Những cách điều trị khác Nếu bạn chọn dùng những cách điều trị như vi lượng đồng căn, các loại thảodược, những loại bổ sung dinh dưỡng và thực phẩm chức năng, giác hơi, xoabóp dầu, và nh
Trang 1TRIỆU CHỨNG HỌC
**********
TÁO BÓN
……… , tháng … năm …….
Trang 2• Có một quan niệm sai lầm thường gặp về táo bón cho rằng những chấtthải chứa trong cơ thể bạn sẽ bị hấp thu ngược trở lại và gây nguy hiểm cho sức khỏe của bạn, có thể làm tuổi thọ của bạn ngắn đi Một
số người có một nỗi ám ảnh rằng họ sẽ bị nhiễm độc bởi những chất thải từ chính cơ thể của mình (phân) nếu họ giữ chúng lại lâu quá một khoảng thời gian nhất định nào đó Cả hai quan niệm trên đều không đúng
• Những người lớn tuổi có nguy cơ bị táo bón cao gấp 5 lần những người trẻ Nhưng những chuyên gia lại cho rằng do những người lớn tuổi trở nên quá quan tâm đến tình trạng đi cầu mỗi ngày của mình và
Trang 3tình trạng táo bón ở lứa tuổi này được đánh giá cao hơn mức bình thường
NGUYÊN NHÂN
Táo bón có thể là kết quả của tình trạng dinh dưỡng không đúng, thói quen ít
đi cầu, hoặc có vấn đề trong việc đào thải phân do những nguyên nhân của
cơ thể, chức năng hoặc tự ý
Dưới đây là những nguyên nhân gây táo bón thường gặp nhất:
• Tình trạng dinh dưỡng: ăn nhiều thức ăn có chất béo động vật (thịt, trứng) hoặc đường tinh chế và ăn ít chất xơ (trái cây, rau củ) có thể gây táo bón
• Thói quen ít đi cầu: bỏ qua khi có ý muốn đi cầu có thể khởi động chutrình táo bón
o Sau một khoảng thời gian, bạn sẽ không còn cảm giác muốn đi cầu nữa
o Điều này có thể dẫn đến táo bón tiến triển Chẳng hạn như một
số người tránh không dùng các nhà vệ sinh công cộng hoặc không đi cầu do đang bận một công việc nào đó
• Thuốc: có nhiều loại thuốc có thể gây ra táo bón
o Thuốc kháng acid - những loại cho chứa aluminum hydroxide
• Những loại thuốc giảm đau chẳng hạn như những thuốc có chứa chất
á phiện có thể ngăn cản chức năng của ruột
• Đi du lịch: thay đổi cách sống, uống ít nước, và ăn những thức ăn nhanh có thể gây táo bón
• Hội chứng ruột kích thích : đây là một trong những nguyên nhân gây táo bón thường gặp nhất Nếu bạn bị bệnh này thì do sự thay đổi về chức năng ruột, bạn có thể sẽ bị đau bụng quặn, trướng hơi, phù nề, vàtáo bón
• Lạm dụng thuốc nhuận trường: sử dụng thuốc nhuận trường theo thói quen sẽ dần dần trở nên phụ thuộc chúng
o Cuối cùng bạn có thể sẽ cần phải gia tăng lượng thuốc đưa vào
cơ thể mới có thể đi cầu được
Trang 4o Trong một số trường hợp, ruột sẽ trở nên không còn nhạy cảm với thuốc nữa và không thể đi cầu được.
• Mang thai : táo bón xuất hiện trong thai kỳ có thể do một số nguyên nhân Mỗi một tình trạng được kể ra ở phía sau có thể gây đau khi đi cầu có thể dẫn đến sự co thắt phản ứng của cơ vòng hậu môn Sự co thắt này làm chậm nhu động ruột và giảm sự thôi thúc muốn đi cầu để tránh cho hậu môn không bị đau
o Thai nhi nặng đè vào ruột tạo ra áp lực
o Những thay đổi hormon trong thai kỳ
o Những thay đổi về thức ăn và thức uống của thai phụ
o Sự viêm dính của các mô
o Khối u ruột hoặc dị vật
o Sỏi mật bị chèn bất động vào trong ruột
o Sự xoắn của ruột vào chính nó
o Lồng ruột: một phần của ruột bị trượt hoặc bị kéo vào một phầnkhác ngay phía dưới nó (xảy ra chủ yếu ở trẻ em)
o Thoát vị: các vòng ruột bị tắt nghẽn
o Tổn thương các dây thần kinh bên trong ruột: u tủy sống, đa xơ cứng hoặc tổn thương tủy sống có thể gây táo bón do ngăn cản chức năng của các dây thần kinh điều khiển ruột
o Bệnh mô liên kết - chẳng hạn như các bệnh xơ cứng bì và lupus
o Chức năng tuyến giáp kém - giảm sản xuất thyroxin, là một loạihormon của tuyến giáp còn được gọi là suy giáp, cũng có thể gây táo bón
o Ngộ độc chì và những rối loạn chuyển hóa khác
• Tuổi tác: những người lớn tuổi thường bị táo bón nhiều hơn do những nguyên nhân sau:
o Dinh dưỡng kém và không uống đủ nước
o Không tập luyện thể dục
o Những tác dụng phụ của các loại thuốc được kê toa để điều trị những bệnh khác
o Thói quen đi cầu kém
o Nằm trên giường lâu, chẳng hạn như sau một tai nạn hoặc sau khi bị bệnh
Trang 5o Có thói quen sử dụng thuốc thụt tháo và thuốc nhuận trường.
TRIỆU CHỨNG
Bạn có thể gặp nhiều loại triệu chứng của táo bón tùy thuộc vào thói quen đicầu bình thường của bạn, chế độ ăn và tuổi tác Những vấn đề thường gặp nếu bạn bị táo bón bao gồm:
• Gặp khó khăn trong việc bắt đầu và kết thúc đi cầu
• Đi cầu khó và không đều
• Đi ra phân cứng sau một thời gian gắng sức dài trong toilet
• Nếu bạn bị hội chứng ruột kích thích, bạn sẽ gặp các triệu chứng đau quặn bụng, đầy hơn, cảm giác đầy bụng, và thay đổi thói quen đi cầu
• Nếu bạn bị tắc ruột, bạn sẽ cảm thấy buồn nôn, nôn, không đi cầu được, và không trung tiện (đánh rắm) được
• Sưng căng bụng, nhức đầu, và ăn mất ngon
• Lưỡi đóng màng, hơi thở hôi và có vị khó chịu trong miệng
KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM BỆNH
Hãy đi khám bệnh nếu như bạn gặp những vấn đề sau:
• Các triệu chứng trở nên nặng nề và kéo dài hơn 3 tuần
• Xuất hiện những thay đổi rõ rệt và gần đây trong tình trạng đi cầu, chẳng hạn như chuyển từ táo bón thành tiêu chảy
• Đau ở hậu môn khi đi cầu
• Triệu chứng của các bệnh khác kèm theo táo bón (VD như mệt mỏi, kém đáp ứng với trời lạnh có thể là dấu hiệu gợi ý cần phải kiểm tra chức năng tuyến giáp xem có bị suy giáp không)
• Táo bón trong vòng 2 tuần hoặc lâu hơn kèm theo đau bụng có thể là dấu hiệu của ngộ độc chì
Tình trạng cấp cứu: mặc dù táo bón có thể rất khó chịu nhưng nó thường không nghiêm trọng Tuy nhiên nó có thể là dấu hiệu của những rối loạn nghiêm trọng hơn ẩn phía sau, chẳng hạn như ung thư ruột Do táo bón có thể dẫn đến một số biến chứng nên bạn cần phải đến phòng cấp cứu ngay khigặp những tình huống sau:
Trang 6• Chảy máu trực tràng
• Đau hậu môn và trĩ
• Nứt hậu môn hoặc đường nứt xuất hiện ở lớp niêm mạc (đau nặng nề khi đi cầu ở vùng hậu môn)
• Phân đóng chặt ở những trẻ nhỏ và người già
• Sa trực tràng (đôi khi gắng sức có thể gây một lượng nhỏ niêm mạc ruột đi ra ngoài lỗ hậu môn có thể chế tiết chất nhầy làm dơ quần lót)
• Nôn ói nhiều lần kèm theo táo bón và đau bụng (có thể là dấu hiệu gợi
ý tắc nghẽn ở ruột và cần phải được điều trị khẩn cấp)
KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM
Bác sĩ có thể sẽ hỏi bạn một số câu hỏi, khám cho bạn, và thực hiện một số xét nghiệm để tìm ra những nguyên nhân khả dĩ có thể gây ra táo bón cho bạn
• Những câu trả lời của bạn cho các câu hỏi sau có thể sẽ giúp bác sĩ tiếp cận được tình trạng của bạn tốt hơn và lên kế hoạch điều trị
o Thói quen đi cầu bình thường của bạn như thế nào?
o Bạn cảm thấy khó khăn khi tống phân ra ngoài từ bao lâu rồi?
o Lần cuối cùng bạn đi cầu là vào lúc nào?
o Bạn có thể trung tiện được không?
o Bạn có thấy những cơn đau xuất hiện ở bụng hay ở hậu môn hay không?
o Bạn có thể dùng ngón tay để chỉ vị trí đau được không?
o Bạn có thể mô tả cơn đau bụng của bạn được không?
o Bạn có chú ý thấy những thay đổi về nhiệt độ cơ thể của mình không?
o Bạn đã thử những loại thuốc nào? Nó có tác dụng không?
o Bạn có thường phải dùng thuốc nhuận trường hay thụt rửa? Nếu
có thì bạn thường dùng loại nào và bao nhiêu viên mỗi ngày?
o Bạn có cảm thấy luôn phải cần dùng đến thuốc nhuận trường để
có thể đi cầu được?
o Bạn có những triệu chứng nào khác không?
o Bạn có cảm thấy ăn mất ngon không?
o Bạn có bị thay đổi cân nặng không?
o Bạn có cảm thấy dễ chịu hơn sau khi đi cầu không?
o Bạn có cảm thấy bệnh? Buồn nôn hay không?
Trang 7o Bạn có từng phải nhập viện hoặc phải đi khám bệnh do tình trạng tương tự bao giờ chưa?
o Bạn có mang thai không?
o Bạn có hút thuốc không? Bạn bắt đầu hút thuốc khi nào? Bạn hút bao nhiêu điếu một ngày?
o Bạn có uống rượu, trà, cafe hay không?
o Bạn có dùng thuốc gây nghiện hoặc những loại thuốc điều trị khác không?
o Bạn có từng phải trải qua phẫu thuật không? Phẫu thuật gì? Khinào?
o Bạn có bị đau khớp, bệnh về mắt, đau lưng và cổ, hoặc những thay đổi về da hay không?
o Bạn có thường cảm thấy thích khí hậu ấm hơn không?
o Bạn có thường cảm thấy mệt mỏi không?
o Có người thân nào của bạn bị táo bón hoặc ung thư ruột không?
• Bác sĩ sẽ khám bụng, hậu môn, và những hệ cơ quan khác của cơ thể bao gồm hệ thần kinh, tuyến giáp (tìm bướu cổ), và hệ cơ xương Bác
sĩ sẽ khám những phần nào là tùy thuộc vào những câu trả lời của bạn
ở phía trên và những tiền sử có thể gợi ý ra một số bệnh
• Bác sĩ sẽ quyết định xem cần phải thực hiện loại xét nghiệm nào dựa trên các triệu chứng, bệnh sử, và kết quả khám Những xét nghiệm sẽ giúp bác sĩ tìm ra được nguyên nhân thật sự của vấn đề Những xét nghiệm thường được dùng nhất có thể bao gồm:
o Trong phòng thí nghiệm:
Khám nghiệm phân dưới kính hiển vi
Công thức máu toàn bộ và phết máu
Xét nghiệm chức năng tuyến giáp nếu như nghi ngờ suy giáp
o Hình ảnh:
Chụp phim X quang ngực và bụng thẳng có thể cho thấy khí tự do đi qua từ lỗ thủng ở ruột hoặc những dấu hiệu tắc nghẽn ở ruột
Thụt tháo bằng barit: có thể cho thấy kích thước bình thường của ruột già
Quan sát sự di chuyển của thức ăn - có thể chỉ ra được khoảng thời gian chuyển tiếp bị kéo dài hoặc chậm trễ
o Thủ thuật:
Soi trực tràng xích ma: có thể giúp phát hiện những bệnh trong trực tràng và phần thấp của đại tràng Bác sĩ sẽ đưa
Trang 8một ống dẻo có gắn đèn vào hậu môn của bạn để quan sáttrực tràng và phần thấp của ruột.
Soi đại tràng: bằng cách khám trong, bác sĩ có thể xác định được chẩn đoán bệnh nhân có bị hội chứng ruột kíchthích hay không bằng cách loại trừ những tình trạng bệnhnguy hiểm hơn Bác sĩ cũng sẽ lấy ra một mẫu mô để làmsinh thiết nhằm khảo sát sâu hơn để xác định những nguyên nhân ẩn phía sau triệu chứng của bạn
ĐIỀU TRỊ
Nếu bạn không bị tắc ruột, bác sĩ có thể đặt ra những mục tiêu thực tế để điều trị:
• Tất cả những trường hợp đều cần phải những lời hướng dẫn về chế độ
ăn kiêng Điều trị có thể khó khăn, đặc biệt ở những bệnh nhân bị táo bón mạn tính Bác sĩ có thể kê toa những loại thuốc tạo khối phân để thêm vào những thay đổi về chế độ ăn của bệnh nhân
• Gia tăng hoạt đọng ở những người già và tập luyện thể dục thường xuyên ở những người trẻ có thể giúp cải thiện tình hình tốt hơn
Chăm sóc tại nhà
• Bổ sung thêm chất xơ cho bữa ăn
• Tập thể dục thường xuyên là một phần quan trọng trong chăm sóc sức khỏe của ruột
• Uống nhiều nước, đặc biệt là nước lọc và nước trái cây Uống 6-8 ly nước mỗi ngày ngoài những lần uống trong bữa ăn
• Đi cầu vào cùng một thời điểm mỗi ngày - có thể là sau bữa ăn - và lưu lại đó đủ thời gian
• Dùng những loại đường không dễ tiêu (lactulose) hoặc những dung dịch có công thức đặc biệt
• Tránh dùng những loại thuốc nhuận trường bán tự do ngoài hiệu thuốc Tránh dùng những thuốc nhuận trường có chứa senna
(Senokot) hoặc buckthorn (Rhamnus purshiana) do sử dụng chúng kéo dài có thể gây tổn thương lớp niêm mạc ruột và những đầu tận củacác dây thần kinh đi đến ruột
Trang 9• Cố gắng tập thể dục mỗi ngày chẳng hạn như tập tư thế gập gối Những tư thế này có thể gây kích thích nhu động ruột Giữ tư thế đó trong vòng từ 10 - 15 phút Thở vào và ra sâu.
Tư thế gập gối
Thuốc
Nếu những biện pháp ban đầu phía trên thất bại, bác sĩ có thể cho bạn thử dùng những loại thuốc nhuận trường có thời gian tác dụng ngắn Bạn cần phải hỏi ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng một trong những loại thuốc sau, đặc biệt là nếu sử dụng trong thời gian dài
• Dầu khoáng
• Natri docusate hoặc Canxi docusate sẽ có ích nếu như bạn không thể rặn được, chẳng hạn như trong trường hợp bạn bị bệnh tim mạch, có thai, hoặc sau phẫu thuật đường tiêu hóa
• Thuốc nhuận trường là nước muối, chẳng hạn như hydroxide magne (Phillips Milk của Magnesia) hoặc Natri phosphate ((Phospho-Soda, Fleet enema) không được khuyến khích sử dụng nếu như bạn bị suy thận (thận không có khả năng hoặc giảm khả năng loại bỏ chất thải) Những loại thuốc nhuận trường này có thể gây ra những tác dụng phụ nặng nề nếu sử dụng trong thời gian dài
• Polyethylene glycol 3350 (Miralax) là một loại thuốc nhuận trường thẩm thấu không được dạ dày hấp thu Nó giữ nước lại bên trong ruột
Trang 10làm cho phân mềm ra và có tác dụng nhuận trường Nó có thể được sửdụng trong một thời gian ngắn để điều trị táo bón (trong vòng 2 tuần) Miralax là một loại thức uống được pha chế bằng cách hòa lẫn bột với240mL nước.
• Đường không hấp thu chẳng hạn như lactulose và sorbitol cũng có thể
có tác dụng Hơn nữa, chúng thường có thể sử dụng được trong một thời gian dài Tuy nhiên chúng thường gây ra đau quặn bụng, tiêu chảy và mất cân bằng điện giải
• Cisapride (Propulsid) có thể có tác dụng đối với những bệnh nhân bị táo bón do di chuyển phân chậm Tuy nhiên, nó đã bị rút ra khỏi thị trường Hoa Kỳ do nó có thể gây ra những tình trạng loạn nhịp tim chết người
Bác sĩ sẽ điều trị những bệnh nền của bạn (tắc ruột, nứt hậu môn, trĩ, và ung thư ruột)
• Nếu bạn bị hội chứng ruột kích thích, bạn nên ngừng hút thuốc và tránh uống cafe và những thức ăn có sữa Theo dõi những thức ăn hằng ngày có thể giúp bạn xác định xem loại thức ăn nào có thể làm cho những triệu chứng của bạn nặng thêm
• Bạn cũng có thể được cho uống thyroxin nếu bác sĩ xác định bạn bị suy giáp dựa vào những khám xét trên lâm sàng và những xét nghiệm trong phòng thí nghiệm
Những cách điều trị khác
Nếu bạn chọn dùng những cách điều trị như vi lượng đồng căn, các loại thảodược, những loại bổ sung dinh dưỡng và thực phẩm chức năng, giác hơi, xoabóp dầu, và những phương pháp điều trị thay thế và bổ sung khác, bạn cần được biết rằng những sản phẩm và phương pháp trên thường không được chứng minh một cách khoa học rằng chúng có thể chẩn đoán, điều trị, phòngngừa hoặc trị khỏi bất kỳ bệnh nào Những tương tác nặng nề của chúng với những loại thuốc được kê toa khác luôn có khả năng xảy ra Hãy thông báo với bác sĩ tất cả những loại thuốc và những chất giống như thuốc mà bạn sử dụng và hãy tìm đến bác sĩ khi bị bệnh trước khi tự ý dùng những loại thuốc hoặc cách điều trị nào đó để tự chữa
NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO
Theo dõi
Trang 11• Nếu bạn đã có những rối loạn đặc hiệu như suy giáp, xơ cứng bì, và lupus, bạn nên được theo dõi thường xuyên bởi bác sĩ.
• Những bệnh nhân già đã từng bị nghẹt phân và bị són phân nên được theo dõi thường xuyên để bảo đảm họ không bị những đợt tiếp theo
• Những người trẻ tuổi bị chứng biếng ăn thần kinh cần phải có một độingũ chuyên gia để tiếp cận và theo dõi những bệnh ẩn bên trong, cũngnhư hỗ trợ và giáo dục
• Uống nhiều nước và nước trái cây
• Tập thể dục thường xuyên Đi bộ đóng một vai trò đặc biệt quan trọng
• Tránh dùng những loại thuốc có thể gây táo bón Bác sĩ sẽ giúp bạn trong vấn đề này
• Dùng thuốc nhuận trường có thể làm trong tình trạng táo bón xấu đi
về lâu dài do đó cần phải tránh
• Nếu bạn có những bệnh đặc biệt như suy giáp, xơ cứng bì, và lupus, bạn có thể cần phải được tái khám thường xuyên
Tiên lượng
Phần lớn những người bị táo bón không có bệnh thực thể của hệ tiêu hóa từ trước và cũng không có những bệnh toàn thân nào có liên quan đến táo bón Hầu hết táo bón là do thói quen ăn uống không cân bằng, uống ít nước và ít vận động
• Đối với những người bị táo bón do bệnh, sự phục hồi sẽ giúp xác địnhmức độ bệnh của bạn
Trang 12• Bạn thường sẽ phục hồi tốt nếu tình trạng táo bón của bạn được gây rabởi trĩ hoặc nứt hậu môn.
Theo Emedicinehealth - Y học NET dịch
HO
Ho là hành động của cơ thể tống xuất những chất gây kích thích đường thở
ra ngoài Đường thở là đường dẫn không khí mà bạn hít thở đi từ mũi và miệng xuống đến phổi
Triệu chứng ho xảy ra khi một số tế bào đặc biệt nằm dọc theo đường thở bị kích thích và khởi động một chuỗi các sự kiện xảy ra và kết quả là không khíbên trong phổi được tống ra ngoài với một áp lực lớn Bạn có thể tự ho (ho
có chủ ý) hoặc cơ thể tự gây ra cơn ho (không có chủ ý)
NGUYÊN NHÂN
Danh sách những nguyên nhân có khả năng gây ho rất dài và rất thay đổi Các bác sĩ chia triệu chứng ho ra thành 2 loại: cấp tính và mạn tính Nhiều bác sĩ định nghĩa ho cấp tính là ho kéo dài ít hơn 3 tuần Ho mạn tính là ho kéo dài nhiều hơn 3 tuần
• Ho cấp tính có thể chia ra làm các loại ho do nhiễm trùng và các loại
ho không do nhiễm trùng
o Ho cấp tính do nhiễm trùng thường có nguyên nhân là nhiễm virus đường hô hấp trên (cúm), viêm xoang, viêm phổi, và ho gà
Trang 13o Ho không do nhiễm trùng thường có nguyên nhân là do những đợt bùng phát của các bệnh mạn tính sau: viêm phế quản mạn, khí phế thũng, hen, và dị ứng với môi trường.
• Cách dễ nhất để đơn giản hóa các nguyên nhân gây ho mạn tính là chia chúng theo vị trí tương quan với phổi Chúng được chia ra thành các loại: những chất kích ứng từ một trường, những bệnh của phổi, những bệnh dọc theo đường dẫn khi từ phổi đến môi trường, những bệnh bên trong lồng ngực nhưng nằm bên ngoài phổi và những bệnh tiêu hóa
o Bất kỳ chất nào từ môi trường có khả năng gây kích thích đường dẫn khí hoặc phổi đều có thể gây ho mạn tính nếu bệnh nhân phải tiếp tục tiếp xúc với chúng Khói thuốc lá là nguyên ngân gây ho mạn tính thường gặp nhất Những chất kích thích gây ho khác bao gồm: bụi, phấn hoa, các vảy từ da hoặc lông vật nuôi trong nhà, những chất đặc hiệu, các hóa chất và chất gây ô nhiễm công nghiệp, khói thuốc từ xì gà và tẩu thuốc và
độ ẩm của môi trường thấp
o Bên trong phổi cũng có những nguyên nhân ít gặp và thường gặp gây ho mạn tính Những nguyên nhân thường gặp bao gồm hen phế quản, khí phế thũng, và viêm phế quản mạn tính
Những nguyên nhân ít gặp hơn gây ho mạn tính của phổi là ungthư, sarcoidosis, những bệnh của nhu mô phổi, và suy tim sung huyết kèm tích tụ dịch mạn tính trong phổi
o Đường nối phổi với môi trường bên ngoài được gọi là đường hôhấp trên Viêm xoang mạn tính, chảy nước mũi sau mạn tính, những bệnh của ống tai ngoài, nhiễm trùng họng, và sử dụng thuốc ức chế men chuyển để điều trị tăng huyết áp đều có thể liên quan đến tình trạng ho mạn tính
o Ngoài những bệnh diễn tiến trong phổi và các đường dẫn khí, những bệnh nằm ở các nơi khác trong lồng ngực cũng có thể gây ho mạn tính Những bệnh bên trong ngực được xác định là nguyên nhân gây ho mạn tính bao gồm: ung thư, sự phát triển bất thường của các hạch lympho, sự lớn bất thường của động mạch chủ, là mạch máu chính xuất phát từ tim
o Một nguyên nhân hay bị bỏ qua là bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) GERD xảy ra khi acid từ dạ dày đi lên thực quảngây kích thích thực quản và thanh quản gây phản ứng ho
TRIỆU CHỨNG
Trang 14Tuy rằng chính bản thân ho đã là một triệu chứng, nhưng bệnh nhân còn có những triệu chứng khác đi kèm giúp phân biệt nguyên nhân gây ho Một yếu
tố quan trọng khác giúp xác định nguyên nhân gây ho là tính chất cấp tính hay mạn tính của nó
• Ho cấp tính được chia làm ho do nhiễm trùng và ho không do nhiễm trùng
o Các dấu hiệu và triệu chứng giúp nghĩ đến nguyên nhân nhiễm trùng bao gồm sốt, ớn lạnh, đau nhức mình mẩy, đau họng, buồn nôn, nôn, nhức đầu, tăng áp lực ở các xoang (gây cảm giác nặng đầu), chảy nước mũi, vã mồ hôi đêm, và chảy nước mũi sau Khạc đàm đôi khi có thể là triệu chứng báo hiệu có nhiễm trùng, nhưng nó cũng có thể xuất hiện ở các nguyên nhânkhông do nhiễm trùng
o Các dấu hiệu và triệu chứng giúp nghĩ đến nguyên nhân không
do nhiễm trùng bao gồm ho khi tiếp xúc với một số chất hóa học hoặc chất gây kích ứng trong môi trường, ho kèm thèm hắt
xì, ho thường xuyên nặng hơn khi đến một số khu vực nhất địnhhoặc làm một số việc nhất định, hoặc đỡ ho hơn khi sử dụng các loại thuốc xịt hoặc thuốc dị ứng
• Những dấu hiệu và triệu chứng của ho mạn tính có thể khó chẩn đoán
do có nhiều nguyên nhân gây ho mạn tính có những dấu hiệu và triệu chứng chồng chéo lên nhau
o Nếu triệu chứng ho của bạn liên quan đến những tác nhân kích thích của môi trường, nó sẽ nặng hơn khi tiếp xúc với những tácnhân đó Nếu bạn bị dị ứng với môi trường, bạn có thể sẽ đỡ ho hơn khi dùng các loại thuốc dị ứng Nếu bạn ho do khói thuốc, triệu chững ho sẽ giảm đi nếu bạn ngừng hút thuốc và tăng lên khi đang hút
o Nếu bạn bị những bệnh phổi mạn tính như hen phế quản, khí phế thũng, hoặc viêm phế quản mạn, bạn có thể sẽ bị ho dai dẳng hoặc cơn ho nặng hơn khi đến một nơi chốn hoặc làm mộtviệc nhất định nào đó Bạn có thể có hoặc không có khạc đàm cùng lúc với ho và thường đỡ ho hơn khi dùng các thuốc corticoid đường xịt hoặc đường uống hoặc những thuốc dạng xịt khác
o Nếu cơn ho gây ra bởi viêm xoang mạn tính, chảy nước mũi mạn tính, hoặc chảy nước mũi sau mạn tính, bạn thường sẽ có những dấu hiệu và triệu chứng đi chung với những bệnh trên Bạn cũng có thể nhận thấy cơn ho của mình nặng nề hơn khi
Trang 15bệnh nặng hơn và cơn ho thường đỡ hơn khi những bệnh trên được điều trị.
o Nếu triệu chứng ho gây ra bởi thuốc, chẳng hạn như thuốc ức chế men chuyển, bạn có thể sẽ bắt đầu ho sau khi bắt đầu sử dụng những loại thuốc nghi ngờ Thường là ho khan và đỡ hơn khi ngừng thuốc
o Ho do bệnh trào ngược dạ dày thực quản thường đi kèm với cảm giác nóng rát dọc theo ngực Loại ho này nặng hơn trong ngày hoặc khi bạn đang nằm ngửa trên mặt phẳng Ngoài ra, một số ít người bị ho do GERD sẽ không cảm thấy có những triệu chứng của trào ngược, nhưng hầu hết bệnh nhân đều đỡ hohơn khi triệu chứng trào ngược được điều trị hợp lý
o Nếu triệu chứng ho là dấu hiệu báo động của ung thư, bạn có thể gặp một nhóm các triệu chứng Nếu là ung thư phổi hoặc ung thư đường dẫn khí, bạn có thể bị ho ra máu Những dấu hiệu và triệu chứng khác có thể là báo động của ung thư bao gồm mệt mỏi ngày càng nặng hơn, ăn mất ngon, sụt cân không
rõ nguyên nhân, hoặc giảm khả năng nuốt những thức ăn cứng hoặc lỏng
KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM BỆNH
Biết được lúc nào nên đi khám bệnh do triệu chứng ho có thể là một quyết định khó khăn
• Thông thường, bạn nên gặp bác sĩ nếu gặp những triệu chứng sau:
o Ho kèm theo sốt và khạc đàm
o Ho không giảm sau khi những triệu chứng khác biến mất hoặc
đỡ hơn
o Thay đổi tính chất ho
o Những cách điều trị thử nghiệm không cho thấy có dấu hiệu thuyên giảm
Trang 16• Nếu bạn bị ho do những bệnh mạn tính, hãy trao đổi với bác sĩ để biết khi gặp những dấu hiệu và triệu chứng nào thì bạn nên đến phòng cấp cứu.
• Nếu bạn bị khó thở nặng cùng với ho, bạn có thể bị một số bệnh nghiêm trọng cần phải được can thiệp khẩn cấp
• Những người lớn tuổi hoặc những người có hệ mễn dịch bị suy yếu bị
ho và sốt cao nên được đưa đến phòng cấp cứu nếu không thể gặp bác sĩ
• Nếu bạn đang bị những bệnh về phổi đã được các bác sĩ chẩn đoán và cơn ho diễn ra nặng hơn một cách cấp tính và không đáp ứng với các cách điều trị tại nhà, bạn nên đến phòng cấp cứu
KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM
Quá trình chẩn đoán ho dựa phần lớn vào những thông tin mà bạn cung cấp Những thông tin cần thiết để giúp chẩn đoán chính xác bao gồm: độ dài của cơn, những dấu hiệu và triệu chứng kèm theo, những hoạt động hoặc địa điểm làm cho cơn ho nặng hơn hoặc đỡ hơn, mối liên hệ giữa cơn ho và những thời điểm trong ngày, những bệnh đã bị trước đây, và bất kỳ cách điều trị nào tại nhà mà bạn đã thử
• Trong trường hợp ho cấp tính, các bác sĩ có thể chẩn đoán đơn giản bằng cách hỏi bệnh và thực hiện các thao tác khám Nếu bạn bị ho cấptính, thường bạn sẽ được chụp X quang để giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh Những người lớn tuổi, những người có hệ miễn dịch bị suy yếu (thường là do ung thư, đái tháo đường, hoặc AIDS), và những người được các bác sĩ phát hiện ra âm thanh bất thường trong phổi khi khám
có thể cần phải chụp X quang để kiểm tra xem có bị viêm phổi hay không
• Trong trường hợp ho mạn tính, các bác sĩ thường dựa trên những thông tin thu được trong quá trình hỏi bệnh và khám để đưa ra các khảo sát cận lâm sàng phù hợp để giúp chẩn đoán bệnh Nhiều bệnh nhân sẽ được chụp X quang ngực để tìm nguyên nhân Ngoài ra, một
số khảo sát khác có thể được thực hiện theo phán đoán của bác sĩ và dựa trên quá trình hỏi bệnh và khám
• Điều quan trọng là bạn nên đóng vai trò chủ động trong nhiệm vụ tự chăm sóc mình và trao đổi với bác sĩ mục đích của những xét nghiệm được thực hiện và ý nghĩa những kết quả của chúng
ĐIỀU TRỊ
Trang 17• Điều trị tại nhà đối với tình trạng ho mạn tính với nguyên nhân đã được biết trước nhắm trực tiếp đến nguyên nhân gây ho Quá trình nàynên được thực hiện dưới sự tư vấn chặt chẽ của bác sĩ Mặc dù không phải tất cả các cơn ho mạn tính đều có thể được giới hạn, nhưng nhiềubệnh nhân có thể thấy giảm ho bằng cách theo sát những hướng dẫn của bác sĩ.
o Nếu nghi ngờ bệnh nhân bị nhiễm trùng, bác sĩ thường kê toa các loại thuốc kháng sinh Kháng sinh không có tác dụng đối với những bệnh nhân nghi ngờ bị nhiễm virus, những người này
sẽ chỉ cần điều trị trực tiếp triệu chứng ho
o Những người lớn tuổi, những người bị nhiễm trùng hoặc nhiễm virus nặng, và những người có hệ miễn dịch bị suy yếu có thể cần phải nhập viện để được theo dõi bệnh
Trang 18• Điều trị ho mạn tính cũng có thể nhắm trực tiếp đến bệnh gây ra nó Điều quan trọng cần phải biết là quá trình điều trị có thể sẽ khó khăn, cần phải áp dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau, và cũng có thể khônglàm hết ho hoàn toàn.
o Nếu bạn bị ho do thuốc lá, dị ứng, hoặc những chất kích thích
từ môi trường, bạn có thể cảm thấy đỡ hơn nếu hạn chế tiếp xúcvới những chất đó Có thể phải mất vài tuần bác sĩ mới biết được đáp ứng của cách điều trị này do cần phải có đủ thời gian cho các tổn thương ở phổi và đường dẫn khí hồi phục
o Nếu bạn bị bệnh phổi, bạn thường cần phải được điều trị kéo dài những bệnh này Những phương pháp được sử dụng để điềutrị tùy thuộc phần lớn vào loại bệnh mà bạn mắc phải Thường cần phải dùng nhiều phương pháp trị liệu cùng một lúc để giúp làm giảm các triệu chứng của bệnh nhân Theo sát cách điều trị được lựa chọn là điều kiện cần thiết để làm chậm diễn tiến của bất kỳ loại bệnh nào và làm giảm triệu chứng Trong trường hợp điều trị tại nhà không hiệu quả và các triệu chứng ngày càng nặng hơn, bạn có thể cần phải nhập viện để được điều trị tăng cường và tích cực hơn
o Nếu triệu chứng ho của bạn được cho là do thuốc gây ra, bạn sẽ cho thấy có sự cải thiện khi ngừng sử dụng loại thuốc đang bị nghi ngờ Khi đó, triệu chứng ho thường mất vài tuần để khỏi hoàn toàn Bạn cần phải dùng một loại thuốc khác để thay thế loại thuốc mà bạn đã ngừng
o Nếu nghi ngờ bạn bị ho do GERD, hướng điều trị của bạn có thể sẽ nhắm trực tiếp vào giảm lượng acid trào ngược từ dạ dày.Điều này thông thường được thực hiện bằng cách thay đổi chế
độ ăn và thuốc Để điều trị thành công có thể cần nhiều thời gian và phối hợp nhiều cách điều trị
CÁC BƯỚC TIẾP THEO
Theo dõi
Những trường hợp ho cấp tính thường tự khỏi và không cần phải theo dõi Nhiều trường hợp ho mạn tính phải mất vài tuần đến vài tháng để thuyên giảm mặc dù đã theo sát các phương pháp điều trị, do đó cần phải sắp xếp lịch theo dõi trong khoảng thời gian này Đối với những cơn ho không
thuyên giảm khi điều trị bằng những phương pháp chuẩn, có thể bệnh nhân
Trang 19sẽ được chuyển đến các bác sĩ chuyên khoa để tìm ra nguyên nhân và cách điều trị tốt nhất.
Phòng ngừa
Phòng ngừa ho bằng cách tránh bị những loại bệnh gây ho
Hướng phòng ngừa quan trọng nhất là ngừng hút thuốc và tránh hút thuốc thụ động, đặc biệt là ở những bệnh nhân bị hen phế quản, bệnh phổi mạn tính, và dị ứng với môi trường
Đối với những bệnh nhân bị GERD, cách phòng ngừa hướng đến việc thay đổi chế độ ăn, ngủ để đầu cao, và uống tất cả những loại thuốc được kê toa
Đối với những người đang được điều trị bệnh phổi mạn tính, cách phòng ngừa tốt nhất là theo sát những cách điều trị của bác sĩ
Tiên lượng
Tiên lượng tùy thuộc rất nhiều vào nguyên nhân gây ho Sau khi đã xác địnhđược nguyên nhân, hầu hết các trường hợp ho cấp tính sẽ thuyên giảm trong vòng 2-3 tuần Những người hút thuốc khi bị ho có thể phải mất một khoảngthời gian lâu hơn Những trường hợp bị ho mạn tính cho nhiều kết quả khác nhau, và những người bị bệnh phổi mạn tính thường có những giai đoạn thuyên giảm thêm vào những giai đoạn ho nặng hơn Một lần nữa, hút thuốc
có thể làm cho tình trạng ho mạn tính kéo dài lâu hơn và nên tránh
Theo Emedicinehealth - Y học NET dịch
MẤT NGỦ
Mất ngủ được định nghĩa là tình trạng gặp khó khăn khi khởi đầu hoặc duy trì giấc ngủ, hoặc cả hai mặc dù đã có đủ cơ hội và thời gian để ngủ dẫn đến
Trang 20giảm hiệu quả các hoạt động ban ngày Mất ngủ có thể do giảm chất lượng hoặc số lượng giấc ngủ.
Mất ngủ rất thường gặp và xảy ra trong khoảng từ 30% đến 50% dân số chung Xấp xỉ 10% dân số bị mất ngủ mạn tính (kéo dài)
Mất ngủ xảy ra ở mọi độ tuổi kể cả trẻ em, tuy nhiên nó thường gặp ở người lớn hơn và tần xuất của nó tăng lên theo tuổi Thông thường, phụ nữ bị mất ngủ thường xuyên hơn nam giới
Mất ngủ được chia ra làm 3 nhóm dựa trên độ kéo dài của triệu chứng:
• Mất ngủ kéo dài 1 tuần trở xuống được gọi là mất ngủ thoáng qua.
• Mất ngủ ngắn hạn là mất ngủ kéo dài hơn 1 tuần nhưng khỏi trước 3
• Những người mất ngủ là những người có đủ thời gian và cơ hội để ngủ còn những người thiếu ngủ là những người không ngủ được do thiếu cơ hội hoặc thời gian để ngủ do tránh né giấc ngủ một cách có chủ tâm
NGUYÊN NHÂN
Mất ngủ có nhiều nguyên nhân và, như đã nói ở trên, nó có thể được phân loại dựa trên nguyên nhân gây mất ngủ
Những áp lực và tình huống gây mất ngủ có thể bao gồm:
• Sự mệt mỏi sau một chuyến bay dài
Trang 21• Những sự khó chịu do nguyên nhân vật lý (nóng, lạnh, ánh sáng, tiếng
ồn, lạ chỗ)
• Làm việc theo những ca khác nhau
• Những tình huống gây stress trong cuộc sống (ly dị hoặc chia tay, người yêu bị chết, mất việc, chuẩn bị cho một kỳ thi)
• Dùng những thuốc bất hợp pháp
• Hút thuốc
• Uống cafe trước khi lên giường
• Nhiễm độc hoặc cai nghiện rượu
• Một số loại thuốc
Hầu hết những yếu tố trên có thể là ngắn hạn hoặc thoáng qua, do đó tình trạng mất ngủ có thể được giải quyết khi những yếu tố gây ra nó bị loại bỏ hoặc điều chỉnh
Vệ sinh giấc ngủ
Vệ sinh giấc ngủ có thể đóng vai trò quan trọng trong triệu chứng mất ngủ
Vệ sinh giấc ngủ kém có thể bao gồm những yếu tố vật lý sau:
• Sử dụng giường để làm những việc khác với ngủ
• Ăn hoặc tập thể dục trước khi ngủ
• Để bụng đói đi ngủ
• Ngủ trong phòng có quá nhiều tiếng ồn hoặc ánh sáng
• Làm việc trên giường
Trang 22Ngoài những tình trạng kể trên, còn có một số loại mất ngủ khác không thật
sự có nguyên nhân Dưới đây là một số loại mất ngủ thường gặp trong nhómnày:
• Mất ngủ do tâm sinh lý hay còn gọi là mất ngủ nguyên phát là loại
mất ngủ do hành vi ngăn trở giấc ngủ Những người bị tình trạng này không thể thư giãn được đầu óc (suy nghĩ lan man) hoặc gia tăng chứcnăng tâm thần khi cố gắng chìm vào giấc ngủ Đây có thể trở thành vấn đề lâu dài và việc đi lên giường sẽ gắn liền với gia tăng mức độ lo
Trang 23lắng và khuấy động tâm thần dẫn đến mất ngủ mạn tính Tình trạng này có thể hiện diện ở khoảng 15% người tham gia những nghiên cứu chính thức về giấc ngủ để đánh giá tình trạng mất ngủ mạn tính.
• Mất ngủ tự phát (không có nguyên nhân thấy được) (mấy ngủ khởi
phát từ lúc còn nhỏ hoặc mất ngủ suốt đời) là một dạng mất ngủ ít gặphơn (1% người trẻ trưởng thành hoặc vị thành niên) bắt đầu lúc còn nhỏ và kéo dài cho đến tuổi trưởng thành Những người này gặp khó khăn trong việc bắt đầu và duy trì giấc ngủ do đó sẽ cảm thấy mệt mỏikéo dài vào ban ngày Cần phải đánh giá những loại mất ngủ hay gặp hơn để loại trừ trước khi chẩn đoán xác định là bệnh nhân bị mất ngủ
tự phát Tình trạng này có thể có tính chất gia đình
• Mất ngủ nghịch lý còn được gọi là mất ngủ chủ quan hoặc nhận thức
sai về tình trạng ngủ Là những trường hợp bệnh nhân thông báo và phàn nàn rằng mình bị mất ngủ nhưng lại có một chu kỳ ngủ bình thường khi được thực hiện nghiên cứu về giấc ngủ trong đêm
Những yếu tố nguy cơ
Không có yếu tố nguy cơ đặc trưng cho mất ngủ do có nhiều loại nguyên nhân khác nhau có thể dẫn đến mất ngủ Những bệnh và trạng thái tâm lý được liệt kê phía trên có thể được xem là những yếu tố nguy cơ của mất ngủ nếu không được điều trị hoặc khó điều trị Một số tình trạng cảm xúc và môi trường được lưu ý phía trên cũng có tác động như là một yếu tố nguy cơ của mất ngủ
TRIỆU CHỨNG
Suy giảm những hoạt động ban ngày được xem là định nghĩa và là triệu chứng thường gặp nhất của mất ngủ
Những triệu chứng hay gặp khác bao gồm:
• Mệt mỏi vào ban ngày
• Buồn ngủ vào ban ngày
Trang 24Khi nào nên gọi bác sĩ
Thông thường, những trường hợp mất ngủ liên quan đến những yếu tố tình huống thoáng qua có thể tự khỏi khi các yếu tố gây ra bị loại bỏ hoặc điều chỉnh Tuy nhiên, cần phải có sự đánh giá của bác sĩ nếu như mất ngủ kéo dài hoặc bị cho rằng có liên quan đến một bệnh hoặc một bất thường tâm lý
Cũng có những bác sĩ chuyên khoa đánh giá và điều trị mất ngủ và những rốiloạn giấc ngủ khác Ngưng thở lúc ngủ có thể được đánh giá và điều trị bởi bác sĩ chuyên khoa hô hấp Những bác sĩ khác có thể đánh giá và điều trị những rối loạn giấc ngủ là các bác sĩ chuyên khoa thần kinh
CHẨN ĐOÁN
Quá trình đánh giá và chẩn đoán mất ngủ có thể bắt đầu bằng việc hỏi bệnh
sử và tâm lý Như đã nói ở trên, nhiều tình trạng bệnh và trạng thái tâm lý cóthể là thủ phạm gây mất ngủ
Việc khám thực thể tổng quát để tìm ra những bất thường cũng rất quan trọng bao gồm tìm hiểu trạng thái tâm thành và chức năng thần kinh, khám tim, phổi, bụng, tai, mũi và họng, đánh giá đánh giá chu vi cổ và kích thước thắt lưng Kiểm tra những loại thuốc dùng thường ngày và những loại thuốc bất hợp pháp, rượu, thuốc lá hoặc cafe cũng là một phần quan trọng trong quá trình khám Xét nghiệm máu hoặc những xét nghiệm khác thích hợp với những tình trạng trên cũng có thể được khảo sát
Người thân trong gia đình và người ngủ cùng giường cũng cần được hỏi về chu trình ngủ của bệnh nhân, hiện tượng ngáy hoặc những cử động trong khingủ
Một số câu hỏi liên quan đến thói quen và chu kỳ ngủ cũng là một phần quantrọng để chẩn đoán Bệnh sử về giấc ngủ tập trung vào những điểm sau:
• Độ dài giấc ngủ
• Thời điểm ngủ
• Thời điểm chìm vào giấc ngủ
• Số lần và độ dài khoảng thời gian thức giấc
• Thời điểm và độ dài của những giấc ngủ ngắn vào ban ngày
Có thể ghi lại nhật ký giấc ngủ cho mục đích này để ghi nhận những tính chất trên mỗi ngày để có thể chẩn đoán chính xác hơn
Trang 25Quá trình hỏi bệnh thường bao gồm những câu hỏi về những triệu chứng có thể xảy ra gắn với mất ngủ Các bác sĩ có thể sẽ hỏi về những hoạt động vào ban ngày, sự mệt mỏi, rắc rối về khả năng tập trung và chú ý, những triệu chứng thường gặp khác của mất ngủ.
Một số khảo sát để chẩn đoán khác có thể được thực hiện mặc dù có thể chúng không cần thiết đối với tất cả những bệnh nhân bị mất ngủ
Đa ký giấc ngủ (polysomnography) là một khảo sát được thực hiện ở trung tâm khảo sát giấc ngủ nếu nghi ngờ bệnh nhân bị ngừng thở lúc ngủ Khi khảo sát, bệnh nhân sẽ được yêu cầu trải qua suốt đêm tại trung tâm trong lúc được theo dõi nhịp tim, sóng não, hô hấp, cử động, nồng độ oxy và những thông số khác trong khi đang ngủ Sau đó dữ liệu sẽ được phân tích bởi các bác sĩ đã được huấn luyện chuyên môn để chẩn đoán hoặc loại trừ chứng ngưng thở lúc ngủ
Động ký là một khảo sát khách quan hơn có thể được thực hiện trong một sốtình huống nhưng không thường xuyên là một phần trong quá trình đánh giá mất ngủ Động đồ là một máy dò chuyển động có thể cảm nhận được những chuyển động của người trong khi ngủ và lúc thao thức Nó được mang tương
tự như mang đồng hồ ở cổ tay, và những dữ liệu về các chuyển động sẽ đượcghi nhân và phân tích để xác định quá trình ngủ và những chuyển động lúc ngủ Khảo sát này có thể hữu ích trong những trường hợp bị mất ngủ nguyênphát, rối loạn nhịp sinh học hoặc mất ngủ chủ quan
ĐIỀU TRỊ
Điều trị mất ngủ tùy thuộc phần lớn và nguyên nhân gây mất ngủ Trong trường hợp nguyên nhân gây mất ngủ là những yếu tố có thể nhận biết được,hãy điều chỉnh hoặc loại bỏ chúng để giải quyết tình trạng mất ngủ Chẳng hạn như nếu mất ngủ do những tình huống chịu áp lực thoáng qua như ngồi máy bay lâu, sắp phải thi thì triệu chứng mất ngủ sẽ khỏi khi những tình huống này không còn
Thông thường, điều trị mất ngủ có thể được chia ra làm 2 loại: không dùng thuốc hoặc điều chỉnh hành vi và loại dùng thuốc Cả 2 cách đều cần thiết đểđiều trị mất ngủ thành công, và nếu kết hợp lại với nhau có thể đem lại hiệu quả cao hơn là sử dụng riêng lẻ từng cách
Khi mất ngủ liên quan đến những tình trạng tâm lý hoặc bệnh tật đã được biết, ưu tiên hàng đầu là giải quyết chúng kèm theo với những biện pháp
Trang 26điều trị đặc hiệu cho chính bản thân triệu chứng mất ngủ Nếu không xác định được nguyên nhân một cách thích đáng, tình trạng mất ngủ có thể sẽ tiến triển bất chấp người bệnh đã thực hiện những biện pháp tích cực để điềutrị bằng những cách dùng thuốc và cả không dùng thuốc.
Những biện pháp điều trị không dùng thuốc
Có một số kỹ thuật dùng để điều trị mất ngủ Những chiến lược điều trị không cần dùng thuốc thường được khuyên luyện tập tại nhà kết hợp với những loại thuốc khác như những thuốc điều trị mất ngủ và điều trị những bệnh hoặc rối loạn tâm lý gây mất ngủ
Một vài biện pháp quan trọng trong số đó bao gồm: vệ sinh giấc ngủ, kiểm soát các tác nhân kích thích, những kỹ thuật thư giãn và hạn chế giấc ngủ
Vệ sinh giấc ngủ
Vệ sinh giấc ngủ là một trong những thành phần của phương pháp điều trị mất ngủ không dùng thuốc bao gồm những bước đơn giản có thể cải thiện khả năng bắt đầu và duy trì giấc ngủ Vệ sinh giấc ngủ bao gồm:
• Ngủ nhiều nhất có thể để cảm thấy thư giãn sau đó đi ra khỏi giường (không ngủ quá giấc)
• Duy trì lịch ngủ thường xuyên
• Không cố gắng ngủ
• Không uống cafe vào buổi chiều hoặc tối
• Không uống rượu trước khi ngủ
• Không hút thuốc, đặc biệt là vào buổi tối
• Điều chỉnh không khí phòng ngủ để dễ ngủ
• Không để bụng đói đi ngủ
• Giải quyết các stress và lo lắng trước khi đi ngủ
• Tập thể dục thường xuyên, những không tập trong vòng 4-5 giờ trước khi ngủ
Kiểm soát các tác nhân kích thích
Là những kỹ thuật để giúp bắt đầu giấc ngủ Những kỹ này được dùng để điều chỉnh không khí trong phòng ngủ giúp cải thiện giấc ngủ Một số bước đơn giản bao gồm:
Trang 27• Chỉ dùng giường để quan hệ tình dục và ngủ, không làm việc, đọc sách, xem TV, ăn uống hoặc những hoạt động kích thích tâm thần khác trên giường.
• Chỉ leo lên giường khi bạn sẵn sàng để ngủ
• Tắt đèn và tất cả những tiếng động xung quanh phòng ngủ
• Thức dậy cùng một thời điểm mỗi buổi sáng và tránh ngủ quá giấc
• Nếu bạn không thể ngủ được sau khi lên giường quá 20 phút, hãy ngồidậy và thử một vài động tác thư giãn cho đến khi sẵn sàng ngủ trở lại
Những động tác thư giãn cũng là một phần của biện pháp điều trị không thuốc bao gồm ngồi hoặc nằm thoải mái và thư giãn cơ Có thể kết hợp với thở sâu, nhẹ nhàng để tăng độ thư giãn của cơ thể
Hạn chế giấc ngủ
Hạn chế giấc ngủ là liệu pháp điều trị hành vi không dùng thuốc bằng cách giới hạn thời gian nằm trên giường chỉ để ngủ Nhiều người bị mất ngủ có thể nằm lại trên giường trong một thời gian dài sau khi tỉnh dậy vào buổi sáng Hiện tượng ngủ quá giấc này có thể phá hỏng đồng hồ sinh hoạt dẫn đến khó bắt đầu giấc ngủ hơn vào đêm kế tiếp
Nhật ký giấc ngủ được dùng để ghi lại khoảng thời gian ngủ thật sự mỗi tối,
và giảm dần thời gian nằm trên giường cho đến khi bằng chính xác khoảng thời gian ngủ thật sự bằng cách giảm dần tổng thời gian nằm trên giường Phương pháp này có thể giúp giảm dần và hạn chế ngủ quá giấc Nó cũng làm tăng khả năng chìm vào giấc ngủ và làm giấc ngủ hiệu quả hơn khi thời gian nằm trên giường gần bằng với khoảng thời gian ngủ
Những biện pháp điều trị dùng thuốc
Những nhóm thuốc chính được dùng để điều trị mất ngủ là thuốc an thần và thuốc ngủ, chẳng hạn như benzodiazephine và thuốc an thần không
Trang 28Ramelteon (Rozerem) là một loại thuốc ngủ có tác dụng tương tư như
melatonine, là một loại thuốc mới được dùng điều trị hiệu quả trong một số nhóm bệnh nhân mất ngủ
Cũng có những loại thuốc khác không thuộc nhóm an thần hoặc thuốc ngủ cũng được dùng để điều trị mất ngủ Thuốc an thần kháng histamin,
diphenhydramine (Benadryl) cũng được dùng để hỗ trợ giấc ngủ do tác dụng
an thần của chúng; tuy nhiên, những loại thuốc này cũng như các thuốc tương tự khác không được khuyến khích dùng do nó có nhiều tác dụng phụ
và gây tình trạng ngầy ngật trong ngày kế tiếp
Một số thuốc chống trầm cảm [chẳng hạn như trazodone (Desyrel),
amitriptyline (Elavil, Endep), doxepin (Sinequan, Adapin)] có thể được dùngđiều trị mất ngủ hiệu quả ở những bệnh nhân có khả năng bị trầm cảm Một
số thuốc chống loạn thần cũng được dùng để điều trị mất ngủ, mặc dù chúngkhông được khuyến khích dùng thường xuyên cho mục đích này
Bác sĩ là người có thể thảo luận tốt nhất với bạn về những loại thuốc khác nhau và quyết định nên dùng loại thuốc nào là tốt nhất trong từng trường hợp Nhiều loại thuốc trên có nguy cơ gây nghiện hoặc lạm dụng và cần phải
Trang 29dùng cẩn thận Không có loại thuốc nào trong những thuốc trên được dùng
mà không có sự giám sát của bác sĩ kê toa
TIÊN LƯỢNG
Mất ngủ nói chung có tiên lượng tốt Nhiều trường hợp mất ngủ do những tình huống stress thoáng qua và có thể phục hồi dễ dàng khi tình huống đượcgiải quyết Trong những trường hợp mất ngủ mạn tính, cần phải tìm ra những bệnh hoặc rối loạn tâm lý là nguyên nhân gây mất ngủ để điều trị Những cách điều trị bao gồm cả dùng thuốc và không dùng thuốc thông thường có thể điều trị mất ngủ thành công
TÓM TẮT
• Mất ngủ là một tình trạng đặc trưng bởi giảm chất lượng và số lượng giấc ngủ mặc dù đã có đủ cơ hội để ngủ có thể dẫn đến giảm hoạt động vào ban ngày
• Nhiều bệnh và rối loạn tâm lý có thể là nguyên nhân gây mất ngủ
• Mất ngủ có thể đôi khi không liên quan đến những nguyên nhân nào cả
• Có một số kỹ thuật thay đổi hành vi không dùng thuốc có thể điều trị mất ngủ
• Các loại thuốc được dùng rộng rãi để điều trị mất ngủ kết hợp với những chiến lược không dùng thuốc
• Các chuyên gia về giấc ngủ và những bác sĩ là những người đóng vai trò quan trọng trong đánh giá và điều trị mất ngủ mạn tính
Theo MedicineNET - Y học NET dịch
KHÓ THỞ
Trang 30Khó thở là cảm giác khó khăn hoặc không dễ chịu khi thở hoặc cảm thấy không lấy đủ không khí
Không có định nghĩa chuẩn cho khó thở Một số người có thể chỉ vận động nhẹ đã bị khó thở (vd như leo cầu thang) mà không có những biểu hiện chứng tỏ sự tồn tại của những rối loạn đặc hiệu Cũng có một số người có thể bị bệnh phổi tiến triển và trao đổi khí khó khăn nhưng lại không bao giờ thấy khó thở
Trong một số trường hợp, khó thở mức độ nhẹ có thể là bình thường, chẳng hạn như nghẹt mũi nặng hoặc gắng sức nặng, đặc biệt là ở những người không vận động nặng thường xuyên Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, khóthở là biểu hiện của một bệnh có độ trầm trọng đáng kể và cần phải được cácbác sĩ đánh giá ngay lập tức
Khò khè cũng là một dạng khó thở
NHỮNG NGUYÊN NHÂN THƯỜNG GẶP
Khó thở có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau Tắc nghẽn đường dẫn khí ởmũi, miệng, hoặc họng có thể dẫn đến khó thở Bệnh tim cũng có thể gây khó thở nếu tim không thể bơm đủ máu cung cấp oxy đến cho cơ thể Nếu não, cơ, hoặc những bộ phận khác của cơ thể không nhận đủ oxy thì cảm giác khó thở có thể xuất hiện Đôi khi những stress thuộc về cảm xúc, chẳng hạn như lo lắng, cũng có thể gây khó thở Những nguyên nhân đặc hiệu gây khó thở bao gồm:
Trang 31Hãy gọi cho bác sĩ nếu như:
Khó thở xảy ra đột ngột và nặng nề hoặc một người nào đó ngừng thở hoàn toàn
Hãy gọi cho bác sĩ nếu như khó thở xuất hiện cùng với bất kỳ triệu chứng nào sau đây:
• Khó chịu ở ngực
• Khó thở sau khi làm việc nhẹ hoặc trong khi nghỉ ngơi
• Khó thở làm bạn phải thức dậy lúc nửa đêm hoặc ngủ ngồi để dễ thở hơn
• Khò khè (đó có thể là dấu hiệu của hen phế quản hoặc khí phế thủng giai đoạn sớm)
• Hít phải hay nghẹn bởi vật lạ (hít hoặc nuốt vật lạ)
• Co thắt họng hoặc ho giống chó sủa, ho kiểu thanh quản
• Sốt hoặc ho nhiều
Tại phòng mạch
Các bác sĩ sẽ ghi nhận bệnh sử chi tiết của bệnh nhân và khám thực thể
Trang 32Những câu hỏi được dùng để ghi nhận bệnh sử của bệnh nhân bị khó thở có thể là:
• Bạn có nhận thấy mình bị khó thở?
• Bạn có bị phát ra tiếng khi thở hay không?
• Bạn có cảm thấy mình cần phải cố gắng để thở hay không?
• Triệu chứng khó thở xuất hiện trong bao lâu?
• Có phải nó tiến triển chậm chạp từ vài tuần đến vài tháng hay không?
• Nó có bắt đầu gần đây hay không?
• Nó có bắt đầu một cách đột ngột hay không?
• Nó có đến một cách từ từ không (khởi phát từ từ)?
• Nó có diễn ra thành từng giai đoạn riêng biệt hay không? Mỗi giai đoạn kéo dài bao lâu? Và các giai đoạn có giống nhau không?
• Thời gian gần đây bạn có cảm thấy khó thở nặng hơn không?
• Triệu chứng khó thở có đánh thức bạn dậy lúc nửa đêm hay không (khó thở đột ngột về đêm)?
• Số lượng cơn khó thở có thay đổi không?
• Khó thở có xuất hiện khi nghỉ ngơi không?
• Mỗi đợt khó thở kéo dài bao lâu?
• Bạn có khó thở nhiều hơn khi nằm trên mặt phẳng không (khó thở khi nằm)?
• Khó thở có nặng hơn khi thay đổi tư thế cơ thể hay không?
• Khó thở có xuất hiện trong vòng 4 đến 6 giờ sau khi bạn tiếp xúc với một chất gì đó mà có thể gây dị ứng cho bạn hay không?
• Khó thở có nặng hơn khi gắng sức hay không?
• Khó thở có xảy ra chỉ khi khò khè hay không?
• Kiểu khó thở có hay thay đổi không?
• Bạn có cần phải kéo các cơ ngực về phía sau khi thở không (co cơ liênsườn)?
• Những triệu chứng khác có thể xảy ra là gì?
Quá trình khám lâm sàng có thể bao gồm khám phổi, tim và đường hô hấp trên
Những xét nghiệm dùng để chẩn đoán có thể được thực hiện bao gồm:
• Xét nghiệm máu bao gồm luôn cả khí máu động mạch
• Đo độ bão hòa oxy
• X quang ngực
Trang 33• Đo chức năng hô hấp
• Nghiệm pháp gắng sức
• CT scan ngực
• Siêu âm tim
Trong những trường hợp nặng có thể cần phải cho bệnh nhân nhập viện và cần phải sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau để điều trị nguyên nhân gây khó thở
Trong trường hợp nồng độ oxy máu tương đối thấp có thể cần phải cung cấp thêm oxy cho bệnh nhân Tuy nhiên, cung cấp oxy liều cao có thể gây nguy hiểm cho một số bệnh nhân và có thể là không cần thiết ở tất cả các trường hợp khó thở
Theo University of Maryland Medical Center - Y học NET dịch
ĐAU DÂY THẦN KINH SỌ
Đau dây thần kinh sọ là triệu chứng đau liên quan đến các dây thần kinh của đầu cung cấp cảm giác và kiểm soát vận động ở mặt, da đầu, cổ và họng
Cơn đau có thể xuất hiện ở bất cứ đâu trong những khu vực kể trên tùy thuộcvào dây thần kinh sọ nào bị ảnh hưởng Một số giác quan như vị giác, khứu giác, thị giác hoặc thính giác có thể giảm do tổn thương hoặc viêm các dây thần kinh sọ
Có 12 nhóm dây thần kinh sọ nên cũng có thể xảy ra nhiều loại đau dây thầnkinh sọ khác nhau tùy thuộc vào dây nào bị ảnh hưởng Chẳng hạn như dây thần kinh sinh ba là dây thần kinh lớn nhất trong sọ, đau dây thần kinh sinh
ba là loại đau thường gặp nhất trong các loại đau dây thần kinh sọ Nó gây ra
Trang 34một cơn đau chói buốt đột ngột dọc theo một bên mặt có thể xuất hiện do bị
sờ chạm
Đau dây thần kinh thiệt hầu và dây lang thang có thể ảnh hưởng đến lưỡi, họng, cổ và tai Một số loại khác bao gồm đau các dây thần kinh đau dây thần kinh chẩm, dây thanh quản và dây thần kinh trung gian
Đau dây thần kinh sọ có thể có nhiều nguyên nhân, bao gồm dây thần kinh
bị đè ép và chấn thương Một số bệnh hoặc nhiễm trùng cũng có thể gây đau,bao gồm đái tháo đường, bệnh đa xơ cứng, bệnh Lyme Trong một số trườnghợp nguyên nhân gây đau dây thần kinh sọ vẫn chưa được tìm ra
Triệu chứng chính của bệnh là đau ở cùng một vùng của đầu tái đi tái lại nhiều lần Độ nặng của cơn đau có thể thay đổi rất nhiều Cơn đau có thể nhạt dần nhưng hay quay trở lại và thường đau theo chiều dài của dây thần kinh sọ bị ảnh hưởng Tùy thuộc vào loại dây thần kinh bị ảnh hưởng mà cơn đau có thể được mô tả khác nhau, chúng có thể là một cơn đau chói, đaurát hoặc đau đột ngột gây shock Ngoài ra, một số bệnh nhân còn có cảm giác ngứa, tê hoặc yếu cơ
Để chẩn đoán đau dây thần kinh sọ, ban đầu các bác sĩ phải loại trừ hết những nguyên nhân gây đau đầu và mặt có thể xảy ra Thường sẽ cần phải xét nghiệm máu và khám thần kinh Bệnh sử của bệnh nhân cũng có thể được xem xét lại để xác định những tác nhân có thể gây đau Bệnh nhân cũng cần phải được khám răng để loại trừ những bệnh răng miệng có thể gâyđau mặt
Điều trị đau dây thần kinh mặt chỉ cần thiết khi cơn đau làm bệnh nhân trở nên yếu đi Nếu cần phải điều trị, có một số lựa chọn điều trị có thể thực hiện Nhiều thuốc giảm đau, trong đó có các thuốc chống trầm cảm và cống
co giật, có thể được sử dụng để giảm đau ở những bệnh nhân này Ngoài ra,
có thể phẫu thuật để loại bỏ những cấu trúc (khối u, những thương tổn) gây
đè ép dây thần kinh Có thể điều trị thành công trong hầu hết các trường hợp bằng cách dùng một phương pháp hoặc kết hợp nhiều phương pháp khác nhau
TỔNG QUÁT
Đau dây thần kinh là cảm giác đau dọc theo dây thần kinh hoặc đường đi củadây thần kinh Đau dây thần kinh sọ là loại đau thuộc kiểu này và liên quan đến các dây thần kinh ở đầu
Trang 35Có 12 cặp dây thần kinh sọ nối sàn sọ đến các cơ quan cảm giác và các cơ ở đầu Các dây thần kinh chạy qua những lỗ nhỏ bên trong sọ, một dây đi bên phải và một dây đi bên trái đầu.
Các dây thần kinh sọ là một phần của hệ thần kinh ngoại biên Chúng không
xử lý các thông tin giống như não và tủy sống (hệ thần kinh trung ương) Thay vào đó, chúng mang những tín hiệu từ các giác quan đến não (neuron cảm giác) và truyền lệnh từ não đến các cơ và tuyến (neuron vận động)
Các dây thần kinh sọ được đặt tên theo các số La Mã Chẳng hạn như dây thần kinh lớn nhất trong sọ (dây sinh ba) còn được gọi là dây thần kinh sọ số
V Chúng có thể là các neuron cảm giác, các neuron vận động hoặc hỗn hợp
12 cặp dây thần kinh sọ bao gồm:
• I Dây thần kinh khứu giác Neuron cảm giác liên quan đến ngửi
• II Dây thần kinh thị giác Neuron cảm giác liên quan đến nhìn
• III Dây thần kinh vận nhãn Neuron vận động liên quan đến các cử động của mí mắt và mắt
• IV Dây thần kinh ròng rọc Neuron vận động liên quan đến các cử động của mắt
• V Dây thần kinh sinh ba Có chức năng hỗn hợp Chức năng cảm giáccho vùng da mặt và chức năng vận động kiểm soát động tác nhai
• VI Dây thần kinh vận nhãn ngoài Neuron vận động liên quan đến các
cử động của mắt
• VII Dây thần kinh mặt Chức năng hỗn hợp Neuron cảm giác liên quan đến vị giác và neuron vận động liên quan đến các biểu hiện ở mặt và cử động miệng
• VIII Dây thần kinh tiền đình - ốc tai Neuron cảm giác liên quan đến nghe và giữ thăng bằng
• IX Dây thần kinh thiệt hầu Chức năng hỗn hợp Vị giác và kiểm soátcác tuyến ở miệng và những cơ nuốt
Trang 36• X Dây thần kinh lang thang Chức năng hỗn hợp Chức năng cảm giác liên quan đến da ở gần tai và kiểm soát vận động của các tuyến ở màng của các cơ quan trong ngực và ổ bụng (vd như: tim, phổi, ruột).
• XI Dây thần kinh phụ Neuron vận động điều khiển hoạt động nuốt, những chuyển động của đầu và vai
• XII Dây thần kinh hạ thiệt Neuron vận động điều khiển chuyển độngcủa lưỡi
Hầu hết các trường hợp đau dây thần kinh là do tổn thương dây sinh ba, nhưng cũng có thể xảy ra ở bất kỳ dây thần kinh sọ nào, chẳng hạn như các dây thần kinh thiệt hầu hoặc dây lang thang Những tổn thương này có thể
do đè ép, nhiễm trùng hoặc viêm các dây thần kinh, nhưng trong nhiều trường hợp đau, có thể không thấy có những thay đổi thực thể nào cả
Bệnh cũng có thể ảnh hưởng đến dây thần kinh chẩm cung cấp cảm giác chophần sau của đầu nhưng nó lại không phải là dây thần kinh sọ Nó đi ra khỏi tủy sống ở gần nơi gặp nhau của tủy sống và não Đau dây thần kinh sọ có thể xảy ra ở bất kỳ dây nào trong số các dây kể trên và thường gây đau ở mặt, da đầu, cổ, họng, hoặc bên trong miệng
Đau dây thần kinh sọ thường không gây nguy hiểm đến mạng sống, nó chỉ gây ra những cơn đau nhẹ và có thể tự khỏi mà không cần điều trị Tuy nhiên, một số bệnh nhân có thể cảm thấy đau đến mức không làm việc được.Ngoài ra, một số trường hợp đau dây thần kinh sọ là hậu quả của những bệnh có thể gây tử vong (vd như u não) cần phải được điều trị Do đó, nhữngbệnh nhân bị nhức đầu hoặc đau mặt tái đi tái lại nhiều lần nên đến gặp bác
sĩ được chẩn đoán và điều trị
PHÂN LOẠI
Có nhiều loại đau dây thần kinh sọ tùy thuộc vào dây thần kinh nào bị đau
và kiểu đau Các loại đau dây thần kinh sọ bao gồm:
• Đau dây thần kinh sinh ba Là loại thường gặp nhất Dây thần kinh
sinh ba (dây thần kinh sọ V) là dây thần kinh sọ lớn nhất do đó đây cũng là loại đau gây ảnh hưởng đến sinh hoạt nhiều nhất Bệnh nhân thường cảm thấy đau buốt chói đột ngột (thường kéo dài ít hơn 2 phút)xảy ra dọc theo một bên mặt Cơn đau thường xuất hiện ở phần dưới mặt hoặc hàm (ít khi gặp ở thái dương hoặc trán) Nó có thể xuất hiện
Trang 37khi vùng da ở mặt bị sờ chạm, hoặc khi nhai, nói, nuốt, hoặc đánh răng Tình trạng này còn được gọi là máy cơ mặt do cơn đau có thể gây ra phản ứng nhăn mặt ở nhiều bệnh nhân Những trường hợp đau xảy ra thường xuyên ở những bệnh nhân bằng hoặc lớn hơn 50 tuổi.
• Đau dây thần kinh thiệt hầu Là loại ít gặp Dây thần kinh này chạy
bên trong lưỡi và họng Bệnh nhân có thể có cảm giác đau như bị shock điện thường ở phía sau họng hoặc phía sau lưỡi Cơn đau có thểxuất hiện khi nhai, hắt xì, nuốt, nói, ho, ngáp, ăn những thức ăn nhiều gia vị hoặc tiếp xúc với cổ hay tai Nó thường xảy ra ở nam giới sau
40 tuổi Ở một số trường hợp, đau dây thiệt hầu còn có thể làm chậm nhịp tim gây choáng
• Đau dây thần kinh lang thang và dây thần kinh thanh quản Tương tự
như cơn đau gây ra bởi dây thần kinh thiệt hầu, và hai dây này có thể đau cùng một lúc Cơn đau xuất phát từ họng và lan đến tai hoặc mắt
Ở những trường hợp nặng, cơn đau có thể làm cho bệnh nhân không thể nói được Nó có thể xuất hiện khi bệnh nhân ho, nuốt hoặc nói chuyện
• Đau dây thần kinh trung gian Cơn đau được mô tả như cảm giác bị
cắt sâu vào bên trong tai Kiểu đau của nó tương tự như đau dây thần kinh thiệt hầu và một số bác sĩ còn tin rằng có thể chúng thật sự chỉ cùng một tình trạng Chúng cũng có thể liên quan đến dây thần kinh
sọ VII (dây thần kinh mặt)
• Hội chứng Raeder Giống như đau dây thần kinh sinh ba, hội chứng
raeder cũng gây đau dọc theo dây thần kinh sọ số V Nó ít xảy ra hơn đau dây thần kinh sinh ba và thường gặp ở nam giới lứa tuổi trung niên hoặc lớn hơn Bệnh nhân có cảm giác rát kéo dài gần một mắt và giảm đi sau vài tuần hoặc vài tháng
• Hội chứng nhức đầu chùm - máy cơ Là sự kết hợp của đau dây thần
kinh sinh ba và nhức đầu chùm Nhức đầu chùm là một nhóm các kiểunhức đầu có vị trí gần mắt kéo dài trong vài tháng Bệnh nhân có độ tuổi khoảng từ 20 đến 70 tuổi và có thể cảm thấy đau mạn tính hoặc tái phát rồi sau đó thuyên giảm
Ngoài ra, còn có trường hợp đau dây thần kinh sau nhiễm herpes là loại đau
thường gặp nhất có thể gây tổn thương các dây thần kinh sọ (Herpes zoster oticus) cũng như những dây thần kinh khác trong cơ thể Bệnh gây ra do một
Trang 38loại virus gây bệnh thủy đậu và bệnh zona (varicella-zoster virus) Không
giống như hầu hết các loại bệnh đau dây thần kinh sọ khác, herpes zoster oticus có thể ảnh hưởng đến nhiều dây thần kinh Bệnh nhân có thể cảm thấyđau tai và nổi mẩn ở đầu hoặc cổ Khi kết hợp với liệt mặt, tình trạng này được gọi là hội chứng Ramsay Hunt
Tổn thương dây thần kinh chẩm cũng có thể là nguồn gốc của của các cơn nhức đầu Dây thần kinh cổ này rời khỏi đỉnh tủy sống và chạy phía sau đầu.Nếu bị tổn thương, nó sẽ gây cơn đau có tính chất nhức nhối, đè ép, như dao đâm, đau theo nhịp đập hoặc đau nhói Nó xuất phát từ phía sau đầu gần cổ
và thường lan đến trán và da đầu Do nó cũng gây đau đầu, nên một số tổ chức y tế, trong đó có Hiệp Hội Nhức Đầu Quốc Tế (International HeadacheSociety) đã xếp nó vào một trong những loại đau dây thần kinh sọ
CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ NGUYÊN NHÂN
Đau dây thần kinh sọ có thể có nhiều nguyên nhân, mặc dù chúng có thể không xác định được Trong một số trường hợp, các dây thần kinh sọ bị tổn thương do chèn ép Các dây thần kinh có thể bị đè ép hoặc kẹp lại do những cấu trúc xung quanh như mạch máu hoặc khối u Chúng cũng có thể bị tổn thương bởi chất độc, thuốc hoặc chấn thương (bao gồm luôn cả phẫu thuật) gây đau Trong một số trường hợp, nguyên nhân gây đau dây thần kinh sọ của bệnh nhân không thể xác định được
Một số bệnh hoặc một số tình trạng nhiễm trùng cũng có thể gây đau dây thần kinh sọ Bệnh đái tháo đường làm tổn thương các mạch máu cung cấp cho các dây thần kinh có thể gây trục trặc trong chức năng của các dây thần kinh Một số bệnh về thận và máu (vd như rối loạn chuyển hóa porphyrin) làm cho chất độc tích tụ trong máu có thể dẫn đến đau dây thần kinh
Những bệnh khác có thể cũng liên quan đến đau dây thần kinh sọ bao gồm bệnh đa xơ cứng, viêm khớp, giang mai và bệnh Lyme Herpes zoster oticus
và đau dây thần kinh sau phẫu thuật cũng có thể là kết quả của tổn thương dây thần kinh do virus bệnh thủy đậu và zona
Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ ai, nhưng thường xảy ra ở một số người nhất định Nhiều thể bệnh thường xảy ra ở những bệnh nhân lớn tuổi Chẳng hạn như bệnh đau dây thần kinh thiệt hầu thường gặp ở những bệnh nhân trên 40tuổi, bệnh đau dây thần kinh sinh ba thường gặp ở những bệnh nhân trên 50 tuổi Ngoài ra cũng có một số thể bệnh (vd như hội chứng Raeder) có thể xảy ra nhiều hơn hoặc chỉ xảy ra ở nam giới Ngược lại, đau dây thần kinh
Trang 39sinh ba thường gặp ở phụ nữ Ở một số trường hợp, đau dây thần kinh sinh
ba xảy ra có tính cách gia đình, có thể là biểu hiện có sự liên quan di truyền.NHỮNG DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH
Triệu chứng chính của bệnh là đau tái phát nhiều lần ở những khu vực nhất định ở đầu Nó thường tái phát ở cùng một vị trí, và thường có cảm giác ở gần bề mặt da hoặc da đầu Cơn đau có thể lan qua những vùng khác nhau của đầu và theo đường đi của dây thần kinh bị tổn thương Đôi khi, bệnh nhân cũng có thể đau tai hoặc đau mắt Ở nhiều trường hợp, những yếu tố kích thích cơn đau có thể xác định được và do đó có thể giúp bệnh nhân tránh được những yếu tố kích thích đó
Những loại đau dây thần kinh sọ và đau mặt hoặc đầu có liên quan bao gồm:
• Đau dây thần kinh sinh ba Đau chói, đột ngột dọc theo một bên mặt, đặc biệt là ở phần dưới mặt hoặc hàm
• Đau dây thần kinh thiệt hầu Đau như bị giật điện bắt nguồn từ họng
và lan đến tai
• Đau dây thần kinh lang thang và dây thần kinh thanh quản trên Cơn đau chủ yếu ảnh hưởng đến họng và hàm
• Đau dây thần kinh trung gian Cảm giác bị cắt sâu bên trong tai
• Herpes zoster oticus Đau nặng nề ở bên trong và xung quanh tai
• Hội chứng Raeder Cảm giác nóng rát liên tục gần một bên mắt
• Hội chứng nhức đầu chùm - máy cơ Là sự kết hợp giữ đau dây thần kinh sinh ba và nhức đầu chùm có vị trí gần mắt
Cơn đau có liên quan đến những dạng nhức đầu khác có khuynh hướng ảnh hưởng đến những khu vực rộng lớn hơn ở đầu so với những cơn đau do dây thần kinh sọ Ngoài ra, một số dạng đau dây thần kinh sọ có thể được đặc trưng bởi chu kỳ thuyên giảm rồi lại tái phát Trong tiến triển của bệnh, thời gian thuyên giảm có thể trở nên ngắn hơn và ít xuất hiện hơn khi bệnh nặng hơn
Những dấu hiệu và triệu chứng liên quan đến đau dây thần kinh sọ có thể bao gồm:
Trang 40• Nhạy cảm với sờ chạm và thay đổi nhiệt độ.
• Ngứa và tê
• Yếu cơ hoặc liệt cơ
• Không đổ mồ hôi được
ra
Khám thần kinh thường bao gồm khám phản xạ của bệnh nhân, sự phối hợp
và tình trạng thần kinh Trong quá trình khám, bác sĩ sẽ tìm những khu vực
bị nhạy cảm đau dọc theo đường đi của các dây thần kinh sọ và những bất thường chức năng của bất kỳ dân thần kinh nào nếu có, chẳng hạn như phản
xạ bất thường
Để xác định chẩn đoán đau dây thần kinh sọ, bác sĩ cần phải loại trừ hết những nguyên nhân gây nhức đầu khác có thể xảy ra, chẳng hạn như nhức đầu migraine hoặc những loại nhức đầu khác, viêm động mạch thái dương, nhiễm trùng, gãy xương, hoặc viêm khớp Do đó cũng có thể cần một số phân tích cận lâm sàng khác, trong đó có xét nghiệm máu Những xét
nghiệm này có thể giúp xác định những nguyên nhân có thể gây đau dây thần kinh sọ như đường huyết cao và suy chức năng thận
Điện cơ đồ (EMG - Electromyogram) và khảo sát tốc độ dẫn truyền thần kinh (NCS - Nerve Conduction Velocity Study) cũng có thể thực hiện để xácđịnh xem những triệu chứng của bệnh nhân có phải là do tổn thương cơ hoặcdây thần kinh hay không, và tổn thương đã lan rộng đến đâu Điện cơ đồ giúp xác định sức khỏe của các mô cơ và NCS giúp xác định tính hiệu quả của một số dây thần kinh Trong một số trường hơp, bệnh nhân sẽ được yêu