "tinh thần Phổ" Phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm tức là phép biện chứng về sự vận động và phát triển của các khái niệm được ông đồng nhất với biện chứng sự vật Ông viết: "Phép biện chứng nói chúng là nguyên tắc của mọi vận động, mọi sự sống và mọi hoạt động trong phạm vi hiện thực Cái biện chứng là linh hồn của mọi nhận thức khoa học chân chính " Luận điểm xuyên suốt trong hệ thống triết học của Hêghen là: "Tất cả cái gì

là hiện thực đều là hợp lý và tất cả những gì hợp lý đều là tồn tại" Hêghen là người đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, xã hội và

tư duy một cách biện chứng, có nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Trong logic học, Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù triết học như lượng chất, vật chất -vận động mà còn đề cập đến các quy luật khác như lượng đổi dẫn đến chất đổi, quy luật phủ định biện chứng Nhưng tất cả chỉ là những quy luật vận động, phạm trù của tư duy, của khái niệm Khi nghiên cứu xã hội, Hêghen khẳng định sự phát triển cuả xã hội là sự đi lên Quá trình phát triển của lịch sử có tính kế thừa Lịch sử là tính thống nhất giữa tính khách quan và chủ quan trong hoạt động của con người Hêghen đã có công xây dựng một hệ thống các phạm trù và quy luật của phép biện chứng như là những công cụ của tư duy biện chứng Trong khi hệ thống triết học của Hêghen chứa đựng những tư tưởng biện chứng sâu sắc thì cách trình bày của ông lại mang tính duy tâm bảo thủ, thể hiện ở: Sự vận động của xã hội là do sự vận động của tư duy (ý niệm tuyệt đối) sinh ra

Do đó mà C.Mác gọi phép biện chứng của Hêghen là: "Phép biện chứng đi lộn đầu xuống đất" Vì vậy, cần phải đặt nó đứng bằng hai chân trên mảnh đất hiện thực, nghĩa là trên quan điểm duy vật

CHƯƠNG 2: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT HAY PHÉP BIỆN CHỨNG MÁC-XIT

1 Điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học tự nhiên và lý luận cho sự ra đời của phép duy vật biện chứng

Tiền đề về kinh tế xã hội và chính trị :Đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã đạt tới trình độ

cao của thời kỳ tự do cạnh tranh (Pháp: 1789 – 1794, An : 1642 - 1698) tạo ra những thành tựu to lớn về kinh tế chính trị tiêu biểu đó là tạo ra nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và một nền dân chủ tư sản, đồng thời sự phát triển ấy cũng khoét sâu các mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản Chính trên cơ

sở đó, đã đặt ra nhu cầu xây dựng một thế giới quan mới cho giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống áp bức Đó là nhu cầu lịch sử nhưng đồng thời nó cũng tạo ra những điều kiện, những quan điểm khoa học và cách mạng mới trong nhìn nhận xã hội

Ngày đăng: 14/07/2021, 22:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w