1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tịnh Độ Thực Hành Vấn Đáp

166 463 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tịnh Độ Thực Hành Vấn Đáp
Tác giả Thích Minh Tuệ
Người hướng dẫn Đại Đức Thích Tịnh Trí, Đại Đức Thích Pháp Quang, Đại Đức Thích Thiện Niệm, Đại Đức Thích Phước Tánh, Sư Cô Thích Nữ Đồng Từ, Sư Cô Thích Nữ Thanh Phi
Trường học Chùa Tịnh Luật
Chuyên ngành Tịnh Độ
Thể loại Sách
Năm xuất bản 2011
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng về tịnh độ của thầy Thích Minh Tuệ

Trang 1

Thích Minh Tuệ

TỊNH ĐỘ THỰC HÀNH

VẤN ĐÁP

CHÙA TỊNH LUẬT ẤN TỐNG

FREE DISTRIBUTION, NOT FOR SALE

2011

Trang 2

Tịnh Luật Tùng Thư 1- Kinh A-di-đà - Thích Tịnh Trí dịch

2- Kinh Duợc-Sư - Thích Tịnh Trí dịch

3- Đại-Thừa Vô-lượng-thọ Kinh

Pháp sư Tịnh Không biên soạn, Nguyên Trừng dịch

4- Kệ niệm Phật - Hòa thượng Thích Trí Tịnh biên soạn

5- Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh

Thích Minh Tuệ biên soạn (2010)

6- Tuyết Hư Lão Nhân Tịnh Độ Tuyển Tập

Cư sĩ Lý Bỉnh Nam biên soạn

7- Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập

Pháp Nhiên Thượng Nhân biên soạn, Thích Tịnh Nghiêm dịch - 2006

Niệm Phật Tông Yếu

Pháp Nhiên Thượng Nhân biên soạn, Nguyễn Văn Nhàn dịch – 1997

8-Vạn Đức Pháp Ngữ -Hòa Thượng Thích Trí Tịnh biên soạn

9-Tịnh Độ Thực Hành Vấn Đáp - Thích Minh Tuệ biên soạn (2011)

LỜI NHẮN NHỦ CỦA LÃO HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG

Khi tai kiếp đến người đáng ở sẽ được ở, người đáng đi thì phải đi Sống chết đều có số, phú quý mạng đã định, tránh không được, thoát không khỏi Người số không bị nạn, dù đại tai kiếp đến vẫn được sống sót bình an Điều duy nhất ở hiện tại có thể tự cứu và độ tha chính là nghe đại Kinh giải, y giáo

phụng hành, lão thật niệm Phật, buông xả vạn duyên, cầu sanh Tịnh-độ Công

đức niệm Phật bất khả tư nghì Chỉ có niệm Phật, sửa lỗi mới giảm bớt tai nạn Những phương pháp khác không còn kịp nữa! Diệt trừ vọng niệm Tất cả đều tùy duyên là tốt

Ngày 12 tháng 04 năm 2011

Trang 3

LỜI NGỎ

Nam-Mô A-Di-Đà Phật

Vâng lệnh thầy Trụ trì và thầy Giáo thọ, Minh Tuệ tôi ra thất chia sẻ kinh nghiệm niệm Phật cho Phật tử chùa Tịnh Luật từ năm 2009 Sau hai năm làm Phật sự, tôi nhận thấy Phật tử nắm vững phương pháp hành trì, riêng bản thân tôi bị khựng lại Do đó tôi ngỏ ý với Phật tử, sẽ vô thất trở lại Phật tử nói:

“Thầy vô thất, chúng con có khó khăn trở ngại đường tu, chúng con biết hỏi ai?” Tôi trả lời không được Dù rằng chùa Tịnh Luật còn lắm thầy giỏi hơn tôi nhiều, nhưng mỗi thầy có pháp tu riêng, không ai giống ai, nên có thể giải đáp không thỏa đáng chăng? Phật tử nói tiếp: “Vậy thầy giải đáp sẵn những khó khăn trở ngại, chướng nạn mà chúng con có thể gặp, để chúng con nương theo

đó mà hành trì” Đề nghị này rất có lý, mặc dù đối với khả năng hạn hẹp của tôi, thì đây không phải việc dễ làm Trước tình thế không thể từ chối, tôi nói:

“Vậy thì quý vị đặt những câu hỏi, tập trung lại đưa tôi trả lời” Đây là lý do

quyển “Tịnh Độ Thực Hành Vấn Đáp” ra đời

Một lần nữa, hằng ngày tôi khấn cầu đức Từ phụ A-di-đà và chư Phật

mười phương gia bị cho tôi giải đáp đúng như pháp Được sự nhiệt thành

cộng tác đắc lực của chư liên hữu đã nhập tâm, đạt Bất niệm tự niệm, cộng thêm sự khích lệ và giúp đỡ quý báu của quý Thầy, Sư cô, quý liên hữu gần xa, tôi hoàn thành được quyển sách nhỏ bé này

Nhân đây, chúng tôi thành kính tri ân: Hòa thượng thượng Trí hạ Tịnh, (viện chủ chùa Vạn Đức), Đại đức Thích Tịnh Trí (Trụ trì chùa Tịnh Luật), Đại đức Thích Pháp Quang (Giáo thọ chùa Tịnh Luật), Đại đức Thích Thiện Niệm (Chùa Khuông Việt, Pháp), Đại đức Thích Phước Tánh (C0), Sư cô Thích nữ Đồng Từ (chùa Tịnh Luật), Sư cô Thích nữ Thanh Phi (PA) cùng chư liên hữu: Phạm Khanh (KT Printing), Hoằng Minh, Hoằng Huệ, Tịnh Ngọc (Houston), Diệu Tiên, Diệu Hải, Minh An, Chúc Lượng, Minh Phúc, Diệu Thanh (CA), Quảng Âm (CA), Minh Trung (CA), Bạch Liên (KS), Phương Đoan (VA), Diệu Chánh (VA), Huệ Tâm (CA), Quảng Sa (Úc), Quảng Diên, Diệu Hiển (Canada), Thiện Tường (Canada), Minh Giác (Canada), Huệ Đức (VN), Huệ Tài (VN), Huệ Ngọc (Pháp), Huệ Tâm (Pearland), Hoàng Thái, Huệ Quang (VN), Ngọc Minh (CA), Diệu Tịnh (CO), Huệ Hạnh (C0), Diệu Hạnh (CT), Tịnh Lạc (PA), Chân Lạc (PA),Thiện Châu (MD), Thiện Duyên (MD), Đồng Huệ (FL), Diệu Thuận (IA), Nguyên Hương (GA), Diệu Huyền (MD), Diệu Phước (VA), Thanh Nhan (MD), Nguyên Châu (MA), Minh Huệ (VN), cô Ngọc Tâm (VN), cô Tú Trinh, ông Hùng Thanh, ông Nam Dương, cô Uyên Đinh, cô Tâm Lý, cô Tuyết Mai (Pháp), cô Quảng Thái (Pháp), cô Kim Nga

Trang 4

(Canada) và nhiều liên hữu khác đã khuyến khích, tận tâm giúp đỡ tôi hoàn thành quyển sách này

Chúng tôi ước mong quyển sách này được phổ biến rộng rãi, hy vọng những ai có duyên được đọc, áp dụng đúng lời giải đáp, chắc chắn sẽ thỏa chí nguyện là đạt Bất niệm tự niệm bảo đảm vãng sanh Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh

Tôi vẫn biết: “Trực ngôn nghịch nhĩ”, “lời thật mích lòng”, nhưng với bổn phận, trách nhiệm, tư cách người hướng dẫn chuyên tu Tịnh nghiệp, bằng Bồ-đề tâm, vì đạo pháp, vì lợi ích chúng sanh, bắt buộc tôi phải nói thẳng, nói thật theo thiển ý của tôi Vì bất đồng pháp tu, nên quyển sách này có thể có những điều không đúng ý của một số ít quí vị, tôi thành khẩn đê đầu chịu lỗi, ngưỡng mong chư liệt vị từ bi rộng lượng tha thứ Thành kính tri ân chư liệt vị

Tự thiết nghĩ đức trí hạ liệt, với kinh nghiệm nhỏ nhoi hạn hẹp, không sao tránh khỏi những lỗi lầm sai sót Chúng con thành tâm kính đê đầu đảnh lễ, ngưỡng mong các bậc Tôn túc từ bi hoan hỉ chỉ dạy cho

Chúng tôi cũng hết lòng cầu mong các liên hữu gần xa tự nguyện hoan hỉ góp ý xây dựng để tài liệu này ngày càng phong phú hơn, hầu thật sự đem lại nhiều lợi ích cho hành giả

Việc làm này nếu có chút ít công đức, con nguyện hồi hướng cho tất cả chúng sanh trong mười phương pháp giới đồng phát khởi, trưởng dưỡng, thành

tựu Tín, Nguyện, Trì danh để cùng con đồng vãng sanh Cực Lạc, thành Phật

độ chúng sanh

Nam-mô A-di-đà Phật Mùa an cư năm 2011

Tu viện Tịnh Luật Thích Minh Tuệ kính ghi

Niệm Phật không khó Khó ở bền lâu Bền lâu không khó Khó ở Nhứt tâm Nhứt tâm không khó Khó ở QUYẾT TÂM

Trang 5

MỤC LỤC PHẦN I – VẤN ĐÁP

A-THỰC HÀNH 1

1- Tín sâu là sao? 1

2- Làm sao để nguyện thiết? 1

3- Hạnh là sao? 3

4- Trong ba tư lương Tín, Nguyện, Hạnh, điều nào quan trọng nhất? 3

5- Bí quyết của niệm Phật là gì? 4

6- Niệm Phật lai rai sao được nhập tâm? 4

7- Niệm A-di-đà và A-mi-đà cách nào đúng? 6

8- Niệm bốn chữ và sáu chữ cách nào tốt hơn? 7

9- Niệm Phật có được vãng sanh không? 7

10- Niệm Phật và tu các công hạnh khác có cần hồi hướng không? 8

11- Hành giả Tịnh nghiệp có bắt buộc phải lần chuỗi để niệm Phật không? 8

12- Bận rộn quá làm sao để niệm Phật? 9

13- Không nhớ để niệm Phật, phải làm sao? 9

14- Niệm Phật sao cho mau tiến bộ? 10

15- Tịnh tọa niệm Phật như thế nào? 10

16- Kinh hành niệm Phật như thế nào? 11

17- Lễ bái trì danh như thế nào? 11

18- Không có thì giờ để niệm Phật theo định khóa, phải làm sao để được nhập tâm? 11

19- Chưa nhập tâm, niệm Phật với nhiều âm điệu khác nhau có gì trở ngại không? 12

20- Để máy niệm Phật suốt đêm ở trong phòng, có tội không? 12

21- Thường ngày vào định khóa niệm Phật rất hứng thú, nhưng thỉnh thoảng lại cảm thấy niệm Phật một cách lạt lẽo không vô, vậy là sao? 12

22- Vừa giải phẫu, quì đứng không được, vậy ngồi lễ Phật được không? 13

23- Nằm lễ Phật được không? 13

24- Hôn trầm là gì, phải đối trị cách nào? 13

25- Con vọng niệm quá nhiều làm sao diệt trừ? 14

26- Tại sao ngay lúc miệng con đang niệm Phật, vọng niệm vẫn khởi dậy? 14

27- Trấn áp vọng niệm không được, phải làm sao? 15

28- Tại sao đang lần chuỗi niệm Phật mà vọng niệm vẫn tuôn trào? 15

29- Hành pháp niệm Phật ký số, sao vọng niệm vẫn dậy khởi? 15

30-Hành pháp niệm Phật ký số đếm ngược, vẫn còn vọng niệm, phải làm sao? 16

31- Niệm Phật theo tiếng máy hát? 16

32- Ý tưởng vọng động song hành với Phật hiệu, phải làm sao? 18

33- Phan duyên là gì, đối trị cách nào? 18

Trang 6

34- Vô ký là gì, đối trị cách nào? 19

35- Kim cang trì và mặc trì là sao? 19

36- Tại sao ý trì hiệu quả cao? 19

37- Cách tập ý trì như thế nào? 20

38- Sao ý trì mà bị nhức đầu? 22

39- Ý trì có thể nhịp ngón tay không? 22

40- Phân biệt rõ: kim cang trì, mặc trì và ý trì 23

41- Ý trì trụ tâm ở đâu? 23

42- Ý trì không nổi, phải làm sao? 24

43- Niệm Phật trụ ở tim sau sẽ bị đau tim Vì sao? 25

44- Cách chữa trị khi bị đau tim 26

45- Nhập tâm lộn lạo Đà Phật A Di là sao? 26

46- Thế nào là “Lão Thật niệm Phật”? 27

47- Khi ngồi tịnh tọa niệm Phật, nhắm mắt để nhiếp nhãn căn, tình trạng này tốt hay xấu? 28

48- Nên nhiếp nhãn căn bằng cách nào? 29

49- Nhiếp sáu căn là sao? 30

50-Tiêu chuẩn vãng sanh? 31

51- Niệm Phật thế nào để được bảo đảm vãng sanh? 33

52- Chuyên tu chánh hạnh là sao? 33

53- Triệu chứng trước khi nhập tâm? 34

54- Làm sao biết được mình đã nhập tâm? 35

55- Tại sao nhập tâm, nghe tiếng khi lớn khi nhỏ? 35

56- Trạng thái nhập tâm và Bất niệm tự niệm khác nhau chỗ nào? 36

57- Người mới nhập tâm, tại sao không nghe tiếng của mình? 37

58- Cách nuôi lớn mức nhập tâm? 37

59- Mới nhập tâm, nói ra có bị mất không? 38

60- Niệm A-di-đà Phật, mà thấy Quán-thế-âm Bồ-tát là sao, thưa Thầy? 38

61- Mới nhập tâm bị mất, phải làm sao? 39

62- Phải nuôi lớn mức nhập tâm bao lâu? 39

63- Tu đến trình độ nào mới chắc chắn vãng sanh? 41

64- Cách huân trưởng Bất niệm tự niệm? 41

65 Bất niệm tự niệm và Thành một khối khác nhau chỗ nào? 43

66- Còn “nhập tâm” thì sao? 44

67- Người đạt Bất niệm tự niệm sâu, có còn vọng niệm không? 44

68- Người tu Tịnh nghiệp phải đến trình độ nào mới được vãng sanh theo ý muốn? 45

69- Niệm Phật chưa đạt Bất niệm tự niệm, có được vãng sanh không? 45

70- Niệm Phật mà nguyện dồn nghiệp là sao? 46

71- Tu Tịnh nghiệp có cần diệt tham, sân, si không? 48

Trang 7

72- Tu Tịnh nghiệp có cần tụng Kinh sám hối không? 48

73- Tu Tịnh nghiệp có cần tụng Kinh A-di-đà và các Kinh Đại Thừa khác không? 49

74-Tu Tịnh nghiệp có bắt buộc thọ Tam qui không? 50

75- Tu Tịnh nghiệp có bắt buộc phải ăn chay trường không? 50

76- Chúng sanh có thể niệm danh hiệu của các đức Phật khác không? 51

77- Làm sao Phát bồ-đề tâm? 52

78- Bồ-đề tâm hạnh là gì? 52

79- Hành giả tu Tịnh độ lâm bệnh, có cần tụng Kinh Dược Sư để trị bệnh không? 52

80- Hành giả tu Tịnh độ có cần Niệm Quán Thế Âm Bồ-tát để được cứu khổ cứu nạn không? 53

81- Niệm Phật đắc lực sao vẫn còn bị bệnh tật? 53

82- Đang tịnh tọa niệm Phật, bỗng nghe tiếng động ở trong nhà và ngoài cửa sổ, tại sao? 54

83- Đang tịnh tọa niệm Phật, bỗng bị như có rận rệp bò ở ngực là sao? 55

84- Xin nói rõ sáu loại khảo? 55

85- Tự tổ chức Phật thất ở tại nhà 57

86- Thường ngày cứ lo việc khác, chờ lúc lâm chung niệm Phật mười niệm Ðiều đó thế nào? 58

87- Hạnh khởi giải tuyệt là thế nào? 58

88- Bị bạn đời ngăn trở tinh tấn niệm Phật, vậy phải làm sao đây? 59

89- Muốn xuất gia để Tịnh tu, nhưng vợ không đồng ý, vậy phải làm sao? 60

90- Khuyên ba mẹ niệm Phật không được, vậy phải làm sao? 62

91- Khuyên con niệm Phật không được, phải làm sao? 63

92- Đối với thảm trạng bão mặt trời, chúng con phải làm gì? 64

93- Nếu đại nạn bão mặt trời xảy ra, người niệm Phật đạt Bất niệm tự niệm có chắc chắn được vãng sanh không? 66

94- Vậy con muốn vãng sanh trước khi đại nạn xảy ra được không? 66

95- Đi làm phải động não nhưng có tiền cúng dường, ở nhà rảnh rang thanh tịnh nhưng sẽ không có tiền để làm việc từ thiện Nên chọn cách nào? 66

96- Tu Tịnh nghiệp có cần phá ngã chấp không, nếu cần thì phá bằng cách nào? 68

97- Chân tướng người niệm Phật không được vãng sanh là sao? 68

B- KIẾN GIẢI 71

1- Niệm Phật Vô tướng là sao? 71

2- Quán tưởng niệm Phật là sao? 71

3- Trì danh niệm Phật là sao? 71

4- Tại sao người niệm Phật cầu vãng sanh mà không được vãng sanh? 72

5- Biên địa là gì? Vì sao sanh Biên địa? 73

6- Đức Phật tiếp dẫn vãng sanh bằng cách nào? 73

Trang 8

7- Người chết thiêu có xá-lợi, nói chắc là người ấy đã được vãng sanh, có đúng

không? 74

8- Hành giả đạt Bất niệm tự niệm, trước giờ lâm chung bị quấy phá, như vậy có được vãng sanh không? 74

9- Phản văn, văn tự tánh là sao? 75

10- Người tu Tịnh Độ trước khi chết có những điềm lành gì không? 75

11- Trung ấm thân là gì? 75

12- Người đệ tử có được vãng sanh theo Thầy? Hay có bị đọa theo Thầy hay không? 76

13- Tu Tịnh Độ thuộc Tiểu thừa hay Đại thừa? 76

14- Vậy sao Kinh nói ở cõi Cực Lạc có Thanh văn, Duyên giác nhiều vô số kể? 76

15- Tại sao Phật giáo có nhiều Tông phái vậy? 76

16- Vì sao Thầy tu Tịnh Độ? 76

17- Thế nào là cực trọng nghiệp và ảnh hưởng việc tái sanh ra sao? 78

18- Thế nào là tích lũy nghiệp, ảnh hưởng ra sao? 78

19- Cận tử nghiệp là gì? 78

20- Người tu hành có bị cận tử nghiệp chi phối không? 79

21- Người ăn thịt mà niệm Phật và người ăn chay mà không niệm Phật, ai hơn ai? 79

22- Công danh tột đỉnh Phú quý nhất đời Đài sen chín phẩm ở Cực Lạc Nên chọn cái nào? 80

23- Người chuyên tu có nên đọc thêm Kinh sách hay nghe băng thuyết pháp để mở rộng thêm kiến thức không? 80

24- Một người suốt đời làm ác, lúc lâm chung niệm A-di-đà Phật, có được vãng sanh không? 81

25- Có Tín, có Nguyện mà không có Hạnh thì có được bảo đảm vãng sanh hay không? 82

26- Có Hạnh mà không có Tín, Nguyện có được bảo đảm vãng sanh hay không? 82

27- Niệm Phật hiện đời có lợi ích gì không? 83

28- Đóng cửa tránh mọi duyên, mọi sự để nuôi lớn mức nhập tâm, như vậy có lỗi là chấp pháp không? 83

29- Nói là pháp môn cực viên đốn, thù thắng, vi diệu vô thượng, là thế nào? 84

30- Ý trì và tâm niệm giống nhau hay khác nhau? 85

31- Nhất tâm, Nhất niệm, Thành Khối giống hay khác nhau? 86

32- Huân tập chủng tử vào tạng thức đến khi đầy sẽ tràn phải không? 86

33- Tu niệm Phật trên căn và trên linh hồn là thế nào? 87

34- Vậy, sự trì và lý trì là thế nào? 87

35- Nhất tâm bất loạn là thế nào? 88

36- Chuyển từ chỗ chín thành chỗ sống, chỗ sống thành chỗ chín là như thế nào? 89

37- Bất thoái chuyển là sao? 89

Trang 9

38- Vô sanh pháp nhẫn là gì? 90

39- Trụ trong Chánh định tụ là sao? 91

40- Vãng sanh hoàn toàn do Đức Phật quyết định phải không? 92

41- Phật tử có bị bắt buộc phải tham dự tất cả các buổi giảng pháp của pháp sư không? 92

42- Hạnh “Hằng thuận chúng sanh” là sao? 93

43- Người nữ, kẻ khuyết tật và hàng nhị thừa không được vãng sanh là sao? 93

44- Tội ngũ nghịch là gì, chịu hình phạt thế nào? 94

45- Người niệm Phật đạt Bất niệm tự niệm có được chứng đắc gì chưa? Lợi ích thế nào? 96

46- Bất niệm tự niệm và Vô niệm là một hay khác? Nếu khác thì khác chỗ nào? 96

47- Theo nguyện thứ 19 nói, thỉnh thoảng đến chùa làm công quả, tụng Kinh, bái sám, tu công đức đều được vãng sanh phải không? 97

48- Thường Tịch Quang Tịnh Độ là thế nào? 97

49- Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ là thế nào? 98

50- Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ là thế nào? 98

51- Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ là thế nào? 98

52- Sao không thấy hào quang của Phật? 98

53- Mười hai danh hiệu Quang minh của Phật 99

54- Pháp giới tạng thân A-di-đà Phật là sao? 101

55- “Mỗi tiếng niệm Phật của mình, tiếng nào mình cũng đã là Phật rồi” Câu này thật khó hiểu? 101

C- GIẢI NGHI 103

1- Tại sao lắm người không tin pháp Bất niệm tự niệm, thưa Thầy? 103

2- Kinh A-di-đà đã nói rõ: “Chẳng khá thế nào lấy chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh sang bên nước kia đâu!” Do đó, cư sĩ tại gia chúng con niệm Phật vài chục năm, có đủ thiện căn, phước đức, nhân duyên để vãng sanh, hay phải mấy chục năm khổ hạnh như quý Thầy mới có kỳ vọng? Kính xin Thầy giải thích 103

3- Pháp niệm Phật đạt Bất niệm tự niệm, có phải là ngoài pháp môn Tịnh-độ không, thưa Thầy? 105

4- Bất niệm tự niệm, nó niệm hoài, mình muốn ngưng, nó không ngưng Mình là chủ, điều khiển không được nó, nó là tớ mà tự tung tự tác như vậy, nó quậy mãi, sẽ làm hư mình, phải vậy không, thưa Thầy? 106

5- Niệm Phật phải niệm ra tiếng, niệm thầm là tà niệm, có phải vậy không, thưa Thầy? 107

6- Xe không người lái mà xe tự chạy là xe bất bình thường Người không niệm mà nó tự niệm là người điên, phải vậy không, thưa Thầy? 108

7- Những người đạt Bất niệm tự niệm, niệm đó là ma nhập, ma dựa, ma niệm chứ không phải mình niệm Điều này có phải không, thưa Thầy? 109

Trang 10

8- Mình không niệm mà nó niệm suốt ngày đêm, vậy là tẩu hỏa nhập ma rồi

Như vậy có đúng không? 109

9- Pháp Bất niệm tự niệm bảo đảm vãng sanh, ý trì là một pháp tu mới mẻ, do vài thầy mới đặt ra mấy năm nay thôi Có phải vậy không? 110

10- Kính bạch Thầy, con niệm Phật lâu rồi, sao vẫn chưa thấy Phật quang? 111

11- Sao không thấy Phật ấn chứng? 111

12- Không nhập định được, làm sao niệm Phật được nhất tâm? 112

13- Y cứ vào đâu mà Thầy nói người niệm Phật đạt Bất niệm tự niệm bảo đảm vãng sanh? 112

14- Kinh A-di-đà và Kinh khác nói, có trái ngược nhau về Bất thoái chuyển không? 114

15- Tu Tam phước có bảo đảm vãng sanh không? 114

16- Tam phước là nghiệp phụ, làm thế nào cho hoàn hảo hạnh hiếu? 115

17- “Tâm vốn lìa niệm, pháp vốn không sanh” Niệm Phật cầu vãng sanh, có trái lý này không? 119

18- Nguyện vãng sanh về Tịnh-độ, có phải chỉ vì lợi ích của riêng mình không? 119

19- Cư sĩ có được vãng sanh Thượng phẩm không? 120

20- Mong cầu được vãng sanh Thượng phẩm có bị quỉ, ma dựa không? 121

21- Nguyện cầu vãng sanh Thượng phẩm, nếu không đạt, có mang tội không? 121

22- Đới nghiệp vãng sanh, sau này có phải trả nghiệp không? 121

23- Người tỏ ngộ Tông môn, không trải qua thứ bậc, vượt lên địa vị Phật, cần gì nguyện sanh? 122

24- Bỏ uế lấy tịnh, đều thuộc vọng tưởng, đâu đáng gọi là chân tu? 122

25- Quán xét ngay nơi tâm mình là được, cần gì niệm Phật nào khác? 123

26- Tịnh Độ ở nơi tâm, cần gì cầu sanh Cực Lạc? 123

27- Ta chỉ tự thanh tịnh tâm mình thì tự nhiên vãng sanh, cần gì niệm Phật cầu vãng sanh? 124

28- Tâm chẳng thanh tịnh, thì làm sao vãng sanh? 124

29- Những người tạo năm tội nghịch, có được vãng sanh không? 124

30- Người phạm tội phỉ báng chánh pháp có được vãng sanh không? 125

31- Những người tạo mười nghiệp ác, chỉ niệm mười câu Phật hiệu được vãng sanh, điều này thật khó tin 125

32- “Kinh nói niệm một câu Phật hiệu trừ được tội nặng của sự sanh tử trong tám mươi ức kiếp” Điều này thật khó tin 125

33- Còn mang nghiệp được vãng sanh, điều đó tôi có thể tin, nhưng vì sao được không thoái chuyển? 126

34- Người đời đều nghi ngờ cõi Cực Lạc ở xa ngoài mười muôn ức cõi nước, lúc lâm chung chỉ trong khoảnh khắc e khó đến được Làm sao hiểu được điều này? 127

Trang 11

35- Kinh nói: “Người sanh về trời Đâu-suất, theo Bồ-tát Di Lặc sanh xuống ba hội, tự nhiên được đạo quả” Vậy cần gì phải bỏ Đâu-suất gần, mà cầu Cực Lạc

nơi xa xôi? 127

36- Ấn Quang đại sư dạy: “Nơi bất tịnh như nhà vệ sinh, nhà tắm, phải niệm thầm.” Ngài cũng dạy sản phụ phải niệm Phật lớn tiếng Hai lời dạy này có chống trái nhau không? 128

37- Niệm Phật lai rai, Như Lai cũng độ Niệm Phật tà tà Di Đà cũng rước Có đúng không? 129

38- Chúng sanh có thể niệm danh hiệu của các đức Phật khác, có thể cầu sanh về các cõi khác Cần gì riêng niệm đức Phật A-di-đà cầu sanh về Cực Lạc? 129

39- Trước đây niệm Quán-Thế-Âm Bồ-tát, nay bỏ để niệm Phật A-di-đà, vậy con có lỗi với Quan Thế Âm Bồ-tát không? 130

40- A-la- hán bay về Cực Lạc được, phải không? 131

41- Nhiều thầy dạy khác nhau, phải theo ai? 132

42- Ca tụng một câu A-di-đà Phật có quá đáng? 133

43- Tại sao không thấy quang minh của Phật? 134

44- Tại sao Tổ sư Pháp Nhiên và Tổ sư Ấn Quang đều là Đại-thế-chí Bồ-tát hóa thân mà hoằng dương Tịnh-độ, hai lối khác nhau? 134

45- Người ở Cực Lạc nghe tiếng chim kêu, nước chảy, đều sanh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, sao lạ vậy? 135

46- Con theo đạo Chúa, niệm Phật có được Phật rước không? 137

47- Vừa lần chuỗi niệm Phật vừa nghe pháp, có được không? 138

48- Thời gian để hoa sen nở, nói trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ là theo thời gian ở Cực Lạc hay ở Ta-bà? 140

49- Kinh Quán Vô lượng Thọ nói: “Quang minh của Phật A-di-đà soi khắp các cõi ở mười phương, thâu nhiếp tất cả chúng sanh niệm Phật” Như vậy người không niệm Phật, quang minh của Phật có thâu nhiếp không? 141

50- Chúng sanh ở các cõi trong mười phương đồng vãng sanh cùng một lúc, nhiều vô số kể, làm sao Phật A-di-đà tiếp dẫn một lúc cho kịp, rồi về Cực Lạc chỗ đâu ở cho đủ? 141

PHẦN II - PHƯƠNG DANH ẤN TỐNG VÀ ĐỊA CHỈ LIÊN LẠC Phương danh phật tử ấn tống 143

Địa chỉ liên lạc để thỉnh sách 145

Nam Mô A Di Đà Phật

Niệm Phật Thành Phật Niệm Ma Thành Ma

Trang 12

Lời Phật dạy:

*-Kinh Hoa Nghiêm dạy:“Tất cả chúng sanh đều có trí tuệ, đức tướng Như Lai,

nhưng vì bị vọng tưởng, phân biệt, chấp trước che lấp nên Phật tánh không thể

hiện bày”

*-Kinh Viên Giác dạy: “Dứt Vọng, Hoàn Chơn”

*-Chư Tổ dạy: “Một câu Phật hiệu dẹp trừ muôn vọng niệm”

Vậy, niệm Phật là con đường dễ đi, thẳng tắt nhất, mau chóng dẹp trừ vọng niệm,

vọng tưởng để thành Phật

*-Trong “Quán niệm môn” Liên Tông Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư dạy: “Hành giả , mỗi

ngày niệm Phật A-di-đà ba vạn câu trở lên là hành nghiệp Thượng phẩm thượng

sanh”

*-Liên Tông Cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư dạy: “Niệm Phật A-di-đà mỗi ngày ba vạn câu

trở lên, lấy cái chết làm kỳ hạn, mà không vãng sanh thì ba đời chư Phật đều nói dối”

Muốn được tiêu chuẩn trên, phải niệm Phật đạt Niệm Lực Tương Tục tức Bất

Niệm Tự Niệm.

Kinh Đại Tập dạy: “Niệm Phật ra tiếng có mười công đức:

- Đánh tan tâm hôn trầm mê ngủ

- Thiên ma kinh sợ

- Tiếng vang khắp mười phương

- Ba đường ác được dứt khổ

- Tiếng bên ngoài không xâm nhập

- Niệm tâm không tán loạn

- Mạnh mẽ tinh tấn

- Chư Phật vui mừng

- Tam muội hiện tiền

- Vãng sanh về Tịnh Độ”.

Trang 13

- Liên tông Cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư dạy trong Kinh A-di-đà Yếu Giải, có sáu

thứ tin là: tin tự, tin tha, tin nhân, tin quả, tin sự và tin lý

- Liên tông Thập Tổ Hành Sách đại sư dạy phải có ba điều tin như sau:

a Phải tin tâm, Phật, chúng sanh, cả ba không sai khác

b Phải tin tánh giác không hai

c Phải tin ta là Phật lý tánh, Phật danh tự, A-di-đà là Phật cứu cánh (Xin đọc sách “Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh, Phần II -Tư lương Tịnh Độ”)

Tóm lược là phải tin như sau:

a Tin có Phật A-di-đà, có cõi Cực Lạc

b Tin Phật Thích-ca không nói dối (trong ngũ Kinh)

c Tin Phật A-di-đà không nguyện suông (bốn mươi tám đại nguyện của Phật A-di-đà)

d Tin niệm Phật nhất định được vãng sanh, thành Phật

e Phải tin sâu: giá như tất cả chúng sanh trong mười phương thành bậc la-hán, thành Bồ-tát đồng khuyên ta bỏ, thậm chí Đức Phật Thích-ca hiện thân bảo

A-ta bỏ pháp môn niệm Phật cầu sanh Cực Lạc để quý Ngài chỉ dạy A-ta pháp khác vi diệu hơn, ta vẫn bái lạy quý Ngài mà thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn, Bạch quý Ngài, từ trước đến nay con vẫn tin lời dạy trước đây của Thế Tôn, niệm Phật A-di-

đà cầu vãng sanh Cực Lạc, nay con không thể trái lại bản nguyện này”

2- Hỏi: Làm sao để nguyện thiết?

Đáp: Nguyện là nguyền, là thề, là nói lên lòng khát khao ao ước của mình, muốn

sanh về, muốn thấy Phật A-di-đà

Trang 14

Nguyện phải chí thành tha thiết với đức từ phụ, lòng ta như con thơ nhớ mẹ, với cõi Cực Lạc lòng ta như viễn khách tưởng cố hương

Cổ đức dạy: “Cho dù mỗi ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu, chẳng phát nguyện thì hét cho bể cuống họng cũng uổng công mà thôi”

Từ Chiếu đại sư nói: “Luôn luôn phát nguyện ưa thích vãng sanh, ngày ngày nguyện cầu chớ cho thoái thất Nếu không có tâm phát nguyện thì căn lành chìm mất”

Kinh Hoa-nghiêm nói: “Không phát đại nguyện, đó là việc làm của ma”

“Nguyện rộng thì hành sâu, hư không không lớn, tâm vương mới lớn Kim cang chẳng cứng, nguyện lực cứng nhất”

Muốn có nguyện thiết tha, chúng ta hãy tự quán xét lại chính mình, tìm đối tượng mình nhàm chán ghét bỏ; hoặc mình đang tha thiết mong muốn điều gì, việc

gì, khía cạnh nào đó mà ở Ta-bà này không thực hiện được, chỉ ở Cực Lạc mới có

thể thỏa mãn được lòng mong muốn ấy, thì lấy đối tượng, sự việc ấy làm động cơ

thúc đẩy ta thiết tha phát nguyện vãng sanh

Thí dụ:

- Thật sự nhàm chán, ghét bỏ sự hiểm nguy của sanh tử luân hồi

- Nhận rõ, ghê sợ nổi khổ đau của ba đường ác

- Người mắc bệnh nan y, chờ chết Ở Cực Lạc thì không bệnh, không già, không chết, được sống lâu vô hạn

- Con em ngỗ nghịch, xì ke ma túy… mình khuyên lơn, nhắc nhở không được, sợ họ bị sa địa ngục, mình càng cần phải vãng sanh Cực Lạc để cứu độ họ

- Hoặc cần báo đáp tứ trọng ân…

Nếu ta còn ở Ta-bà sẽ bị đau khổ mãi mãi, phải bó tay, không thể cứu độ được mọi người như ý muốn Vậy chỉ còn cách vãng sanh Cực Lạc để tránh khổ đau, được an vui, hoặc để rồi trở về Ta-bà cứu độ thân nhân Tùy mỗi người, mỗi hoàn cảnh, mỗi vấn đề, mỗi đối tượng khác nhau, có ý nguyện khác nhau, lấy đó

làm động cơ thúc đẩy ta phát nguyện Lời phát nguyện này phải xuất phát tận đáy

lòng, chân thành mong muốn, ao ước thì lời phát nguyện mới thật sự thiết tha được

Chư Tổ dạy: “Nguyện bất thiết, bất sanh Cực Lạc”

Tổ thứ chín, Ngẫu Ích đại sư dạy: “Vãng sanh hay không là do có Tín, Nguyện hay không? Còn phẩm vị cao hay thấp là do công phu sâu hay cạn (tức Hạnh)”

Trang 15

Lời nguyện phải chân thật, chí thành khẩn thiết, không phải trả bài thuộc

lòng, càng không phải là việc làm lấy lệ

Dù cho biển cạn, núi tan, thời gian cùng tận, nguyện vãng sanh này quyết không hề thoái thất

3- Hỏi: Hạnh là sao?

Đáp: Hạnh là thực hành, hành trì thực tế để làm sao đạt được sự nhập tâm (bước

đầu của Bất niệm tự niệm)

Hạnh có hai: Chánh hạnh (nội công) và trợ hạnh (ngoại công)

Chánh hạnh là niệm Phật, lễ Phật A-di-đà, là chuyên tu niệm Phật (xin xem

mục Chuyên tu chánh hạnh, trang 75-77, sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm

Liên tông Bát Tổ Liên trì đại sư dạy: “Ăn mặn, ăn thịt, cá, ăn thịt chúng sanh

là ăn thịt cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp của mình, là ăn thịt chư Phật vị lai (cực ác)”,

“Chuộc mạng phóng sanh, cứu mạng chúng sanh là cứu mạng cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp của mình, là cứu mạng chư Phật vị lai (cực thiện)”

Tuy là trợ hạnh nhưng ba hạnh này tích cực đóng góp vào sự thành tựu Tịnh nghiệp của hành giả Ba việc này không ngoài tầm tay, không ngoài khả năng của

mọi người Điều quan trọng là chúng ta có quyết tâm thực hiện hay không mà

thôi Chúng tôi thiết nghĩ, là Phật tử, chúng ta nên luôn luôn làm theo lời Phật dạy (y giáo phụng hành)

4- Hỏi: Trong ba tư lương Tín, Nguyện, Hạnh, điều nào quan trọng nhất?

Đáp: Ba món tư lương: Tín, Nguyện, Hạnh là ba chân của cái đảnh, thiếu một, đảnh sẽ ngã, có nghĩa là bắt buộc phải có đủ cả ba

Kinh Hoa-nghiêm dạy: “Lòng tin là gốc vào đạo, là mẹ đẻ mọi công đức

Lòng tin hay nuôi lớn các căn lành Lòng tin có thể vượt qua các đường ma Lòng tin có thể được vào định Lòng tin có thể thoát biển sinh tử luân hồi Lòng tin có thể thành tựu đạo Giác ngộ của Phật”

Trang 16

Liên Tông Cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư dạy: “Vãng sanh hay không do có Tín, Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp tùy theo công phu sâu hay cạn”

Chư Tổ cũng dạy: “Nguyện bất thiết, bất sanh Cực Lạc” hoặc “Niệm bất chánh, bất sanh Cực Lạc”

Có tin sâu mới nguyện thiết, nguyện thiết rồi hành chuyên Hành chuyên, chứng tỏ có tin sâu, nguyện thiết Ba món này liên hệ hỗ tương lẫn nhau Trong Tín có Nguyện, có Hành, trong Nguyện có Tín có Hành, trong Hành có Tín có Nguyện Một là ba, ba là một (tương tức) Không cái nào quan trọng hơn cái nào

cả

Tuy nhiên phải biết tùy duyên:

a- Đối với liên hữu sơ cơ, gia duyên ràng buộc, quá bận rộn thế sự, thì lấy Tín Nguyện làm đầu, nghĩa là tinh luyện Tin sâu, Nguyện thiết, Hành pháp “Thập Niệm” để được vãng sanh là tốt rồi

b- Đối với liên hữu túc căn sâu dày, duyên vãng sanh chín mùi, đã có tin sâu,

nguyện thiết rồi thì hãy kiên trì, dõng mãnh chuyên tu chánh hạnh, chánh định

nghiệp, quyết đạt Bất niệm tự niệm sâu để vãng sanh Thượng phẩm thượng sanh,

hầu sớm trở về Ta-bà cứu độ chúng sanh

5- Hỏi: Bí quyết của niệm Phật là gì?

Đáp: Liên tông Bát Tổ Liên Trì đại sư dạy: “Bí quyết niệm Phật là niệm nhiều”

Nhiều ở đây phải hiểu là nhiều câu và nhiều thời gian

Liên tông Thập Nhất Tổ Tĩnh Am đại sư và Liên tông Thập nhị Tổ Triệt Ngộ thiền sư đồng dạy: “Niệm Phật phải niệm không xen tạp và không gián đoạn” Không xen tạp nghĩa là không hoài nghi, không mong cầu, không xen thêm bất cứ

gì khác (không xen vào danh hiệu Phật, Bồ-tát khác như Thích-ca, Dược Sư, Quán Âm…, tham, sân, si, …tạp niệm), để niệm được nhiều câu “A-di-đà Phật” hơn Không gián đoạn là niệm liên tục suốt thời thời khắc khắc, không có kẽ hở (để được nhiều thời gian)

Tóm lại, xin nói rõ, bí quyết niệm Phật là: “Niệm nhiều, không xen tạp,

không gián đoạn” Muốn hành được bí quyết này, điều tối yếu là phải “Buông xả vạn duyên, chí tâm Lão thật niệm Phật”

6- Hỏi: Sao con niệm Phật quá chừng chừng, mà không nhập tâm? Còn ông xã con niệm Phật lai rai mà được nhập tâm?

Trang 17

Đáp: Niệm Phật muốn đạt nhập tâm và những bước kế tiếp, phải chuyên tu chánh

hạnh, chánh định nghiệp Muốn vậy, phải đáp ứng những yếu tố sau đây:

1- Niệm Phật phải đúng cách:

- Niệm chắc thật nghĩa là miệng niệm, tai nghe, ý nghĩ phải là một Miệng

niệm Phật mà ý nghĩ lung tung (tán loạn), đó là miệng niệm Phật mà tâm không có Phật Tổ Đức Nhuận nói: “Niệm như vậy, thét cho bể cuống họng cũng vô ích” Thật vậy, niệm như thế suốt đời cũng chẳng được gì

- Niệm phải không xen tạp nghĩa là không hoài nghi, không mong cầu,

không xen lẫn bất cứ gì khác (như không niệm Thích-ca, Dược Sư, Quán Âm…,

cũng không có tham, sân, si, ngũ dục, lục trần, thế sự…) Không gián đoạn nghĩa

là liên tục ngày đêm không có kẽ hở

- Niệm phải chuyên nhất, nghĩa là phải tinh ròng duy nhứt một thứ, không thể nay niệm sáu chữ, mai niệm bốn chữ, mốt niệm sáu chữ, lúc niệm giọng (âm điệu) hải triều âm, lúc giọng người Việt, giọng người Hoa, giọng ca hát (ca niệm Phật), nay giọng của Thầy này, mai giọng của Thầy khác, lúc niệm trầm, lúc niệm bổng (thay đổi mãi), v.v…Trường hợp nghe máy vẫn phải nghe tiếng và giọng duy nhứt của chính mình mới thật tốt

Phải chuyên nhất mới đúng nghĩa “Nhất hướng chuyên niệm” mà Kinh Vô

Lượng Thọ đã dạy

Có nhiều liên hữu mới nhập tâm mà luôn thay đổi giọng niệm (âm điệu) nên không tiến được mà bị khựng lại (đứng chựng), tệ hại hơn đôi khi còn bị tạm chìm Trường hợp này muốn mau hồi phục (được nghe lại) tốt nhứt nên niệm lại giọng cũ (giọng lúc nhập tâm)

2- Buông xả ngũ dục lục trần, tự tư tự lợi, danh văn lợi dưỡng, tham, sân, si,

mạn

3- Đoạn ác, tu thiện, thanh tịnh hóa thân tâm Đoạn ác tu thiện không gì hơn

ăn chay và phóng sanh Thanh tịnh hóa thân tâm không gì hơn giữ giới, niệm Phật

(Xin đọc thêm sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh)

4- Quyết chí tử hạ thủ công phu, lấy bốn chữ A-di-đà Phật hay sáu chữ

Nam-mô A-di-đà Phật làm bổn mạng của mình, ngày đêm dõng mãnh Lão thật niệm Phật, không mõi mệt, quyết giữ cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời

Bốn yếu quyết nói trên tùy mức độ thực hiện, có khả năng đưa hành giả đạt từ Nhập tâm đến Bất niệm tự niệm, (Thành một khối), Sự Nhất tâm bất loạn và Lý Nhất tâm bất loạn (Lý niệm Phật tam-muội)

Trang 18

Trường hợp ông xã của liên hữu là cá biệt, muôn người chưa có một Vị này

có túc căn sâu dầy, niệm ít mà nhập tâm, ví như lu nước sắp đầy, chỉ nhỏ một ít là tràn trề

Còn trường hợp của liên hữu là vì hoặc hành trì không đáp ứng bốn yếu quyết

kể trên (không như pháp), hoặc túc căn cạn mỏng, ví như lu nước còn quá lưng Vậy, hãy cố gắng thường xuyên nhỏ nước vào lu, nhất định có ngày phải đầy Đã đầy thì quyết định phải tràn, dù không muốn tràn nó vẫn cứ tràn, tự nhiên đơn giản thế thôi

Kính xin liên hữu hãy tự kiểm rồi sẽ biết mình phải làm gì?

Phụ chú: Kinh nghiệm thực tế cho thấy:

1- Bản thân tôi ngu dốt, mò mẩm hành trì rất nhiều năm mà không kết quả Cuối cùng biết cách (ý trì, lão thật niệm Phật), quyết tâm hành trì miên mật mười hai ngày đêm được nhập tâm

2- Có tám Phật tử, hai nam, sáu nữ ở các nơi (Việt Nam: Đà lạt; Mỹ: Colorado, Pennsylvania, Maryland) về tu Phật thất tại tu viện Tịnh Luật (Texas), nói chung, từ ngày 1 tháng 6 đến ngày 13 tháng 7 năm 2011 Có một ưu bà tắc lão thật niệm Phật (ý trì) hai ngày liền nhập tâm, hai ưu bà di hành trì ba ngày nhập tâm, còn lại năm vị kia nhập tâm vào ngày thứ tư và thứ năm sau khi nhập Phật thất

Tóm lại, tất cả tám vị này đều nhập tâm trong vòng năm ngày lão thật niệm Phật Đặc biệt trong số này có một vị nam đạt Bất Niệm Tự Niệm (nghe tiếng niệm Phật không xen tạp, không gián đoạn, suốt thời gian còn thức) sau bảy ngày miên mật hành trì

Thời gian Phật thất còn lại là huân trưởng mức Nhập tâm và Bất Niệm Tự Niệm

Đây là một thành quả hết sức khích lệ, chứng minh rằng hành trì như pháp (đáp ứng bốn yếu quyết đã trình bày trên) sẽ mang lại kết quả nhanh chóng không tưởng nghĩ nổi, và cũng là gương tốt cho hành giả chuyên tu Chánh hạnh, Chánh định nghiệp, Lão thật niệm Phật, tu Phật Thất tại tu viện Tịnh Luật (Texas)

Nam-mô A-di-đà Phật

7- Hỏi: Niệm A-di-đà Phật và niệm A-mi-đà Phật cách nào đúng?

Đáp: Hai cách đều được cả

“Nam-mô A-di-đà Phật” vốn là từ tiếng Phạn, đọc là “Namo Amitabha Buddha” được phiên âm, khác nhau như sau:

Trang 19

- Người Việt Nam niệm “Nam-mô A-di-đà Phật” Cách niệm này đã có từ xưa

- Người Trung Hoa niệm “Namo Amituofo”

- Người Nhật niệm “Namu Amida Butsu”

- Các dân tộc khác dĩ nhiên niệm khác nữa

- Gần đây Hòa thượng Trí Tịnh cho rằng niệm chữ Di không được êm tai và bị trệ tiếng Vì thế, Ngài sửa lại là “Mi” nên thành ra “Nam-mô A-mi-đà Phật”

Nếu nói rằng niệm đúng nguyên âm tiếng Phạn “Namo Amitabha Buddha” mới được Đức Phật tiếp dẫn, thì người Nhật, người Hoa và nhiều dân tộc khác niệm không đúng âm ấy, chẳng lẽ Ngài không tiếp dẫn sao? Ngài có tha tâm thông,

dù niệm cách nào Ngài đều biết cả, đâu phải Ngài chỉ nghe bằng thiên nhĩ thông không thôi!

Kinh dạy: “Linh tại ngã, bất linh tại ngã”, nghĩa là linh thiêng, hiệu nghiệm

hay không là do ở mình Do ở mình có tin, có chí thành, có nhất tâm niệm hay

không Bằng chứng là từ xưa đến nay vô số người Việt, Trung Hoa, Nhật… đều được Phật tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc, chẳng sai

Vì những lý lẽ trên, tôi nghĩ niệm “Nam-mô di-đà Phật” hay “Nam-mô mi-đà Phật” đều được cả, tùy theo đức tin và ý thích của mỗi người

- Danh hiệu là A-di-đà Phật

- “Nam mô” là qui mạng, là quay về nương tựa

Trang 20

9- Hỏi: Niệm “Nam Mô” hoặc niệm “Mô Phật” hoặc niệm “Phật” mà có Tín và Nguyện có được vãng sanh Cực Lạc không?

Đáp: Có ba trường hợp như sau:

1-Người có tin sâu, nguyện thiết, thông suốt lý “một là tất cả, tất cả là một” thì trong lúc niệm “Mô Phật” hay niệm “Phật” tâm hành giả cho đó là “Nam-mô

A-di-đà Phật” Vậy là đủ Tín, Nguyện, Hạnh nên được vãng sanh

2- Người tin không sâu, nguyện không thiết, nếu niệm nhóm từ trên, chúng

không phải danh hiệu của Phật A-di-đà, không đúng bổn nguyện của Ngài, nên sẽ

không được Ngài tiếp dẫn

3- Niệm “Nam Mô” không đủ nghĩa (Nam mô là qui mạng, vậy thì qui mạng

với ai mới được chứ?), không đúng bổn nguyện của Phật A-di-đà, nên không được

vãng sanh

Kính xin quý liên hữu hãy thận trọng!

Niệm Phật Thành Phật Niệm Ma Thành Ma 10-Hỏi: Niệm Phật và tu các công hạnh khác có cần hồi hướng không?

Đáp: Niệm Phật A-di-đà và tu tập hai hạnh chánh và phụ, thì không cần phải hồi

hướng riêng biệt (Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập, trang 25) Còn tu tập

tạp hạnh, cần phải hồi hướng mới thành nghiệp vãng sanh

11- Hỏi: Hành giả Tịnh nghiệp có bắt buộc phải lần chuỗi để niệm Phật không? Đáp: Không bắt buộc Mục đích lần chuỗi là để:

- Cột tâm ý vào hạt chuỗi, không cho khởi vọng niệm, vọng tưởng

- Đếm được số câu niệm Phật, cố niệm cho đủ số đã ấn định, tránh lười biếng giải đãi

Vậy lần chuỗi rất cần cho những vị mới tập niệm Phật Nhưng nếu không khéo, niệm lâu thành thói quen (tập khí) thì miệng niệm, tay lần chuỗi mà ý tự do phóng túng nghĩ tưởng lung tung đủ thứ, hoặc vì muốn cho đủ số, cố gắng niệm quá nhanh, miệng niệm lia lịa, tay lần chuỗi liền tù tì, mà tâm không bắt kịp tiếng Trường hợp này, miệng niệm Phật, tay lần chuỗi mà tâm không có Phật, gọi là hữu khẩu vô tâm Tổ Đức Nhuận bảo: “Niệm như vậy thét cho bể cuống họng cũng vô ích” Vậy lần chuỗi phải chân thật, tránh làm lấy lệ, biểu diễn Mặt khác, ý theo dõi đếm số là bị phân tâm Tay lần chuỗi, làm thân động, thân động thì tâm động theo (không an định) Vì những lý lẽ trên, hành giả niệm Phật lâu rồi không cần dùng

Trang 21

chuỗi Nếu muốn tính số câu Phật hiệu đã niệm, thì tốt hơn nên dùng đồng hồ tính thời gian đã niệm

12- Hỏi: Con bận rộn quá, vừa phải đi làm, vừa phải lo việc nhà, cơm nước cho chồng cho con, làm sao có thì giờ rảnh để niệm Phật, thưa Thầy?

Đáp: Đối với người mới tập niệm Phật, hoặc người quá bận rộn, nên hành pháp

Thập niệm như sau:

- Sớm mai thức dậy phục sức xong rồi, chắp tay hướng về phương Tây, niệm:

“Nam-mô A-di-đà Phật” Nên lấy hơi dài, niệm liên tiếp một hơi, kể là một niệm, niệm đủ mười hơi, là mười niệm Nhưng đừng quá cố gắng, hơi dài hay ngắn, tiếng cao hay thấp, niệm chậm hay mau, đều tùy theo sức mình

- Niệm xong, phát nguyện vắng tắt cầu sanh Tây phương Cực Lạc

- Nếu có thờ Phật, nên thắp hương cúng Phật xong, đối trước Phật mà niệm Khi vào và lui ra phải lễ Phật ba lạy

- Chỉ nên niệm mười hơi, vượt quá mười hơi, dễ sanh bệnh

Trên đây là định mức tối thiểu dành cho người mới tu tập (sơ cơ) và người

quá bận rộn Tiến sâu hơn, hành giả nên tập niệm Phật “thành thói quen cho đến trở nên ghiền” (sẽ đề cập ở phần kế tiếp) Ngày ngày chí thành khẩn thiết niệm

Phật đều đặn, không thiếu sót (không bỏ sót ngày nào) Cộng thêm trợ hạnh ăn chay (ăn mặn đồng tội với sát sanh là tội cực ác) và phóng sanh (là cực thiện) Hành trì suốt đời như vậy thì chắc chắn vãng sanh Cực Lạc quốc, đúng như lời đức Phật dạy: “Lánh ác (ăn chay), làm lành (phóng sanh), giữ tâm ý trong sạch (niệm Phật), tam nghiệp thanh tịnh đồng Phật vãng sanh Tây Phương”

13- Hỏi: Con cũng muốn niệm Phật cho nhiều, ngặt nỗi loay hoay công việc nhà suốt ngày, nên không nhớ niệm Phật Vậy con phải làm sao?

Đáp: Nên tập thành thói quen, niệm Phật năm, mười câu trước và sau trong những

trường hợp sau:

Ba bữa ăn (sáng, trưa, chiều), khi tắm, đi vệ sinh, sau khi thức dậy, trước khi

đi ngủ, trước khi ra khỏi nhà, sau khi về đến nhà, hay làm những việc gì có tánh cách cố định như rửa chén, quét nhà, giặt quần áo

Chỉ cần tập một tuần lễ là quen, càng nhiều cho đến trở thành thói quen càng

tốt Tập thành “ghiền” niệm Phật càng quý

Trang 22

14- Hỏi: Niệm Phật sao cho mau tiến bộ, thưa Thầy?

Đáp:

1- Cần phải lập định khóa niệm Phật hằng ngày

Ở chùa hoàn cảnh thuận lợi hơn nên dễ lập định khóa Quý vị là cư sĩ tại gia thì tùy hoàn cảnh sinh hoạt hằng ngày, tùy khả năng sức lực, khả năng hành trì mà lập định khóa thích ứng

Định khóa không nên quá ít (uổng phí thời gian) cũng không nên quá nhiều (khi có, khi không)

Chư Tổ dạy: “Định khóa có tiến, nhất định không có thoái Thà chết chớ

không bỏ qua định khóa” Lời dạy quý báu này, xin quý vị ghi nhớ cho!

Định khóa niệm Phật có ba phần: Tịnh tọa niệm Phật, Lễ bái niệm Phật và

Kinh hành niệm Phật Ba phần này, niệm Phật là chánh, tịnh tọa, lễ bái, kinh hành

là phụ Có nghĩa là danh hiệu Phật phải luôn luôn hiện tiền, không bị xen tạp,

không bị gián đoạn

2- Phải chuyên tu Chánh hạnh, Chánh định nghiệp, Lão thật niệm Phật (ý trì) hành trì đúng bốn yếu quyết đề cập ở câu đáp 6A

15- Hỏi: Tịnh tọa niệm Phật như thế nào?

Đáp: - Tịnh tọa niệm Phật: là ngồi mà niệm Phật

Lưng, tay, chân đều đâu vào đó rồi, phải lay chuyển thân thể độ ba bốn lần cho được ung dung và phải giữ xương sống ngay thẳng, chẳng khác nào một cây cột đối với cái nhà Nếu cột xiêu thì nhà đổ vậy

Ngồi đúng cách giúp máu huyết lưu thông điều hòa, không bị tê nhức, thân yên chắc giúp tâm dễ an định

Trang 23

Hành giả vì lý do bệnh tật, có thể ngồi trên ghế một cách bình thường vẫn được, vì rằng niệm Phật mới là chánh, còn ngồi là phụ

Trong suốt thời gian tịnh tọa phải giữ câu Phật hiệu hiện tiền, nghĩa là niệm Phật không xen tạp, không gián đoạn Niệm tốt nhất vẫn là ý trì và mặc trì

16- Hỏi: Kinh hành niệm Phật như thế nào?

Đáp: Kinh hành phải đi theo chiều kim đồng hồ (từ phải sang trái) Kinh hành niệm Phật là vừa đi vừa niệm Phật Niệm Phật là chánh, đi là phụ Phải đi để thay đổi vị thế tránh mỏi mệt vì ngồi lâu, không phải đi diễn hành, tâm trụ nơi Phật hiệu chứ không phải trụ nơi bước chân

Kinh hành thân quá động, tâm khó an định lắm, nên thời gian dành cho kinh hành ngắn nhất

Suốt thời gian định khóa, bất luận là bao lâu, từ khi bắt đầu thắp nhang, đến khi kết thúc bằng ba tiếng chuông, phải niệm Phật không cho xen tạp và không gián đoạn, nghĩa là ngoài Thánh hiệu A-di-đà, không có bất cứ cái gì khác như định nghĩa trên

17- Hỏi: Lễ bái trì danh như thế nào?

Đáp: Lễ bái niệm Phật cũng gọi là lễ bái trì danh Lạy chậm rãi, khoan thai, đúng

cách Tốt nhất là lạy theo sự hướng dẫn của Pháp sư Đạo Chứng chỉ rõ trong sách

“Niệm Phật chuyển hóa tế bào ung thư”

“Lễ Phật một lạy tội diệt Hằng sa” Lạy càng nhiều càng tốt, nhưng hành giả

chuyên tu thì phải ưu tiên giữ câu Phật hiệu hằng hiện tiền (luôn luôn, không xen

tạp, không gián đoạn) “Niệm Phật một câu phước sanh vô lượng”

Tùy sức, không nên lạy một lần quá nhiều, sẽ bị mỏi mệt, dễ chán nản Lạy vừa sức mình, nhiều lần trong ngày vẫn tốt hơn

18- Hỏi: Con đi làm ở xí nghiệp về còn phải lo việc nhà, quá bận rộn nên con không có thì giờ để niệm Phật nhiều theo định khóa Vậy con phải làm sao để được nhập tâm?

Đáp: Mục đích của định khóa là giúp cho hành giả tránh lười biếng, giải đãi, tinh

tấn hành trì mau thành tựu chí nguyện Trường hợp liên hữu quá bận rộn thì nên: 1- Áp dụng pháp “Thập-niệm” và tập niệm Phật thành thói quen như đã nêu trên câu đáp số mười hai (12A) và mười ba (13A)

Trang 24

2- Thực hiện lời dạy của Hám-Sơn đại sư: “Mỗi ngày đem một câu A-di-dà Phật đặt ngang ngực, niệm niệm chẳng quên, tâm tâm chẳng mê Với hết thảy sự đời chẳng nghĩ ngợi gì đến Chỉ lấy một câu Phật hiệu làm mạng sống chính mình Cắn chặt hàm răng quyết chẳng buông bỏ, thậm chí ăn uống, cử động, đi, đứng,

nằm, ngồi, một tiếng niệm Phật này, thời thời hiện tiền

Nếu gặp cảnh giới thuận, nghịch, vui, giận, phiền não, lúc tâm chẳng yên, bèn đem một tiếng niệm Phật khởi lên, liền thấy phiền não ngay khi ấy bị tiêu diệt Bởi niệm niệm phiền não là gốc sanh tử Nay dùng niệm Phật tiêu diệt phiền não, chính

là Phật độ nỗi khổ sanh tử Nếu niệm Phật tiêu được phiền não, liền có thể ra khỏi sanh tử, không có pháp gì khác Nếu niệm Phật đến khi làm chủ được phiền não, thì làm chủ được mộng mị Nếu trong mộng đã kiểm soát được, thì trong khi bệnh khổ cũng làm chủ được Nếu đã làm chủ được (bản thân) trong khi bệnh tật, thì lúc mạng lâm chung, liền biết chỗ sanh về

Sự này chẳng khó làm, chỉ cần làm với một niệm sanh tử, tâm khẩn thiết

Chỉ cần dựa vào một mình tiếng niệm Phật, không có suy nghĩ gì khác Lâu ngày

thuần thục, tự nhiên được đại an lạc, được đại thọ dụng”

19- Hỏi: Con chưa nhập tâm, tham dự nhiều đạo tràng niệm Phật bốn chữ, sáu chữ, âm điệu khác nhau có gì trở ngại không?

Đáp: Trên kinh nghiệm thực tế mà nói, huân tập cách nào một cách chuyên nhứt sẽ

dễ nhập tâm hơn (xin đọc câu đáp 6A)

20- Hỏi: Con để máy niệm Phật suốt đêm ở phòng ngủ, có tội không Thầy?

Đáp: Tinh tấn được vậy càng tốt, đáng khen, không tội lỗi gì cả

21- Hỏi: Thường ngày vào định khóa niệm Phật rất hứng thú, nhưng thỉnh thoảng lại cảm thấy niệm Phật một cách lạt lẽo không vô, vậy là sao?

Đáp: Trường hợp này nên tự xét coi có phải do:

1- Bản tánh biếng nhác, giải đãi khởi dậy, vậy thì hãy cố gắng tinh tấn hơn

2- Sinh lý (thân thể), quá mỏi mệt vì công việc hàng ngày, hoặc tâm lý (tinh

thần) bất an, vì đang lo nghĩ, tính toán, lo sợ một việc gì đó Vậy thì không nên ép xác, mà nghỉ xả hơi cho khỏe khoắn và thanh thản Sau đó mới tiếp tục hành trì

Trang 25

22- Hỏi: Con vừa giải phẫu, quì đứng không được, vậy con ngồi lễ Phật được không, thưa Thầy?

Đáp: Được, liên hữu ngồi trước bàn thờ Phật, đem hết lòng thành kính nhìn Phật,

lễ Phật, nhớ giữ câu Phật hiệu luôn hiện tiền, không để bị gián đoạn

23- Hỏi: Con vừa giải phẫu ngồi, quì, đứng không được, chỉ nằm thôi Con nhớ Phật, con niệm Phật mà còn muốn lạy Phật nữa, vậy con phải làm sao, thưa Thầy?

Đáp: Xin có mấy điều như sau:

a Tốt lắm, sức khoẻ liên hữu yếu như thế, mà liên hữu nhớ Phật, niệm Phật còn muốn lễ Phật, thật hiếm có, trăm ngàn người chưa có một Đây là guơng tốt cho hàng Phật tử chúng ta Tôi thành kính ngợi khen, tán thán đạo tâm của liên hữu, đồng thời nguyện cầu Đức Từ Phụ A-di-đà cùng chư Phật mười phương gia

hộ cho liên hữu sớm hồi phục sức khỏe để tinh tấn niệm Phật, vãng sanh Cực Lạc, thành Phật, độ chúng sanh theo đúng chí nguyện

b Liên hữu có thể nằm, mắt nhìn Phật, đem hết lòng thành, tưởng như đang lễ Phật, là được rồi Đó gọi là dùng tâm lễ Phật, nhớ giữ câu Phật hiệu luôn hiện tiền không bị gián đoạn

24- Hỏi: Hôn trầm là gì, phải đối trị cách nào?

Đáp: Hôn trầm là tâm mờ mịt như buồn ngủ Hôn trầm có hai loại:

a Tâm thức tự nhiên lờ mờ, tuy còn biết niệm Phật, nhưng không sáng tỉnh,

thỉnh thoảng đầu bị gục Đây là loại hôn trầm do khí hỏa hư trong người thăng lên,

lấn áp tinh thần

b Tâm có vẻ mỏi mệt, khởi niệm gượng gạo, thỉnh thoảng bị ngáp hơi, ngồi

lâu muốn ngủ Trạng thái này diễn biến càng lúc càng nhiều Đây là loại hôn trầm

do thiếu hăng hái và thiếu tinh tấn

Đối trị: hãy thay đổi vị thế, phương cách, hoặc tốc độ như:

-Đang tịnh tọa thì đổi kinh hành hay lễ Phật (đổi vị thế)

-Đang niệm thầm thì đổi niệm ra tiếng (đổi phương cách)

-Đang niệm thầm hay niệm ra tiếng, nếu không muốn đổi vị thế, và phương cách thì gia tăng tốc độ (niệm nhanh hơn trước, đổi tốc độ)

Nam Mô A Di Đà Phật

Trang 26

25- Hỏi: Con vọng niệm quá nhiều làm sao diệt trừ, thưa Thầy?

Đáp: Vọng niệm do vọng tâm sanh, vọng tâm từ chân tâm biến hiện Vậy muốn diệt vọng niệm là phải diệt chân tâm, mà chân tâm thường hằng bất biến, bất sanh bất diệt thì làm sao diệt được? Cho nên phải nói là chế phục, hay chuyển hóa mới đúng

Liên tông Thập nhị Tổ dạy: “Chỉ có chư Phật mới vô niệm còn từ Đẳng giác Bồ-tát trở xuống đều hữu niệm” “Hữu niệm” nghĩa là còn vọng niệm, nhưng vọng niệm của quí Ngài vi tế Phàm phu chúng mình thì vọng niệm thô, và minh xác rằng không một ai tránh khỏi (vọng niệm)

Liên tông Bát Tổ Liên Trì đại sư dạy: “Vọng niệm là bệnh, niệm Phật là thuốc” Vậy muốn hết bệnh phải uống thuốc, muốn trừ vọng niệm phải niệm Phật Chư Tổ đều nói: “Niệm một câu Phật hiệu, dẹp trừ muôn vọng niệm”

Chư cổ đức cũng dạy: “Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm” Nghĩa là phàm phu chúng ta niệm khởi là chuyện dĩ nhiên (không một ai tránh khỏi như đã nói trên), thì có gì đâu mà phải lo sợ (không cần quan tâm đến nó nữa) Điều đáng

lo sợ là chúng ta giác chậm (quên, không nhớ, không niệm Phật) mà thôi

Tóm lại, vọng niệm tự khởi không gì đáng lo sợ (không quan tâm, để ý tới nó nữa), một mực niệm Phật là xong (vọng niệm tự dứt, vì tâm vô nhị dụng) Niệm Phật càng sâu (nhiều) vọng niệm tự thưa bớt dần Niệm Phật đến Lý nhứt tâm bất loạn thì vọng niệm thô không còn khởi dậy được nữa

26- Hỏi: Thầy nói vậy, nhưng ngay lúc miệng con đang niệm Phật, vọng niệm vẫn khởi dậy?

Đáp: Đây là bệnh chung của hành giả Tịnh-độ Miệng niệm Phật lâu ngày thành

thói quen, miệng cứ niệm Phật (theo thói quen) mà tâm ý tự do rong ruổi đông tây, không có niệm Phật, nên vọng niệm mới khởi dậy

Trường hợp này gọi là hữu khẩu vô tâm Tổ Đức Nhuận nói: “Niệm Phật như vậy (hữu khẩu vô tâm) thét cho bể cuống họng cũng vô ích” Bởi vậy cho nên lắm người niệm Phật đến nay đã mấy chục năm rồi mà vẫn trơ trơ, không thấy có lợi ích gì cả, đôi khi còn tăng thêm phiền não Hoà-thượng Trí Tịnh dạy: “Niệm Phật phải niệm rành rẽ, rõ ràng Rành rẽ tức là từng tiếng, từng câu không có lộn lạo Rõ ràng nghĩa là hễ niệm Nam là rõ tiếng Nam, Mô rõ tiếng Mô, A rõ tiếng A, cho đến Phật thì rõ tiếng Phật không có trại giọng (không thêm, không bớt dấu sắc, dấu huyền gì cả) Tiếng niệm Phật cùng với cái tâm của mình phải hiệp khắn nhau Nghĩa là cái tâm phải duyên theo tiếng, cái tiếng phải nằm trong cái tâm Tâm tiếng phải là một Hay nói tiếng ở đâu tâm phải ở đó Tiếng niệm Phật, tâm phải ở

Trang 27

câu Phật hiệu Được vậy khi niệm Phật nhất định không có vọng niệm Vì tâm vô nhị dụng (tâm một lúc không thể làm hai việc) Tâm đang niệm Phật thì đâu có thể niệm gì khác

27- Hỏi: Con đã thực hành như vậy mà vọng niệm vẫn khởi lên liên tục, con cố gắng lắm nhưng đè nó không được Vậy phải làm sao, thưa Thầy?

Đáp: Chư Tổ cũng dạy: “vọng niệm là nghiệp” Vậy liên hữu cần thực hành hai phương cách sau:

a Hằng ngày thường lễ Phật A-di-đà (Di đà sám) để sám trừ nghiệp chướng

b Thực hành pháp “Sổ châu trì danh” Phương pháp này còn gọi là lần chuỗi niệm Phật Tay lần một hạt chuỗi, miệng niệm một câu danh hiệu Phật Sau quen rồi, miệng niệm hai, ba câu tăng dần lên cho đến mười câu lần một hạt chuỗi Cách này giúp cột tâm ý vào hạt chuỗi, tâm ý lo nhớ lần chuỗi, nên không khởi vọng niệm Cách này cần ghi số mỗi thời, mỗi ngày bao nhiêu câu Lấy con số này làm định mức để mỗi thời, mỗi ngày phải cố gắng niệm cho đủ định số, tránh được

bệnh lười biếng giải đãi Nhưng cần nhớ rằng, đừng vì muốn đủ số mà hấp tấp vội

vàng, niệm lấy có, niệm cho đủ số, mà cần phải niệm rành rẽ, rõ ràng như đã nói trước đây Người xưa nói: “Đa hư bất như thiểu thật”, nghĩa là nhiều mà hư rỗng, không bằng ít mà chắc thật Cách này được Liên tông Cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư tán thán là hiệu quả cao, nếu niệm đúng cách, đúng mức, cùng cực sẽ được “nhập tâm”

28- Hỏi: Con lần chuỗi niệm Phật cả chục năm rồi, thế mà vọng niệm vẫn tuôn trào không dứt, là sao thưa Thầy?

Đáp: Vì không khéo nhiếp tâm, miệng niệm Phật, tay lần chuỗi lâu ngày thành thói

quen, không cần dụng ý nữa, nên ý tự do phóng túng, rong ruổi đông tây Vọng niệm thừa cơ hội này khởi dậy

Vậy, nên hành pháp “Thập-niệm ký-số”, pháp này giúp nhiếp tâm cao hơn

Liên tông Thập tam Tổ Ấn Quang đại sư đã dạy trong quyển “Ấn Quang Đại Sư

Gia Ngôn Lục” như sau: “Niệm từng câu, đếm số từng câu từ một đến mười Xong, đếm lại từ một…” Ví dụ: A-di-đà Phật một, A-di-đà Phật hai, A-di-đà Phật ba…(đếm đến mười rồi trở lại đếm một, hai, ba…) Trường hợp đếm nửa chừng bị lầm lẫn số, nếu chưa đến mười thì bỏ, khởi đếm lại từ đầu

29- Hỏi: Con thực hành pháp Thập niệm ký số, ban đầu có kết quả tốt, thời gian sau vọng niệm vẫn dậy khởi, nhưng ít hơn trước Vậy là sao thưa Thầy?

Trang 28

Đáp: Ban đầu liên hữu chú ý, cột tâm ý vào danh hiệu Phật và cố nhớ để đếm không cho lộn số Được vậy, vọng niệm không khởi lên được (Tâm vô nhị dụng) Nhưng khi tập lâu thành thói quen (tập khí) miệng tự động niệm và đếm số, không cần chú tâm, tâm lại rong ruổi, khởi vọng niệm nữa Còn có cách thứ hai, đếm số

từ một đến mười rồi đếm ngược lại từ mười đến một Đếm nửa chừng lộn số thì

phải bỏ, đếm lại từ đầu

30- Hỏi: Hành pháp Thập niệm ký số, đếm xuôi rồi đếm ngược nói trên có kết quả tốt, nhưng thời gian sau vọng niệm vẫn dậy khởi là sao, thưa Thầy?

Đáp:: Vì ban đầu nhiếp tâm được nên không vọng niệm Sau thành thói quen (tập khí) như nói lần trước, miệng tự động niệm và đếm số xuôi ngược, không cần chú tâm nữa, nên tâm rong ruổi khắp nơi, vọng niệm dậy khởi Có cách thứ ba: mở máy niệm Phật, nhịp độ vừa phải không quá chậm, lắng lòng nghe và niệm theo từng chữ, từng câu, một cách rành rẽ, rõ ràng, sẽ dứt bặt vọng niệm

31- Hỏi: Cách thứ ba rất tốt nhưng rất tiếc là chỉ niệm được chừng bốn mươi phút hoặc sáu mươi phút là mõi mệt Khi đó niệm theo không nổi thì vọng niệm lại tái khởi dậy Vậy con phải làm sao, thưa Thầy?

Đáp: Có cách thứ tư, tự làm hay nhờ bạn làm giúp, hoặc tôi sẽ làm cho một CD

thường hoặc CD-MP3 giọng niệm của liên hữu Niệm một câu ngưng một chút, niệm câu thứ hai ngưng một chút, tiếp niệm câu thứ ba… nghĩa là niệm không liên tục có gián đoạn Mở máy, bình tĩnh, lắng lòng nghe máy niệm Máy ngưng niệm, mình niệm, khi máy niệm mình lắng lòng nghe Luân phiên niệm như vậy mình đủ sức niệm hai, ba, bốn, năm giờ liên tục mà không mệt mỏi

Ban đầu máy niệm một câu, mình niệm một câu, sau quen dần, máy niệm một câu, mình niệm hai, ba câu Tập niệm từ thấp lên cao dần dần như sau: ban đầu

mình niệm lớn tiếng (cao thanh trì), khi quen, chuyển niệm nhỏ tiếng (đê thanh

trì), khá quen chuyển niệm thầm có nhép môi (kim cang trì), xong tiến lên niệm

thầm không nhép môi (mặc trì), cuối cùng tiến đến niệm bằng ý (ý trì)

Nên viết lớn, đậm nét bốn chữ A Di Đà Phật (hoặc sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật) trên tờ giấy như sau:

A

DI

ĐÀ

PHẬT

Trang 29

Để Thánh hiệu này trước mặt (vừa tầm mắt), mắt nhìn bốn chữ A Di Đà Phật trong suốt thời gian nghe máy niệm và mình niệm, mục đích là nhiếp nhãn căn

(nhìn thánh hiệu để không nhìn cái gì khác, đơn giản vậy thôi) Không cần phải

tập trung tư tưởng để chú ý quán sát bốn chữ này (nếu chú ý quan sát là lạc vào quán tưởng rồi)

Lưu ý: Tiếng máy niệm và tiếng mình niệm phải liên tục như giòng nước

chảy, không có kẽ hở (vì có kẽ hở thì vọng niệm sẽ dậy khởi)

Không bắt buộc phải ngồi trước bàn thờ Phật, phải ngồi kiết già hay bán già,

mà nên ngồi thoải mái trên ghế, để có thể ngồi năm giờ liền không mệt mỏi

Mặt khác, ban đêm ngủ, hoặc đang làm việc gì khác, (ngoài thời khóa) nên để máy niệm Phật suốt thời gian Trường hợp này tiếng niệm Phật (của máy) phải liên tục, không gián đoạn

Thực hiện được như vậy, thân, khẩu, ý niệm Phật năm giờ liên tục mà không

có vọng niệm, là đắc “chỉ” của Thiền, là đắc “tịnh” của Tịnh Độ, huân tập nhiều

lần như vậy, thì làm sao mà không nhập tâm được chứ?

Tám vị nhập Phật thất tại tu viện Tịnh Luật áp dụng cách niệm Phật này mà được nhập tâm trong vòng bảy ngày hành trì (nêu trong câu đáp 6A)

Cách niệm Phật theo máy

Hát cd niệm Phật có gián đoạn và thực tập như sau:

1- Bình tĩnh, lắng lòng nghe máy hát (niệm) một câu, máy ngưng, mình niệm một câu; máy hát câu kế tiếp, máy ngưng, mình niệm một câu nữa Máy và mình luân phiên niệm như vậy thời gian ngắn vài ba phút hay dài hơn tùy người

2- Khi niệm như vậy quen rồi, thì khi nghe máy hát (niệm) đến chữ đà thì

mình bắt đầu niệm A-di-đà Phật Như vậy để khi máy hát chữ Phật là mình đã

niệm chữ A, mục đích là hai chữ Phật và chữ A nối liền nhau không có kẽ hở 3- Mình niệm sao cho chữ Phật của mình cũng nối liền với chữ A của máy, nghĩa là cũng không có kẽ hở

Chú ý: khi niệm quen rồi, mình linh động niệm ngắn hơn hay dài hơn bình

thường một chút để câu Phật hiệu mà mình niệm không có kẽ hở đầu và cuối câu 4- Các câu Niệm Phật của mình và máy nối liền nhau không có kẽ hở thì

vọng niệm không khởi dậy được (Tâm vô nhị dụng nghĩa là Tâm một lúc không thể làm hai việc Tâm bận niệm Phật liên tục, không có kẻ hỡ thì tuyệt đối không

có niệm gì khác, không có vọng niệm) Nhờ vậy nên có thể niệm năm giờ liên tục,

mà không có một vọng niệm nào cả Đây là yếu tố đưa đến Nhập tâm

Trang 30

5- Khi máy và mình niệm Phật, lỗ tai lắng nghe, miệng niệm hoặc ý niệm (ý trì), ý theo dõi tiếng niệm này Đây là nhiếp nhĩ căn, thiệt căn và ý căn

6- Khi máy niệm và mình niệm, mắt nhìn vào bốn chữ A Di Đà Phật để trước mặt, đây là nhiếp nhãn căn vào Phật hiệu (Nhớ là nhìn chứ không phải quán) 7- Thân ngồi ngay ngắn chỉnh tề đây là nhiếp thân căn vào cảnh giới Phật 8- Mũi ngữi mùi hương cúng Phật đây là nhiếp tỷ căn vào cảnh giới Phật

9- Thực hiện được như vậy là đã nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp,

theo đúng lời chỉ dạy trong Kinh Lăng Nghiêm, thì làm sao mà không nhập tâm

32- Hỏi: Thỉnh thoảng con bị như sau: Trong lúc đang ngồi niệm Phật, miệng niệm, tai nghe, ý ghi nhận rành rẽ, rõ ràng từng chữ từng câu Phật hiệu, tâm con rất sáng suốt Bỗng dưng tâm con sinh khởi các ý tưỏng vọng động song hành với câu Phật hiệu Sao kỳ lạ vậy, có hại không, thưa Thầy?

Đáp: Thông thường khi vọng tưởng, tạp niệm dậy khởi thì câu Phật hiệu bị mất

Đó gọi là tán loạn (bệnh) Đằng này cả hai song hành, đó gọi là sức phản ứng của chủng tử nghiệp, chứ không phải bệnh Nguyên nhân như sau: Theo Duy thức học, trong tạng thức chứa lẫn lộn những chủng tử lành (vô lậu), dữ (hữu lậu) Khi niệm Phật là ta huân tập chủng tử công đức vô lậu, nó chuyển hoá những chủng tử hữu lậu, khiến những chủng tử này phản ứng, khởi hiện hành Hiện hành huân tập chủng tử, chủng tử khởi hiện hành (mà mình không quan tâm đến nó) mỗi lần yếu

đi một ít, nhiều lần chúng bị tiêu mất luôn

Tóm lại, hiện tượng này chứng tỏ liên hữu công phu đắc lực, đáng mừng, có lợi chứ không hại gì cả

33- Hỏi: Phan duyên là gì, đối trị cách nào?

Đáp: Phan duyên là thói quen, tâm ưa rong ruổi bên ngoài Đây cũng là một loại

động loạn, nhưng có điều nó lặng lẽ, như khi ngồi niệm Phật mà tai lại lắng nghe tiếng người ngoài nói chuyện hoặc mắt theo dõi cảnh vật xung quanh… tức là năm căn duyên theo năm trần cảnh Đây là nguyên nhân làm công phu bị gián đoạn và mất chánh niệm Hành giả không biết, tưởng mình không vọng niệm rồi không lo

Trang 31

đoạn trừ, lâu ngày thành thói quen nặng, ngồi niệm Phật mà chỉ huân tập vào tâm những chuyện vô ích bên ngoài Người này tu nhiều mà tâm không định

Đối trị: Khi niệm Phật, có thấy hoặc nghe gì, thì làm ngơ như mù, như điếc,

xả bỏ mọi cảnh trần, tập trung tâm ý (nhiếp các căn), miệng niệm, tai nghe, ý ghi nhận rành rẽ, rõ ràng từng chữ, từng câu Phật hiệu (phản văn trì danh)

Không Có Thành Tựu Nào Mà Thiếu Tinh Tấn

34- Hỏi: Vô ký là gì, đối trị cách nào?

Đáp: Vô ký là thái cực đối lập với phan duyên, tức là tâm thức biến mất, hành giả

ngồi niệm Phật đến một lúc tự nhiên không nhận biết gì cả, quên niệm Phật, như người chết Trạng thái này có khi trải qua hàng giờ Nếu không biết, lại cho là được định tâm, đắm thích theo nó, khiến uổng phí thì giờ, vì chỉ gieo trồng chủng

tử gỗ đá vô tri mà thôi

Đối trị: Tập trung tâm ý, niệm thầm danh hiệu Phật bằng kim cang trì, mặc trì hoặc ý trì (ý trì là hiệu quả nhất) Vì ý thức bị chìm mất, bây giờ bắt ý thức phải làm việc (niệm Phật) và kiểm soát nó, đương nhiên nó phải hiện tiền (không chìm mất)

35- Hỏi: Kim cang trì và mặc trì là sao, thưa Thầy?

Đáp: Niệm Phật ra tiếng lớn gọi là cao thanh trì, niệm ra tiếng nhỏ là đê thanh trì

Kim cang trì là niệm thầm (không ra tiếng) mà còn nhép môi Mặc trì là niệm thầm hoàn toàn không nhép môi Bốn cách này cao thanh trì, đê thanh trì, kim cang trì,

mặc trì đều niệm bằng miệng, gọi là khẩu trì Hiệu quả của khẩu trì không cao

bằng ý trì

36- Hỏi: Tại sao ý trì hiệu quả cao?

Đáp: Ý trì là niệm bằng ý, không phải bằng miệng (khẩu trì) Dùng ý để niệm Phật

(không phảỉ nghĩ, tưởng hay biết, mà là niệm)

Lý do ý trì mang hiệu quả cao:

- Chư Tổ dạy: “Tâm vô nhị dụng”, nghĩa là tâm không thể làm hai việc cùng một lúc Khi tâm lo nghĩ một việc nào khác, thì tâm không thể niệm Phật được

- Kinh Pháp Cú dạy: “Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm là chủ, tâm tạo tác tất

cả Nếu đem tâm ô nhiễm tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến, như bánh xe lăn theo chân con vật kéo xe Trong các pháp, tâm

Trang 32

dẫn đầu, tâm là chủ, tâm tạo tác tất cả Nếu đem tâm thanh tịnh tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự vui sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình”

- Theo Duy-thức học: “Ý thức công vi thủ, tội vi khôi”, nghĩa là về công, ý thức đứng đầu, về tội thì ý thức cũng đứng đầu Làm ác do ý thức, làm thiện cũng

do ý thức Thí dụ: Ý thức muốn đánh, muốn đá thì tay mới đánh, chân mới đá Ý thức muốn chửi mắng, miệng mới chửi mắng,… Sa địa ngục cũng do ý thức lôi kéo vào Vãng sanh Cực Lạc cũng do ý thức đưa đẩy Làm ma hay làm Phật đều do

ý thức

Bằng những lý lẽ trên Với ý trì, ta bắt ý thức phải niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc để thành Phật, thật đúng là diệu pháp Khi ý thức niệm Phật, như đã nói ở trên, thì ý thức không còn làm được việc gì khác, dứt vọng niệm, dừng vọng tưởng,

mà câu Phật hiệu luôn hiện tiền

Trong suốt thời gian ý trì, không có vọng niệm, vọng tưởng, đúng là pháp tu chỉ của Thiền tông Lại lắng nghe rành rẽ, rõ ràng danh hiệu Phật, đó là pháp tu quán của Thiền tông Như vậy ý trì không khác chỉ-quán song tu của Thiền

Nói rộng hơn, niệm Phật bằng ý để chuyển ý thức thành Diệu quan sát trí, sau

đó chuyển Mạt na thức thành Bình đẳng tánh trí, đó là điều kiện thiết yếu để phá ngã chấp, pháp chấp, hầu trở về với chân tâm thanh tịnh bình đẳng của chính mình

37- Hỏi: Cách tập ý trì như thế nào?

Đáp: Tập ý trì có hai cách:

a Cách thứ nhất:

- Bước 1: Dùng máy (cassette hay chip) hát niệm Phật A-di-đà (6 chữ hay 4

chữ tùy ý thích) Hành giả tịnh tọa, lắng lòng nghe (bằng nhĩ căn tức lỗ tai), dùng ý thức nghĩ, ghi nhận, đưa vào tâm từng chữ, từng câu rành rẽ, rõ ràng theo đúng nhịp điệu hát của máy Đừng để bị xen tạp và gián đoạn

Thực tập vài tiếng đồng hồ hoặc vài ba ngày, tự nhiên thuần thục

Nên nhớ! Khi tập cách này phải xả, bỏ quên, không quan tâm đến cách niệm trước đây

Cách này quá dễ, ai ai cũng thực hành được, nhưng có khuyết điểm là tâm còn phan duyên theo tiếng bên ngoài, gọi là hướng ngoại

- Bước 2: Không dùng máy nữa, mà dùng bốn hay sáu ngón tay để nhịp

Hành giả tịnh tọa, lắng lòng, dùng ngón tay nhịp, dùng ý thức để nghĩ, niệm từng chữ một cách rành rẽ, rõ ràng, theo từng nhịp của ngón tay

Thực tập vài tiếng đồng hồ hoặc vài ba ngày, tự nhiên thuần thục

Trang 33

- Bước 3: Không dùng máy và ngón tay

Hành giả tịnh tọa, lắng lòng, tự nghĩ và tự niệm rành rẽ, rõ ràng từng chữ,

từng câu thánh hiệu A-di-đà (Có thể chậm, niệm ít câu hơn mình đã niệm trước đây, không thành vấn đề, luyện tập thuần thục sẽ nhanh và nhiều câu hơn trước nhiều, mà khỏe khoắn không mệt như trước nữa)

Lúc đầu biết tâm mình đang niệm Phật A-di-đà, chứ chưa nghe tiếng Quen dần, thuần thục sẽ nghe rành rẽ, rõ ràng, từng tiếng (từng chữ), từng câu thánh hiệu

A-di-đà Cách này là nghe bằng tánh nghe (không phải bằng nhĩ căn, tức lỗ tai, nhĩ thức) Tình trạng này gọi là “Phản văn, văn Phật hiệu”

Người (sơ cơ) mới thực hành ý trì, chỉ năm hoặc mười phút là mệt, niệm không được nữa Lúc đó có thể thay đổi niệm bằng miệng (Kim cang trì hay mặc trì, là niệm thầm, hay niệm ra tiếng) thời gian ngắn (5, 10 phút) rồi lại tiếp tục niệm bằng ý (ý trì) luân phiên thay đổi như thế nhiều lần, lâu ngày ý trì sẽ thuần thục (hoàn toàn niệm bằng ý)

b Cách thứ hai:

- Bước 1: Viết bốn chữ hay sáu chữ thánh hiệu A-di-đà lên bảng hay lên

giấy Kinh nghiệm cho thấy viết chữ thành một hàng ngang khó tập hơn viết từng

chữ theo hàng dọc đứng như sau:

A

Di

Đà

Phật

1- Hoặc hành giả tịnh tọa, lắng lòng, mắt nhìn thánh hiệu A-di-đà Phật (4

hay 6 chữ) thay vì đọc bằng miệng thì nghĩ, đọc bằng ý (ý thức)

2- Hoặc mở máy cassette hát bốn chữ, tai nghe từng tiếng, mắt nhìn từng

chữ, đồng thời ý niệm theo nhịp nhàng từng tiếng, từng chữ thánh hiệu A-di-đà

Thực tập vài tiếng đồng hồ hoặc vài ba ngày tự nhiên thuần thục

- Bước 2: Không dùng máy để nghe, mắt không nhìn bảng hay giấy có viết

thánh hiệu A-di-đà nữa, mà hành giả tịnh tọa, lắng lòng, tự nghĩ và tự niệm y như

bước ba, cách thứ nhất

Thực tập vài tiếng đồng hồ hoặc vài ba ngày tự nhiên thuần thục

Nói rõ hơn, khi dùng ý nghĩ từng tiếng, từng chữ, từng câu Thánh hiệu di-đà Phật, là gieo (huân tập) hạt giống (chủng tử) Phật vào tạng thức Huân trưởng

Trang 34

A-lâu ngày chày tháng, hạt giống vô lậu sẽ lớn mạnh dần dần, và khởi hiện hành qua nhiều trạng thái, từ thấp đến cao như sau:

- Giúp ta nhớ niệm Phật nhiều hơn

- Giúp ta nghe thành tiếng (bằng tánh nghe)

- Thay vì ý thức mà tạng thức tự niệm (nhập tâm)

Ưu điểm của cách này là: không hao hơi, tổn khí, đúng như pháp, dứt trừ được vọng niệm, vọng tưởng, mau nhập tâm, đạt Bất niệm tự niệm Nhưng khuyết điểm là khó thực hiện

Kinh nghiệm cho thấy, khi thực sự buông xả được vạn duyên, thì:

1- Nếu hành giả ý trì được sáu mươi phút liên tục không gián đoạn, (suốt thời gian này tuyệt đối không có vọng niệm) mỗi ngày hai lần, một tuần lễ sau là hoàn toàn có khả năng sẽ được nhập tâm

2- Nếu hành giả ý trì được năm giờ liên tục không xen tạp không gián đoạn (không có vọng niệm) mỗi ngày hai lần, thì hai ngày nhập tâm

3- Đã có nhiều hành giả tại gia và xuất gia về Tịnh Luật tu viện, nhập thất từ hai đến bốn, năm ngày liền “nhập tâm”

Bởi vậy nên nói: “Nhập tâm không khó, khó ở Quyết tâm”

Quyết tâm điều gì? Quyết tâm buông xả được vạn duyên và niệm Phật đúng cách, niệm không xen tạp, không gián đoạn thời gian dài, đơn giản thế thôi, kính

xin quý hành giả luôn ghi nhớ (nằm lòng) bí quyết này

38- Hỏi: Sao con ý trì mà bị nhức đầu và đau quai hàm quá, thưa Thầy?

Đáp: Niệm Phật mà bị đau xương quai hàm thì rõ ràng là niệm bằng miệng (khẩu

trì) đâu phải ý trì Ý trì là niệm bằng ý Niệm Phật bị nhức đầu vì đã trụ danh hiệu Phật ở đầu Theo cơ thể học, trụ ở đâu là máu tụ hội về đó, tụ hội nhiều quá sinh ra

nhức đầu Bởi vậy hành giả niệm Phật không được trụ bất cứ nơi nào trên cơ thể

39- Hỏi: Ý trì có thể nhịp ngón tay hoặc lần chuỗi được không, thưa Thầy? Đáp: Mới tập khi còn yếu thì được, tập quen rồi nên bỏ đi, vì nhịp tay hay lần

chuỗi thì:

a Thân động, tâm sẽ động theo

b Khi chú ý để nhịp tay hay lần chuỗi thì bị phân tâm

Hai điều này gây khó nhất tâm

Trang 35

40- Hỏi: Xin thầy nói rõ hơn sự phân biệt giữa ba cách trì danh: kim cang trì, mặc trì và ý trì, và sự lợi ích của ý trì

Đáp:

- Kim cang trì và mặc trì đều là niệm thầm bằng miệng (không ra tiếng), còn gọi là khẩu trì Nhưng kim cang trì còn nhép môi, còn mặc trì thì không nhép môi

- Ý trì cũng là niệm thầm (không ra tiếng), nhưng niệm bằng ý (không phải

niệm bằng miệng như kim cang trì hay mặc trì) Ý trì ban đầu còn yếu không nghe tiếng, sau lớn mạnh thì có tiếng Lúc bấy giờ ta nghe tiếng không phải nghe bằng

lỗ tai, (nhĩ căn, nhĩ thức), mà nghe bằng tánh nghe (thường gọi là tánh trong căn)

Trong Tuyết Hư Lão Nhân Tịnh Độ Tuyển Tập, Ngài Lý Bỉnh Nam nói: “Ý trì

vẫn có tiếng” (Xin đọc kỹ phần IV – Cách trì danh trong sách Niệm Phật Đạt Bất

Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh )

- Lợi ích của ý trì như sau:

a Trong suốt thời gian ý trì, nhất định không có vọng niệm, vọng tưởng Vì

ý bận niệm Phật làm sao có niệm gì khác được (tâm vô nhị dụng, nghĩa là tâm một lúc không thể làm hai việc) Đó là pháp tu chỉ của Thiền tông Lắng lòng nghe rành

rẽ, rõ ràng danh hiệu Phật là tu quán rồi Ý trì là Chỉ Quán song tu của Thiền Do

vậy, Kinh Đại Tập dạy: “Pháp môn Tịnh độ (niệm Phật) là vô thượng thâm diệu

Thiền”, là Thiền thâm sâu, vi diệu, cao nhất

b Ý căn và nhĩ căn xoay vào trong (hướng nội) để niệm Phật và nghe danh hiệu Phật, không để chúng rong ruổi (hướng ngoại) theo ngũ dục lục trần Được vậy là ta đã nhiếp được hai căn chủ tể nhạy bén nhất của sáu căn Sáu căn dung thông nhau, hễ viên thông được một là dung nhiếp cả sáu (nhất tu nhất thiết tu, thành tựu một là thành tựu tất cả)

Quán Thế Âm Bồ-tát chỉ tu nhĩ căn được viên thông mà thành tựu quả vị Đẳng giác Bồ-tát Hành giả ý trì (niệm Phật bằng ý) là thực hành đúng phương

cách trong Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp, đắc

Tam ma địa (tức đắc định, được Nhất tâm bất loạn) bậc nhất”, “Bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai”, chẳng cần phương tiện gì khác tự được khai tâm (khai mở trí tuệ)

41- Hỏi: Ý trì có phải trụ tâm ở đâu không? Có nhiều Thầy dạy trụ ở nhiều nơi khác nhau trên thân, hoặc trên hình tượng Phật Kính xin Thầy minh xác việc này

Trang 36

Đáp:

1- Không trụ mà trụ, trụ mà không trụ, như sau:

a Kinh Kim-cang dạy: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là không trụ vào đâu cả mà sanh tâm (làm các việc) Kinh Bát-nhã dạy: “Chiếu kiến ngũ uẩn

giai không…”, nghĩa là thấy năm uẩn đều không, đã là không thì lấy gì, lấy chỗ nào để mà trụ (không trụ)? Hành giả dùng ý niệm Phật một cách nghiêm túc (không đùa giởn), bình thường (không vội vã, hấp tấp), thanh thản (không mong cầu), nhàn nhã (buông xả vạn duyên, không bận rộn dính mắc gì cả, tâm không, tâm vô sự) Đó là không trụ (vô trụ)

Còn “trụ” là sao? Dùng ý niệm Phật tức là cột ý vào danh hiệu Phật, có

nghĩa là trụ trên danh hiệu Phật

Hai ý trên là nghĩa câu thứ nhất “Không trụ mà trụ”

b Trụ mà không chấp tướng, coi như không trụ, không trở ngại đường tu,

trái lại đem lại nhiều lợi ích, là hoà nhập ý (tâm) với danh hiệu Phật làm một

Theo Kinh Niệm Phật Ba-la-mật danh hiệu Phật là biểu tượng Pháp thân Phật,

đúng như Kinh Quán Vô Lượng thọ dạy: “Tâm làm Phật, tâm là Phật”, Tông cảnh

lục cũng nói: “Nhất niệm tương ưng, nhất niệm Phật” Trong Kinh A-di-đà Yếu

Giải Liên tông Cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư cũng nói: “Ngay khi niệm Phật mình đã là Phật rồi”

Đây là nghĩa câu thứ hai “Trụ mà không trụ”

2- Trụ nhiều nơi khác nhau trên thân

a Theo cơ thể học, tập trung ý nghĩ (trụ) ở đâu, máu sẽ tụ hội về nơi đó Nếu trụ ở đầu thì dễ bị nhức đầu (lên máu)

b Ý đang niệm Phật, lại phải nghĩ trụ ở nhiều nơi nhất định nào đó, sẽ bị

phân tâm, làm sao tiến tới nhất tâm được? Bởi vậy chư Tổ dạy rằng niệm Phật phải chuyên tâm nhất ý, là vậy

c Minh Tuệ tôi chưa thấy Kinh Phật hay chư Tổ nào dạy như vậy Thành thật mà nói là tôi không rõ việc này

3- Nếu đặt danh hiệu Phật ở nhiều nơi trên hình tượng Phật, rồi tưởng tượng

danh hiệu ấy nổi lên mà niệm, thiết nghĩ đây là pháp quán tưởng trì danh Minh Tuệ hành trì pháp nhiếp tâm trì danh, không có kinh nghiệm về pháp quán tưởng,

nên xin phép không có ý kiến

42- Hỏi: Biết rằng ý trì hiệu quả cao, nhưng khó tập quá, con tập lâu thường bị nhức đầu Vậy phải làm sao để được nhập tâm?

Trang 37

Đáp: Liên hữu niệm Phật mà tập trung tư tưởng nhiều quá (cố trụ danh hiệu Phật ở

đầu, máu dồn lên đầu cũng gọi là hỏa xông, hay động não) Tập trung quá mức như vậy, không riêng gì ý trì, mà khẩu trì (niệm bằng miệng) vẫn bị nhức đầu Bởi vậy chư Tổ, quý Thầy có dạy: “Niệm Phật không trụ vào đâu cả”, vô trụ, trụ ở đầu sẽ nhức đầu, trụ ở nhịp đập của tim thì bị nhức tim Niệm một cách bình thường (không ép sức, không quá nhanh, vừa sức mình thôi), nghiêm túc (cung kính, không phải đùa giỡn), thanh thản (không mong cầu, vì mong cầu tức là vọng tưởng, tạp niệm), rành rẽ, rõ ràng (không lộn lạo, không trại giọng, nếu không thì

khi nhập tâm nó sẽ bị lộn lạo như: Đà Phật A-di mà đựợc đề cập trong sách Niệm

Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh )

Nếu với căn tánh của mình, liên hữu thực hành ý trì không nổi, thì áp dụng pháp mặc trì hay kim cang trì vẫn được nhập tâm, nhưng hơi lâu hơn mà thôi

43- Hỏi: Thầy nói niệm Phật trụ ở nhịp đập của tim sẽ bị đau tim Xin hỏi vì sao?

Đáp: Thực tế trường hợp này đã xảy ra rồi Có liên hữu nọ thường ngày (huân tập)

nương vào nhịp đập của tim (thay thế xâu chuỗi) mà niệm Phật Hiệu quả rất tốt là không có vọng niệm, vì ý thức bận theo dõi (cột vào) nhịp đập của tim để niệm Phật, nghĩa là nhiếp cả ba: ý thức, nhịp đập của tim, danh hiệu Phật làm một Tâm một lúc không thể làm hai việc, ở đây nhiếp ý vào nhịp đập của tim và danh hiệu Phật thì tạp niệm làm sao khởi dậy được, quá đúng lý (logic)! Tập lâu ngày (huân tập) thành thói quen, vị ấy nương vào nhịp đập của tim khởi câu Phật hiệu Nhịp đập của tim hoạt động đều đặn, thường xuyên 24/24, do vậy công phu đắc lực hơn,

rất tốt ở giai đoạn này

Như trên đã nói, hành giả nương (trụ) vào nhịp đập của tim để niệm Phật Bình thường tim đập 80 lần/phút thì niệm 80 câu Phật hiệu Tiếng tim đập và tiếng

Phật hiệu đồng hành nhịp nhàng như thế thành thói quen Khi nhập tâm, tự nhiên

tiếng Phật hiệu tăng từ 100 đến 120 lần/phút, nó kéo tim cũng phải đập theo Vì thói quen nhịp tim đồng hành với niệm, từ 100 đến 120 lần/ phút, bắt tim làm việc quá sức, dẫn đến đau tim (triệu chứng ban đầu là nhức nơi tim) Đây là thực tế có người đã bị rồi Từ đây suy ra, không nên nương vào hơi thở để niệm Phật (Tùy tức trì danh) Chưa nói khi nhập Bất niệm tự niệm sâu, tốc độ niệm Phật gia tăng càng nhiều hơn Do vậy, nên nói niệm Phật không nên trụ bất cứ nơi nào trên cơ thể (vô trụ), như tôi đã trình bày ở phần trên

Trang 38

44- Hỏi: Liên hữu ấy đã bị bệnh tim như vậy, phải chữa trị thế nào?

Đáp: Với bệnh này, nhập viện Tây y tìm không ra nguyên nhân, bác sĩ chỉ cho uống thuốc hạ nhịp đập của tim Đây là cách trị ngọn, làm sao dứt bệnh được? Uống thuốc hạ nhịp đập của tim lâu ngày quen thuốc và gây nhiều phản ứng phụ, rất nguy hiểm Còn Bất niệm tự niệm, tôi đã trực tiếp hỏi bác sĩ, việc đó là sao? Nguyên nhân như thế nào? Bác sĩ không trả lời được, vậy thì làm sao tìm biết được nguyên nhân bệnh tim nói trên?

Cách chữa trị như sau:

1-Tách rời tiếng Phật hiệu khỏi nhịp đập của tim bằng cách không quan tâm

để ý nghe tiếng nhịp đập của tim nữa (thả lỏng để nó tự đập) Miệng niệm Phật ra tiếng càng lớn càng tốt, tai lắng nghe, tâm ghi nhận danh hiệu Phật (miệng, tai và tâm đều niệm Phật) Niệm khoảng 30 phút hoặc 60 phút, liền hết nhức ngực Đó là thành công bước đầu Hành trì như vậy đôi ba ngày, sẽ dứt hẳn đau nhức, được lành bệnh

2- Nếu cách trên không thành công thì tập cách thứ hai:

Tách rời tiếng Phật hiệu khỏi nhịp đập của tim bằng cách không quan tâm, không để ý nghe tiếng nhịp đập của trái tim (thả lỏng để nó tự đập), miệng niệm

Phật ra tiếng càng lớn càng tốt, trụ danh hiệu Phật ở một nơi nào đó trên thân như

ở bụng hay đầu gối chẳng hạn (thay chỗ trụ của danh hiệu Phật, trước đây ở tim, bây giờ ở bụng) Tai lắng nghe, tâm ghi nhận danh hiệu Phật (miệng, tai và tâm đều niệm Phật) Niệm khoảng 30 phút hoặc 60 phút, liền hết nhức ngực Đó là thành công bước đầu Hành trì như vậy đôi ba ngày, sẽ dứt hẳn đau nhức, được lành bệnh

Hai cách này chỉ khác nhau ở chỗ: Cách thứ nhất không trụ danh hiệu Phật vào đâu cả Cách thứ hai trụ danh hiệu Phật ở bụng

Sau khi lành bệnh hẳn, xả bỏ không trụ danh hiệu Phật ở bụng nữa (vô trụ) Có chăng, ý chỉ trụ vào danh hiệu Phật

45- Hỏi: Nhập tâm lộn lạo Đà Phật A Di là sao?

Đáp: Kinh nghiệm cho thấy, nếu niệm không rành rẽ, rõ ràng thì khi nhập tâm sẽ

không rành rẽ, rõ ràng Khi niệm nhấn mạnh chữ nào, sẽ nhập tâm chữ đó trước, tiếp theo những chữ kế tiếp Ví dụ, nhấn mạnh chữ “A” khi nhập tâm, sẽ ra “A-di-

đà Phật” Nhấn mạnh chữ “Phật”, khi nhập tâm nó sẽ ra “Phật A-di-đà” Nhấn mạnh chữ “Đà”, khi nhập tâm nó sẽ ra “Đà Phật A Di”

Tôi đã bị rồi Thuở đó không phải tôi niệm Phật, nhấn mạnh chữ “Đà”, mà buổi tối ngủ tôi để máy niệm Phật suốt đêm Máy Sony có một nút điều chỉnh, hát

Trang 39

nhấn mạnh chữ đầu, giữa, hay cuối, tôi không để ý, nên nhấn lầm chữ giữa, mới ra nông nỗi như vậy Một liên hữu khác cũng bị như tôi, nguyên nhân vì cô ấy niệm bốn chữ, mà chữ “Đà” kéo dài hơn hết, như vậy coi như là nhấn mạnh chữ “Đà” Muốn điều chỉnh lại cũng được nhưng mất thời gian khá lâu Xin gợi ý cách điều chỉnh sau đây:

Theo Duy thức học, khi chủng tử khởi hiện hành, ta quan tâm (thương, ghét, vui, buồn) đến nó, nó sẽ rơi (huân tập) vào tạng thức lớn mạnh hơn trước Bằng không để ý đến nó, nó cũng rơi vào tạng thức, nhưng yếu dần dần, nhẹ hơn trước

Do vậy, khi nghe Tự tánh tự niệm “Đà Phật A Di” ta phớt lờ, dửng dưng (không quan tâm đến nó) Miệng lớn tiếng niệm A-di-đà Phật đè lấp “Đà Phật A Di” để điều chỉnh lại Tùy người, tôi phải mất gần một năm, liên hữu nọ chỉ cần mấy tháng thôi, là điều chỉnh lại được hoàn toàn, nghĩa là mất hẳn không còn “Đà Phật

A Di” nữa, mà toàn là “A Di Đà Phật” mà thôi

46- Hỏi: Niệm Phật cách nào gọi là “Lão Thật niệm Phật”?

Đáp: “Lão thật niệm Phật” có nghĩa là thật thà (thành thật, chắc thiệt) niệm Phật

Thực hành bằng cách sau:

1- Chuyên tâm nhất ý niệm Phật, ngoài danh hiệu Phật, không còn sự việc gì khác nữa

2- Miệng niệm Phật, tâm cũng phải niệm Phật

3- Miệng và tâm niệm Phật không xen tạp, không gián đoạn cho đến giờ phút cuối cùng cuộc đời, nghĩa là lấy danh hiệu Phật làm mạng sống của mình

a.Tâm không hoài nghi, tuyệt đối tin tưởng vào lời giáo hóa của Phật

Thích-ca và đại nguyện của Phật A-di-đà

b.Tâm không mong cầu bất cứ gì khác như: chứng đắc, vãng sanh, thành Phật…

c.Tâm buông xả vạn duyên, nghĩa là tâm không nhớ nghĩ gì khác, kể cả ăn, uống, mặc, ngủ nghỉ, ngũ dục lục trần, danh văn lợi dưỡng, thị phi, được mất, hơn thua, thành bại…

d.Tâm không còn chấp ngã

4 Toàn thân tâm đều niệm Phật Ban đầu dùng nhĩ căn niệm Phật, nghĩa là

nghe bất cứ tiếng gì cũng là tiếng niệm Phật, như tiếng chim kêu, gió thổi, nuớc

chảy, xe chạy, thậm chí tiếng mắng chửi mình cũng là tiếng niệm Phật (gọi là giả tá) Sau đó các căn khác cũng đều như vậy

Trang 40

Kinh nghiệm cho biết dễ giả tá nhất là tiếng mõ Bản thân tôi và nhiều Phật tử thực hành, có kết quả như ý

5 Hòa nhập năng-sở làm một, nghĩa là ta, người niệm Phật (năng) và danh

hiệu Phật được niệm (sở) là một

Tóm lại: Buông xả vạn duyên, không mong cầu, suốt đời chuyên tâm nhất ý,

toàn thân tâm niệm Phật không hoài nghi, không mong cầu, không xen tạp, không gián đoạn Cuối cùng không còn chấp ngã, hòa nhập năng sở làm một

Thực hiện được những điều nói trên, tùy theo mức độ cạn sâu, sẽ lần lượt chứng nhập: Nhập tâm, Bất niệm tự niệm, (Thành một khối), Nhất tâm bất loạn (Niệm Phật Tam muội)

Hành giả nên cố gắng, kiên trì thực tập từng bước, hầu sớm thành tựu Tịnh nghiệp, bảo đảm vãng sanh Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh

47- Hỏi: Khi ngồi tịnh tọa niệm Phật, để nhiếp nhãn căn, con nhắm mắt, thời gian ngắn, bỗng con thấy những người và thú rất xa lạ với con, con mất chánh niệm Con mở mắt ra thì không còn thấy gì nữa Trước kia, con thường thấy vậy nhiều hơn, sau khi con được nhập tâm tình trạng này ít dần Như vậy những hình người và thú này từ đâu mà có? Tình trạng này tốt hay xấu, và con phải làm sao, thưa Thầy?

Đáp:

1- Chủng tử tiềm tàng trong tạng thức, chúng nương vào sáu căn để hiện hành

Nhắm mắt là đóng kín nhãn căn (không cho chủng tử hiện hành qua mắt) cộng thêm liên hữu niệm Phật là huân tập chủng tử danh hiệu Phật vào tạng thức, chủng

tử vô lậu này chuyển hóa những chủng tử hữu lậu, để đối phó lại hai áp lực này, chủng tử hữu lậu phản ứng lại bằng cách khởi hiện hành, nên hiện tượng này gọi là

“Sức phản ứng của chủng tử nghiệp”

Những hình người và thú mà liên hữu thấy, hiện hữu trong tâm Cái thấy lúc

bấy giờ không phải thấy bằng mắt (vì mắt đã nhắm lại rồi), mà thấy bằng tánh

thấy (cũng ở trong tâm) Cảnh giới này hoàn toàn xảy ra trong tâm nên gọi là nội

giới Nội giới này xuất phát từ tạng thức (A-lại-da thức), nên gọi là “A-lại-da biến tướng”

2- Hiện tượng này trước đây xảy ra nhiều, nay dần dần ít lại

Theo Duy thức học, chủng tử khởi hiện hành mà mình không theo (không nuôi dưỡng), nó cũng rơi lại tạng thức nhưng yếu hơn, nhiều lần như vậy nó sẽ mất hẳn (tiêu diệt)

Ngày đăng: 17/12/2013, 02:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w