1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Chế độ ăn uống trong điều trị các bệnh thường gặp

352 610 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chế độ ăn uống trong điều trị các bệnh thường gặp
Tác giả Nguyễn Ý Đức
Người hướng dẫn BS. Nguyễn Ý Đức
Trường học Nhà Xuất Bản Y Học
Thể loại Sách
Thành phố TP HCM
Định dạng
Số trang 352
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông tin và kiến thức chăm sóc về các bệnh thường gặp, kiến thức bảo vệ sức khỏe cho mọi lứa tuổi bằng cách ăn uống hàng ngày.

Trang 2

Tác giả: Nguyễn Ý Đức

Phát hành theo thỏa thuận giữa Công ty Văn hóa Hương Trang và tác giả Nghiêm cấm mọi sự sao chép, trích dịch hoặc in lại mà không có sự cho phép bằng văn bản của chúng tôi.

GPXB số 2-545/XB-QLXB KHXB số 161/XBYH

In ấn và phát hành tại Nhà sách Quang Minh

416 Nguyễn Thị Minh Khai, P5, Q3, TP HCM Việt Nam

Published by arrangement between Huong Trang Cultural Company Ltd and the author

All rights reserved No part of this book may be reproduced by any means without prior written permission from the publisher

Trang 4

Dinh dưỡng

và điều trị

NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC

Trang 6

Những năm gần đây, y học phát triển cùng lúc theo hai chiều hướng có vẻ như trái ngược nhau Một mặt, chúng ta liên tục chứng kiến những thành tựu vượt bực trong lãnh vực nghiên cứu về các mặt sinh lý, bệnh lý, phòng ngừa và trị liệu, giúp kiểm soát bệnh tật một cách hiệu quả hơn và hạn chế đến mức tối thiểu các trường hợp tử vong Mặt khác, những nghiên cứu khoa học cũng ngày càng nhận rõ hơn tính ưu việt của nền y học cổ truyền dân tộc thuận theo tự nhiên, vốn có

tự ngàn xưa, và do đó mà đại đa số quần chúng đang có chiều hướng quay về nguồn cội, ưa chuộng một nền y học giản dị và

“nhẹ nhàng”, gần với tự nhiên hơn Các phương thức trị bệnh

cổ truyền, sử dụng cây cỏ và các phương pháp thuận theo tự nhiên đang được quý chuộng hơn so với các phương thức điều trị hiện đại

Điều lý thú là chúng ta có thể thấy được một sự dung hòa

và vận dụng hợp lý cả hai khuynh hướng nói trên trong khoa Dinh dưỡng hiện đại, và điển hình cụ thể là bộ sách DINH DƯỠNG VÀ AN ToàN THỰC PHẨM của Bác sĩ Nguyễn Ý

Đức mà quý độc giả đang có trong tay.

Bộ sách này gồm ba quyển, có nội dung liên quan nhau, nhưng cũng có thể sử dụng riêng rẽ như những nguồn kiến thức chuyên biệt Đó là:

1 Dinh dưỡng và thực phẩm: Trình bày cặn kẽ những

yếu tố dinh dưỡng căn bản cần thiết cho con người Qua tập sách này, độc giả sẽ hiểu rõ được vì sao chúng ta cần

ăn một tỷ lệ cân đối các loại thực phẩm thịt cá, rau quả

và khoáng chất, vitamin, cũng như cần đến bao nhiêu

là vừa đủ.

Trang 7

miếng thịt gà luộc, một bát canh cải hoặc con cá rô kho chúng ta thường muốn biết chúng được tiêu hóa, hấp thụ ra sao, cũng như tác dụng như thế nào đến sức khỏe Thực phẩm có thể gây tác hại đến sức khỏe nếu không được sử dụng, nấu nướng hay bảo quản đúng cách, đảm bảo những nguyên tắc an toàn thực phẩm Đó là những nội dung chính của quyển sách này.

3 Dinh dưỡng và trị liệu: Ngoài việc sử dụng thuốc men

và các phương thức trị liệu, dinh dưỡng cũng giữ một vai trò rất quan trọng đối với người bệnh Một bệnh nhân tiểu đường nếu biết cách ăn uống sẽ có thể hạn chế hậu quả xấu khi lượng đường trong máu lên quá cao; người huyết áp cao mà không tiết giảm muối ăn thì sẽ dễ dàng

bị tai biến não hoặc cơn suy tim Quyển sách này đưa

ra những hướng dẫn về ăn uống để có thể hỗ trợ việc trị bệnh, đã được các nghiên cứu khoa học và thực tế chứng minh là mang lại hiệu quả tốt.

Người ta thường nói: “Ăn để sống chứ không phải sống để

ăn.” Thật ra, đây chỉ là một lời khuyên có tính cách luân lý

chứ không hề có ý bảo ta phải coi thường việc ăn uống, vì thực

tế là: Sống thì phải ăn Để sinh tồn, cơ thể cần đến năng lượng cũng như động cơ cần xăng dầu Thực phẩm cung cấp những yếu tố mà cơ thể hấp thụ được để tạo thành năng lượng, gọi chung là dinh dưỡng Do đó, dinh dưỡng chính là chìa khóa của sức khỏe Người ta có thể khỏe mạnh hay đau yếu do nguồn dinh dưỡng thích hợp hay không thích hợp, phong phú hay nghèo nàn Dinh dưỡng là yếu tố quyết định chi phối phần lớn, nếu không nói là toàn bộ, vấn đề sức khỏe của con người

Vì thế, dinh dưỡng là mấu chốt của hầu hết các vấn đề bệnh

lý, và quả thật không có gì lạ khi hầu hết các nhà điều trị đều quan tâm đặc biệt đến vấn đề dinh dưỡng.

Trang 8

Đối với phần lớn chúng ta thì khoa Dinh dưỡng còn có nhiều lý do đáng quan tâm hơn nữa Khoa Dinh dưỡng giúp

ta tác động đến sức khỏe một cách cụ thể, tức thời, với những giải pháp và đề nghị thiết thực, trong tầm tay của mọi người Những tác hại do sai lầm về dinh dưỡng hay lợi ích của việc

sử dụng dinh dưỡng đúng cách có thể dễ dàng thấy được Và

dù sao đi nữa, sống thì phải ăn, nay lại có thể vận dụng việc

ăn uống để trị bệnh hay phòng bệnh, quả thật là một công đôi

ba việc, nhất cử lưỡng tiện.

Do đó, chúng ta ai cũng muốn biết về việc thực phẩm mà

ta sử dụng sẽ tác động như thế nào đến sức khỏe, có thể giúp

ta phòng trị bệnh hay sẽ tạo điều kiện gây ra thêm bệnh tật

Và khi áp dụng những hiểu biết đó vào cuộc sống hằng ngày, chúng ta sẽ có thể trở về gần với thiên nhiên hơn, sẽ thấy việc phòng trị bệnh trở nên dễ dàng, giản tiện hơn vì chỉ cần

sử dụng những thứ có sẵn trong tự nhiên như các loại thực phẩm, rau củ quả, dược liệu cây cỏ …mà vẫn có thể bảo vệ tốt sức khỏe cho cơ thể.

Như đã nói, bộ sách của Bác sĩ Nguyễn Ý Đức là sự dung

hòa và vận dụng cả hai khuynh hướng: kiến thức khoa học hiện đại và sự phát triển lành mạnh thuận theo tự nhiên Đối với những ai muốn hiểu rõ về các thành phần dinh dưỡng có trong thực phẩm, muốn theo dõi số phận của các món ăn khi

đi vào cơ thể, hoặc nói chung là tò mò muốn tìm biết rõ hơn

về thực phẩm, bộ sách này sẽ cung cấp thật phong phú những kiến thức về các đặc tính hóa học, sinh lý của từng món ăn

và quá trình biến đổi của chúng trong cơ thể Đối với những ai muốn áp dụng ngay những hiểu biết về dinh dưỡng vào cuộc sống gần gũi thiên nhiên hơn, sách cung cấp những kiến thức

cơ bản và thiết thực về các thực phẩm thường dùng mỗi ngày

và những tính chất có lợi hoặc có hại của chúng Những kiến

Trang 9

thức này được trình bày một cách cặn kẽ nhưng không quá rườm rà, dễ hiểu nhưng cũng không vì thế mà trở thành sơ lược, thô thiển.

Do đó, với những ai quan tâm đến vấn đề dinh dưỡng thì

bộ sách này thật xứng đáng là kim chỉ nam trong thực tế, là người hướng dẫn trung thành và thực tiễn mỗi ngày, có thể giúp ích tức thì và thiết thực Sách mô tả một cách khoa học các món ăn, đặc biệt chi tiết hơn là những món ăn thường được sử dụng mỗi ngày, gợi ý những chọn lựa thích hợp mà chúng ta luôn phải đưa ra trong cuộc sống

Một phần quan trọng - gần như trọng tâm của bộ sách - được dành để bàn đến mối tương quan giữa dinh dưỡng và các bệnh tật thường gặp như: tiểu đường, tim mạch, huyết áp cao, viêm gan, táo bón … Tác giả luôn có những lời khuyên hữu ích nhằm đặt căn bản vững chắc cho một cuộc sống khỏe mạnh, ít bệnh tật.

Nói chung, bộ sách nhắm đến trả lời phần lớn những câu hỏi liên quan đến vấn đề ăn uống, nhưng đặc biệt cung cấp cho bạn đọc một cách chi tiết hơn những gì cần biết trong việc

ăn uống hằng ngày, khi đang khỏe mạnh cũng như khi có

bệnh Với mục tiêu đề ra như vậy, bộ sách của Bác Sĩ Nguyễn

Ý Đức có thể nói là một thành quả rất đáng khen về cả hai

mặt khoa học cũng như thực dụng, bởi vì nó đáp ứng được cả tính chính xác của một tác phẩm khoa học cũng như tính dễ hiểu của một tài liệu hướng dẫn dành cho quảng đại quần chúng

Khi giới thiệu bộ sách này đến với quý độc giả, chúng tôi hy vọng là nó sẽ mang lại những kiến thức bổ ích và thiết thực ngay trong cuộc sống hằng ngày, giúp cho quý vị có thể tự mình bảo vệ sức khỏe và niềm vui trong cuộc sống.

Bác Sĩ TRẦN MINH TÙNG

Trang 10

DINH DƯỠNG VỚI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Gọi là bệnh tiểu đường, nên có lúc nhiều người đã

nghĩ rằng bệnh này là do ăn nhiều đường ngọt

mà ra Sự thực, đường và tinh bột có thể làm lượng glucose

trong máu tăng cao đột ngột khi không có đủ insulin, nhưng đường không gây ra bệnh tiểu đường

Insulin là chất nội tiết có nhiệm vụ chuyển hóa glucose

trong máu thành năng lượng, do đó làm điều hòa lượng

glucose trong máu Vì vậy, tiểu đường là bệnh của một trong nhiều cơ quan nội tiết trong cơ thể, và dinh dưỡng có một vai trò rất quan trọng trong việc điều trị

Trong bệnh tiểu đường, sự chuyển hóa đường glucose trong máu bị rối loạn Glucose là nguồn năng lượng quan trọng cho cơ thể và chủ yếu do carbohydrat cung cấp Chất đạm (protein) và chất béo (lipid) cũng có thể tạo ra glucose, nhưng không nhiều như carbohydrat

Carbohydrat là nhóm hợp chất hữu cơ có trong tự nhiên bao gồm các dạng đường, tinh bột, dextrin, cellulose, và

glycogen Trong thực phẩm thì hai dạng carbohydrat chủ yếu là đườngtinh bột Khi đưa vào cơ thể, carbohydrat được phân hố thành đường glucose, giữ chức năng duy trì

Trang 11

các mô protein, giúp chuyển hố chất béo và cung cấp năng lượng cho hệ thần kinh trung ương.

Khi glucose trong máu không được sử dụng hết thì nồng độ

glucose trong máu sẽ tăng cao

Trong tình trạng bình thường, thận có khả năng giữ đường này lại thay vì bài tiết ra ngoài Người bệnh tiểu đường có lượng glucose quá cao nên thận buộc phải thải bớt ra ngoài theo nước tiểu Từ đó có tên là bệnh tiểu đường

Bệnh thường gia tăng với tuổi cao, nhất là từ sau 55 tuổi Người châu Á ít bị tiểu đường phụ thuộc vào insulin hơn là người da trắng; nữ giới có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nam giới Điều hòa đường trong máu là trách nhiệm của chất nội tiết

insulin do tụy tạng tiết ra Insulin chuyển đường từ huyết tương vào các tế bào để chuyển hóa ra năng lượng Đồng thời

insulin cũng giúp gan chuyển hố một phần glucose thành chất béo để dự trữ trong các tế bào mỡ

Khi vì một lý do nào mà insulin không làm được công việc chuyển hóa này thì nồng độ đường glucose trong máu sẽ tăng cao Cholesterol trong máu cũng tăng cao vì thiếu insulin Mức độ bình thường của glucose trong máu khi đói thay đổi trong khoảng từ 50mg/dl tới 115mg/dl máu Khi nhịn ăn lâu như qua đêm thì mức độ này thấp nhất, sau bữa ăn thì nồng độ đường tăng hơi cao hơn Máu được lấy vào buổi sáng khi chưa ăn uống gì để thử nồng độ đường

Nếu sau hai lần thử nghiệm liên tiếp mà nồng độ glucose

trên 140mg/dl thì xác định là bệnh tiểu đường Nếu nồng độ đường ở trong khoảng 115mg/dl tới 140mg/dl thì chỉ nghi ngờ

Trang 12

nhưng chưa được xác định được bệnh, cần theo dõi và có thêm nhiều thử nghiệm khác mới có thể xác định bệnh.

Phân loại

Bệnh tiểu đường liên quan trực tiếp đến insulin, và tùy theo cách gây bệnh của chất nội tiết này mà bệnh được phân

ra làm hai loại chính như sau:

- Loại I: Do thiếu insulin Thường xuất hiện khi còn trẻ,

do tụy tạng không tiết ra hoặc tiết ra rất ít insulin Vì vậy, điều trị bệnh này chủ yếu phụ thuộc vào việc cung cấp bổ sung lượng insulin cần thiết cho cơ thể Loại này chiếm khoảng 10% trong tổng số bệnh nhân tiểu đường, nhưng rất khó kiểm sốt và người bệnh thường rơi vào tình trạng nhiễm acid (ketoacidosis) rất nặng Bệnh nhân trở nên gầy ốm và bệnh tiến triển rất nhanh

- Loại II: Do cơ thể không sử dụng được insulin, mặc dù tụy tạng vẫn tiết ra lượng insulin như bình thường Vì vậy, điều trị bệnh này không liên quan đến việc cung cấp insulin Bệnh thường xảy ra ở người lớn tuổi, bệnh nhân thường mập và bệnh diễn tiến chậm

Bệnh tiểu đường loại I có thể do các virus hay độc tố gây

ra ở những người mà gen di truyền có mang mầm bệnh

Trang 13

Bệnh tiểu đường loại II có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng tình trạng quá cân và dư thừa chất béo của cơ thể thường được coi là những nguy cơ gây bệnh hàng đầu.

Triệu chứng

Các triệu chứng chính của bệnh tiểu đường là rất khát nước Người bệnh tiểu tiện liên tục với nhiều nước tiểu, ăn nhiều mà vẫn sút cân

Đôi khi người bệnh tiểu đường loại II không có triệu chứng gì

Khi không được kiểm sốt, điều hòa, nồng độ đường trong máu tăng cao bất thường đưa tới các biến chứng trầm trọng cho nhiều cơ quan khác như mất thị giác, suy thận, bệnh tim mạch với huyết áp cao, cao cholesterol, vữa xơ động mạch, rối loạn cảm giác thần kinh, liệt hoặc cương dương và dễ bị bệnh nhiễm trùng Nhiều người bị nhiễm độc chi dưới trầm trọng đến nỗi phải cắt bỏ bàn chân

Nếu không được điều trị, người bệnh rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng, mặc dù trong máu vẫn đầy tràn chất bổ không dùng đến phải thải theo nước tiểu ra ngoài mà tế bào cần đến lại không tiếp nhận được

Bệnh tiểu đường là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ tư

do bệnh tật gây ra tại Hoa Kỳ Tỷ lệ tử vong có thể giảm nhiều nếu bệnh được phát hiện và điều trị sớm

Dinh dưỡng với bệnh tiểu đường

Trọng tâm của việc điều trị bệnh tiểu đường là giữ cho nồng độ đường glucose trong máu ở mức độ bình thường

Trang 14

Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng bên cạnh dược phẩm và các phương thức trị liệu khác Trong một số trường hợp, chỉ với một chế độ dinh dưỡng thích hợp cũng có thể điều hòa được nồng độ đường trong máu.

Từ nhiều ngàn năm qua, con người đã nhận ra điều này

và luôn quan tâm đến việc xác định một chế độ dinh dưỡng thích hợp cho người mắc bệnh tiểu đường

Các vị lương y cổ xưa cho rằng người bệnh tiểu đường cần phải ăn nhiều carbohydrat để bù lại lượng đường thải ra trong nước tiểu

Đến thế kỷ 17, nhiều người áp dụng chế độ ít tinh bột, nhiều chất béo và chất đạm động vật Sau đó lại chuyển

sang ít tinh bột, ít năng lượng

Cho đến năm 1921 khi các bác sĩ CanadaFrederick Grant Banting (1891-1941), và Charles Herbert Best (1899-1978) khám phá ra insulin trong tụy tạng và vai trò của nó trong bệnh tiểu đường thì phương thức điều trị bệnh này bắt đầu thay đổi hẳn

Chế độ dinh dưỡng mới cho người bệnh tiểu đường được điều chỉnh nhiều lần trong những thập niên qua với mục đích

là điều hòa lượng glucose trong máu Chế độ này thay đổi tùy

ở từng người bệnh và bệnh nhân cần lưu ý rằng không có một thực phẩm duy nhất nào đáp ứng được nhu cầu của tất cả mọi người

Với tiểu đường loại II, insulin vẫn được tụy tạng tiết ra nhưng người bệnh không sử dụng được, chế độ ăn uống tập trung vào việc kiểm sốt thể trọng, hạn chế tăng cân Có tới 90% người bệnh tiểu đường loại II ở trong tình trạng béo phì

Trang 15

Trong tiểu đường loại I, bệnh nhân cần và phụ thuộc vào

insulin thì chế độ dinh dưỡng được tính toán sao cho người bệnh vẫn có thể dùng bữa ăn chung trong gia đình nhưng có

sự thay đổi linh động về năng lượng cho thích hợp với liều lượng dược phẩm, nhất là insulin

Để xác định một chế độ dinh dưỡng thích hợp cho mỗi người bệnh cần có sự cố vấn của chuyên gia dinh dưỡng hoặc bác sĩ điều trị

Người bệnh cũng cần được hướng dẫn để biết rõ tình trạng bệnh của mình, thông thạo cách tự đo mức đường trong máu

và sau đó có thể tự gia giảm số năng lượng cần tiêu thụ tùy theo tình trạng bệnh, và hiểu biết rõ công dụng các dược phẩm đang dùng

Sự cân đối tỷ lệ năng lượng cung cấp từ ba chất dinh dưỡng cơ bản: carbohydrat, chất béo và chất đạm là điều rất quan trọng Tỷ lệ này thường được các chuyên gia xác định là khoảng từ 50% đến 60% từ carbohydrat (tinh bột và đường), dưới 30% từ chất béo và 15% đến 20% từ chất đạm

Về carbohydrat thì cần giới hạn đường tinh chế ở mức 5%

và nên ăn chung với các thực phẩm khác để tránh glucose

trong máu tăng cao quá nhanh Như vậy, phần năng lượng còn lại là lấy từ tinh bột

Chất béo thì nên dùng nhiều loại chất béo bão hòa của thực vật hơn là chất béo bão hòa của động vật, và hạn chế tối

đa các dạng chất béo chưa bão hòa.1

1 Các acid béo có ba loại khác nhau: loại có dạng rắn, tức là dạng acid béo bão hòa

(saturated), dạng ít rắn hơn là acid béo chưa bão hòa dạng đơn (monounsaturated) với

các ngoại lệ là dầu ô-liu và dầu phộng, và dạng lỏng là acid béo chưa bão hòa dạng đa

(polyunsaturated) Hai dạng sau thường được chỉ chung một cách đơn giản là acid béo chưa bão hòa (unsaturated), để phân biệt với dạng acid béo bão hòa (saturated).

Trang 16

Chất xơ (fiber) cũng có tác dụng trong việc kiểm sốt lượng đường trong máu, giảm bớt nhu cầu insulin và giảm thiểu các biến chứng của tiểu đường Chất xơ có nhiều trong ngũ cốc.Ngoài ra, cần chú ý thêm đến một số các vitamin như

vitamin B, C, E và các khoáng chất calci, kẽm, phosphor,

kali

Nhiều chuyên gia cho rằng quá nhiều mỡ béo làm thay đổi

sự chuyển hóa của glucose và làm tăng sức đề kháng của cơ thể với insulin Người béo phì cũng ít vận động cơ thể, vì sự vận động đốt bớt năng lượng và khiến cơ thể sử dụng được

insulin công hiệu hơn

Một chế độ dinh dưỡng từ 1.000 tới 1.200 calori2mỗi ngày cho nữ giới, 1.500 calori tới 1.800 calori mỗi ngày cho nam giới được nhiều chuyên gia y tế đồng ý Số năng lượng này cần được phân chia theo tỷ lệ: 55% carbohydrat, 30% chất béo và 15% chất đạm Theo thống kê, nếu áp dụng chế độ này thì kết quả tốt lên tới 95%

Ngoài ra số năng lượng trên cũng cần được chia ra làm nhiều bữa nhỏ trong ngày tùy theo kết quả đo mức đường trong máu hai giờ sau mỗi bữa ăn Có người ăn tới sáu, bảy lần trong ngày, mỗi lần với số lượng thực phẩm nhỏ

Trong chế độ dinh dưỡng cho người bệnh tiểu đường, việc tiêu thụ chất ngọt là vấn đề có nhiều tranh cãi

Trong nhiều năm qua, người bệnh được khuyến cáo là không nên ăn đường và các thực phẩm ngọt Từ sự khuyến cáo này, các loại đường thay thế được đưa ra và giới thiệu

là an toàn cho người bệnh, gồm có các loại như Saccharin,

Cyclamate, Aspartame, Acesulfame

Trang 17

Gần đây việc ăn đường đã được nghiên cứu lại, và đa số các chuyên gia đều khuyên là chỉ nên dùng khoảng dưới 5% tổng lượng carbohydrat là đường , và dùng chung với thực

phẩm khác Đồng thời lượng đường này cũng cần gia giảm cho phù hợp với liều lượng các dược phẩm đang dùng

Cũng trong chiều hướng này, vào tháng 12 năm 2001, tổ chức The American Diabetes Association đã đưa ra một

hướng dẫn mới, theo đó người mắc bệnh tiểu đường đôi khi

có thể ăn chất ngọt, miễn là họ giữ mức độ đường trong máu bình thường Hướng dẫn cũng khuyên người bệnh nên ăn

nhiều thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như rau, trái cây

và năng vận động cơ thể

Trang 18

BỆNH TIM MẠCH

Bộ máy tuần hoàn gồm trái tim và một hệ thống

những mạch máu chạy khắp trong cơ thể Đây

là bộ phận tiếp tế các chất dinh dưỡng thiết yếu cho mọi hoạt động của con người Một gián đoạn, một trục trặc dù nhỏ của

hệ thống này sẽ tạo ra nhiều khó khăn cho tim và mạch máu

mà kết quả là đưa tới các bệnh tim mạch cũng như nhiều ảnh hưởng không tốt khác cho cơ thể

Tại nhiều quốc gia, bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu Bệnh động mạch vành, cơn suy tim (heart attack), tai biến động mạch não (stroke) và huyết áp cao,

bệnh thấp tim (Rheumatic heart disease) là những bệnh thường gặp và đều đưa tới hậu quả nghiêm trọng

Có rất nhiều nguy cơ đưa tới bệnh tim mạch Có những nguy cơ không thay đổi được như tuổi tác, giới tính, chủng tộc, di truyền Nhưng cũng có những nguy cơ có thể thay đổi được như nếp sống cá nhân, béo phì, nghiện thuốc lá và nhất là chế độ dinh dưỡng ăn uống

Các bệnh tim mạch không phải xảy ra ngay trong đầu hôm sớm mai, mà từ từ phát triển Bệnh tim mạch thường xảy ra khi cholesterol trong máu tăng cao; khi thân nhân có tiền sử bệnh tim; khi có dấu hiệu đau thắt tim; khi có nguy cơ bệnh tiểu đường và khi bị béo phì

Bệnh có liên hệ nhiều hơn tới dinh dưỡng là bệnh động mạch vành, vữa xơ động mạch (atherosclerosis) và huyết

áp cao

Trang 19

DINH DƯỠNG VỚI BỆNH ĐỘNG MẠCH

VÀNH

Bệnh động mạch vành (Coronary

artery disease - CAD)

Động mạch vành là những mạch máu chạy quanh

trái tim để nuôi cơ quan này

Sau mỗi nhịp tim đập thì máu được đưa đi nuôi khắp cơ thể qua động mạch chủ Riêng máu nuôi tim thì được chuyển trực tiếp vào động mạch vành Các động mạch này gồm hai nhánh bao quanh trái tim như một cái vương miện Nếu một trong những phân nhánh bị nghẹt thì tế bào tim ở vùng đó thiếu dinh dưỡng, thiếu dưỡng khí (oxy), gọi là sự thiếu máu cục bộ

cơ tim (myocardial ischemia) và người bệnh sẽ có những cơn đau thắt tim (angina pectoris)

Nếu động mạch bị nghẽn vĩnh viễn thì cơn suy tim sẽ xảy

ra vì nhồi máu cơ tim (myocardial infarction) và tế bào tim

Trang 20

hẹp dần, khiến máu lưu thông bị tắc lại và tắc hẳn theo năm tháng Đó là hiện tượng vữa xơ động mạch (atherosclerosis).

Vữa xơ động mạch không xảy ra bất thình lình mà từ từ diễn tiến trong hàng chục năm Đôi khi, sự tắc nghẽn bắt đầu ngay từ khi còn trẻ, nhưng chưa đủ trầm trọng để đưa tới bệnh tim ở tuổi trung niên

Vữa xơ động mạch là nguyên nhân chính của cơn suy tim,

tai biến động mạch não, hoại thư (gangrene) đầu ngón chân, ngón tay Các mạch máu dễ bị vữa xơ nhất là động mạch chủ nơi bụng (abdominal aorta), động mạch vành và động mạch não

Nguyên nhân gây vữa xơ động mạch chưa được xác định rõ, nhưng theo kết quả của nhiều nghiên cứu thì chất béo trong máu và các yếu tố sau đây là những nguy cơ có khả năng gây bệnh:

nữ giới thì tỷ lệ mắc bệnh gần như nhau Nam giới thường

có lượng cholesterol LDL (dạng cholesterol có hại) cao hơn

và HDL thấp hơn, một phần do tác dụng của hormon nam

Trang 21

testosterone Còn nữ giới thì một phần được sự bảo vệ của

hormon nữ estrogen làm giảm cholesterol LDL Khi mãn kinh, người phụ nữ không còn hormon nữ estrogen thì

cholesterol LDL nhích lên cao

đ Thuốc lá

Nicotin trong thuốc là làm tăng huyết áp và nhịp tim, làm máu dễ đóng cục, làm giảm HDL, tăng LDL, tất cả đều có thể đưa tới bệnh tim mạch Nicotin là một trong nhiều yếu tố khởi sự làm hư hỏng tế bào động mạch, đưa đến vữa xơ mạch máu này Hít thở khói thuốc lá do người khác thải ra cũng có hại Bỏ hút thuốc lá sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch một cách đáng kể

e Béo phì

Thống kê cho thấy người béo phì hay bị huyết áp cao, bệnh tim, cao cholesterol và do đó thường bị suy tim

Trang 22

g Huyết áp cao

Huyết áp càng cao thì nguy cơ suy timvữa xơ động mạch càng tăng, nhất là khi kèm theo nghiện thuốc lá và béo phì Áp suất tăng cao làm yếu thành mạch máu, đưa tới hư hỏng, đóng bựa chất béo và các chất khác trên thành mạch

h Bệnh tiểu đường

Người bị bệnh tiểu đường thường có nhiều nguy cơ bị các bệnh tim mạch như cơn suy tim, huyết áp cao, do chất béo HDL thấp và triglycerid cao

i Ít vận động cơ thể

Người ít vận động cơ thể có nguy cơ mắc bệnh động mạch vành cao gấp đôi người năng vận động Sự vận động làm giảm quá trình vữa xơ, tăng máu lưu thông tới tim, tăng HDL, giảm béo phì, giảm huyết áp cao

k Cao cholesterol

Vai trò của cholesterol trong bệnh tim mạch đã được nghiên cứu sâu rộng trong những thập niên qua với nhiều dẫn chứng khoa học về vấn đề này

Mức cholesterol trong máu lên tới 240 mg/dl là nguy cơ lớn đưa tới vữa xơ động mạch, rồi cơn suy tim và tai biến động mạch não Nguy cơ càng cao khi cholesterol càng nhiều trong máu

Thành phần của các dạng chất béo trong tổng lượng

cholesterol cũng rất quan trọng Đó là các dạng cholesterol

Trang 23

LDL (low density lipoprotein), HDL (hight density lipoprotein) và triglycerid.

Protein là chất vận chuyển lipid và hỗn hợp đó có tên là

lipoprotein Tỷ trọng (density) là tỷ lệ protein/lipid Khi nhiều protein (high density) thì là HDL, ít protein (low density) thì là LDL

Trong tổng lượng cholesterol thì từ 60-70% là LDL, 30% là HDL, 10-15% là VLDL (very low density lipoprotein)

20-Cholesterol ở mức độ dưới 200mg/dl là lý tưởng, từ 200mg/dl đến 239 mg/dl còn tạm chấp nhận được, nếu lên trên 240 mg/

dl thì là rất cao và có nguy cơ xấu

LDL thường được coi như không tốt vì nó là thành phần gây nhiều rắc rối cho hệ tim mạch Dạng cholesterol này vận chuyển chất béo (lipid) trong thực phẩm vào các tế bào Khi

tế bào hết chỗ chứa thì chất béo đóng ở thành động mạch, lâu dần đưa tới vữa xơ, tắc nghẽn

Mức độ lý tưởng của LDL trong máu là dưới 130mg/dl Từ 130mg/dl đến 159mg/dl là bắt đầu có vấn đề, và lên cao hơn 160mg/dl là nguy hiểm

HDL vận chuyển chất béo vào dự trữ trong gan để cho lượng chất béo trong máu chỉ vừa đủ dùng, không có dư để đóng vào thành động mạch Lượng HDL trong máu mà bằng hoặc cao hơn 35mg/dl là tốt, nếu HDL có thể cao hơn 60mg/dl thì thật lý tưởng và an toàn

Bình thường, cơ thể tạo ra vừa đủ số cholesterol mà ta cần

Cholesterol trong máu có tới 85% là do cơ thể tự tạo ra; còn lại 15% là do thực phẩm cung cấp

Trang 24

Vì thế, cholesterol trong máu có thể tăng cao nếu ta tiêu thụ nhiều cholesterol và các chất béo bão hòa Hậu quả là

sự đóng mảng trong lòng động mạch Khi nghẹt động mạch vành, ta bị cơn suy tim (heart attack) Khi một mảng chất béo ở động mạch nào đó chạy lên não thì gây ra tai biến động mạch não (stroke)

Dinh dưỡng với bệnh động mạch

Nên nhớ là chỉ giảm chất béo tới mức vừa phải với tình trạng sức khỏe của mình, bởi vì thiếu chất béo cũng có hại cho sức khỏe

2 Giảm chất béo bão hòa

Chất béo bão hòa làm tăng cholesterol, nhất là LDL và

triglycerid Chỉ nên giới hạn chất béo này ở khoảng 1/3 tổng

số chất béo ăn vào Chất béo bão hòa có nhiều trong mỡ động vật, kem, bơ, pho mát Chất béo bão hòa cũng đặc biệt có nhiều trong dầu cọ, dầu dừa Dầu này thường được dùng rất nhiều trong việc làm bánh, kẹo

Trang 25

3 Tăng chất béo chưa bão hòa

Để thay thế cho chất béo bão hòa, nên dùng nhiều chất béo chưa bão hòa Dầu ôliu, dầu hạt cải dầu (canola) có nhiều

chất béo chưa bão hòa dạng đơn Dầu ngô (bắp), dầu hạt cây rum (safflower) có nhiều chất béo chưa bão hòa dạng đa Sử dụng các loại dầu này có thể làm giảm cholesterol và tăng tỷ

lệ HDL trong máu

4 Giảm cholesterol

Cholesterol không có trong thực vật, mà có nhiều trong các thực phẩm từ động vật Cholesterol trong thức ăn có thể làm tăng lượng cholesterol trong máu Lòng đỏ trứng, gan động vật có ít chất béo bão hòa nhưng lại có nhiều cholesterol Nếu không có bệnh tim, có thể ăn khoảng ba lòng đỏ trứng một tuần Lòng trắng trứng, rau trái không có cholesterol

Có thể ăn nhiều lòng trắng trứng vì đây là nguồn chất đạm khá cao Động vật có vỏ như tôm, cua, sò, hến không có nhiều

cholesterol, nên có thể ăn với mức độ vừa phải

5 Ăn nhiều cá

Nên ăn nhiều các loại cá như cá hồi (salmon), cá lam (bluefish), cá thu, cá ngừ, cá trích, cá sardine vì các loại cá này có nhiều dầu Omega-3 Dạng chất béo này được xem là có khả năng hạ mức triglycerid, ngăn chặn quá trình đóng cục máu gây ngừng nhịp tim bất thường, tăng cường tính miễn dịch, giúp mắt và não phát triển tốt hơn Acid béo Omega-3

cũng có trong hạt và dầu quả óc chó (walnut), dầu hạt lanh (flaxseed)

Trang 26

Chỉ dùng viên uống dầu cá (chứa Omega-3) theo sự chỉ dẫn của bác sĩ điều trị để tránh tương tác với các dược phẩm khác đang dùng.

6 Tăng lượng chất xơ hòa tan và tinh bột

Gia tăng các loại thực phẩm chứa nhiều chất xơ hòa tan và tinh bột để thay thế cho các thực phẩm có nhiều chất béo bão hòa Chất xơ và tinh bột cũng làm giảm cholesterolchất béo bão hòa trong máu, lại cung cấp ít năng lượng, nhiều

vitamin, khoáng chất Ngũ cốc, rau trái, các loại hạt đều thuộc nhóm thực phẩm này

Ngoài ra, để giảm bớt cholesterol, ta nên duy trì một chương trình vận động cơ thể đều đặn, giữ cơ thể ở cân nặng thích hợp với tuổi tác, đồng thời giới hạn các loại rượu bia.Với lượng tiêu thụ cao, rượu kích thích gan sản xuất nhiều

triglycerid Có ý kiến cho là khi uống vừa phải, rượu có thể làm tăng HDL, nhưng ở nhiều người, dù uống vừa phải cũng

có thể đưa đến nguy cơ tai biến động mạch não

Người béo phì thường có cholesterol trong máu cao hơn người không mập Uống nhiều cà phê (vài ly một ngày) cũng

có thể làm tăng cholesterol trong máu

Vận động cơ thể làm tăng HDL, giảm LDL đồng thời cũng giúp giảm béo phì, hạ huyết áp, làm tim mạch mạnh hơn và làm tinh thần thư giãn Tất cả đều có tác dụng tốt cho hệ thống tim mạch

Trang 27

Trong mấy thập niên qua đã có nhiều tiến bộ trong việc bào chế các dược phẩm có thể hạ cholesterol tới 40% Tuy nhiên, theo số đông các chuyên gia y tế, dược phẩm nên dành cho trường hợp cholesterol lên rất cao, sau khi không thành công với các phương tiện khác như dinh dưỡng, vận động cơ thể, thay đổi nếp sống

Thuốc cần được sử dụng dưới sự hướng dẫn của bác sĩ để theo dõi liều lượng, tác dụng phụ, và nên dùng dược phẩm đã

có bảo đảm an toàn Không nên dùng dược phẩm để thay thế cho tiết chế ăn uống cũng như các phương tiện khác

Kiểm sốt cholesterol là việc làm lâu dài, cần kiên nhẫn với các phương pháp được nhiều chuyên gia công nhận Nên dè dặt với những giới thiệu, quảng cáo chữa khỏi hoàn toàn mà không cần thuốc hoặc một chế độ ăn uống nhiều chất này, bỏ chất kia

Dinh dưỡng trong bệnh tật cũng như trong sức khỏe cần sự

đa dạng, phối hợp cân đối nhiều loại thực phẩm khác nhau

Trang 28

DINH DƯỠNG

VỚI BỆNH HUYẾT ÁP CAO

- Cụ ạ, tôi bị huyết áp cao hơn mười năm, uống thuốc

gì cũng không khỏi Mới đây người ta mách tôi uống nước lá ổi Mỗi ngày chỉ uống một lá thôi Thế mà khỏi dứt đấy!

- Còn bà nhà tôi ấy à, chẳng cần thuốc men gì, chỉ tập thể dục mà huyết áp xuống trông thấy.

Nói với nhau về huyết áp cao là chuyện đầu môi

trong những dịp gặp gỡ của nhiều người, vì đây

là bệnh rất thường xảy ra Có người sống với bệnh cả năm bảy năm mà không biết hoặc không thấy có triệu chứng gì, cho tới khi bị biến chứng bất ngờ như thận suy, cơn đau tim hoặc tai biến não, thì đã quá trễ

Vậy thì xin cùng quý độc giả tìm hiểu đôi chút về chứng bệnh nguy hiểm khá phổ biến này

Trang 29

Huyết áp là gì?

Huyết áp là áp lực hay sức ép của máu vào thành động mạch Áp lực này được tạo ra khi trái tim bóp, đẩy máu vào huyết quản Tùy theo lượng máu và sức cản của thành mạch

mà áp suất cao hoặc thấp Huyết áp được mô tả bằng hai chỉ số:

- Huyết áp tâm thu (systolic), là chỉ số đứng trước, chỉ áp suất khi tim bóp vào để đưa máu sang động mạch chủ

- Huyết áp tâm trương (diastolic), là chỉ số đứng sau, chỉ

áp suất khi tim thư giãn giữa hai nhịp đập và máu từ động mạch chủ chạy vào các mao quản đi nuôi cơ thể Lấy ví dụ, khi kết quả đo huyết áp là 120/80, điều đó cho biết huyết áp tâm thu là 120 và huyết áp tâm trương là 80 Đơn vị đo áp suất ở đây là milimét thủy ngân (mmHg), và kết quả trên được ghi đầy đủ là: 120/80 mmHg

Trung bình, người từ 18 tới 50 tuổi có huyết áp dưới 140/90 Buổi sáng khi mới ngủ dậy, huyết áp thường thấp; huyết áp cao hơn từ sáng tới chiều Huyết áp cũng tạm thời nhích lên khi ta có cảm xúc mạnh hoặc vận động nhiều

Tự đo huyết áp định kỳ là việc đáng khuyến khích để ghi nhận sự thay đổi áp suất trong ngày, giúp thầy thuốc dễ điều chỉnh thuốc men Có thể đo hai lần một ngày trong hai tuần, rồi mỗi ngày một lần trước khi uống thuốc Khi huyết áp đã tương đối bình thường thì chỉ cần đo vài lần trong tuần Khi

đo huyết áp cần phải thư giãn, thoải mái thì kết quả mới chính xác

Trang 30

Về máy đo thì có hai loại: Loại máy bơm bằng tay, có kim đồng hồ chỉ số huyết áp trong khi ta nghe nhịp tim bằng ống nghe và loại máy digital với số huyết áp hiện trên màn ảnh nhỏ.

Loại thứ nhất dễ mang theo khi di chuyển, có giá tiền vừa phải, nhưng có vài nhược điểm là dễ hỏng, kém chính xác, không thuận tiện cho người nặng tai vì phải nghe nhịp tim bằng ống nghe

Máy digital hiện nay phổ thông hơn, dễ đọc kết quả vì con

số hiện trên màn ảnh, đôi khi có thể in kết quả ra giấy Máy

dễ sử dụng, tiện lợi cho người bị kém thính giác vì không phải nghe nhịp tim Tuy vậy, máy loại này đắt tiền hơn nhiều và độ chính xác cũng thay đổi khi cơ thể cử động hay khi nhịp tim không đều Máy vận hành bằng pin điện

Trong cơ thể, huyết áp được giữ ở mức trung bình nhờ có hệ thần kinh giao cảm và thận

Khi huyết áp xuống thấp, hệ thần kinh giao cảm tiết ra chất norepinephrine làm mạch máu co căng, tăng lực cản và nâng huyết áp cao

Thận tiết ra chất renin để điều hòa thăng bằng khối lượng dung dịch chất lỏng ở ngoài tế bào

Thế nào là huyết áp cao?

Thật ra, không thể có một chỉ số tuyệt đối cố định để xác định tình trạng gọi là huyết áp cao, bởi vì có rất nhiều yếu

tố phức tạp làm cho huyết áp của mọi người không hoàn toàn giống nhau Cùng một số đo có thể xem là bình thường

Trang 31

người này nhưng lại là đáng lo ngại ở một người khác Điều

đó tùy thuộc vào độ tuổi, cân nặng, chiều cao, thời điểm đo Tuy vậy, cách đây nhiều năm, y học vẫn cố gắng đưa ra một tiêu chí chung mang tính thực dụng để xác định tình trạng

huyết áp cao, đó là giới hạn chỉ số đo bình thường không quá 140/90mmHg ở người trưởng thành Nếu vượt quá giới hạn này là xem như bị huyết áp cao, và cần thiết phải được điều trị

Hiện nay, tiêu chí như trên được cho là không đủ chính xác,

và tình trạng huyết áp cao được xác định theo một tiêu chí mới chặt chẽ hơn Để xác định bệnh huyết áp cao, số đo huyết

áp phải là cao hơn 150/95mmHg, và kết quả này phải được ghi nhận 3 lần liên tiếp trong 3 ngày, vào 3 thời điểm khác nhau trong ngày

Theo tiêu chí mới này thì có một số người trước đây bị xem

huyết áp cao nay bỗng nhiên được “khỏi bệnh”! Và điều này là cực kỳ nguy hiểm Để giải quyết thỏa đáng sự bất hợp

lý này, mới đây các nhà chuyên môn đã đề nghị một tiêu chí để xác định tình trạng gọi là tiền tăng huyết áp Đó là khi huyết

áp tâm thu từ 120-139mmHg và huyết áp tâm trương từ 90mmHg Gọi là tiền tăng huyết áp, vì những người có huyết

80-áp như thế này tuy chưa xếp vào loại huyết áp cao nhưng có nhiều nguy cơ sẽ bị huyết áp cao trong tương lai gần, nếu không biết giữ gìn, đề phòng

Nguyên nhân và điều trị

Huyết áp cao là rủi ro lớn đưa tới tai biến động mạch não, đồng thời cũng là yếu tố quan trọng gây ra cơn suy timbại thận

Trang 32

Chỉ có khoảng 5% trường hợp huyết áp cao là do sự suy yếu, hư hỏng của một cơ quan như thận, còn 95% các trường hợp khác đều không rõ nguyên nhân, nhưng một số yếu tố được xem như có nguy cơ gây bệnh đã được xác định Đó là:

1 Di truyền: Huyết áp cao thường xảy ra cho những người trong cùng một gia đình

2 Chủng tộc: Theo thống kê, người châu Phi, châu Á và châu Mỹ La Tinh thường bị huyết áp cao hơn các sắc dân khác

3 Tuổi tác và giới tính: Nói chung, tuổi càng cao thì nguy

cơ tăng huyết áp cũng tăng theo Nhưng đàn ông thường

bị huyết áp cao sớm, còn phụ nữ thì phải qua độ tuổi

45-50 mới có nguy cơ tương đương như nam giới

4 Béo phì: Người béo phì dễ bị huyết áp cao và mắc các bệnh động mạch vành hơn so với người bình thường

5 Muối ăn: Muối ăn làm tăng huyết áp ở một số người mẫn cảm với việc tiêu thụ nhiều muối

Ngoài ra, còn có một số nguy cơ khác cũng có thể gây huyết

áp cao, nhưng chưa được chứng minh cụ thể Đó là uống nhiều rượu bia, hút thuốc lá, tình trạng căng thẳng tâm lý, cam thảo (licorice) Các chất này nên được sử dụng một cách vừa phải hoặc hạn chế để tránh rủi ro

Huyết áp cao cao là bệnh kéo dài suốt đời nên cần dùng thuốc liên tục để duy trì huyết áp ở mức bình thường Bệnh huyết áp cao chỉ có thể chữa dứt ở một số trường hợp có nguyên nhân gây bệnh rõ ràng và có thể khắc phục được Chẳng hạn

Trang 33

như huyết áp cao vì co hẹp mạch máu ở thận hoặc do u bướu nang thượng thận.

Dinh dưỡng với bệnh huyết áp cao

Căn cứ vào những nguy cơ gây bệnh vừa liệt kê trên đây,

có thể thấy là bệnh huyết áp cao có quan hệ với chế độ dinh dưỡng, đặc biệt là sự tiêu thụ muối ăn và bệnh béo phì Đây

là hai yếu tố có thể thay đổi được theo hướng tích cực hơn cho người bệnh

1 Muối ăn

Cách đây vài thập niên, khi chưa có các loại thuốc hiệu quả

để kiểm sốt huyết áp cao thì hạn chế ăn muối là biện pháp chính Trong một thời gian dài, thầy thuốc chỉ biết khuyên bệnh nhân hạn chế muối (ăn cơm lạt) và vận động cơ thể để đối phó với bệnh huyết áp cao, vì không biết làm gì khác hơn Ngày nay, tuy việc giảm muối không còn là biện pháp chính, nhưng vẫn có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và điều trị huyết áp cao ở một số người

Đã có nhiều ý kiến khác nhau về việc giới hạn lượng muối

ăn mỗi ngày

Một số nhà nghiên cứu cho là muối không gây ảnh hưởng

gì đối với người có huyết áp bình thường Với người tăng huyết

áp thì giới hạn muối chỉ hạ thấp một tỷ lệ rất nhỏ Do đó các nhà nghiên cứu của nhóm này không tin tưởng nhiều vào công hiệu của việc giảm muối trong điều trị huyết áp cao

Trang 34

Trong khi đó, một số các nhà nghiên cứu khác quả quyết là

có một sự liên hệ giữa huyết áp cao và dùng nhiều muối, đặc biệt là ở người trung niên và cao tuổi Theo họ, giới hạn tiêu thụ muối là điều cần để chữa và phòng ngừa huyết áp cao.Nhiều người rất nhạy cảm với một lượng muối lớn, khiến cơ thể giữ nhiều nước để cân bằng dung môi chất lỏng Khi nước được giữ lại nhiều hơn thì dung lượng của dòng máu cũng tăng theo, mạch máu căng ra làm huyết áp tăng lên Trái tim

và thận cũng phải làm việc nặng nhọc hơn để lưu hành máu phụ trội Với những người này thì giới hạn muối là điều nên làm trước khi huyết áp lên cao

Đồng ý là nhiều muối chỉ nâng huyết áp cao ở một số người (10-20%), nhưng đây cũng là con số đáng kể Hơn nữa, quá nửa quý vị lão niên đều mắc bệnh huyết áp cao mà không biết Có thể là do dùng nhiều muối trong lúc thiếu thời đã làm suy yếu sự bảo vệ của gen di truyền với bệnh này

Nhận xét về cách ăn uống của một số sắc dân trên thế giới cho thấy rằng, nhóm dân nào dùng nhiều muối thì tỷ lệ huyết

áp cao gia tăng và ngược lại, những nơi tiêu thụ ít muối thì ít

tỷ lệ bệnh này giảm xuống

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, ta chỉ nên dùng dưới 2g muối mỗi ngày, tương đương với một thìa nhỏ Chú ý rằng đó

là bao gồm tổng lượng muối có trong thức ăn, thức uống trong ngày Bởi vì muối cũng sẵn có trong nhiều loại thức ăn, thức uống chứ không phải chỉ do chúng ta thêm vào khi nấu nướng

Trang 35

Đa số thực phẩm làm sẵn như đồ hộp, thực phẩm đông lạnh đều có nhiều muối Các nhà sản xuất đã cố gắng cắt giảm muối trong thực phẩm chế biến, nhưng vẫn còn khá cao Lý do

là khi thêm muối thì món ăn sẽ hấp dẫn hơn so với một món

ăn nhạt nhẽo Vì thế, các vị cao niên thường dùng nhiều muối gấp hai người trẻ tuổi, mà thực ra chỉ là để thỏa mãn khẩu vị chứ không cần thiết cho cơ thể

Để giảm muối cũng không khó khăn lắm, chỉ cần có sự quyết tâm

Khi nấu, nên cho muối hơi nhạt, rồi thêm vào đôi chút khi

ăn nếu cảm thấy cần; xả bớt muối trong rau đóng hộp; lưu ý số lượng muối trong nước uống, vì nhiều nơi có lượng rất cao; đọc

kỹ nhãn hiệu trên thực phẩm để biết rõ số lượng muối trong món ăn (được ghi là natri hoặc natri)

2 Chất béo

Chất béo trong máu nhiều quá sẽ làm cho các thành phần khác của máu kết dính với nhau, tim phải tăng sức co bóp để đẩy số máu dính cục này vào động mạch và do đó áp suất động mạch tăng lên

Một số nghiên cứu cho thấy khi giảm chất béo thì huyết

áp cũng giảm theo Có ý kiến cho rằng giảm chất béo làm hạ huyết áp tốt hơn là giảm muối Một vài loại cá chứa nhiều chất béo omega-3 lại có tác dụng làm hạ huyết áp

3 Béo phì

Rất nhiều kết quả nghiên cứu đã chứng minh sự liên hệ nhân quả giữa béo phì và huyết áp cao Người mập có nguy

Trang 36

cơ bị huyết áp cao hơn người bình thường gấp hai tới sáu lần Theo một vài thống kê thì khoảng 60% người huyết áp cao đều mập.

Lý do là với người mập thì trái tim phải làm việc nhiều hơn

để cung cấp đủ máu cho khối lượng tế bào lớn hơn của cơ thể Một lý do nữa là người mập dễ bị bệnh tiểu đường loại II,

mà tiểu đường là một trong nhiều nguy cơ đưa tới huyết áp cao Do đó, giảm cân thường là bước đầu trong việc điều trị huyết áp cao ở người mập

Giảm tổng số năng lượng tiêu thụ, giảm muối, tăng vận động cơ thể là những phương thức hữu hiệu để giảm cân Giảm cân cũng làm giảm cholesterol, giảm tiểu đường và cuối cùng là giảm các nguy cơ bệnh tim mạch

5 Một số muối khoáng

Một số các loại muối khoáng như kali (K), magnesium,

calci cũng có vai trò tuy khiêm nhường nhưng tích cực đối với huyết áp

Trang 37

Theo một số nghiên cứu, kali giúp giảm huyết áp bằng cách làm thư giãn mạch máu, lòng mạch máu rộng hơn, giảm sức cản thành mạch; làm tăng sự bài tiết nước và muối natri

ra khỏi cơ thể; làm giảm renin tiết ra từ thận Kali có nhiều trong trái bơ, chuối, cam, khoai tây, hạt đậu

Magnesium làm hạ huyết áp bằng cách làm giãn nở mạch máu, giảm lực cản thành mạch Magnesium có nhiều trong các loại rau có lá màu xanh, các loại hạt, thịt, cá, trứng

Calci làm giảm huyết áp cao gây ra do ăn nhiều muối natri

Calci có nhiều trong rau lá xanh, sữa, phomát, sữa chua, cá hộp sardin, salmon

6 Rau, trái cây

Thực phẩm thực vật cũng giúp làm giảm huyết áp cao, đó

là nhờ có nhiều chất xơ (fiber) và các chất chống oxy hóa như

vitamin C Các nhà dinh dưỡng đã đề nghị nên dùng nhiều loại rau, trái cây, các loại hạt khác nhau Tỏi, rau cần tây, mướp đắng, đã được dân gian dùng để chữa huyết áp cao vì tính cách lợi tiểu của chúng

Ngoài ra, để kiểm sốt huyết áp, người bệnh cũng cần có một chương trình vận động cơ thể đều đặn, vừa sức mình Người ít vận động dễ bị huyết áp cao hơn người vận động nhiều tới 30% Sự vận động cơ thể đều đặn có thể làm hạ cả huyết áp tâm trươngtâm thu từ 6-7mmHg

Trang 38

Chế độ dinh dưỡng cho người bệnh huyết áp cao do Ủy ban Đặc nhiệm Chống huyết áp cao của Hoa Kỳ đưa ra vào tháng

4 năm 2004 là một chế độ ăn đặt trọng tâm vào rau, trái cây; các loại sữa và pho mát đã bỏ bớt chất béo; thực phẩm ít chất béo bão hòa và cholesterol; nhiều chất xơ, khoáng kali,

magnesium; và chất đạm vừa phải

Kết luận

Nhiều thầy thuốc, nhiều nhà nghiên cứu y học đã coi bệnh

huyết áp cao như những “tên sát nhân thầm lặng” Vì nhiều

người mắc bệnh cả vài năm mà không biết cho tới một lúc nào

đó tình cờ phát hiện khi đi khám bệnh

Mắc bệnh huyết áp cao mà không điều trị thì tuổi thọ chỉ còn khoảng vài chục năm kể từ khi triệu chứng xuất hiện Khi đã có biến chứng mà không can thiệp bằng thuốc men thì sống được tối đa không quá năm, bảy năm Còn nếu điều trị nghiêm túc thì tuổi thọ sẽ kéo dài hơn

Vì thế, sự lựa chọn là ở trong tầm tay của mọi người Và những hiểu biết về dinh dưỡng góp phần đáng kể trong việc giảm nhẹ nguy cơ mắc bệnh cũng như làm chậm quá trình tiến triển khi đã mắc bệnh

Trang 39

DINH DƯỠNG VỚI BỆNH ALZHEIMER

Bệnh Alzheimer là tình trạng rối loạn não bộ gây

ra sự sa sút dần dần và không thể hồi phục cho trí nhớ và khả năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng nhận thức

về không gian, thời gian, và cuối cùng dẫn đến tình trạng mất khả năng tự chăm sóc trong các nhu cầu hằng ngày

Năm 1906, bác sĩ người Đức Alois Alzheimer lần đầu tiên xác định và mô tả căn bệnh này Ngày nay, bệnh Alzheimer được thừa nhận là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra sự sa sút năng lực tinh thần và trí tuệ ở những người từ 65 tuổi trở lên Bệnh hiếm khi xuất hiện ở độ tuổi từ 30 - 60 Tại Hoa

Kỳ, số bệnh nhân trong độ tuổi này chỉ chiếm không đến 10% trong tổng số 4 triệu người mắc bệnh Alzheimer

Nói một cách dễ hiểu, bệnh Alzheimer làm cho bệnh nhân dần dần trở nên lú lẫn, nhưng nghiêm trọng hơn nhiều so với trạng thái lú lẫn thông thường do kém minh mẫn ở tuổi già là trạng thái suy kém, hầu như không còn trí nhớ, trí khôn, còn lẫn là không phân biệt được sự việc, nhận lầm

sự việc này ra sự việc khác Lú lẫn là nói chung tình trạng suy kém trí nhớ, hay lẫn, hay quên Nhưng lú lẫn trong bệnh

Alzheimer là một sự suy kém nghiêm trọng đến mức làm cho người bệnh ngoài các rối loạn về nhận thức và suy xét còn có

sự thay đổi về hành vi, nhân cách và nhất là không còn khả năng tự chăm sóc trong các nhu cầu hằng ngày

Trang 40

Bệnh có thể xảy ra ở tuổi trung niên, nhưng nhiều hơn

từ 60 tuổi trở lên, và tỷ lệ mắc bệnh đặc biệt tăng cao theo tuổi tác Tại Hoa Kỳ, thống kê cho biết có khoảng 10% số người trên 65 tuổi mắc bệnh này, và nếu tính trong số những người trên 85 tuổi thì tỷ lệ mắc bệnh này lên đến 50% Bệnh

Alzheimer là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư ở người già

Kết quả giải phẩu não người bệnh Alzheimer cho thấy có nhiều thay đổi như sự thoái hóa và xoắn lộn tế bào thần kinh nối kết Các thay đổi được tìm thấy nhiều nhất ở phần võ não

và thùy não là nơi kiểm sốt trí nhớ và sự nhận thức

Cho tới nay, đã có nhiều thuyết cố gắng giải thích nguyên nhân gây ra bệnh, nhưng chưa có thuyết nào được mọi người công nhận

Một số nhà nghiên cứu cho rằng nhôm có một vai trò nào

đó, vì trong tế bào não một số bệnh nhân có lượng nhôm cao gấp 30 lần so với người bình thường

Nghiên cứu khác cho là thay đổi chuyển hóa kẽm trong cơ thể cũng là một nguyên nhân Kẽm rất cần cho các chức năng của não

Nghiên cứu ở loài vật cho thấy thực phẩm thiếu các vitamin

B6 (pyridoxine), folacin, magnesium làm thay đổi cấu trúc của não Lại có những nghiên cứu khác cho rằng một số virus

có thể là nguyên nhân gây bệnh này

Để đi đến kết luận chính xác về nguyên nhân gây bệnh

Alzheimer, khoa học còn cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa

Và cho tới nay, việc xác định bệnh thường chỉ được thực hiện sau khi khám nghiệm não bộ tử thi người bệnh

Ngày đăng: 17/12/2013, 12:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN