1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

trao đổi về vấn đề dân chủ

25 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 53,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuật ngữ Dân chủ (Demos Kratos) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp. Trong đó Demos (nhân dân), Kratos (chính quyền), có nghĩa là chính quyền của nhân dân. Theo C. Mác và Ph. Ăngghen, từ dân chủ chủ nô đến dân chủ tư sản và đến dân chủ vô sản là những bước tiến của lịch sử. Các ông đã đánh giá một cách khách quan nền dân chủ tư sản, mặc dù là bước tiến bộ so với chế độ chuyên chế phong kiến nhưng dân chủ tư sản còn rất nhiều hạn chế, khiếm khuyết. Kế thừa và phát triển những tư tưởng của C. Mác và Ph. Ănghen về dân chủ, V.I. Lênin đã làm sáng tỏ con đường biện chứng của quá trình phát triển dân chủ: “Từ chuyên chế đến dân chủ tư sản; từ dân chủ tư sản đến dân chủ vô sản; từ dân chủ vô sản đến không còn dân chủ nữa”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Dân chủ là động lực cho sự nghiệp đổi mới vì dân chủ hóa đời sống xã hội sẽ phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác của mỗi con người, làm cho tiềm năng sáng tạo được tự do phát triển; mọi người dân được tham gia vào quá trình chính trị, xã hội trên tất cả các khâu, từ hoạch định đường lối đến triển khai, tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm tra và tổng kết,… Ý thức sâu sắc tầm quan trọng của dân chủ, Đảng ta khẳng định: dân chủ là quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của hệ thống chính trị XHCN. “Thực hiện dân chủ XHCN là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị. Nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới”. Dân chủ là bản chất của chế độ ta, đồng thời là nguyện vọng thiết tha của nhân dân ta. Muốn vậy, phải “phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật”. “Đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao đạo đức”. Đó là điều kiện để nhân dân thực hiện được quyền làm chủ của mình bằng nhà nước, thông qua nhà nước.

Trang 1

Thuật ngữ Dân chủ (Demos Kratos) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp Trong

đó Demos (nhân dân), Kratos (chính quyền), có nghĩa là chính quyền của nhândân

Theo C Mác và Ph Ăngghen, từ dân chủ chủ nô đến dân chủ tư sản vàđến dân chủ vô sản là những bước tiến của lịch sử Các ông đã đánh giá mộtcách khách quan nền dân chủ tư sản, mặc dù là bước tiến bộ so với chế độchuyên chế phong kiến nhưng dân chủ tư sản còn rất nhiều hạn chế, khiếmkhuyết

Kế thừa và phát triển những tư tưởng của C Mác và Ph Ănghen về dânchủ, V.I Lênin đã làm sáng tỏ con đường biện chứng của quá trình phát triểndân chủ: “Từ chuyên chế đến dân chủ tư sản; từ dân chủ tư sản đến dân chủ vôsản; từ dân chủ vô sản đến không còn dân chủ nữa”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạnnăng có thể giải quyết mọi khó khăn” Dân chủ là động lực cho sự nghiệp đổimới vì dân chủ hóa đời sống xã hội sẽ phát huy tính tích cực, chủ động, tự giáccủa mỗi con người, làm cho tiềm năng sáng tạo được tự do phát triển; mọi ngườidân được tham gia vào quá trình chính trị, xã hội trên tất cả các khâu, từ hoạchđịnh đường lối đến triển khai, tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm tra và tổng kết,

Ý thức sâu sắc tầm quan trọng của dân chủ, Đảng ta khẳng định: dân chủ

là quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của hệ thống chính trị XHCN

“Thực hiện dân chủ XHCN là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thốngchính trị Nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới” Dân chủ

là bản chất của chế độ ta, đồng thời là nguyện vọng thiết tha của nhân dân ta.Muốn vậy, phải “phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăngcường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân,nâng cao ý thức chấp hành pháp luật” “Đồng thời coi trọng giáo dục nâng caođạo đức” Đó là điều kiện để nhân dân thực hiện được quyền làm chủ của mìnhbằng nhà nước, thông qua nhà nước

Trang 2

Trong những năm qua, việc thực hiện dân chủ ở nước ta đã có nhữngbước tiến quan trọng Nhờ biết xây dựng và phát huy dân chủ trên mọi mặt củađời sống xã hội, trong đó lấy việc thực hiện dân chủ về kinh tế và ưu tiên pháttriển lực lượng sản xuất làm nền tảng, dân chủ chính trị làm trung tâm, kết hợptốt và đảm bảo hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trên cơ sở giữ vững

kỷ luật, kỷ cương và tôn trọng pháp luật đã tạo cho đất nước những thay đổi

cơ bản với những thế và lực mới Tuy nhiên, quá trình thực hiện dân chủ ở nước

ta hiện nay cũng đang diễn ra trong những bối cảnh rất phức tạp

Một mặt, các thế lực thù địch luôn đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòabình”, hòng gây mất ổn định với mưu đồ bạo loạn, lật đổ Vấn đề dân chủ,nhân quyền được họ coi là một bộ phận quan trọng của chiến lược đó, nhằmmục tiêu lật đổ chế độ XHCN và phá hoại độc lập dân tộc và chủ quyền quốc giacủa ta Dưới chiêu bài bảo vệ “dân chủ”, “nhân quyền”, họ tiến hành hoạt độngphá hoại tư tưởng, tuyên truyền cho nền dân chủ tư sản và giá trị phương Tây

Họ đang tìm mọi cách khoét sâu những khuyết điểm, sai lầm, thiếu sót của tatrên con đường xây dựng, phát triển nền dân chủ XHCN, nhằm làm giảm niềmtin của nhân dân ta vào Đảng, vào chế độ Họ khuyến khích, tập hợp, hỗ trợ chobọn phản động đội lốt tôn giáo, cùng bọn cơ hội, bất mãn, cực đoan, phát triểnlực lượng, hình thành lực lượng đối lập và những tổ chức phản động để chốngphá cách mạng nước ta…

Mặt khác, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong quá trình thực hiệndân chủ, tình trạng thực hiện dân chủ và kỷ cương ở nước ta vẫn còn nhiều vấn

đề bất cập Bộ máy nhà nước cồng kềnh; hiệu quả quản lý, điều hành của nhànước còn thấp, kỷ cương phép nước còn bị xem thường Những hạn chế trên đãdẫn tới tình trạng ở nhiều nơi, quyền dân chủ của nhân dân bị vi phạm Thựctiễn nhiều năm qua ở một số địa phương, đơn vị cho thấy, chính tình trạng mấtdân chủ, vi phạm dân chủ mới là nguyên nhân dẫn đến sự không ổn định, mâuthuẫn và thậm chí, cả sự xung đột Không khắc phục có hiệu quả những nhận

Trang 3

thức phiến diện về vấn đề này, chúng ta không thể loại trừ tình trạng quan liêucủa nhà nước làm ảnh hưởng tiêu cực đến quyền làm chủ của nhân dân.

Nghiên cứu quan điểm của V.I Lênin về vấn đề dân chủ có ý nghĩaquan trọng về lý luận và thực tiễn Nó vừa cung cấp cho chúng ta một thế giớiquan, phương pháp luận khoa học, đúng đắn nhằm chống lại các luận điệuxuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề dân chủ, đồng thời cho ta nhữngnhận thức đúng đắn nội dung của vấn đề dân chủ, trên cơ sở đó vận dụng đúngđắn và sáng tạo những quan điểm này vào thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay

I QUAN ĐIỂM CỦA V.I LÊNIN VỀ DÂN CHỦ

1 Cơ sở hình thành quan điểm dân chủ của V.I Lênin

a) Quan điểm về dân chủ thời kỳ trước C Mác và Ph Ăngghen

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, con người đã biết “cử ra và phế bỏngười đứng đầu” là do quyền và sức lực của người dân, nghĩa là dân chủ làquyền lực thuộc về nhân dân Thời kỳ Hy Lạp cổ đại, khi bắt đầu có ngônngữ, chữ viết, con người đã biết cách diễn đạt nội dung dân chủ Người La

Mã cổ đại cũng biết đến dân chủ, khi các nhà tư tưởng chính trị La Mã chorằng quyền lực chính trị xuất phát từ sự đồng thuận của dân chúng, con người

có những quyền tự nhiên mà tất cả chính quyền đều phải tôn trọng Mãi đếnthời kỳ phục hưng vào thế kỷ thứ XV, Châu Âu xuất hiện những nhà tư tưởnglớn, việc cải cách thể chế lại được thúc đẩy Đặc biệt, đến thời kỳ khai sáng ởChâu Âu, thế kỷ thứ XVIII - XIX, những tư tưởng thực sự dân chủ mới lạixuất hiện, nhất là cống hiến của các triết gia người Pháp Bước sang thời kỳchủ nghĩa tư bản, quan niệm về dân chủ với những khái niệm “nhân quyền”

“dân chủ”, “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái”, những nội dung này mới đượcthể hiện trong đời sống hiện thực; đó là nền dân chủ tư sản

b) Quan điểm về dân chủ thời kỳ C Mác và Ph Ăngghen

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác hiểu khái niệm dân chủ trướchết với tính cách là một khái niệm chính trị, dùng để chỉ chế độ nhà nước

Ph Ăngghen không thừa nhận chế độ thị tộc là một thể chế dân chủ vì đóchưa phải là một chế độ chính trị Tự do, bình đẳng, bác ái, tuy chưa bao

Trang 4

giờ được nêu thành công thức, nhưng vẫn là những nguyên tắc cơ bản củathị tộc” Ông gọi đây là nền “Dân chủ quân sự” Theo C Mác, Ph.Ăngghen chỉ có nền dân chủ mới, dân chủ vô sản, mới làm cho nhân dânlao động thực sự làm chủ xã hội và làm chủ vận mệnh của mình, kiểu mẫucủa dân chủ vô sản chính là Công xã Pari, một hình thức tổ chức nhà nước

do những người cộng sản lãnh đạo - một nhà nước của dân, do dân và vìdân

Tuy không phải là những người đầu tiên bàn về dân chủ và nêu lênước vọng về một xã hội dân chủ nhưng C Mác và Ph Ăngghen, lần đầu tiênchỉ ra bản chất giai cấp của dân chủ, làm rõ những đóng góp và hạn chế của dânchủ tư sản, từ đó tìm ra con đường để xây dựng một nền dân chủ mới - dân chủ

vô sản

2 Quan điểm của V.I Lênin về dân chủ

Thứ nhất, dân chủ xã hội chủ nghĩa được hiểu là một thể chế chính trị gắn liền với nhà nước xã hội chủ nghĩa, với chuyên chính vô sản Hình thức

tồn tại của nền dân chủ bao giờ cũng dưới một nhà nước nhất định: “chế độdân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái nhà nước” Vớinghĩa là một thể chế chính trị, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ có thể ra đờithông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân và dân dânlao động đập tan bộ máy nhà nước của của giai cấp thống trị cũ xây dựng một

hệ thống chính trị mới của mình V.I Lênin đã khẳng định: “Dân chủ là mộttrong những phạm trù thuộc riêng lĩnh vực chính trị thôi” và “Dân chủ tức làchính quyền của nhân dân” Dân chủ vô sản không chỉ ra đời gắn liền vớicuộc cách mạng vô sản, mà sự tồn tại của nền dân chủ ấy cũng gắn liền vớinền chuyên chính vô sản và nó sẽ tiêu vong khi loài người đạt đến chủ nghĩacộng sản

Dân chủ ra đời, tồn tại và tiêu vong cùng với sự ra đời, tồn tại và tiêu vongcủa nhà nước V.I Lênin viết: “Đương nhiên, chế độ dân chủ cũng là một hình thứcnhà nước và sẽ mất đi khi nhà nước tiêu vong nhưng điều đó chỉ xảy ra chủ nghĩa

xã hội thắng lợi hoàn toàn và được củng cố, quá độ lên chủ nghĩa cộng sản hoàntoàn”

Trang 5

Thứ hai, về bản chất, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ mang bản chất giai cấp công nhân, phục vụ cho lợi ích của đa số nhân dân lao động.

Về bản chất giai cấp của nền dân chủ, V.I Lênin cũng từng khẳng định: “Nếukhông khinh thường lẽ phải và lịch sử, ai cũng thấy rõ chừng nào mà còn những giaicấp khác nhau, thì không thể nói đến “dân chủ thuần túy” được, mà chỉ có thể nóiđến dân chủ có tính giai cấp (xin nói thêm rằng “dân chủ thuần túy” không những làmột công thức của kẻ ngu dốt không hiểu một tý gì về đấu tranh giai cấp, về bản chấtcủa nhà nước, mà còn là một công thức hết sức rỗng tuếch nữa)”

Về bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đây là nền dân chủ phục vụcho lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, mà trước hết là giai cấp công nhân,nông dân, những người bị áp bức Người chỉ ra: “Đồng thời với việc mở rộng rấtnhiều chế độ dân chủ - lần đầu tiên biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo,chế độ dân chủ cho nhân dân chứ không phải cho bọn nhà giàu - chuyên chính vôsản còn thực hành một loạt biện pháp hạn chế quyền tự do đối với bọn áp bức,bọn bóc lột, bọn tư sản” Sự đối lập giữa nền dân chủ tư sản và nền dân chủ vôsản được Lênin diễn đạt như sau: “Trong số các nước tư bản dân chủ nhất, thử

hỏi có lấy một nước nào trên thế giới mà trong đó, người công nhân hạng trung, người công nhân thông thường, người cố nông hạng trung, người cố nông thông

thường hay, nói chung, người nửa vô sản ở nông thôn (tức người đại biểu choquần chúng bị áp bức, cho đại đa số dân cư) lại được hưởng gần như là một

quyền tự do rộng rãi như ở nước Nga xô viết để có thể tổ chức các cuộc họp trong những tòa nhà tốt nhất, một quyền tự do rộng rãi như thế để có thể sử dụng

những nhà in lớn nhất và những kho giấy tốt nhất nhằm mục đích diễn đạt tưtưởng của mình, bênh vực quyền lợi của mình…” Với lẽ đó, khi so sánh nền

dân chủ tư sản và nền dân chủ vô sản, trong tác phẩm Cách mạng vô sản và tên phản bội Cauxky, V.I Lênin khẳng định “nền dân chủ vô sản hơn gấp triệu lần nền dân chủ tư sản”

Thứ ba, sự phát triển của dân chủ trong sự tiến tới chủ nghĩa xã hội, trong tương quan giữa kinh tế và chính trị Trong các nước cộng hòa tư sản,

chế độ dân chủ đã được thiết lập, nhưng nền dân chủ ấy bị bó hẹp trongkhuôn khổ của pháp quyền tư sản Để tiến tới chủ nghĩa xã hội, cùng với tiếnhành cách mạng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chuyên chính vô sản, nhiều

Trang 6

hình thức dân chủ cũng được tìm tòi và thực hiện trong đời sống xã hội: “pháttriển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí

nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn, v.v, đó là một trong những nhiệm

vụ cấu thành của cuộc đấu tranh vì cách mạng xã hội”

Về mối quan hệ giữa thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa với thể chế kinh

tế, chính trị ông viết: “Tách riêng ra, thì bất cứ chế độ dân chủ nào cũng khôngthể sinh ra chủ nghĩa xã hội được, nhưng trong đời sống, chế độ dân chủ khôngbao giờ “tách riêng được” mà nó sẽ “đứng chung trong toàn bộ”, nó cũng sẽ ảnhhưởng đến kinh tế, sẽ thúc đẩy sự cải tạo kinh tế; nó cũng sẽ chịu ảnh hưởng của

sự phát triển kinh tế… đó là biện chứng của lịch sử sinh động” Điều đó chothấy, trong tư tưởng của V.I.Lênin, nền dân chủ nói chung và dân chủ xã hội chủnghĩa nói riêng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với các quan hệ kinh tế.Một mặt nó là sản phẩm của các quan hệ kinh tế, mặt khác nó có vai trò kíchthích hoặc kìm hãm các quan hệ kinh tế

Thứ tư, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước và sự tham gia của nhân dân lao động vào quản lý nhà nước Kế thừa

tư tưởng của Mác - “Công xã không nên là một cơ quan đại nghị, mà phải là một

cơ thể hành động, vừa hành chính, vừa lập pháp”, V.I Lênin đã đưa ra tư tưởng

tổ chức hệ thống chính quyền xô viết trên cơ sở thống nhất quyền lập pháp vàhành pháp: “Công xã Pa-ri đã xóa bỏ, và từ lâu chủ nghĩa Mác đã chỉ ra tínhchất hẹp hòi và hạn chế của nó, nhất là chế độ đại nghị, về việc tách rời quyềnhành pháp ra khỏi quyền lập pháp Hợp nhất hai quyền ấy lại, các xô viết làmcho bộ máy nhà nước gần gũi với quần chúng lao động…”

Về sự tham gia của nhân dân lao động vào bộ máy nhà nước, V.I Lênin đãphê phán tính chất giả dối, che đậy bản chất giai cấp của nền dân chủ tư sản dướicái vỏ bọc của các quyền tự do, dân chủ, một “nền dân chủ thuần túy”, dân chủcho tất cả mọi người: “Các bạn hãy xem những luật lệ cơ bản của các nhà nướchiện đại, hãy xem chế độ quản lý của các nhà nước đó, hãy xem quyền tự do hộihọp hay tự do báo chí, hãy xem “quyền bình đẳng của mọi công dân trước phápluật” thì chỗ nào các bạn cũng sẽ thấy tính giả nhân giả nghĩa của chế độ dân chủ

tư sản mà mọi công nhân trung thực và giác ngộ đều biết rất rõ” Còn trong nềndân chủ xã hội chủ nghĩa, V.I Lênin viết: “Tổ chức xô viết đã làm cho phát triển

Trang 7

sâu rộng hơn rất nhiều cái mặt này của nền dân chủ tư sản - cái mặt đã khiến chonền dân chủ đó trở thành một tiến bộ lịch sử rất lớn so với thời trung cổ - tức là sựtham gia của dân chúng vào việc lựa chọn các công chức”

Về vai trò của nhân dân lao động tham gia vào công việc quản lý nhà nướctrong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, V.I Lênin khẳng định: “Trong chế độ dân chủ

tư sản, bọn tư bản dùng trăm phương nghìn kế, - chế độ dân chủ “thuần túy” càngphát triển, thì những mưu kế đó càng tinh xảo và có hiệu quả để không cho quầnchúng tham gia quản lý nhà nước, không cho quần chúng tự do hội họp, tự do xuấtbản… Chính quyền xô viết là chính quyền đầu tiên (nói cho thật đúng thì đó là chínhquyền thứ hai, vì công xã Pa-ri trước kia đã làm như vậy) thu hút quần chúng, nhất làquần chúng bị bóc lột, vào việc quản lý nhà nước”

Từ sự phân tích trên cho thấy, trong quan điểm của V.I Lênin thì bất kỳ mộtnền dân chủ nào cũng mang bản chất giai cấp, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là mộtnền dân chủ mang bản chất của giai cấp công nhân, bảo đảm cho giai cấp côngnhân, nông dân và nhân dân lao động có thực quyền trong việc quyết định quyềnlực nhà nhà nước; bảo đảm các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân

Trong khi mở rộng tối đa các quyền dân chủ cho mọi tầng lớp nhân dân, dânchủ xã hội chủ nghĩa cũng kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi đi ngược vớinhững chuẩn mực, phạm vi dân chủ theo luật định Do đó, dân chủ và chuyên chínhkhông bao giờ tách rời nhau

Thứ năm, V.I Lênin nêu lên nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng một đảng kiểu mới của giai cấp công nhân.

Bản chất của chế độ tập trung dân chủ là kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa sựthống nhất, sự lãnh đạo, chỉ đạo, tính nhất quán về mục tiêu với tính phong phú,

đa dạng muôn hình muôn vẻ các hình thức, phương thức, bước đi để thực hiện

sự lãnh đạo thống nhất và nhằm thực hiện những mục tiêu chung Chế độ tậptrung dân chủ là sự kết hợp trong mình nó mối quan hệ biện chứng của hai chế

độ tập trung và dân chủ phản ánh quy luật khách quan của các quá trình thựchiện những mục tiêu chung trong đời sống xã hội

Vận dụng kết hợp chế độ tập trung và dân chủ và đề ra thành một nguyêntắc cơ bản trong xây dựng đảng kiểu mới, nguyên tắc tập trung dân chủ đượcV.I.Lênin nêu ra trong Hội nghị của những người Bôn-sê-vich (Hội nghị Tam-

Trang 8

mec-pho, năm 1905), sau đó là tại Đại hội IV (Đại hội thống nhất) của ĐảngCông nhân dân chủ - xã hội Nga, năm 1906 Nguyên tắc này được thừa nhận lànguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng Cộng sản Liên Xô, được ghi trong Điều

lệ của Đảng và Điều lệ của Quốc tế cộng sản

Những nội dung chủ yếu của nguyên tắc “tập trung dân chủ” được V.I.Lênin nêu lên trong những luận cương trình bày tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản,khi nói về điều kiện để kết nạp vào Quốc tế Cộng sản: “Các đảng gia nhập Quốc

tế Cộng sản phải được xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ”

V.I Lênin cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ trong hình thức tổchức nhà nước là một trong những phương thức cơ bản để thực thi quyền lựcchính trị của giai cấp công nhân, V.I Lênin viết: “Những kẻ phản đối nguyêntắc tập trung dân chủ đều luôn luôn đưa ra chế độ tự trị và chế độ liên bang,xem đó là những biện pháp chống lại sự bất trắc của chế độ tập trung Kỳthực chế độ tập trung dân chủ không mảy may loại trừ chế độ tự trị mà trái lạicòn bao hàm sự cần thiết phải có chế độ tự trị”

Thống nhất giữa hai mặt tập trung và dân chủ là vấn đề có tính nguyêntắc, trong các điều kiện khác nhau sẽ được vận dụng khác nhau, mặc dù vậychỉ nên hiểu rằng đây là một nguyên tắc - nguyên tắc tập trung có tính dânchủ Không thể có tập trung mà không có dân chủ, không qua dân chủ, khôngbằng các cách thức dân chủ Nói cách khác, đây là nguyên tắc “dân chủ đượctập trung lại” Không nên hiểu đây là hai nguyên tắc kết hợp với nhau đi đếntùy tiện tăng cường tính tập trung hoặc hạn chế dân chủ, làm như vậy sẽ tổnhại đến chất lượng hoạt động của đảng cộng sản

Thứ sáu, V.I Lênin nêu bổ sung, phát triển lý luận về nhà nước - thiết chế quan trọng thực thi dân chủ

Nhất quán với tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen, V.I Lênin tiếp tụckhẳng định rằng, nhà nước là một hiện tượng lịch sử, sự tồn tại và tiêu vong của

nó là tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể; “nhà nước chỉ là một tổ chức thốngtrị của một giai cấp” và “bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy để một giaicấp này trấn áp giai cấp khác”

Đối với V.I Lênin, khái niệm “nhà nước” là để chỉ bộ máy nhà nướctrong xã hội có giai cấp Ông viết: “đặc trưng của nhà nước là sự tồn tại của

Trang 9

một giai cấp đặc biệt, tập trung quyền lực trong tay Dĩ nhiên, không ai có thểdùng hai tiếng nhà nước để gọi một cộng đồng, trong đó tất cả mọi thành viênđều thay phiên nhau quản lý “tổ chức của trật tự” Chính sự tập trung quyềnlực chính trị trong tay một giai cấp đặc biệt là đặc trưng để phân biệt nhànước với mọi hình thức tổ chức xã hội khác

Về bản chất giai cấp của nhà nước, V.I Lênin khẳng định: “Nhà nước là sảnphẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Bất cứđâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấpkhông thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhànước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được”

Nếu như xã hội đã từng tồn tại không cần có nhà nước, thì cùng với sựphát triển của sản xuất, xã hội loài người sớm muộn cũng sẽ đạt tới trình độ loại

bỏ nhà nước V.I Lênin viết: “Mục đích cuối cùng mà chúng ta theo đuổi, là thủtiêu nhà nước, nghĩa là thủ tiêu mọi bạo lực có tổ chức và có hệ thống, mọi bạolực, nói chung, đối với con người Chúng ta không mong có một chế độ xã hội

mà trong đó nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số sẽ không được tuân theo.Nhưng khi hướng đến chủ nghĩa xã hội, chúng ta tin chắc rằng chủ nghĩa xã hội

sẽ chuyển thành chủ nghĩa cộng sản, và do đó, nói chung sẽ không còn cần thiếtphải dùng bạo lực đối với con người, không cần thiết phải buộc người này phụctùng người khác, bộ phận dân cư này phục tùng bộ phận dân cư khác, vì người

ta sẽ quen tuân theo những điều kiện thông thường của đời sống tập thể, màkhông cần có bạo lực và không cần có phục tùng” Nghĩa là, khi đó nhà nước sẽ

tự tiêu vong

Tuy nhiên, để nhà nước có thể tự tiêu vong, cần có nhiều điều kiện, trong

đó, quan trọng nhất là, nhà nước phải trải qua một hình thức tồn tại đặc biệt củanó: Nhà nước chuyên chính vô sản Nhưng để có được nhà nước chuyên chính

vô sản, tất yếu phải dùng đến bạo lực cách mạng Bạo lực cách mạng là phươngthức duy nhất để một giai cấp mới, tiến bộ giành lấy quyền lực chính trị Điều

đó đúng đối với giai cấp vô sản và hơn thế, với giai cấp vô sản, bạo lực cáchmạng còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng nữa, đó là đập tan bộ máynhà nước cũ trước khi bắt tay xây dựng nhà nước kiểu mới

Trang 10

Tính chất đặc biệt của nhà nước chuyên chính vô sản với tư cách hìnhthức chuyển tiếp trước khi đạt đến trạng thái tự tiêu vong của nhà nước đượcV.I Lênin làm rõ trong việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tính chuyênchính và tính dân chủ của nhà nước.

Trước hết, V.I Lênin khẳng định, “trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tưbản lên chủ nghĩa cộng sản, sự trấn áp vẫn còn tất yếu, nhưng nó đã là sự trấn ápcủa đa số bị bóc lột đối với thiểu số bóc lột Cơ quan đặc biệt, bộ máy trấn ápđặc biệt là “nhà nước” vẫn còn cần thiết, nhưng nó đã là nhà nước quá độ, màkhông còn là nhà nước theo đúng nghĩa của nó nữa” và nhà nước vô sản phải làmột công cụ, một phương tiện; đồng thời, là một biểu hiện tập trung trình độ dânchủ của nhân dân lao động Dân chủ trong xã hội xã hội chủ nghĩa chính là nhândân tham gia vào mọi công việc của nhà nước

V.I Lênin cho rằng, nếu tính giai cấp là bản chất của mọi nhà nước, thì dânchủ hay chuyên chính cũng chỉ là hai mặt của bản chất đó mà thôi “Bất cứ một nhànước nào cũng đều có nghĩa là dùng bạo lực; nhưng toàn bộ sự khác nhau là ở chỗdùng bạo lực đối với những người bị bóc lột hay đối với kẻ đi bóc lột, ở chỗ códùng bạo lực đối với giai cấp những người lao động và những người bị bóc lộtkhông”

Chuyên chính vô sản không hề đối lập với dân chủ, mà là phần bổ sung, làhình thức thể hiện của dân chủ Điều cần quan tâm là, trong xã hội xã hội chủ nghĩa

- lực lượng đóng vai trò thống trị trong xã hội, và vì thế nắm quyền chuyên chính,dân chủ và pháp luật là đại đa số nhân dân lao động “Dân chủ cho tuyệt đại đa sốnhân dân và trấn áp bằng vũ lực bọn bóc lột, bọn áp bức nhân dân, nghĩa là tước bỏdân chủ đối với bọn chúng: đó là sự biến đổi của chế độ dân chủ trong thời kỳ quá

độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản”

II SỰ BẢO VỆ, BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

1 Những nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

a) Nhân tố chủ quan

Trang 11

Truyền thống đặt “tình cao hơn lý” là một nhân tố ảnh hưởng đến quátrình dân chủ ở nước ta hiện nay Với tư cách là những người lao động, dân tachưa quen sống trong những thiết chế dân chủ, nơi quan hệ họ hàng - làngxóm, nơi các tập tục cũ vẫn chi phối cuộc sống Một thời kỳ dài xã hội nước

ta nằm trong trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, điều đó làm cho dân chủ

xã hội chủ nghĩa lại biến dạng, không được quan tâm Khi chúng ta bước vàoxây dựng, phát triển nền kinh tế thì định hướng xã hội chủ nghĩa Trong xãhội nhiều hiện tượng tiêu cực, tệ nạn và tội phạm phát triển Tất cả tìnhhình đó trở thành vật cản lớn cho quá trình dân chủ hóa đời sống xã hộinước ta, đòi hỏi chúng ta phải khắc phục, đấu tranh để xây dựng thành côngchủ nghĩa xã hội

b) Nhân tố khách quan

Sự phân hóa xã hội diễn ra khá nhanh chóng, phổ biến và sâu sắc Trình

độ dân trí cũng có sự phân hóa, có nhiều người học cao, nhưng lại rất thiếu vănhóa, có người bằng cấp cao nhưng lại thiếu tri thức Cơ chế thị trường đề cao giátrị của đồng tiền Các tệ nạn xã hội gia tăng Sự tác động, ảnh hưởng của cáctrào lưu dân chủ khác nhau Dân chủ cực đoan đề cao quá mức tự do cá nhân,dẫn tới tự do vô chính phủ, vượt ra ngoài khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật

2 Sự bảo vệ, bổ sung, phát triển lý luận dân chủ xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam

Kế thừa tư tưởng về dân chủ và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩacủa chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam, Hồ Chí Minh đã vận dụngsáng tạo, phát triển sáng tạo phù hợp điều kiện Việt Nam Người đã khẳng định

vị trí, tầm quan trọng của dân chủ và thực hành dân chủ Theo Người, “thựchành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” Chỉ cóthực hành dân chủ mới phát huy được nhiệt tình cách mạng, tài năng, sáng kiếncủa nhân dân vì sự nghiệp chung Người nói: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, bađiều đó rất quan hệ với nhau Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề

ra sáng kiến”

Trang 12

Để thực hiện quyền làm chủ, nhân dân không những phải có quyềndân chủ được xác nhận trong Hiến pháp và pháp luật, mà điều quan trọng làcần phải có năng lực làm chủ, gắn liền với việc phải biết hưởng quyền làmchủ, phải biết dùng quyền làm chủ.

Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, dân chủ phải gắn với chuyên chính,thực hiện dân chủ với nhân dân đồng thời phải chuyên chính với kẻ thù của nhândân, với những kẻ phá hoại dân chủ, coi chuyên chính là công cụ cần thiết vàhiệu quả để bảo vệ, giữ gìn dân chủ

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn tìm tòi, bổ sung, pháttriển tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời kỳ trước đổi mới, quá trình Đảng ta lãnh đạo xây dựng và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa có những thành tựu vừa có hạn chế

Thứ nhất, ngay khi vừa mới ra đời, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng

hòa non trẻ đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, nhưng Đảng và Nhà

nước ta đã kịp thời đưa ra và thực thi nhiều chủ trương chính sách dân chủ rộng rãi trên các lĩnh vực đời sống xã hội Lần đầu tiên, tất cả công dân Việt

Nam được thực hiện quyền ứng cử và bầu cử của mình để bầu ra Quốc hộithật sự dân chủ và ngay sau đó Quốc hội đã xây dựng nên bản Hiến phápnăm 1946, trong đó ghi nhận một cách mẫu mực những nguyên tắc dânchủ thực hiện tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết

Trong điều kiện vừa kháng chiến vừa kiến quốc, những chủ trương, chính

sách dân chủ rộng rãi đó tiếp tục được thực hiện trong vùng tự do và vùng mới giải

phóng góp phần bồi dưỡng sức dân, bảo đảm quyền tự do, dân chủ của nhân dân vàđưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn

Thứ hai, Hội nghị Trung ương 8 khóa II (8/1955), xác định, “chế độ chính

trị và xã hội ở miền Bắc của ta nội dung là dân chủ nhân dân, nhưng hình thức thì

về một mặt nào đó còn áp dụng chủ nghĩa dân chủ cũ; Theo đó, nhiệm vụ củamiền Bắc là củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần từng bướcvững chắc lên chủ nghĩa xã hội

Ngày đăng: 06/07/2021, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w