Công tác đánh giá rủi ro môi trường, tính toán tải lượng các chất ô nhiễm ảnh hưởng đến vùng bờ nói chung và Đầm Ô Loan nói riêng là một trong những giải pháp nhằm tăng cường năng lực ch
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phú Yên là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có diện tích vùng biển khoảng 34.000 km2 (bao gồm cả vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế) Trong đó, bờ biển có chiều dài 189 km (trực diện là 94
km), với nhiều rạn đá, kết hợp với 16 hòn đảo lớn nhỏ Vùng cửa sông, đầm vịnh ven biển rộng khoảng 21.000 ha gồm 7 đầm, vịnh và cửa sông lạch chính
có ý nghĩa về an ninh - quốc phòng thuận lợi cho hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản, du lịch và giao thông - vận tải biển Đây là nơi tồn tại và phát triển của nhiều hệ sinh thái biển và ven biển như rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, với nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, là vùng có ý nghĩa quan trọng đối với sinh kế của cư dân địa phương
Đầm Ô Loan được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch) công nhận là thắng cảnh cấp quốc gia vào ngày 27/9/1996 Đây là một đầm nước lợ có diện tích khoảng 1.570 ha, trải dài theo hướng Bắc – Nam, nơi rộng nhất 2,5 km, nơi dài nhất 8 km, diện tích mặt nước rộng khoảng 1.200
ha, vốn được xem là giàu có về nguồn lợi thuỷ sản Từ nhiều thập kỷ qua hàng nghìn cư dân các thôn Tân Hoà – xã An Hoà; Gành Hàu – xã An Hiệp, Tân Long – xã An Cư, Phú Sơn – xã An Ninh Đông và Tân Quy – xã An Hải chuyên sống bằng nghề đánh bắt hải sản trên đầm Ô Loan Theo thống kê, đầm Ô Loan
có 108 loài cá (trong đó 5 loài được ghi vào sách Đỏ Việt Nam), 23 loài có giá trị kinh tế cao
Việc phát triển kinh tế - xã hội ở vùng ven biển đặc biệt là các hoạt động kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhất là ở vùng ven bờ trong điều kiện nhận thức và mức sống của các cộng đồng cư dân ven biển còn thấp là nguyên nhân tác động làm suy thoái các hệ sinh thái, suy giảm nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, việc quản lý và kiểm soát các
Trang 2lý, nhiều ngư dân còn sử dụng ngư cụ và hoá chất huỷ diệt để khai khai thác dẫn đến những hậu quả như: Nguồn lợi thuỷ sản bị khai thác cạn kiệt, diện tích các
hệ sinh thái bị thu hẹp và suy giảm đa dạng sinh học
Công tác đánh giá rủi ro môi trường, tính toán tải lượng các chất ô nhiễm ảnh hưởng đến vùng bờ nói chung và Đầm Ô Loan nói riêng là một trong những giải pháp nhằm tăng cường năng lực cho các cơ quan quản lý Nhà nước để thực thi thành công Chiến lược Quản lý tổng hợp vùng bờ tỉnh Phú Yên giai đoạn
2020 và định hướng 2025
Xuất phát từ thực tiễn và mong muốn đóng góp một phần công sức vào việc cải thiện chất lượng nước trong Đầm, việc “Đánh giá tải lượng ô nhiễm đưa vào Đầm Ô Loan – huyện Tuy An – tỉnh Phú Yên và đề xuất giải pháp phát triển bền vững” là rất cần thiết và cấp bách
2 Mu ̣c tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Thấy rõ tải lượng ô nhiễm nước ở Đầm Ô Loan thông qua đánh giá chất lượng nước trên cơ sở dữ liệu thu thập được, qua đó đề xuất các giải pháp phát triển bền vững
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng và dự báo tải lượng các nguồn thải gây ô nhiễm môi trường đầm Ô Loan
- Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường đầm Ô Loan
3 Phạm vi và Đối tượng nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Khu vực nước đầm Ô Loan và các xã giáp Đầm
Trang 3Hình 1 Bản đồ tọa độ các điểm quan trắc chất lượng nước đầm Ô Loan
Tổng số điểm quan trắc là 08 điểm với các vị trí tọa độ như sau:
Trang 4- Phạm vi nội dung:
+ Các tài liệu, số liệu và báo cáo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về điều tra, đánh giá về chất lượng nước đầm Ô Loan
- Phạm vi thời gian:
+ Số liệu đã thu thập được: Từ năm 2010 đến tháng 7/2015
+ Số liệu nghiên cứu thực hiện mới: Từ tháng 8/2015 đến 3/2016
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
- Môi trường nước đầm Ô Loan và các hoạt động phát sinh nguồn thải xung quanh đầm
- Các cơ quan, tổ chức tham gia quản lý đầm Ô Loan
- Người dân địa phương đang sinh sống xung quanh đầm Ô Loan
Trang 5CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Việc đánh giá sức tải môi trường ở các thủy vực ven bờ biển (vũng, vịnh, đầm phá, cửa sông) đã được tiến hành chủ yếu ở các nước phát triển trong nhiều lĩnh vực liên quan khác nhau nhằm xác định giới hạn của các hoạt động phát triển, chủ yếu phục vụ cho mục tiêu bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững Ví dụ, công trình nghiên cứu đánh giá sức tải môi trường phục vụ cho nuôi trong ngọc trong vụng Takapoto Atoll (Nathalie và nnk, 2001), nuôi nhuyễn thể ở đầm phá Thau của Pháp (De Casabianca và nnk, 1995), nuôi cá trong rào chắn ở Vịnh Osaka (Horriya và nnk, 1991) và một số vụng phía Nam của Nhật (Tsutsumi, 1995) v.v Một số nghiên cứu tập trung vào khả năng đồng hóa – tự làm sạch các chất gây ô nhiễm của thủy vực, khả năng lọc và xử lý chất thải của các đối tượng sinh học như rừng ngập mặn, cỏ biển và các loài nhuyễn thể tại các khu vực biển ven bờ Các kết quả nghiên cứu này có thể được sử dụng như là một trong những cơ sở cho việc tính toán cũng như xây dựng các giải pháp cải thiện năng lực tải của môi trường
Gần đây, một số nghiên cứu khác về sức tải môi trường dựa trên cách tiếp cận tổng hợp với bốn cấp độ nghiên cứu chính, theo thứ tự:
- Sức tải tự nhiên (Physical Carrying Capacity) là những đặc trưng về điều kiện tự nhiên của thủy vực như hình thái thủy vực, địa hình, các điều kiện thủy động lực, trao đổi nước Nó cũng bao gồm cả các đặc điểm thủy hóa cơ bản như nhiệt độ nước, độ muối và hàm lượng ô-xy hòa tan
- Sức tải cung cấp (hay sức sản xuất) của thủy vực (Production Carrying Capacity) là khả năng sản xuất cũn như đáp ứng các hoạt động một cách tối đa
có thể Khả năng này của thủy vực phụ thuộc rất nhiều vào sức tải tự nhiên
- Sức tải sinh thái (Ecological Carrying Capacity) là khả năng đáp ứng tối
Trang 6- Sức tải xã hội (Social Carrying Capacity) là tổng hợp các đối tượng trên trong đó có tính đến sự dung hòa giữa lợi ích của các hạt động (lợi ích kinh tế
xã hội, có thể ảnh hưởng đến các hoạt động khác hay không) và môi trường Với cách tiếp cận đó, những nghiên cứu về sức tải môi trường đã được thực hiện cho các vũng vịnh ven bờ ở New Zealand (Graeme J Inglis, Barbara
J Hayden, Alex H Ross, 2000), đánh giá sức tải môi trường ở Vịnh Plenty – New Zealand đã được thực hiện trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành năng suất sơ cấp (Longdill, P C., and Black, K P., 2006), tính toán sức tải môi trường đã được thực hiện cho 4 hồ (Pine, Upper Crooked, Gull và Sherman) ở Mỹ (Four Township Water Resources Council, Inc., 2002) Mặc dù đối tượng nghiên cứu và các phương pháp tiếp cận khác nhau nhưng các kết quả nghiên cứu, đánh giá về sức tải môi trường đều có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc ngăn ngừa sự ô nhiễm và suy thoái môi trường trong khi vẫn khai thác tốt được các tiềm năng thiên nhiên cho phát sinh kinh tế
- xã hội
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, đánh giá sức tải môi trường nói chung và sức tải môi trường của các thủy vực còn là một vấn đề khá mới mẻ và chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều Trước sức ép của các hoạt động kinh tế xã hội lên môi trường đang ngày một gia tăng trong những năm gần đây, một số nghiên cứu đánh giá sức tải môi trường đã đươc tực hiện nhằm giải quyết và dung hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Với cách tiếp cận là công cụ
mô hình, Hoàng Dương Tùng (2004) đã sử dụng một mô hình toán học để tính toán – dự báo sự lan truyền của chất gây ô nhiễm ở Hồ Tây, qua đó đánh giá khả năng chịu tải ô nhiễm ở Hồ Tây
Dựa trên kết quả nghiên cứu của hai đề tài do tỉnh Quảng Ninh giao nhiệm
vụ cho Viện Tài nguyên và Môi trường biển thực hiện là các đề tài: đề tài “Xây
Trang 7trường và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long – Bái
Tử Long” thực hiện trong các năm 2008 – 2010 Các đề tài đã sử dụng phương pháp đánh giá tải lượng thải khu vực, sử dụng các công thức để tính toán tải lượng thải hiện tại từ các nguồn và đánh giá khả năng tự làm sạch của thủy vực Qua đó, đã định hướng được công tác quản lý và bảo vệ môi trường ở Vịnh Hạ Long – Bái Tử Long từ góc độ sức tải môi trường
Từ năm 2007 đến nay, trên địa bàn tỉnh Phú Yên nói chung và tại khu vực Đầm Ô Loan nói riêng đã có nhiều đề tài, dự án được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng môi trường của vùng ven biển tỉnh Phú Yên Trong các năm từ 2013 đến nay, Sở Tài nguyên và Môi trường Phú Yên đã thực hiện kế hoạch quan trắc, biến động tài nguyên và môi trường biển, trong đó có tổ chức quan trắc mẫu nước Đầm Ô Loan Kết quả của các đề tài, dự án bước đầu đã tạo được bộ
cơ sở dữ liệu về chất lượng môi trường cho toàn vùng ven bờ tỉnh Phú Yên nói chung và của Đầm Ô Loan nói riêng, nhằm đưa ra những nhận xét, đánh giá về hiện trạng môi trường của khu vực Từ đó giúp cho các cơ quan quản lý theo dõi, phân tích và đề xuất công tác quản lý chất lượng môi trường một cách hiệu quả
Tuy nhiên, các đề tài, dự án đã thực hiện chưa tập trung vào việc đánh giá tải lượng chất ô nhiễm của riêng đầm Ô Loan, huyện Tuy An Xuất phát từ cơ
sở lý luận và thực tiễn trên, đề tài “Đánh giá tải lượng ô nhiễm đưa vào đầm Ô Loan, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên và đề xuất giải pháp phát triển bền vững” được Tôi chọn làm Luận văn Thạc sĩ, nhằm đánh giá thực trạng và dự báo tải lượng các nguồn thải trên Đầm Ô Loan Qua đó đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường Đầm, góp phần thực hiện thành công “Chiến lược quản lý
tổng hợp vùng bờ tỉnh Phú Yên giai đoạn 2020 và định hướng đến 2025”
1.2 Tài liệu và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Tài liệu nghiên cứu: được tổng hợp tại phần Phụ lục tài liệu tham khảo 1.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8- Phương pháp kế thừa: Kế thừa các tài liệu, số liệu và báo cáo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về các đề tài, dự án có liên quan;
- Phương pháp phỏng vấn: Gặp gỡ, trao đổi thông tin với các cơ quan, tổ chức, và người dân địa phương quanh đầm Ô Loan
- Phương pháp thực địa: Điều tra, khảo sát thu thập mẫu nước về phân tích, đánh giá
- Phương pháp quan trắc và phân tích mẫu: Làm việc với Trung tâm Quan trắc Môi trường – Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện công tác thu mẫu và phân tích mẫu
+ Phương pháp thu mẫu: Số lần thu mẫu là 01 đợt, vào tháng 10/2015 Mẫu nước thu được cách mặt nước khoảng 50 cm, lấy mẫu bằng can nhựa 2 lít + Các chỉ tiêu phân tích tại hiện trường bằng phương pháp đo nhanh: Nhiệt
độ, DO, pH
+ Các chỉ tiêu phân tích tại phòng thí nghiệm: COD, BOD5, độ muối, TSS,
NO2-, NO3-, NH4+, PO43-, tổng hàm lượng N
- Phương pháp so sánh: So sánh và đánh giá cơ sở dữ liệu giữa các tài liệu,
số liệu thu thập được
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của các chuyên gia có liên quan đến
Đề tài
Trang 9CHƯƠNG 2 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG ĐẦM Ô LOAN
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Đầm Ô Loan nằm phía Nam thị trấn Chí Thạnh, huyện Tuy An, nằm cạnh chân đèo Quán Cau, tiếp giáp các xã An Cư, An Hòa, An Hải, An Hiệp và An Ninh Đông của huyện Tuy An, có tọa độ địa lý 13013’50” đến 13019’00” độ vĩ Bắc và 109014’30” đến 109017’30” kinh độ Đông Đầm Ô Loan là đầm nước lợ gần như nằm lọt trong đất liền, có diện tích khoảng 1.570 ha, trải dài theo hướng Bắc – Nam, nơi rộng nhất 2,5km, nơi dài nhất 8km, diện tích mặt nước rộng khoảng 1.200ha, độ sâu trung bình 1,2m – 1,4m, vào mùa mưa độ sâu trung bình 3m, cửa đầm được gọi là cửa Tân Quy, rộng khoảng 100m Vị trí cửa đầm không ổn định
2.1.2 Đặc điểm địa hình
Địa hình xung quan đầm Ô Loan tương đối phức tạp: đồi núi xen kẽ thung lũng Đồi núi ở đây tuy thấp (thường dưới 200m) nhưng dốc, cấu tạo bởi các đá granit, bazan Riêng phía Đông đầm là một doi cát cấu thành từ nhiều đụn cát thấp Những đồi núi này về mùa mưa là nguồn cung cấp vật liệu đáng kể đối với đầm
Đầm Ô Loan có một hình dạng khá đặc biệt: xen kẽ các mõm đất liền nhô
ra đầm (mõm Cây Xoài, mũi Lao, mũi Đá trắng v.v) và các eo đầm ăn sâu vào lục địa (eo Chà Là, eo Gò Muống, eo Lỗ Dừng, eo Sông Trong v.v) Hai đầu Bắc và Nam đầm là hai eo ăn khá sâu vào lục địa Diện tích lưu vực đầm Ô Loan khoảng 110,0km2 Đầm được bao bọc bới núi Đồng Cháy, núi Cẩm và cồn
An Hải, có bán đảo An Ninh Đông, An Hải, An Hòa bao bọc đầm Ô Loan ở múi Phú Tân (mũi nước giao) cao 114m, với một lạch nước thông ra biển về phía Bắc
Trang 10Đứng trên đèo Quán Cau nhìn xuống, Ô Loan giống như con phượng đang xòe cánh, còn trên bản đồ Ô Loan giống như con thiên nga đang bay Đầm Ô Loan đã được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận Di tích thắng cảnh cấp Quốc gia vào năm 1996
2.1.3 Đặc điểm khí hậu – thủy văn
- Nhiệt độ: Vào các tháng VI, VII, VIII nhiệt độ trung bình 28 – 300C, nhiệt độ cao nhất tới 400C Nhiệt độ nước trong đầm Ô Loan tương đối cao và
ổn định, biến thiên đồng bộ với nhiệt độ không khí nhưng chậm hơn 01 tháng Nhiệt độ nước đo được trung bình nhiều năm vào tháng VI là 30,90C, và tháng
IV là 30,40C; nhiệt độ nước thấp nhất vào tháng I là 23,70C
- Gió, bão: Trong mùa hè, gió Tây Nam khô nóng khá mạnh, tốc độ mạnh nhất là 20m/s Mùa đông có gió Đông Bắc, tốc độ 10 – 15m/s Đây là tiểu vùng thường gặp bão, lụt vào mùa đông
- Mưa: Lượng mưa trung bình năm dưới 1.500mm, lượng mưa biến động bất thường, năm nhiều nhất 2.000mm, năm ít nhất 900mm Trong mùa mưa, nước đầm dâng lên rất cao
- Thủy triều: Thủy triều trong đầm Ô Loan gần trùng với thủy triều vùng biển Phú Yên – là loại thủy triều hỗn hợp thiên về nhất triều Trong một tháng
có từ 18 – 22 ngày nhật triều, biên độ nhất triều lớn nhất là 1,4 – 2,4m, mực nước biển trung bình là 1,2 – 1,4m Mức triều cao nhất đạt 1,9m, thấp nhất là 0,4m
- Thủy văn: Sông suối đổ vào đầm rất ít và có lưu lượng nhỏ, chỉ có sông Hải Yến và suối Đá Suối Đá bắt nguồn từ thôn Quảng Đức xã An Thọ đổ vào đầm Ô Loan tại thôn Xóm Bến xã An Hiệp (phía Tây Nam đầm), sông Hà Yến
là chi lưu phía hữu của sông Cái chảy qua đập Hà Yến, đây là nguồn cung cấp nước đáng kể cho đầm Ô Loan đổ vào đầm tại thôn Xóm Đá xã An Cư
2.1.4 Đặc điểm trầm tích đáy đầm Ô Loan
Trang 11Trầm tích đáy đầm Ô Loan có mặt đủ các loại từ đá tảng – cuội cát… cho đến bùn sét Dựa vào kết quả điều tra nghiên cứu đã phân ra: đá tảng – cuội, cát, cát chứa bùn, bùn chứa cát và bùn sét
- Đá tảng – cuội: có kích thước trung bình (Md) từ 100mm trở lên Chúng
là sản phẩm phong hóa của các khối Granít, bazan có mặt ở chung quan đầm lăn xuống Loại này chủ yếu nằm ở ven bờ đầm, dưới chân các đồi và đảo (mũi Rẫy, múi Đá Trắng, hòn Khô v.v)
- Cát: Có kích thước trung bình (Md) từ 1mm đến 0,1mm thành phần chủ yếu là thạch anh, fenspat lẫn các khoáng vật khác vùng xác sinh vật Độ chọn lọc tốt thường So nhỏ hơn 1,5 nhưng hệ số lệch Sk lại rất lớn, chứng tỏ chúng chịu ảnh hưởng của chế độ thủy động lực yếu Độ chọn lọc tốt theo các nhà nghiên cứu chủ yếu do ảnh hưởng của gió Đông Bắc
Trong cát, hàm lượng CaCO3 chiếm từ 4,06% đến 16,11%, cacbon hữu cơ
có từ 0,69% đến 1,45% Hàm lượng Nitơ chỉ khoảng 0,13% Tỷ số C/N: 6,9 Cát phân bố ven rìa đầm với diện tích nhỏ hẹp Riêng ở ven rìa doi cát phía Đông và khu vực quan hòn Chùa, hòn Khô, mũi Rẫy, diện tích phân bố có lớn hơn Ở ven doi cát phá Đông cát tạo thành một dải kéo dài từ đầu Bắc xuống gần cửa đầm Chiều rộng chỗ lớn nhất gần 800m và hẹp dần về phía Nam
- Cát chứa bùn: Trong loại trầm tích này cấp hạt từ 0,1 mm đến 0,05mm chiếm ưu thế Độ chọn lọc rất tốt, đặc biệt hàm lượng CaCO3 và hàm lượng cacbon hữu cơ tương đối đồng đều trong đầm Tỷ số C/N: 5,9 Loại này phân bố chủ yếu ở nửa phía Bắc đầm Ở phía Nam chúng xuất hiện trong eo Lỗ Dừng,
eo Gò Chà, eo Gò Muống
- Bùn chứa cát: kích thước trung bình (Md) từ 0,05mm đến 0,001mm Đây
là loại có diện tích phân bố lớn nhất trong đầm Chúng có màu xám xanh lẫn xác sinh vật Độ chọn lọc kém đến rất kém, hệ số lệch khá lớn Theo thành phần
cơ học phân ra hai loại: i) loại chứa nhiều cấp hạt lơn hơn 0,05mm; ii) loại không chứa cấp hạt lớn hơn 0,05mm Loại chứa cấp hạt lớn hơn 0,05mm phân
Trang 12không chứa cấp hạt lớn hơn 0,05mm thấy ở nửa phía Nam đầm Đặc điểm này
là do gió mùa Đông Bắc và sự có mặt của 2 con sông gây nên
- Bùn sét: là loại trầm tích mịn nhất trong đầm (Md nhỏ hơn 0,001mm) chúng chỉ có mặt ở ngay cửa của 2 con sông Loại này có màu xám xanh lẫn xác
vi sinh vật, độ chọn lọc rất kém Cấp hạt lớn hơn 0,001mm chiếm rất ít, hàm lượng CaCO3 đạt 17,6%, cacbon hữu cơ chiếm 1,3% Hàm lượng Nitơ chỉ có 0,27% và tỷ số C/N là 4,7
2.1.5 Một số tài nguyên sinh học đầm Ô Loan
Đầm Ô Loan không những là một danh lam thắng cảnh quốc gia mà còn là một vùng đất ngập nước có nguồn lợi thủy sản quý giá Theo kết quả dự án
“Điều tra, đánh giá hiện trạng các vùng đất ngập nước tiềm năng ven biển tỉnh Phú Yên và đưa ra giải pháp khai thác hợp lý, hiệu quả, bảo tồn và phát triển bền vững dựa vào cộng đồng” đã xác định trong đầm Ô Loan có các tài nguyên
sinh học sau:
- Cây ngập mặn (Mangrove): Trong tổng số 35 loài được xác định ở vùng
ven biển tỉnh Phú Yên thì vùng đất ngập nước đầm Ô Loan có 19 loài thuộc 16
họ, 2 ngành Cây ngập mặn phân bố thành những dải hẹp xen lẫn các ao nuôi trồng thủy sản ở ven bờ phía Tây và phía Nam của đầm từ Diêm Hội đến Tân Hòa, Mỹ Phú, Phú Sơn và Phú Tân với loài chủ đạo là Giá Trong đó, khu vực
có cây ngập mặn đầm phát triển dày nhất thuộc xã An Hiệp Đặc biệt ở Mỹ Phú (An Hiệp) ngoài sự hiện diện rải rác của Giá, đây còn là một vùng cỏ Hến biển
(Scirpus littoralis) rộng hơn 11,2ha Khu vực này là nơi kiếm ăn của các loài chim nước và là nơi sống của nhiều loài động vật có giá trị khác như cua Xanh
(Scylla serrata)
- Cỏ biển: Cỏ biển là nhóm thực vật có hoa sống trong môi trường nước ở vùng nhiệt đới và ôn đới Chúng phát triển mạnh ở vùng nước nông, sống trong môi trường nước mặn và nước lợ, chịu được sóng gió Các thảm cỏ biển bao
Trang 13trường nước Diện tích cỏ biển ở đầm Ô Loan là 182,5 ha với các loài như:
Halophila ovalis, Halodule pinifolia, Ruppia maritima
- Nhóm cá: Theo kết quả thống kê, trong 200 loài cá có mặt ở các vùng ven biển miền Trung, đầm Ô Loan 108 loài, có 5 loài được ghi vào sách Đỏ Việt Nam ở các mức độ đe dọa khác nhau, có 3 loài bậc V, 1 loài bậc T và 1 loài bậc
R (như: Clupanodon punctatus (Schlegel) - Cá Mòi cờ chấm; Anguilla marmorata Quoy & Gaimard - Cá chình hoa) Có 23 loài cá có giá trị kinh tế ở các vùng ven biển miền Trung Đây là những loài cho sản lượng khai thác cao, tuy nhiên tình hình khai thác đang diễn ra một cách bừa bãi, chưa có quy hoạch nên sản lượng khai thác trong những năm gần đây ngày càng giảm dần
2.2 Kinh tế - Xã hội
2.2.1 Dân số
Dân số của 05 xã quanh đầm Ô Loan (năm 2015) khoảng 51.632 người chiếm 37,9% tổng dân số toàn huyện Tuy An, tổng diện tích của 05 xã là 12.639,17 ha, mật độ dân số trung bình là 408 người/km2
Bảng 2.1 Phân bố dân số ở các xã quanh đầm Ô Loan
TT Tên Thôn Diện tích
(ha)
Dân số (người)
2 Xã An Cư 2081,43 11.572 556 Phú Tân 1, Tân Long
3 Xã An Hải 1428,24 4.246 297 Tân Qui, Xuân Hòa
4 Xã An Hòa 2203,13 12.990 589 Tân An, Tân Hòa,
Diêm Hội
5 Xã An Hiệp 4596,77 8.270 180 Phú Xuân, Mỹ Phú
6 Xã An Ninh Đông 2329,60 14.554 625 Phú Hội, Phú Hạnh,
Phú Lương, Phú Sơn 2.2.2 Kinh tế thủy sản
a Khai thác thủy sản:
Đầm Ô Loan đã tạo công ăn việc làm và đời sống cho hàng ngàn lao động
hộ dân cư 5 xã quanh đầm, lao động thiếu việc làm từ khu vực khác đến hoạt động nuôi trồng, thu mua, chế biến và dịch vụ hậu cần cho nghề cá.v.v Một số
Trang 14thập kỷ, nghề cá đầm Ô Loan góp phần hoàn thiện cơ cấu nghề cá tỉnh Phú Yên hội tụ đủ các khâu: khai thác (đầm, biển) – nuôi trồng - chế biến - dịch vụ hậu cần Tổng số hộ khai thác thủy sản trong đầm là 937 hộ với các nghề chủ yếu như chấn, lưới, đáy, chài
Bảng 2.2 Số hộ và nghề khai thác trong đầm Ô Loan
b Nuôi thủy sản:
Diện tích nuôi thủy sản trong năm 2015 của huyện Tuy An là 650 ha (tính
cả 2 vụ nuôi), tăng hơn 45 ha so với diện tích nuôi năm 2014 Trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng 520 ha, tôm sú 130 ha, diện tích nuôi cá (ngọt + lợ)
là 35 ha, tổng sản lượng đạt được 1.733 tấn các loại Đặc biệt, năm 2015 được
sự hỗ trợ của dự án CRSD, nhiều mô hình nuôi đa dạng sinh học được triển khai như tôm sú + cá măng tại xã An Cư với 22 hộ tham gia trên quy mô khoảng 10
ha Mô hình nuôi sò huyết triển khai ở xã An Hải với 12 hộ tham gia trên diện tích 6 ha Kết quả đạt được khá khả quan
Trong năm có 127 ha tôm nuôi bị bệnh, diện tích mất trắng là 25 ha Nguyên nhân là do trong năm 2015, tình hình nắng nóng kèo dài, cửa biển An
Trang 15triển mạnh trên nền đáy, cá rô phi sinh sản, phát triển với số lượng nhiều Một
số người dân mua giống trôi nổi không qua kiểm dịch, khi bị bệnh chưa kịp thời báo cho thú y và địa phương biết, tự ý xả nước hồ tôm bệnh ra môi trường xung quanh dẫn đến dịch bệnh lây lan không kiểm soát được
Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả thực hiện nuôi thủy sản
Về gia súc thì heo và bò là hai đối tượng nuôi chính Tổng đàn heo của 05
xã là 7.305 con, đàn trâu/bò khoảng 13.099 con, gia cầm có khoảng 143.595 con
2.2.4 Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
Các ngành nghề chủ yếu ở lưu vực đầm Ô Loan là sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến hạt điều tập trung ở điểm Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp Tam Giang Ngoài ra, tại các xã ven đầm có làng nghề đan chiếu Phú Tân (xã
An Cư) và làng nghề nước mắm Nhơn Hội, Hội Sơn (xã An Hòa)
2.2.5 Du lịch - Dịch vụ