Vùng có thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế chính trị văn hóa quan trọng của cả nước - ĐBSH đã hình thành một mạng lưới đô thị khá dày đặc dẫn chứng Các biện pháp giải quyết vấn đề dân số[r]
Trang 1Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy Việt Nam hiện là nước đông dân thứ 3 Asean và thứ 13 trên thế giới.
Cụ thể, tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam là 85.789.573 người, tăng 9,47triệu người so với năm 1999 (với sai số thuần là 0,3%) Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm tronggiai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm, giảm 0,5%/năm so với 10 năm trước và là tỷ lệ tăng thấpnhất trong vòng 50 năm qua
Đứng đầu một trong 5 tỉnh thành có số dân đông nhất cả nước, Tp.HCM đang có 7.123.340người, tiếp đến là Hà Nội với 6.448.837, Thanh Hóa 3.400.239, Nghệ An 2.913.055 và ĐồngNai là 2.483.211 người Bắc Kạn là tỉnh có dân số thấp nhất cả nước với 294.660 người Một số tỉnh, thành phố có tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm gấp hơn 2 lần mức chungcủa cả nước là Bình Dương 7,3%, Tp.HCM 3,5%, Kon Tum, Bình Phước, Gia Lai, ĐàNẵng…Đáng chú ý, Bình Dương là tỉnh có quy mô dân số tăng hơn 2 lần trong vòng 10 nămqua
Kết quả tổng điều tra dân số cũng cho thấy, dân số Việt Nam phân bố không đều và có sựkhác biệt lớn theo vùng Hai vùng Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long cótới 43% dân số của cả nước sinh sống Hai vùng trung du, miền núi phía Bắc và vùng TâyNguyên chỉ có 19% dân số cả nước sinh sống
Số liệu cũng cho thấy, Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ tăng dân số cao nhất với 3,2%/năm;Tây Nguyên là vùng có tỷ lệ nhập cư rất cao, do vậy dân số đã tăng nhanh với tỷ lệ bình quân2,3%/năm
Tỷ lệ tăng dân số ở khu vực thành thị vẫn ở mức cao Dân số ở thành thị hiện chiếm 29,6%tổng dân số cả nước, tăng bình quân 3,4%/năm; trong khi tỷ lệ tăng dân số ở khu vực nôngthôn chỉ là 0,4%/năm Đông Nam Bộ là vùng có mức độ độ thị hóa cao nhất với dân số thànhthị chiếm 57,1%; tiếp đến là vùng Đồng bằng Sông Hồng có mức độ đô thị hóa tương đối caovới 29,2% dân số sống ở thành thị
Đặc biệt, với sự kiên trì của công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình, tỷ số giới tính đã dịchchuyển về thế cân bằng hơn và đạt mức 98,1 nam/100 nữ, tăng 1,4 nam/100 nữ so với năm1999
Ngoài các chỉ tiêu quan trọng nói trên, một con số ấn tượng cũng được công bố trong tổngđiều tra dân số năm nay là Việt Nam có trên 7.200 cụ sống thọ trên 100 tuổi
VẤN ĐỀ MÙ CHỮ Ở CHÂU PHI
1 Khái quát về tình hình mù chữ trên thế giới.
Trong tiến trình phát triển của nhân loại, tri thức có vai trò vô cùng quan trọng trongviệc thúc đẩy sự phát triển của xã hội Sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia đều phảidựa trên nền tảng tri thức, muốn có tri thức phải phát triển giáo dục Giáo dục không phải làphương thuốc thần kỳ có thể thực hiện mọi ước mơ trong cuộc sống, nhưng giáo dục lại là conđường hơn mọi con đường khác hướng vào sự phát triển toàn diện con người Trình độ dân trí
là một trong ba chỉ tiêu quan trong để đánh giá sự phát triển toàn diện con người
Song hiện nay, trên thế giới có đến 850 triệu người mù chữ (chiếm khoảng 20% dân sốthế giới), trong đó có tới 75 triệu người mù chữ là trẻ em Chính vì vậy, mù chữ đã trở thànhvấn đề mang tính toàn cầu, đòi hỏi chính phủ các quốc gia phải nỗ lực giải quyết
Trang 2Số lượng người mù chữ đang có xu hướng giảm dần nhưng vẫn còn chiếm tỉ lệ cao doquy mô dân số thế giới ngày càng lớn:
+ Năm 1995: 872 triệu người (chiếm khoảng 22.4% dân số )
+ Năm 2000: 862 triệu người( chiếm khoảng 20.3% dân số)
+ Dự báo đến 2010: khoảng 824 triệu người (chiếm khoảng 16.5% dân số)
Tỉ lệ người mù chữ chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển, trong đó chiếm tỉ lệlớn nhất là ở các quốc gia thuộc Châu Á và Châu Phi
Số lượng người mù chữ ở các khu vực rất khác nhau: Bắc Phi hiện có khoảng 20 triệungười mù chữ, tỉ lệ này ở mỗi nước lại có sự khác biệt lớn: Xômali khoảng 74%, Mauritaniakhoảng 60%, Ai Cập 41% Nam Phi có trên 4 triệu người hoàn toàn mù chữ và khoảng trên
4 triệu người nửa mù chữ
Tỉ lệ mù chữ giữa nam giới và nữ giới cũng khác nhau Tỉ lệ mù chữ ở nữ giới thườngcao hơn nam giới: Năm 2000 khu vực Hạ Sahara có khoảng 143.4 triệu người mù chữ song cótới 89.3 triệu người là phụ nữ, chiếm 62.3% trong tổng số, đặc biệt là những phụ nữ ở khu vựcnông thôn
Sự chênh lệch này biểu hiện rõ ở nhiều quốc gia Châu Phi
Bảng: Chênh lệch tỉ lệ mù chữ theo giới tại một số quốc gia Châu Phi
Ở các cấp học cơ sở: Châu Phi hiện có khoảng 40% trẻ em không được học tiểu học Tỉ
lệ này có sự khác biệt giữa các khu vực:
Khu vực Hạ Sahara có tỉ lệ trẻ em học tiểu học rất thấp, khoảng từ 40- 50% hoặc thấphơn
Khu vực Trung Phi có tỉ lệ trẻ em được đến trường
khoảng 60%
Khu vực Nam Phi có tỉ lệ trẻ em được đến trường cao nhất
Ở cấp trung học: Tỉ lệ nhập học bắt đầu giảm mạnh, nhiều nước có tỉ lệ dưới 20%, thậmchí dưới 10% ( như Xômali, Tazania…)
Trang 3 Giáo dục ở bậc đại học và tương đương: Có tỉ lệ thấp ở mức báo động, chỉ từ khoảng 2%.
1-Ta có thể thấy một ví dụ điển hình cho thực trạng này là ở nuớc Cộng hoà Trung Phi: Tỉ
lệ nhập học của trẻ em ở bậc tiểu học là 60%, đến bậc THCS và THPT thì tỉ lệ này giảmxuống còn 9.8% Đến bậc Đại học thì chỉ còn 1.9% (năm 2000)
Số lượng người mù chữ còn có sự khác biệt giữa người da đen và da trắng: Tỉ lệ biếtchữ của người da đen thấp dưới 50% trong khi người da trắng gần như đạt 100% Những họcsinh da trắng thường đựơc học ở những lớp có số lượng học sinh khoảng 30 người hoặc ít hơn,trong khi những học sinh da đen phải học ở những lớp học có từ khoảng 60- 70 nguời trongmột lớp Tỉ lệ giáo viên/ học sinh của người da đen ở thành thị là 1/60 và nông thôn là 1/90,còn đối với người da trăng tỉ lệ này là 1/30 hoạc ít hơn
Với số lượng người mù chữ lớn như vâỵ, cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ chogiáo dục thiếu thốn và thấp kém, thiếu giáo viên…nên chất lượng giáo dục ở Châu Phi rấtthấp,số người mù chữ ngày càng gia tăng, thậm chí nhiều người còn tái mù chữ
Ngoài ra, số lượng người mù chữ còn có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn…
mẹ Ngoài ra, do nghèo đói mà không thể có đủ tiền để chi phí cho học tập nên tỉ lệ trẻ emkhông được đến trường cao, làm gia tăng tình trạng lao động trẻ em ở Châu Phi
Mù chữ ở Châu Phi còn do thiếu sự quan tâm hoặc quan tâm chưa đúng mức của chínhquyền và người dân (chi phí cho giáo dục thấp, ít khi chi phí đến 5% ngân sách Nhà nước Cơ
sở hạ tầng phục vụ cho giáo dục thiếu và thấp kém…)
Nhiều nước ở Châu Phi có môi trường chính trị không ổn định, thường xuyên xảy raxung đột, chiến tranh nên tỉ lệ mù chữ cao, điển hình là: Etiôpia, Xômali, Xu Đăng…
Môi trường xã hội khép kín, người dân không có điều kiện giao lưu với thế giới bênngoài làm cho con người không hiểu và không có nhu cầu tìm hiểu và vận dụng tri thức mớicủa nhân loại, do đó người dân không chú ý đến vấn đề giáo dục Nhiều nông dân không cầnbiết chữ mà chỉ nghe các thông tin, các chi phí giá cả thông qua radio…
Ngoài ra mù chữ ở Châu Phi còn do chế độ phân biệt chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, sựphân hóa giàu nghèo, chênh lệch mức sống…làm cho nhiều người dân không được đến trườnghoặc không có khả năng để đến trường, trong đó chủ yếu là phụ nữ ( Ở nhiều nước, phụ nữhay các bé gái chủ yếu phải ở nhà làm các công việc trong gia đình, làm nông nghiệp nhưtrồng trọt, chăn nuôi…thay vì đến trường học)
2.3 Hậu quả
Mù chữ ở Châu Phi là một vấn đề nan giải, tác động nhiều tới sự phát triển kinh tế - xãhội của mỗi quốc gia nói riêng và với cả châu lục nói chung, ngay cả trong tương lai gần vàtrong tương lai xa
* Ảnh hưởng tới kinh tế:
Số người mù chữ ở Châu Phi phần lớn nằm trong độ tuổi lao động (trên 40% phụ nữ độtuổi từ 20 - 24 bị mù chữ ) Nguồn lao động hiện tại của Châu Phi không được đào tạo bàibản, chất lượng nguồn lao động thấp làm cho sản xuất kém hiệu quả Do thiếu lao động có
Trang 4trình độ, tay nghề và có khả năng ứng dụng những tiến bộ KHKT vào phát triển kinh tế nênkinh tế chậm phát triển Nguồn lao động có chất lượng thấp đã cản trở dòng vốn đầu tư từnước ngoài vào Châu Phi Vì vậy, hầu hết các nước Châu Phi đều thuộc nhóm những nướcnghèo và lạc hậu nhất thế giới
Các nước Châu Phi đều có số nợ nước ngoài lớn và không có khả năng chi trả (hiện nay
nợ khoảng 300tỉ USD)
* Ảnh hưởng tới xã hội:
Mù chữ là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng đói nghèo
ở Châu Phi: Do trình độ dân trí thấp, khó có khả năng tiếp cận với khoa học công nghệ nênsản xuất nông nghiệp lạc hậu ( không sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thựcvật…), năng suất thấp, không đủ lương thực cung cấp cho nhu cầu làm cho Châu Phi lâm vàotình trạng đói nghèo triền miên (có 38 nước nghèo nhất thế giới thì 32 nước thuộc Châu Phi)
Bệnh tật: Người dân không được chú ý chăm sóc sức khỏe, không biết cách giữgìn vệ sinh nên nhiều dịch bệnh bùng phát và lây lan nhanh Châu Phi là nơi bắt nguồn củanhiều bệnh dịch nguy hiểm như HIV, Ebola, bệnh ngủ…(Châu Phi chiếm 75% trong tổng sốngười nhiễm HIV trên thế giới…), nhiều người đã chết do tự uống thuốc mà không đọc đượchướng dẫn sử dụng
Gia tăng dân số nhanh: Trình độ dân trí thấp nên người dân không ý thức đượchậu quả của việc sinh nhiều con, không được tiếp cận với các biện pháp KHHGĐ Chínhnhững lí do trên đã làm tăng mức sinh khiến dân số gia tăng nhanh.Lấy một phép so sánh đơngiản giữa phụ nữ có trình độ và phụ nữ chưa bao giờ tới trường: Những phụ nữ có trình độtrung học trở lên có số con trung bình thấp hơn so với số con trung bình của phụ nữ chưa baogiờ tới trường là 2con Ở Châu Phi tình trạng phụ nữ thất học là phổ biến
Khó khăn trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống: Chất lượng cuộc sống thấp,bình quân thu nhập khoảng 1000USD/người(bằng 1/7 thế giới- năm 2005)
Mù chữ làm gia tăng tệ nạn xã hội, tư tưởng cực đoan, mâu thuẫn dân tộc, sắctộc… Hệ quả tất yếu xảy đến đó là người dân ngày càng bị bần cùng hóa
Dân trí thấp nên người dân khó có cơ hội để phát triển, gặp khó khăn trong việchòa nhập, cạnh tranh với thế giới hoặc bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển trong thời đại củakinh tế tri thức và toàn cầu hóa
2.4 Giải pháp và định hướng chung:
Chính phủ các quốc gia cần có những chính sách phù hợp nhằm phát triển kinh tế, từ đó
đi đến xóa đói giảm nghèo triệt để cho người dân Chỉ khi vấn đề an ninh lương thực được giảiquyết thì con người ta mới có nhu cầu nâng cao trình độ cho chính bản thân mình Khi đó,giáo dục mới có điều kiện để phát triển Kinh tế có tích lũy sẽ tăng ngân sách đầu tư cho việcdựng cơ sở vật chất cũng như tăng cường đội ngũ giáo viên phục vụ công tác xoá mù chữ hiệuquả
Cần có những biện pháp nhằm khuyến khích người dân, đặc biệt là trẻ em đến trường(miễn, giảm học phí cho trẻ em nghèo…)
Xóa bỏ bất bình đẳng giữa trẻ em da đen và da trắng, giữa nam và nữ trong xã hội
Hỗ trợ của các tổ chức quốc tế để xóa nạn mù chữ ở Châu Phi (xóa nợ cho các nướcnghèo…)
Để việc xoá mũ chữ cho các quốc gia Châu Phi đạt hiệu quả thì các quốc gia cần phảithực hiện đồng bộ tất cả các giải pháp và đặc biệt là có sự phối hợp thực hiện của tất cả cácngành các cấp ở các quốc gia
Trang 5Đói nghèo hệ quả tất yếu của mù chữ Thiếu kiến thức chăm sóc trẻ em
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ TÌNH TRẠNG GIÁO DỤC THẤP KÉM VÀ NHỮNG HẬU QUẢ Ở CÁC QUỐC GIA CHÂU PHI
KỸ NĂNG THỰC HÀNH ĐỊA LÍ ( Vẽ biểu đồ)
1 BIỂU ĐỒ CỘT
a Biểu đồ cột đơn
Ý nghĩa :
- So sánh các đại lượng
Ví dụ: So sánh thu nhập bình quân đầu người một số nước Đông Nam Á
- So sánh động thái theo thời gian của một đối tượng địa lí
Ví dụ: Tình hình dân số qua một số năm
Cách vẽ :
- Trục ngang: Chỉ thời gian (cần chia đơn vị thời gian nếu có) hoặc biểu hiện các đối tượng
- Trục dọc: Chỉ số lượng (cần ghi chú đầu trục: biểu hiện đơn vị)
- Vẽ theo giá trị tuyệt đối: Thể hiện quy mô và các thành phần của tổng thể
- Vẽ theo giá trị tương đối: Thể hiện cơ cấu và sự thay đổi cơ cấu theo thời gian, không gian
Cách vẽ:
- Vẽ hệ thống trục: Như trường hợp biểu đồ cột đơn
Trang 6- Vẽ chồng nối tiếp giá trị các thành phần của tổng thể trên một cột (theo thời gian, khônggian)
Ví dụ: Sản lượng tôm nuôi năm 1995 và 2002 phân theo vùng
c Biểu đồ thanh ngang
Ý nghĩa:
Để so sánh các đại lượng
Cách vẽ:
Đây là dạng biểu đồ cột được vẽ trên hệ thống trục ngược với biểu đồ cột đơn:
- Trục ngang: Biểu hiện giá trị
- Trục dọc: Biểu hiện các đối tượng vùng so sánh
+ Trục dọc: Chỉ số lượng (số liệu đơn vị cần chính xác)
+ Trục ngang: Chỉ thời gian (cần chia đúng tỉ lệ thời gian)
- Xác định toạ độ từng điểm một - Nối các điểm lại
- Có thể vẽ nhiều đồ thị trên cùng một hệ thống trục:
+ Nếu các đối tượng cùng đại lượng: Vẽ cùng đơn vị trên trục tung
Ví dụ: Tình hình sản lượng lúa, ngô qua một số năm
+ Nếu các đối tượng đo bằng các đại lượng khác nhau:
* Vẽ hai đồ thị: Dùng hai trục tung biểu hiện hai đơn vị khác nhau, mỗi đồ thị ứng một trục
* Vẽ nhiều đồ thị: Cần chuyển các đại lượng về giá trị tương đối Lấy năm gốc bằng 100%,
tìm chỉ số phát triển của các năm còn lại Dựa vào số liệu vừa tìm được để vẽ
Lưu ý:
Ghi giá trị trên các điểm xác định
b Biểu đồ kết hợp: cột và đường
Ý nghĩa:
Thể hiện hai đối tượng khác nhau
Ví dụ: Vẽ biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa hoặc biến động diện tích và sản lượng của một sốloại cây
Cách vẽ:
Kết hợp cách vẽ cột và đường
Lưu ý:
- Trên trục ngang độ dài các vạch chia phải tương ứng tỉ lệ với các khoảng cách thời gian
- Khi vẽ biểu đồ cột, điểm chia khoảng cách thời gian là ở giữa của cột
Ví dụ: Sản lượng than, dầu mỏ, điện nước ta và thu nhập du lịch…
3 BIỂU ĐỒ TRÒN
Ý nghĩa :
- So sánh các thành phần trong một cơ cấu (tính theo %)
Trang 7- Hai hay nhiều biểu đồ tròn so sánh quy mô, sự thay đổi tỉ trọng các thành phần trong cơ cấutheo thời gian (hoặc không gian)
Ví dụ: Biểu đồ cơ cấu công nghiệp qua 2 năm 1989, 1993 hoặc biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất
Ranh giới giữa các miền được vẽ bằng đường đồ thị
Ví dụ: Sự thay đổi cơ cấu giá trị xuất, nhập khẩu của nước ta (%)
Lưu ý:
Phải ghi tên biểu đồ, chú thích
NHỮNG DÒNG SÔNG DÀI NHẤT THẾ GIỚI
Trên bề mặt trái đất, nước chiếm khoảng 2/3 diện tích, là nguồn sống không thể thiếu đối với con người Những con sông trên thế giới đã góp phần tạo nên những cánh đồng phì nhiêu và trong số đó, không ít dòng sông là nơi phát tích của những nền văn minh sớm của nhân loại
1 Sông Nile
Sông Nile là con sông dài nhất thế giới, với 4.184 dặm Nó xuất phát từ 2 nguồn, một nguồn
từ hồ Victoria ở vùng Uganda (được gọi là sông Nile trắng), một nguồn khác từ hồ Tana ở Ethiopia (còn được gọi là sông Nile đen) Về nguồn gốc tên gọi sông Nile như ngày nay được xuất phát từ tiếng Hy Lạp - Neilos, có nghĩa là thung lũng sông
2 Sông Amazone
Amazone là sông dài thứ hai trên thế giới với chiều dài 4.160 dặm Sông Amazon đã được một du khách người Tây Ban Nha tên là Francisco de Orellanna đặt cho khi anh gặp phải những phụ nữ trong bộ lạc vùng Amazone khoảng năm 1541 – 1542
3 Sông Trường Giang
Trường Giang là con sông dài nhất Trung Quốc và đứng hàng thứ ba trên thế giới với chiều dài 3.964 dặm Nó xuất phát từ vùng Qinghai - Tibet Plateau ở phía tây Trung Hoa, gần
Thượng Hải
4 Sông Hoàng Hà
Hoàng Hà là dòng sông dài thứ tư trên thế giới với 3.395 dặm Nó bắt nguồn từ núi Kunlun (Côn Lôn) ở phía tây Trung Hoa, cửa sông là vịnh Bohai Hoàng Hà được gọi là Dòng sông vàng do màu sắc của dòng phù sa mà có mang theo trên các vùng đất Trung Hoa Nền văn minh sớm nhất của Trung Hoa đã xuất hiện dọc theo hai bờ sông này
Trang 85 Sông Ob-Irtysh
Là con sông dài thứ năm trên thế giới, với 3.362 dặm Nó bắt nguồn từ chỗ giao của hai sông Biya và Katun ở vùng núi Altai, sau đó chảy ngang qua vùng Siberia và đổ vào vịnh Ob Tên gọi Ob – Irtysh xuất phát từ việc các nhà địa lý kết hợp tên của con sông chính (Ob) và nhánh chính của sông (Irtysh) mà thành
6 Sông Amur
Amur là dòng sông dài thứ sáu trên thế giới với 2.744 dặm, băng qua vùng Viễn Đông thuộc lãnh thổ của Nga (Liên Xô cũ) Nó được định hình bởi việc trộn lẫn hai dòng Argun và Shilka sau đó đổ vào vịnh Tartar của Thái Bình Dương Dòng sông uốn lượn theo ranh giới tự nhiên giữa Nga và Trung Hoa trên chiều dài khoảng 1.000 dặm Khu vực xung quanh sông Amur có đến 95% cò trắng có nguồn gốc từ phương Đông cùng rất nhiều sếu và các loài chim khác
7 Sông Lena
Sông Lena dài 2.734 dặm, đứng hàng thứ bảy trên thế giới, chảy qua khu vực Trung Đông thuộc lãnh thổ Nga Nó được định hình gần vùng hồ Baykal sau đó chảy theo hướng Đông Bắc đến biển Arctic Sông Lena là nơi cư trú của nhiều loài động - thực vật nhưng chỉ được vài tháng của năm vì sau đó dòng sông sẽ bị đóng thành những khối băng rắn chắc
8 Sông Congo
Sông Congo đứng hàng thứ tám trên thế giới về chiều dài, với 2.718 dặm Nó bắt nguồn từ chỗ hội lưu của hai con sông Lualaba và sông Luvua thuộc vùng núi Altai, sau đó chảy về phía tây nam, đổ vào biển Atlantic Những nhánh sông chính bao gồm Aruwimi, Kasai và sông Lomami
9 Sông Mackenzie
Mackenzie là sông rộng nhất của Canada và là sông dài thứ 9 trên thế giới, với 2.635 dặm Mackenzie là tên gọi cùng tên với một người Canada gốc Scotland - Alexander Mackenzie, người đã khám phá và đặt tên cho con sông khi anh ta thử tìm kiếm vùng biển Thái Bình Dương Tàu thuyền chỉ có thể di chuyển được 5 tháng trong năm Bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau, sông bị đóng băng
10 Sông Mekong
Mekong là sông có chiều dài đứng hàng thứ 10 trên thế giới, với 2.600 dặm Đây là con sông rộng nhất vùng Đông Nam Á Bắt nguồn từ sông Lang Thương (Trung Quốc), từ đây dòng Mekong tiếp tục chảy qua lãnh thổ của nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á như Myanmar,Thái Lan, Lào, Campuchia và cuối cùng đổ ra 9 cửa sông của Việt Nam (hay còn gọi là Cửu Long Giang) Một người Châu Âu tên là Portugal's Antonio de Faria đã tìm ra dòng sông này vào năm 1540
Trang 9
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG BIỂN VIỆT NAM
Việt Nam có vị trí địa kinh tế - chính trị đặc biệt quan trọng trong khu vực Đông Nam á Biển Việt Nam giữ vai trò quan trọng về môi trường, sinh thái của khu vực, là vùng chuyển tiếp đặc biệt giữa Thái Bình Dương và ấn Độ Dương về mặt địa lý, sinh thái và hàng hải Sự phát triển của nền kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá chắc chắn phải gắn kết với lợi thế và tiềm năng to lớn của biển Thế nhưng, vùng biển Việt Nam đang phải chịu nhiều áp lực, đứng trước nhiều nguy cơ, đòi hỏi phải thực hiện một loạt giải pháp cần thiết để phát triển thực sự bền vững.
Lợi thế
Bờ biển Việt Nam dài trên 3.200 km với 114 cửa sông lớn nhỏ Hàng năm, các sông đổ rabiển khoảng 880 tỷ mét khối nước và 250 triệu tấn bùn cát (tập trung chủ yếu ở hai cửa sônglớn là sông Hồng và sông Mê Kông), cung cấp cho biển nguồn dinh dưỡng to lớn và mở lấn rabiển gần 1.000 ha đất bồi Đất ngập nước ven biển có vai trò to lớn về sinh thái và môi trường,
có giá trị sử dụng cho khai hoang phát triển nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, xây dựng cơ sở
hạ tầng Việt Nam có trên 3.000 hòn đảo ven bờ với diện tích hơn 1.600 km2, có nhiều giátrị quý như đất sinh cư, du lịch sinh thái, xây dựng cơ sở hạ tầng khai thác biển
Vùng ven bờ biển với các vùng cửa sông, đầm phá, vũng vịnh, đảo, bãi cát biển, hang động
có tiềm năng lớn đối với phát triển du lịch - dịch vụ Hệ thống bãi biển (với 125 bãi có giá trịcao, đẹp nổi tiếng như Trà Cổ, Cửa Lò, Lăng Cô, Đà Nẵng ) đã thu hút hàng triệu khách dulịch trong và ngoài nước mỗi năm Hiện cả nước có trên 40 cảng biển lớn nhỏ (theo quy hoạchđến năm 2010 là 104) là lợi thế về vận tải và giao thương trong nước cũng như quốc tế Biểncòn ẩn chứa trong mình nhiều nguồn lợi về khoáng sản như dầu khí, than đá, sa khoáng titan,zircon, monazit, cát thuỷ tinh Vùng ven biển có khoảng 100 mỏ khoáng sản, đặc biệt vật liệuxây dựng rất phong phú về chủng loại và giàu về trữ lượng Dầu khí thềm lục địa có trữ lượngkhoảng 3 tỷ tấn, trữ lượng công nghiệp được xác định khoảng 1, 2 tỷ tấn, sản lượng khai thácđạt khoảng 20 triệu tấn /năm Các hệ sinh thái ven biển như cửa sông, đầm phá, vũng vịnh,rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển có năng suất và đa dạng sinh học cao Hệ sinh tháinước trồi tạo nên các ngư trường nổi tiếng ngoài khơi như Bình Thuận, tây nam Cà Mau, BạchLong Vỹ Có tới 11.000 loài sinh vật thuỷ sinh và 1.300 loài sinh vật trên đảo đã được biết đến
ở biển Việt Nam, trong đó có khoảng 6.000 loài động vật đáy và 2.000 loài cá Có 83 loài sinhvật biển được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam (37 loài cá, 6 loài san hô, 5 loài da gai, 4 loài tômrồng, 1 loài sam, 21 loài ốc, 6 loài động vật hai mảnh vỏ và 3 loài mực) Biển Việt Nam có
110 loài cá kinh tế thuộc 39 họ, tổng trữ lượng cá biển khoảng 3-3, 5 triệu tấn và khả năngkhai thác cho phép là trên một triệu tấn mỗi năm Ngoài cự, còn có nguồn lợi động vật thânmềm (hơn 100 loài) với trữ lượng đáng kể, có giá trị kinh tế cao Rong biển có 90 loài (sửdụng cho chế phẩm công nghiệp 24 loài, dược liệu 18 loài, thực phẩm 30 loài, thức ăn gia súc
10 loài và phân bón 8 loài) Tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ trong các vùng cửasông, đầm phá và vũng vịnh rất lớn Nuôi trồng sinh vật biển cũng đã đóng góp một sản lượnglớn thuỷ sản cho thực phẩm, dược phẩm, vật liệu công nghiệp, mỹ nghệ phục vụ nội tiêu vàxuất khẩu
Áp lực
Vùng ven biển là nơi phát triển kinh tế năng động và có mật độ, tốc độ phát triển dân số cao.Dọc bờ biển có tới 12 đô thị lớn, 40 cảng, hàng trăm bến cá và khoảng 238.600 cơ sở sản xuấtcông nghiệp Hoạt động du lịch, dịch vụ và quá trình đô thị hoá đang gia tăng mạnh Sản
Trang 10lượng khai thác cá biển, mà 80% là từ vùng nước ven bờ đã vượt mức cho phép Diện tíchđầm nuôi thuỷ sản nước mặn, lợ tăng từ 230.000 ha (năm 1998) lên 592.000 ha (năm 2003).Phương tiện giao thông thủy ngày càng nhiều, sản lượng khai thác và vận chuyển dầu khí trênbiển không ngừng tăng, gây nên tình trạng ô nhiễm dầu trên diện rộng Tràn dầu là tai biếnđáng báo động, đến nay đã có trên 40 vụ, điển hình như tai nạn tàu Neptune Aries làm tràn1.865 tấn dầu vào năm 1994 tại cảng Sài Gòn Trong số các nguồn ô nhiễm dầu, lớn nhất lànguồn từ tuyến hàng hải quốc tế Khai thác khoáng sản ven biển như than, vật liệu xây dựng,
sa khoáng đã làm biến dạng cảnh quan, gây ô nhiễm môi trường và làm tăng xói lở bờ biển.Riêng mỏ than Quảng Ninh mỗi năm đã thải ra khoảng 13-19 triệu mét khối đất đá và khoảng30-60 triệu mét khối chất thải lỏng
Rừng bị tàn phá nặng nề do chiến tranh, thiên tai và khai thác quá mức của con người Ngoài
ra, hệ thống đập - hồ chứa trên lưu vực cũng làm thay đổi lớn lượng tải, phân bố nước và trầmtích đưa ra biển Sự mất đi một lượng lớn nước ngọt, trầm tích và dinh dưỡng do đắp đập ngănsông đã gây ra những tác động lớn cho vùng ven biển như xói lở, xâm nhập mặn, thay đổi chế
độ thủy văn, mất nơi cư trú và bãi giống, bãi đẻ của sinh vật, suy giảm sức sản xuất của vùngbiển ven bờ, gây thiệt hại về đa dạng sinh học, nguồn lợi thủy sản đánh bắt và nuôi trồng ViệtNam có trên 650 đập - hồ chứa cỡ lớn, vừa và hơn 3.500 đập - hồ chứa cỡ nhỏ, tổng sức chứacác đập - hồ thuỷ điện trên hệ thống sông Hồng bằng 20% tổng lượng dòng chảy năm của hệthống này Trên thượng lưu sông Mê Kông, Trung Quốc đang phát triển mạnh các đập - hồchứa, dự kiến đến 2010 sẽ có 8 đập - hồ chứa lớn với tổng dung tích trên 40 km3 và sẽ ảnhhưởng rất lớn đến vùng ven biển Việt Nam Với diện tích nông nghiệp trên 7 triệu héc ta (60%
là lúa), hàng năm, một dư lượng đáng kể phân bón hoá học và hoá chất bảo vệ thực vật theosông chảy ra gây ô nhiễm môi trường biển Dân số gia tăng, tốc độ đô thị hoá nhanh, hoạtđộng công nghiệp và giao thông đã phát thải một lượng lớn các chất thải, chủ yếu chưa được
xử lý, gây ô nhiễm môi trường vùng ven biển Hoạt động du lịch cũng gây áp lực lớn cho môitrường (chỉ riêng hoạt động này trong năm 2003 đã thải ra 32.273 tấn rác và 4.817.000 m3nước thải)
Thiên tai, thậm chí khả năng xuất hiện động đất và sóng thần, ảnh hưởng lớn đến khả năngphát triển bền vững vùng biển Mực nước dâng cao dẫn tới ngập lụt ven biển, nhiễm mặn, xói
lở, sa bồi làm đảo lộn cân bằng tự nhiên và sinh thái Phân bố mưa và bão thất thường, có xuhướng giảm dần ở Bắc Bộ, tăng lên ở Trung Bộ và dịch về phía Nam
Xói lở bờ biển tăng cả về quy mô và tính chất nguy hiểm Có đến 397 đoạn bờ đã và đang bịxói lở với tổng chiều dài 920 km, tốc độ phổ biến 5-10 m/năm, cá biệt 30-50 m/năm Sa bồi làtai biến phổ biến, có tác động tiêu cực đến cảng biển ở ven biển miền Trung, sa bồi làm lấpcác cửa sông và đầm phá, làm các vực nước ven biển bị ngọt hoá, ảnh hưởng đến nuôi trồngthuỷ sản nước mặn, lợ, mất lối ra biển và gia tăng ngập lụt
Như vậy có thể thấy, sự phát triển kinh tế, dân số, diễn biến bất thường của khí hậu và thiêntai đã tác động lớn đến tài nguyên và môi trường biển Vùng biển Việt Nam đang đứng trướcnguy cơ phát triển thiếu bền vững
Giải pháp cho phát triển bền vững
Để hướng tới phát triển bền vững, trước hết phải có sự đánh giá đầy đủ về điều kiện tự nhiên,tiềm năng phát triển, hiện trạng và những biến động về tài nguyên và môi trường biển Vì vậy,cần tiến hành điều tra, nghiên cứu có hệ thống về biển, xây dựng cơ sở dữ liệu và thườngxuyên cập nhật thông tin, kết quả điều tra, nghiên cứu mới Tiến hành định kỳ các hoạt độngquan trắc, giám sát tài nguyên và môi trường biển Xây dựng các trạm cảnh báo thiên tai
Trang 11(động đất, sóng thần, núi lửa, nước dâng, ngập lụt, sa bồi, xói lở, xâm nhập mặn, tràn dầu, hoáchất, thuỷ triều đỏ ) Giám sát và đánh giá mức độ suy thoái của tài nguyên các hệ sinh tháibiển Quyết định (số 47/2006/QĐ-TTg ngày 1.3.2006) của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
“Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầmnhìn 2020” với danh mục 20 nhiệm vụ - đề án là một mốc quan trọng đối với công tác điều tra
và nghiên cứu biển, thể hiện quyết tâm theo định hướng phát triển bền vững của Việt Nam.Chúng ta đã có một hệ thống cơ sở pháp lý làm nền tảng cho quản lý và phát triển vùng biển,
đã tham gia các công ước quốc tế Đã có các tuyên bố về chủ quyền trên biển, các chiến lược
và kế hoạch quốc gia, Luật Bảo vệ môi trường và nhiều văn bản dưới luật Tuy nhiên, cần có
sự phân cấp, định rõ trách nhiệm về quản lý tài nguyên - môi trường và kinh tế biển, ứng cứu
sự cố môi trường Chúng ta cần củng cố và cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý và bảo vệ theo cácvấn đề như các nhân tố gây tác động từ trên lưu vực, xuyên biên giới - lãnh thổ; chất lượngmôi trường; nơi sinh cư và các hệ sinh thái; đất ngập nước; phòng chống thiên tai và ứng cứucác sự cố môi trường, an ninh và tìm kiếm cứu nạn trên biển Tiếp tục xây dựng, bổ sung vàhoàn chỉnh các văn bản pháp quy liên quan đến phát triển bền vững vùng biển và dải ven bờbiển Xây dựng chiến lược và các chương trình, kế hoạch hành động, các dự án ưu tiên đểkiểm soát ô nhiễm, ngăn ngừa suy thoái, phát triển tài nguyên, cảnh báo thiên tai và ngăn ngừa
sự cố môi trường trên biển Phát huy thế mạnh của nền kinh tế thị trường đối với khai tháctiềm năng và bảo vệ môi trường vùng biển ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế biển Ngoài việctạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, Nhà nước cần giữ vai trò điều hành và quản lý một
số lĩnh vực kinh tế chủ chốt, an ninh - quốc phòng và chủ quyền quốc gia trên biển
Tăng cường xây dựng tiềm lực cho các cơ quan nghiên cứu, quản lý tài nguyên - môi trườngbiển Từng bước khắc phục tình trạng lạc hậu, thiếu đồng bộ về phương pháp, thiết bị khảo sát
và phân tích Chú trọng đào tạo cán bộ khoa học, chuyên gia và lao động chuyên nghiệp biển
từ các trường đại học, dạy nghề và thông qua các dự án phát triển Xây dựng một hệ thống các
cơ quan chuyên trách điều tra nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ về biển đủ mạnh đểđáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế biển và đảm bảo an ninh - quốc phòng, đảm bảo bình đẳngtrong hợp tác quốc tế song phương và đa phương trên vùng biển Việt Nam và trên Biển Đông.Phấn đấu xây dựng nền tảng cơ sở vật chất cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệbiển (đội tàu nghiên cứu, các trạm quan trắc môi trường và cảnh báo thiên tai, các phòng thínghiệm trọng điểm và các cơ sở thực nghiệm) Tăng tỷ lệ ngân sách cho các hoạt động nghiêncứu khoa học và phát triển công nghệ, đặc biệt cho phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, đánhgiá và phát hiện mới tài nguyên biển
Đẩy mạnh ứng dụng các giải pháp khoa học và công nghệ tiên tiến trong khai thác tiềm năng
và bảo vệ tài nguyên - môi trường biển: Xây dựng công trình trên biển, dự báo, thăm dòkhoáng sản và nguồn lợi nghề cá, ứng dụng công nghệ vệ tinh màu nước dự báo ngư trường,nuôi trồng thuỷ sản hiệu suất cao không gây ô nhiễm môi trường, giải quyết vấn đề nước ngọtcho vùng ven biển và các đảo xa bờ, phát triển các nguồn năng lượng sạch có nguồn gốc từbiển (gió, sóng, thuỷ triều, dòng chảy ), tách chiết các hợp chất thiên nhiên có giá trị cao từnguồn vật liệu biển và chế biến các sản phẩm biển Tăng cường các hoạt động dịch vụ vàtrung chuyển trên biển để hỗ trợ phát triển kinh tế đảo và xa bờ; phát triển mạnh cảng - hànghải, du lịch sinh thái và các dịch vụ đi kèm
Tăng cường an ninh - quốc phòng, chống nạn cướp biển và khai thác tài nguyên trái phép làmột giải pháp đảm bảo phát triển bền vững, giữ vững chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển.Tăng cường kiểm tra nhằm đảm bảo an toàn môi trường và an ninh tài nguyên, giám sát và xửphạt các vi phạm trên biển Phát hiện và kịp thời xử lý các vụ vi phạm như vận chuyển và đổ
Trang 12thải trái phép các chất gây ô nhiễm, sử dụng các hình thức khai thác huỷ hoại tài nguyên, viphạm trong các vùng bảo vệ nghiêm ngặt Gắn kết phát triển kinh tế với an ninh - quốc phòng
và bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển, phối hợp tốt các tổ chức kinh tế và các cơ quan quản lý tàinguyên - môi trường với các tổ chức tìm kiếm cứu nạn trên biển, cảnh sát biển, hải quân và bộđội biên phòng
Thực hiện đánh giá tác động môi trường và ưu tiên triển khai các dự án quản lý, bảo vệ tàinguyên - môi trường biển như xử lý các chất thải, phục hồi nơi sinh cư của các loài quý hiếm,đặc hữu và các hệ sinh thái đặc thù, ứng cứu các sự cố môi trường, đặc biệt là tràn dầu trênbiển Phát triển các mô hình quản lý tổng hợp biển và dải ven bờ, kết hợp với quản lý lưu vựcthượng nguồn Phát triển các khu bảo tồn biển như là một quốc sách phát triển bền vững, vìngoài việc duy trì các giá trị về tự nhiên, đa dạng sinh học và khoa học, nó còn mang lạinhững lợi ích kinh tế to lớn cho du lịch sinh thái và phát triển nghề cá Quan tâm phát triển cácdạng bảo tồn thiên nhiên khác như di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển và khu đất ngập nước
có tầm quan trọng quốc gia
Giáo dục, tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm và ý thức cộng đồng trong công tác bảo vệ tàinguyên - môi trường, hướng tới phát triển bền vững vùng biển Xây dựng ý thức mới “bảo vệtài nguyên - môi trường biển là trách nhiệm, là hành động yêu nước của mỗi người” Hỗ trợ vàquan tâm xoá đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư trên đảo và ven biển
Tăng cường hợp tác quốc tế trong điều kiện toàn cầu hoá để hội nhập và thực thi các công ướcquốc tế liên quan đến biển Thúc đẩy nghiên cứu và đàm phán nhằm sớm hoàn thiện việc xáclập biên giới và chủ quyền hợp pháp trên biển Phối hợp giám sát nguồn chất thải xuyên biêngiới và ứng cứu các sự cố môi trường tại các vùng giáp ranhT; tham khảo kinh nghiệm, tranhthủ sự hỗ trợ, khuyến khích hòa nhập các chương trình quốc tế về tài nguyên - môi trườngbiển Mở rộng các hình thức hợp tác quốc tế về thông tin tư liệu, đào tạo, hội thảo, tham quantrao đổi, tham gia các chương trình, dự án khu vực hoặc toàn cầu Tham gia các tổ chức, cáchoạt động trong các mạng lưới quốc tế về biển, tạo điều kiện để giao lưu, nâng cao trình độchuyên môn, kinh nghiệm và cập nhập thông tin khoa học và công nghệ về biển ưu tiên cáchướng nghiên cứu khoa học và công nghệ cao để tiếp cận trình độ khu vực về một số mặt cóliên quan đến lợi ích bình đẳng khai thác các vùng nước giáp kề, các vùng chồng lấn hoặctranh chấp
Cần một tầm nhìn mới về môi trường biển
(VP21-TNMT) - Nghị quyết về chiến lược biển đến năm 2020 do Hội nghị lần 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đầu năm 2007 đã đề ra “Phấn đấu đưa kinh tế biển đóng góp khoảng 53% - 55% GDP và 55% - 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước” Trong khi đó, những vấn đề về môi trường biển của Việt Nam đang nổi lên ngày càng gay gắt VietNamNet xin giới thiệu loạt bài của ông Ngô Lực Tải, Phó Chủ tịch Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật biển.
Trang 13Sự tiến hóa của loài người được gắn kết với biển
Biển và đại dương chiếm 71% bề mặt của hành tinh xanh Lịch sử tiến hóa của loài người luônđược gắn kết với biển Văn minh nhân loại càng phát triển thì giá trị của biển càng được tônvinh Ngành hàng hải ra đời, biển và đại dương chẳng những là cầu nối giữa các châu lục, cácquốc gia, mà còn là tài sản vô giá của trái đất
Công ước năm 1982 của Liên Hiệp Quốc về luật biển, một văn kiện lịch sử có tầm vóc thờiđại, đã được áp dụng trên toàn thế giới để điều tiết các quan hệ trên biển giữa các quốc gia.Trong Công ước có ghi rõ: "Biển và đại dương là di sản chung của nhân loại” Đương nhiên,buộc chúng ta phải có một cách nhìn nghiêm túc trong việc bảo vệ và gìn giữ môi trường biển
Biển và vị trí địa kinh tế của Việt Nam
Biển Đông với diện tích 3.447.000km vuông, một trong 6 biển lớn nhất của thế giới, nối hai
đại dương là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, có 9 quốc gia bao bọc: Việt Nam, TrungQuốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia Đây làcon đường chiến lược của giao thương quốc tế, có 5/10 tuyến đường hàng hải lớn nhất củahành tinh đi qua Hàng năm, vận chuyển qua biển Đông là khoảng 70% lượng dầu mỏ nhậpkhẩu từ Trung Đông và Đông Nam Á, khoảng 45% hàng xuất của Nhật, và 60% hàng xuấtnhập khẩu của Trung Quốc
Vùng biển Việt Nam rộng khoảng 1 triệu km vuông, án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng
không huyết mạch giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu Âu, Trung Cận Đôngvới Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực
Bờ biển Việt Nam dài 3.260km, bao bọc lãnh thổ Việt Nam ở cả 3 hướng Đông, Nam và Tây
Nam, trung bình 100km vuông đất liền có 1km bờ biển (cao gấp 6 lần tỷ lệ này của thế giới).Dọc bờ biển có một số trung tâm đô thị lớn, 90 cảng biển lớn nhỏ và gần 100 địa điểm có thểxây dựng cảng (kể cả cảng ở qui mô trung chuyển thế giới), 125 bãi biển có cảnh quan đẹp,trong đó có 20 bãi đạt tiêu chuẩn quốc tế để phát triển du lịch biển Ven bờ biển có nhiều loại