1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Sự phát triển của phép biện chứng trong triết học

26 677 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 200,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học thuyết Âm - dương, mặc dù còn có những tính chất trực quan,chất phác ngây thơ và tồn tại nhiều quan điểm duy tâm thần bí về xã hội,nhưng học thuyết Âm - dương đã bộc lộ rõ khuynh hướ

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3 CHƯƠNG 1: CÁC PHÉP BIỆN CHỨNG TRƯỚC TRIẾT HỌC MÁC 1.1 Phép biện chứng thời cổ đại 3

1.1.1 Triết học Trung Hoa cổ đại 3

1.1.2 Triết học Ân Độ cổ đại 5

1.1.3 Triết học Hy Lạp cổ đại 6

1.2 Phép biện chứng thời kỳ Phục hưng và cận đại ở Tây Âu 11

1.3 Phép biện chứng cổ điển Đức 13

CHƯƠNG 2: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT MÁC XÍT 16

2.1 Những tiền đề về kinh tế- xã hội, lý luận, khoa học cho sự ra đời phép biện chứng duy vật 2.2 Nội dung chính của phép biện chứng duy vật 17

2.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu lịch sử của phép biện chứng 20

KẾT LUẬN 23

Trang 2

MỞ ĐẦU

Lịch sử phát triển của triết học là lịch sử phát triển của tư duy triếthọc gắn liền với cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duytâm, giữa hai phương pháp biện chứng và siêu hình Trong đó, phương phápsiêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái đứng im, khôngvận động, tách rời Phương pháp này đã dẫn đến sai lầm phủ nhận sự pháttriển, không thấy được mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng Còn phươngpháp biện chứng là phương pháp xem xét những sự vật, hiện tượng là nhữngphản ánh của chúng vào tư duy chủ yếu là trong mối liên hệ qua lại giữachúng, trong sự phát sinh và tiêu vong của chúng

Trong lịch sử triết học đã từng có thời kỳ tư duy siêu hình chiếm

ưu thế so với tư duy biện chứng Nhưng xét trên toàn bộ lịch sử triết học, thìphương pháp biện chứng luôn chiếm một vị trí đặc biệt, là phương phápxuyên suốt trong đời sống tinh thần xã hội của nhân loại Vì vậy nó cũngphát triển từ thấp đến cao mà đỉnh cao là phép biện chứng duy vật mácxítcủa triết học Mác - Lênin Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn đánh giá cao phépbiện chứng, coi đó là một công cụ tư duy sắc bén để đấu tranh với thuyết bấtkhả tri, tư duy siêu hình, củng cố niềm tin và sức mạnh của con người trongnhận thức và cải tạo thế giới

Thực tiễn cách mạng đã chứng minh rằng chỉ khi nào con người nắmvững những lý luận về phép biện chứng và vận dụng sáng tạo các nguyên tắcphương pháp luận của nó phù hợp với hoàn cảnh cụ thể thì quá trình cải tạo

và biến đổi xã hội mới mang tính cách mạng triệt để Vì vậy, việc nghiêncứu về lịch sử phát triển của phép biện chứng sẽ cho chúng ta thấy rõ hơnbản chất của phép biện chứng và sự phát triển của tư duy biện chứng của

nhân loại Từ mục đích đó em chọn đề tài tiểu luận: “Sự phát triển của

phép biện chứng trong triết học”.

Trang 3

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CÁC PHÉP BIỆN CHỨNG TRƯỚC TRIẾT HỌC MÁC

1.1 Phép biện chứng thời Cổ đại.

Phép biện chứng thời Cổ đại là phép biện chứng tự phát, ngây thơ

và mang tính trực quan, được hình thành trên cơ sở quan sát tự nhiên, xã hộihoặc thông qua kinh nghiệm bản thân Thời Cổ đại có ba trung tâm triết họclớn nhất bấy giờ là: Triết học Trung Hoa cổ đại, Triết học Ấn Độ cổ đại,Triết học Hy Lạp cổ đại Bên cạnh những đặc điểm chung, do đặc điểm vănhoá cũng như hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên sự thể hiện tư tưởng biệnchứng trong hệ thống triết học ở mỗi trung tâm đều có những đặc điểm riêng

không giống nhau.

1.1.1 Triết học Trung Hoa cổ đại

Triết học Trung Hoa cổ đại là một nền triết học lớn của nhân loại,

có tới 103 trường phái triết học Do đặc điểm của bối cảnh lịch sử TrungQuốc lúc đó là xã hội loạn lạc, đời sống nhân dân cơ cực, đạo đức suy đồinên Triết học Trung Hoa cổ đại tập trung vào giải quyết các vấn đề về chínhtrị - xã hội Những tư tưởng biện chứng thời kỳ này chỉ thể hiện khi các nhàtriết học kiến giải các vấn đề về vũ trụ quan

Thuyết Âm- Dương là một học thuyết triết học mang tư tưởng biệnchứng sơ khai, tự phát nhưng rất sâu sắc của người Trung Quốc cổ đại Mộttrong những nguyên lý cơ bản nhất của học thuyết này là nhìn nhận mọi sựtồn tại không phải trong tính đồng nhất tuyệt đối, mà cũng không phải trong

sự loại trừ biệt lập không thể tương đồng Trái lại tất cả đều bao hàm sựthống nhất của các mặt đối lập Âm - dương, Âm - dương không loại trừ,không biệt lập mà bao hàm nhau, liên hệ tương tác lẫn nhau, chế ước lẫnnhau Sự tương tác lẫn nhau giữa Âm - dương các mặt đối lập làm cho vũ trụ

Trang 4

biến đổi không ngừng Đây là quan điểm tư tưởng biện chứng sâu sắc Họcthuyết này cũng cho rằng chu trình vận động, biến dịch của vạn vật trong vũtrụ diễn ra theo nguyên lý phân đôi các thể thống nhất Điều đó có nghĩa làgiữa cái đa và cái duy nhất có sự cân bằng Thế giới có tính chỉnh thể, toànvẹn, thống nhất giữa những cái bất biến và những cái hằng biến Bằng môhình Thái cực, người Trung Quốc đã giải thích sự biến hóa của vũ trụ nhưsau: Thái cực( thể thống nhất) phân đôi thành Lưỡng nghi (Âm - Dương).Lưỡng nghi sinh Tứ tượng (thái âm- thiếu âm, thái dương- thiếu dương) Tứtrụ lại sinh ra Bát quái( Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài) và từBát quái sinh ra vạn vật

Tuy nhiên, học thuyết Âm - dương cho rằng sự vận động của vạnvật đều diễn ra theo chu kỳ lặp lại, không có sự phát triển đi lên Hơn nữa,học thuyết Âm - dương còn nhiều yếu tố duy tâm thần bí như quan điểm

“Thiên tôn địa ty” cho rằng trật tự sang hèn trong xã hội bắt nguồn từ trật tựcủa trời đất, họ đem trật tự xã hội gán cho giới tự nhiên, rồi lại dùng họcthuyết bịa đặt đó chứng minh cho sự hợp lý của chế độ đẳng cấp xã hội

Học thuyết Âm - dương, mặc dù còn có những tính chất trực quan,chất phác ngây thơ và tồn tại nhiều quan điểm duy tâm thần bí về xã hội,nhưng học thuyết Âm - dương đã bộc lộ rõ khuynh hướng duy vật và tưtưởng biện chứng tự phát của mình trong quan điểm về cơ cấu và sự vậnđộng, biến hoá của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội

Nói đến tư tưỏng biện chứng chất phác, chúng ta không thể khôngnói đến Đạo gia Đạo gia là trường phái mang tính triết học nhiều nhất trongcác hệ thống triết học Trung Hoa với những đại biểu điển hình là: Lão tử,Trang Tử, Dương Chu Vì vậy, mà người ta hay gọi Đạo gia là đạo LãoTrang

Trang 5

Quan điểm của Đạo gia về vũ trụ quan: Đạo gia cho rằng có mộtchúa tể vô hình và tối cao không hình thù không bản sắc, là nguyên nhân, làđầu mối của vạn vật Đạo gia gọi chúa tể này là “Đạo”- con đường biến hoácủa vạn vật Đạo sáng tạo ra vạn vật Vạn vật nhờ có Đạo mà sinh ra, sự sinhsản ra vạn vật theo trình tự “đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh

ra vạn vật” Trong mỗi sự vật hiện tượng luôn bao hàm các mặt đối lập Vạnvật “bồng âm” và “cõng dương”, không có vật nào thuần âm hoặc thuầndương Quy luật biến hoá của vạn vật là “ phản giả đạo chi động” (luôn luôn

có động thái muốn quay trở về gốc, về điểm xuất phát của mình)

Như vậy, tư tưởng biện chứng của Đạo gia thể hiện ở: Một là,những cái đối lập tồn tại dựa vào nhau, thống nhất với nhau, do vậy trừ bỏđược một mặt trong đó thì cũng tức là trừ bỏ được mặt kia Hai là, muốn chomột vật nào đó suy tàn thì trước hết hãy làm cho nó tạm thời hưng thịnh lên

đã, đến điểm tột cùng nó sẽ chuyển sang mặt đối lập( tức suy tàn)

Đạo gia đã có những tư tưởng biện chứng chất phác nhưng chưa trởthành hệ thống Trong tư tưởng chính trị- xã hội của Đạo gia còn chứa nhiềuyếu tố bảo thủ, thậm chí là phản động( khuyên con người sống vô vi, thuậntheo tự nhiên, thủ tiêu đấu tranh giai cấp)

Tóm lại, tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đạimang tính tự phát, sơ khai, nhấn mạnh sự hài hòa thống nhất giữa tự nhiên,

xã hội và nhân sinh Đa số các nhà triết học đều nhấn mạnh sự hài hòa thốngnhất giữa các mặt đối lập, coi trọng tính đồng nhất của các mối liên hệ tương

hỗ của các sự vật, coi việc điều hòa mâu thuẫn là muc tiêu cuối cùng để giảiquyết vấn đề Đây cũng là tư duy điển hình của người phương Đông trongsuốt chiều dài lịch sử

Trang 6

1.1.2 Triết học Ấn Độ cổ đại

Đây là hệ thống triết học có sự đan xen giữa triết học với tôn giáo vàgiữa các trường phái khác nhau Các tư tưởng triết học được thể hiện dướihình thức là một tôn giáo Trong các trường phái tôn giáo ở Ấn Độ thì Phậtgiáo mang tính duy vật và biện chứng sâu sắc của nền triết học cổ đại Ấn

Độ

Phật giáo được hình thành từ thế kỷ VI TCN, do thái tử Tất Đạt Đatên hiệu là Thích Ca Mâu Ni (563-483 TCN) khai sáng Phật giáo cho rằngvạn vật trên thế giới không do một đấng thần linh nào đó tạo ra mà được tạo

ra bởi hai yếu tố là Danh (tinh thần) và Sắc (vật chất) Trong đó Danh baogồm tâm và thức, còn Sắc bao gồm bốn đại (đại thuỷ, đại địa, đại hoả, đạiphong) Chính nhờ quan điểm nêu trên mà Phật giáo được coi là tôn giáo có

tư tưởng biện chứng duy vật sơ khai

Triết học Phật giáo có yếu tố vô ngã, vô thường Vô ngã là không

có cái tôi bất biến, cách nhìn này hoàn toàn đối lập với cách nhìn siêu hình

về tồn tại Cũng từ cách nhìn này, triết học Phật giáo đưa ra nguyên lý vềmối liên hệ nhất định: không có cái nào là biệt lập tuyệt đối so với tồn tạikhác, tất cả đều hoà đồng nhau Vô thường là nói lên sự biến đổi khôngngừng của vạn vật, không có cái gì là đứng im Quy luật vô thường của mọitồn tại là: Sinh, Trụ, Dị, Diệt Đây là phỏng đoán biện chứng về sự biến đổicủa tồn tại

Quy luật nhân - quả cho rằng sự tồn tại đa dạng và phong phú củathế giới đều có nguyên nhân tự thân, đó là quy luật nhân quả, một định lý tấtđịnh và phổ biến của mọi tồn tại, dù đó là vũ trụ hay nhân sinh

Theo trường phái Samkhya, Prakriti( hay Pradhana) là vật chất đầutiên, nó không phải là vật chất ở dạng thô hay rõ ràng có thể nhận thức bằngcảm giác, mà là vật chất ở dạng tinh tế, tiềm ẩn vô định hình và trong nó

Trang 7

chứa đựng khả năng tự biến hoá Vật chất là vĩnh hằng nhưng không đứngyên, biến đi không nhừng từ dạng này sang dạng khác Prakriti không ngừngbiến hoá, phát triển trong không gian theo luật nhân - quả dẫn tới xuất hiệntính đa dạng của giới tự nhiên Tuy nhiên, về bản thể luận, phái Samkhyatheo quan điểm nhị nguyên luận khi thừa nhận sự tồn tại hai bản nguyên của

vũ trụ là bản nguyên vật chất Prakriti và bản nguyên tinh thần Prusa

Tóm lại, Triết học Ấn Độ là một trong những nôi triết học vĩ đại củanhân loại thời kỳ cổ đại Nó chứa đựng những yếu tố duy vật, vô thần đãmanh nha hình thành tư tưởng biện chứng sơ khai Tuy nhiên, tư duy triếthọc thời kỳ này cũng bộc lộ những hạn chế như: coi linh hồn con người làbất tử, có yếu tố duy tâm…

1.1.3 Triết học Hy Lạp cổ đại

Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển vào thế kỷ thứ VI TCN Cơ sởkinh tế của nền triết học đó là quyền sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sảnxuất và người nô lệ Khoa học lúc đó chưa phân ngành, các nhà triết họcđồng thời là nhà toán học, vật lý học, thiên văn học…Nhìn chung, triết học

Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phát và biện chứng sơ khai Đờisống chính trị của Hy Lạp lúc bấy giờ sôi động, những quan hệ thương mạivới nhiều nước khác nhau trên Địa Trung Hải Sự tiếp xúc với đời sống sinhhoạt và những tri thức muôn vẻ của nhân dân các nước ấy đã góp phần quyếtđịnh và làm phát triển thế giới quan duy vật và biện chứng sơ khai của HyLạp cổ đại Có thể tìm hiếu các tư tưởng biện chứng nổi bật của triết học HyLạp cổ đại qua một số đại diện cơ bản sau đây:

• Talét (625-547 TCN):

Talet là đại biểu tiêu biểu của trường phái triết học Mile Thành tựunổi bật của Talét là quan niệm triết học duy vật và biện chứng tự phát Ôngcho rằng nước là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của mọi vật trong thế giới

Trang 8

Mọi tồn tại đều sinh ra từ nước và khi phân huỷ lại biến thành nước TheoTalét, vật chất tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó sinh ra thì biến đổi khôngngừng sinh ra và chết đi Toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất, tồntại tựa như một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng mà nước là nền tảngcủa vòng tuần hoàn đó Tuy nhiên, các quan điểm triết học duy vật của Talétmới chỉ dừng lại ở mức độ mộc mạc, thô sơ, cảm tính.

• Hêraclít ( 540- 480 TCN)

Theo các nhà kinh điển Mác- Lênin thì Hêraclit là người sáng lậpphép biện chứng và ông xây dựng phép biện chứng trên lập trường duy vật

Thứ nhất: Quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất Theo

Hêraclít không có sự vật hiện tượng nào của thế giới đứng im tuyệt đối màtrái lại tất cả đều ở trạng thái biến đổi và chuyển hoá thành cái khác vàngược lại, ông từng nói: “Chúng ta không thể tắm hai lần trên một dòngsông vì nước mới không ngừng chảy trên sông” và “Ngay cả mặt trời cũngmỗi ngày một mới”…

Thứ hai: Hêraclit thừa nhận sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối

lập, trong các mối quan hệ khác nhau, chúng chuyển hóa, liên hệ và tác độnglẫn nhau Chẳng hạn, “đối với loài cá - ông nói - thì nước là rất cần thiết cho

sự sống, nhưng đối với con người thì đó là một loại độc tố có hại”1, cũngnhư “một con khỉ dù đẹp đến đâu nhưng vẫn là xấu nếu đem so với conngười”2 Sự xuất hiện của mặt đối lập này là quy định sự xuất hiện của mặtđối lập kia: “Bệnh tật làm cho sức khỏe quý hơn, cái ác làm cho cái thiệncao cả hơn, cái đói làm cho cái no dễ chịu hơn, mệt mỏi làm cho nghỉ ngơithú vị hơn” Song sự vận động biến hóa trong quan niệm của Hêraclit chỉ

1 Các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại, Nxb Tư tưởng, Mátscova, 1955, tr.46( tiếng Nga)

2 Các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại, Nxb Tư tưởng, Mátscova, 1955, tr.49( tiếng Nga)

Trang 9

dừng lại trong vòng tuần hoàn, khép kín của tự nhiên Ông chưa biết đến sựphát triển tiến lên, nhưng đó cũng là do sự giới hạn của lịch sử

Thứ ba: Theo Hêraclít, sự vận động và phát triển của thế giới là do

quy luật( logos) quy định Logos khách quan là trật tự kết quả mọi cái đangdiến ra trong vũ trụ Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói của conngười Logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan

Lý luận nhận thức của Hêraclít còn mang tính chất duy vật và biệnchứng sơ khai, nhưng về cơ bản là đúng đắn Tuy nhiên, ông lại có hạn chế

về mặt chính trị, thù địch với nhân dân và ông chủ trương dùng chính quyền

để nhanh chóng dập tắt phong trào dân chủ

Đêmôcrít (460-370 TCN)

Ông là một trong những người đã phát triển học thuyết nguyên tửlên một trình độ mới, ông kế thừa quan điểm của Hêraclít cho rằng mọi sựvật đều biến đổi không ngừng Đêmôcrít đã đưa ra lý thuyết về vũ trụ học:

Lý thuyết này được xây dựng trên cơ sở lý luận nguyên tử về cấu tạo của vậtchất, thấm nhuần tinh thần biện chứng tự phát và có ý nghĩa đặc biệt quantrọng trong lịch sử triết học

Ông khẳng định: Vũ trụ là vô tận và vĩnh viễn, có vô số thế giớiphát sinh, phát triển và bị tiêu diệt, quan điểm của ông về vận động gắn liềnvới vật chất là một phỏng đoán có giá trị đặc biệt Theo ông, vận động củanguyên tử là vĩnh viễn và ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận độngcủa nguyên tử là bản thân nguyên tử, ở động lực tự thân, tự nó Tuy nhiên,ông đã không lý giải được nguồn gốc của sự vận động Dựa trên học thuyếtnguyên tử, Đêmôcrít đã đi tới quan điểm quyết định luận, đó là thừa nhận sựràng buộc theo luật nhân quả, tính tất nhiên và khách quan của các hiệntượng tự nhiên Đây là một quan điểm có giá trị của Đêmôcrít đống góp chonền triết học Hi Lạp cổ đại

Trang 10

Mặc dù triết học Đêmôcrít còn mang tính thô sơ, chất phác nhưngnhững đóng góp của ông về các tư tưởng biện chứng và thề giới quan duyvật là rất đáng ghi nhận.

Platôn (427-347TCN)

Platôn là một trong những nhà triết học, nhà tư tưởng kiệt xuất nhấtthời cổ đại Ông được coi là nhười mở đầu cho siều hình học ở phương Tây.Các quan điểm triết học của ông chứa đựng những yếu tố biện chứng Ôngthừa nhận sự vận động của thế giới song đó chỉ là vận động theo sự điềukhiển của ý niệm Ông chia thế giới thành hai loại:

- Thế giới của ý niệm: là thế giới tồn tại chân thực bất tử, tuyệt đối

và là cơ sở tồn tại của thế giới sự vật cảm tính

- Thế giới của các sự vật cảm tính: là thế giới tồn tại không chânthực, thường xuyên biến đổi và phụ thuộc vào thế giới của những ý niệm

Đặc biệt, trong lý luận nhận thức của Platôn về cơ bản đó là: nhậnthức là sự hồi tưởng, là sự liên hệ các chân lý được hồi tưởng lại Cái chủyếu nhất trong phương pháp hồi tưởng lại là nghệ thuật suy diễn lôgic, đàmthoại triết học hay còn gọi là nghệ thuật biện chứng Platôn đã phát triểnquan niệm của Xôcrat về phép biện chứng như một nghệ thuật tranh luận,ông hiểu nó theo hai khía cạnh: Thứ nhất, đó là kỹ năng đặt câu hỏi và giảiđáp Thứ hai, đó là khả năng sử dụng và tiếp cận các khái niệm, tổng hợpcác quan điểm khác nhau trong tranh luận để đi đến ý tưởng thống nhất, xemtranh luận là phương tiện để đi tới chân lý Phép biện chứng ở Platôn “khôngphải là thứ biện chứng mà trước đây chúng ta tìm thấy ở các nhà ngụy biện,những người nói chung đã lầm lẫn các quan niệm… mà là phép biện chứngvận động trong các khái niệm thuần túy, đó là vận động lôgic tự biện”3

tr.104 (tiêng Nga)

Trang 11

Nhưng đó là phép biện chứng duy tâm, biện chứng của các khái niệm, táchrời hiện thực, từ bỏ cảm giác, chỉ nhận thức bằng tư duy thuần tuý.

Tóm lại, mặc dù tư tưởng biện chứng của Platôn mang tính duy tâmkhách quan nhưng đó lại là một hệ thống triết học khá hoàn chỉnh và nhấtquán Nó đối lập hoàn toàn với hệ thống triết học duy vật của Đêmôcrit vềmọi lĩnh vực: bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức học, quan niệm chính trị

- xã hội Điều này tạo nên cuộc đấu tranh điển hình giữa chủ nghĩa duy tâm

và chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học Triết học của Platôn đã có cônglớn tròn việc khẳng định bản chất, vai trò của khái niệm Ông đặt nền móngcho việc xây dựng các phạm trù và tư duy lý luận nói chung

Arixtốt ( 384- 322 TCN)

Arixtốt là bộ óc bách khoa toàn thư của triết học cổ đại Hy Lạp,

người đầu tiên khám phá ra những quy luật sơ đẳng của tư duy biện chứng.Đây là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của thời cổ Hy Lạp

Xu hướng duy vật và phát triển biện chứng trong triết học củaArixtốt thể hiện ở chỗ: ông thừa nhận tự nhiên là toàn bộ sự vật có một bảnthể vật chất mãi mãi vận động và biến đổi, không có bản chất sự vật tồn tạibên ngoài sự vật, hơn nữa sự vật nào cũng là một hệ thống và có quan hệ vớicác sự vật khác Ông cho rằng vận động gắn liền với các vật thể, với mọi sựvật hiện tượng của giới tự nhiên Ông cũng khẳng định, vận động là khôngthể bị tiêu diệt “đã có vận động và mãi mãi có vận động” Ông đã tiến gầnđến quan niệm vận động là tự thân của vật chất Song cuối cùng ông lại rơivào duy tâm khi cho rằng thần thánh là nguồn gốc của mọi sự vận động Ông

là người đầu tiên hệ thống hoá các hình thức vận động ở sáu dạng khácnhau

Về logic học, Arixtốt đã có gắng giải thích mối quan hệ thống nhấtmối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, nhưng ông không giải

Trang 12

quyết được vấn đề chuyển hoá từ cái riêng thành cái chung Tuy nhiên, dohạn chế về lịch sử và là nhà tư tưởng của giai cấp chủ nô Hy Lạp cho nên vềbản thể luận triết học ông giao động giữa chủ nghĩa duy tâm và duy vật nênông lại rơi vào phái nhị nguyên luận.

Tóm lại, triết học Hy Lạp cố đại đã thể hiện rất rõ nét cuộc đấutranh giữa biện chứng và siêu hình mà song song với nó là cuộc đấu tranhgiữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm Với những tư tưởng nổi bật như thuyếtnguyên tử của Đêmôcrít, phép biện chứng của Hêraclit, của Platôn, biệnchứng chất phác của Arixtốt, triết học Hy Lạp cổ đại đã hàm chứa mầmmống của tất cả thế giới quan về sau này và đánh dấu sự phát triển tư duybiện chứng trong lịch sử triết học nhân loại Ăngghen đã đánh giá: “Nhữngnhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩmsinh…Trong triết học này, tư duy biện chứng xuất hiện với tính chất thuầnphác, tự nhiên, chưa bị khuấy đục bởi những trở ngại đáng yêu…Mối liên hệphổ biến giữa các hiện tượng tự nhiên chưa được chứng minh về chi tiết, đốivới họ mối liên hệ đó là kết quả của sự quan sát trực tiếp”4 Do đó, nên coiphép biện chứng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là khởi nguyên lịch sửphép biện chứng

1.2 Phép biện chứng thời kỳ Phục hưng và cận đại ở Tây Âu

Trước khi bước sang thế kỷ XV- XVI ở Châu Âu là thời đại Phụchưng, lịch sử triết học đã trải qua thời kỳ trung cổ với sự thống trị của tưtưởng thần học Do đó, chủ nghĩa kinh viện trở thành nét chủ đạo của Triếthọc Tây Âu thời trung cổ, tất cả vạn vật đều do Chúa trời và thần thánh tạonên Đến thời kỳ Phục hưng, triết học thời kỳ này đã khôi phục lại quanđiểm duy vật cổ đại nhưng vẫn còn mang tính phiếm thần, yếu tố duy vậtxen lẫn duy tâm

4 C.Mác và Ăngghen :Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t 20, tr 694

Trang 13

Tuy nhiên, phép biện chứng thời kỳ này vẫn có bước phát triển về

“sự phù hợp của các mặt đối lập” của Gioocdanơ Brunô( 1548-1600) Chịuảnh hưởng nhiều quan niệm của Arixtốt, Brunô khẳng định sự thống nhất vậtchất và hình dạng trong Uno( cái duy nhất) Uno được coi là sự thống nhấtcủa các mặt đối lập( cực đại - cực tiểu, tính thống nhất - tính nhiều vẻ, khảnăng - hiện thực…) Nó là tất cả, đồng thời lại không là gì cả, nó ở trong tất

cả mọi cái, nhưng đồng thời lại không ở đâu cả Ông nhận thức được chânlý: mọi sự vật đều nằm trong vũ trụ và vũ trụ nằm trong tất thảy mọi vật.Chúng ta ở trong vũ trụ và vũ trụ nằm trong chúng ta

Tiếp đó, một trong những đại biểu của triết học Tây Âu thế kỷ VXII

là Phranxis Bêcơn (1561-1626) Ph.Bêcơn khẳng định vật chất không táchrời vận động, nhận thức biện chứng của sự vật là nhận thức sự vận động củachúng Ông đã tiến hành phân vận động thành 19 loại, trong đó bao gồm cảđứng yên Tuy nhiên, tính chất siêu hình của ông thể hiện: Ông quy mọi loạivận động về vận động cơ học Song cống hiến của ông là ở chỗ coi đứng yên

là một hình thức của vận động, coi vận động là đặc tính cố hữu của vật chất,ông là người đầu tiên nhận thấy tính bảo toàn vật chất của thế giới

Trong thời kỳ cận đại, khoa học tự nhiên đã phát triển và đi sâuphân tích giới tự nhiên thành những bộ phận nhỏ để nghiên cứu Nhữngphương pháp đó đã tạo ra thói quen nghiên cứư xem xét sự phận hiện tượngtrong trạng thái cô lập, tách rời cà bất biến.Từ khi Ph Bêcơn và Lốccơ đemphương pháp khoa học tự nhiên áp dụng vào triết học thì phương pháp siêuhình trở thành phương pháp thống trị trong triết học

Phương pháp siêu hình đóng một vai trò nhất định trong quá trìnhnhận thức thế giới tự nhiên, phương pháp đó chỉ thích ứng với trình độ sưutầm, mô tả thế giới tự nhiên Do đó, khi khoa học chuyển sang nghiên cứucác quy trình phát sinh phát triển của sự vật, hiện tượng thì nó bộc lộ những

Ngày đăng: 05/09/2015, 18:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w