1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

SKKN Chinh ta 4

23 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 34,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ViÕt chÝnh t¶: * Chính tả “ nghe - viết ” giáo viên đọc cho học sinh viết - Giáo viên đọc lần thứ nhất để học sinh bao quát toàn bài giáo viên cần phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải, tạo đ[r]

Trang 1

Mục lục

A phần mở đầu

1 Vị trí của phân môn Chính tả

Trang2

B phần Nội dung

II Nội dung chơng trình sách giáo khoa trong phân môn Chính tả lớp 4 6

IV Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh 8

1 Biện pháp dạy học cần phù hợp với từng kiểu bài, dạng bài 8

6 Phối hợp linh hoạt giữa các phơng pháp dạy 14

7 Hớng dẫn học sinh phân biệt một số cặp phụ âm đầu, vần 14

C Kết luận và kiến nghị

Trang 2

A phần Mở đầu

Bậc Tiểu học là bậc đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách ở học sinh, làbậc học cung cấp những tri thức ban đầu về tự nhiên - xã hội; trang bị những phơngpháp và kĩ năng ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, bồi dỡng vàphát triển những tình cảm, thói quen và đức tính tốt đẹp của con ngời Việt Nam Mỗimôn học ở Tiểu học đều góp phần hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rấtquan trọng của nhân cách con ngời Việt Nam Trong các môn học ở Tiểu học, cùngvới môn Toán, môn Tiếng Việt có một vị trí rất quan trọng vì các kiến thức, kĩ năngcủa môn Tiếng Việt Tiểu học có rất nhiều ứng dụng trong đời sống

Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học là:

- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe,nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trờng hoạt động của lứa tuổi.Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của t duy

- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểubiết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con ngời, về văn hoá, văn học của Việt Nam và n-

ớc ngoài

- Bồi dỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt Nam xã hộichủ nghĩa

* Trong môn Tiếng Việt lại chia thành nhiều phân môn Chính tả là một trongcác phân môn của môn Tiếng Việt

1 Vị trí của phân môn Chính tả:

Phân môn Chính tả trong nhà trờng giúp học sinh thực hành năng lực và thóiquen viết đúng chính tả Nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng Tiếng Việtvăn hoá, Tiếng Việt chuẩn mực Vì vậy phân môn Chính tả có vị trí quan trọng trongcơ cấu chơng trình môn Tiếng Việt nói riêng, các môn học ở trờng phổ thông nóichung

ở bậc Tiểu học, phân môn chính tả càng có vị trí quan trọng Bởi vì, giai đoạnTiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả cho học sinh.Không phải ngẫu nhiên mà ở Tiểu học, Chính tả đợc phân bố thành một phân môn độclập (thuộc môn Tiếng Việt) có tiết dạy riêng Trong khi đó, ở THCS và THPT, chính tảchỉ đợc dạy xen kẽ trong các tiết thực hành ở phân môn Tập làm văn chứ không tồn tạivới t cách là một phân môn độc lập nh ở Tiểu học

2 Tính chất của phân môn Chính tả:

Giống nh các phân môn khác, trong môn Tiếng Việt, tính chất nổi bật củaphân môn Chính tả là tính thực hành Bởi lẽ chỉ có thể hình thành các kĩ năng, kĩxảo cho học sinh thông qua việc thực hành, luyện tập Do đó, trong phân môn này,

Trang 3

các quy tắc chính tả, các đơn vị kiến thức mang tính chất lý thuyết không đ ợc bố trítrong tiết riêng mà dạy lồng qua hệ thống bài tập chính tả Nội dung, cấu trúc củabài tập chính tả trong SGK Tiếng Việt Tiểu học (phần chính tả) thể hiện rất rõ tínhchất thực hành nói trên.

3 Nhiệm vụ của phân môn Chính tả:

- Phân môn Chính tả trong nhà trờng có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vững cácquy tắc chính tả và hình thành kĩ năng chính tả, nói cách khác giúp học sinh hìnhthành năng lực và thói quen viết đúng chính tả

- Ngoài ra, phân môn chính tả còn rèn cho học sinh một số phẩm chất nh tínhcẩn thận, óc thẩm mĩ, bồi dỡng cho các em lòng yêu quý Tiếng Việt và chữ viết củaTiếng Việt

* Trên thực tế, chính tả Tiếng Việt thống nhất trên toàn quốc, vậy mà việc sửdụng chính tả ở các địa phơng còn nhiều bất cập Sự sai lệch chính tả của mỗi địaphơng so với ngôn ngữ của chính tả là rất cá biệt

Ví dụ:

- ở miền Bắc có sự nhầm lẫn chính tả phụ âm đầu: n/l; s/x; ch/tr; gi/d/r; vần

iêu/ơu, u/iu.

- Khu vực miền Trung sử dụng lẫn lộn các thanh hỏi/ngã; ngã/nặng.

- Khu vực miền Nam có sự lẫn lộn giữa v/d; các nguyên âm đôi, âm cuối n/ng.

ở Hải Dơng hiện nay phần lớn việc sử dụng các phụ âm đầu còn tuỳ tiện

Hiện tợng "ngời Việt viết sai chữ Việt" còn khá phổ biến.

ở trờng tiểu học, việc học sinh viết sai phụ âm đầu, vần, dấu thanh còn khánhiều Vậy vấn đề rèn luyện kĩ năng sử dụng chính tả trong nói và viết là nhiệm vụcần thiết mà ngời làm công tác giáo dục cần quan tâm

Để làm tốt nhiệm vụ nêu trên, ngời giáo viên cần phải tự học, tự rèn, phải có

sự am hiểu về quy tắc và sử dụng chính tả, tích cực đổi mới phơng pháp dạy học đểnâng cao chất lợng giáo dục, đồng thời rèn học sinh viết đúng chính tả theo yêu cầu

Với lý do và mục đích nêu trên tôi đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài "Một

số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4".

Trang 4

Giúp học sinh viết đúng chính tả một cách tự động hoá, không phải cần trựctiếp nhớ tới các quy tắc chính tả một cách tự động hoá, không cần đến sự tham giacủa ý chí.

Để đạt đợc điều này, có thể tiến hành theo hai cách: có ý thức và không có ý thức

- Cách không có ý thức (còn gọi là phơng pháp máy móc, cơ giới) chủ trơngdạy chính tả không cần biết đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả, không cần mốiquan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở từ vựng và ngữ pháp của chính tả màchỉ đơn thuần là việc viết đúng từng trờng hợp, từng từ cụ thể Cách dạy học này tốnnhiều thì giờ, công sức và không thúc đẩy sự phát triển của t duy, chỉ củng cố trí nhớmáy móc ở một mức độ nhất định

- Cách có ý thức (còn gọi là phơng pháp có ý thức, có tính tự giác), chủ trơngcần phải bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc, các mẹo luật chính tả

Trên cơ sở đó tiến hành luyện tập và từng bớc đạt tới các kĩ xảo chính tả Việchình thành các kĩ xảo bằng con đờng có ý thức sẽ tiết kiệm đợc thời gian công sức

Đó là con đờng ngắn nhất và có hiệu quả cao

- Giữa đọc và viết, giữa Tập đọc và Chính tả (chính tả nghe - viết) có quan hệmật thiết với nhau, nhng lại có quy trình hoạt động trái ngợc nhau Nếu Tập đọc là

sự chuyển hoá văn bản viết thành âm thanh thì chính tả lại là sự chuyển hoá văn bản

dới dạng âm thanh thành văn bản viết Tập đọc có cơ sở chuẩn mực là "chính âm", còn tập viết (viết chính tả) có cơ sở là "chính tự".

Nói rằng chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học, giữa cách đọc và cáchviết thống nhất với nhau là nói về nguyên tắc chung, còn trong thực tế, sự biểu hiệncủa mối quan hệ giữa đọc và viết khá phong phú, đa dạng Cụ thể, chính tả TiếngViệt không dựa hoàn toàn vào cách phát âm thực tế của một phơng ngữ nhất địnhnào Cách phát âm thực tế của các phơng ngữ đều có nhiều sai lệch so với chính âm,

cho nên không thể thực hiện phơng châm "nghe nh thế nào, viết nh thế ấy" đợc.

Ví dụ: Không thể viết "suy nghĩ", "sạch sẽ" theo nh cách phát âm của vùng Thanh Hoá, Nghệ An Hay không thể viết quả ủi” (quả ổi), cái chủi” (cái chổi),

Mùa hoa bởi

“ ” (Mùa hoa bởi) theo cách phát âm ở một số địa phơng của tỉnh nhà

Trang 5

- Chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học nhng trong thực tế, muốn viếtchính tả đúng, việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng Hiểu nghĩa của từ là một trongnhững cơ sở giúp ngời học viết đúng chính tả Ví dụ:

Nếu giáo viên đọc một từ có hình thức ngữ âm là "da" thì học sinh có thể lúng túng trong việc xác định hình thức chữ viết của từ này Nhng nếu đọc là "gia đình" hoặc "da thịt" hay "ra vào" (đọc trọn vẹn từ, mỗi từ gắn với một nghĩa xác định) thì

học sinh dễ dàng viết đúng chính tả Vì vậy có thể hiểu rằng, chính tả Tiếng Việtcòn là loại chính tả ngữ nghĩa Đây là một đặc trng quan trọng về phơng diện ngôn ngữ của chính tả Tiếng Việt mà khi dạy chính tả giáo viên cần lu ý

3 Đối tợng nghiên cứu, cách tiến hành:

- Đối tợng nghiên cứu: hai giáo viên giảng dạy khối 4; hai lớp: 4A1 và 4A2

- Cách tiến hành:

+ Dự giờ của giáo viên

+ Nghiên cứu tập hợp, phân loại các lỗi chính tả học sinh thờng mắc Từ đó đềxuất phơng pháp dạy học, áp dụng rộng rãi một cách hợp lý

II Nội dung, chơng trình sách giáo khoa trong phân môn Chính tả lớp 4:

1 Sách giáo khoa:

- Phân môn chính tả đợc biên soạn mỗi tuần một tiết So với SGK Tiếng Việt

4 của chơng trình 165 tuần thì phần chính tả của SGK Tiếng Việt 4 mới các bài viết

đều có nội dung phù hợp với chủ điểm học tập của mỗi tuần

- Hệ thống bài tập ở SGK Tiếng Việt 4 mới phong phú, đa dạng, có tính tíchhợp cao hơn cả về hình thức và nội dung tạo điều kiện cho giáo viên đổi mới phơngpháp dạy học

2 Nội dung:

Cấu tạo một bài chính tả trong SGK gồm các phần:

a Bài viết: Quy định khối lợng bài học sinh phải viết trong giờ chính tả Các

bài viết chính tả đợc trích từ bài tập đọc trớc đó hoặc các văn bản khác có nội dungphù hợp với chủ điểm học tập trong tuần Độ dài mỗi văn bản khoảng 90 - 100 chữ

Có hai hình thức chính tả là: Chính tả nghe - viết và Chính tả nhớ - viết

b Bài tập: So với chơng trình 165 tuần, Chính tả so - sánh không đợc tách thành

một kiểu bài riêng mà đợc dạy đan xen trong tất cả các tiết chính tả thông qua dạng bài

tập Chính tả âm - vần Những bài tập không nằm trong ngoặc đơn là bài tập bắt buộc.

Những bài tập nằm trong ngoặc đơn là bài tập lựa chọn cho từng địa phơng

Nội dung các bài tập Chính tả âm - vần là ôn lại quy tắc viết một số chữ nh

c/k, g/gh, ng/ngh và tiếp tục luyện viết đúng các từ có âm, vần, thanh dễ viết sai chính

tả do ảnh hởng của cách phát âm địa phơng

III Thực trạng dạy chính tả ở trờng Tiểu học:

Trang 6

Hiện nay, việc sử dụng phơng pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học trongtiết Chính tả của giáo viên còn tồn tại những bất cập Thậm chí, nhiều giáo viên dạytiết này còn có t tởng qua loa, đại khái… Chiếm phần lớn thời gian của tiết học là

việc giáo viên đọc thật chậm, đọc rõ từng tiếng (theo kiểu n “thấp”, l “cao”, r “cong lỡi”, ch “nhẹ”, tr “nặng”…) để học sinh nắt nót bài viết Thậm chí giờ Chính tả (nhớ

- viết), giáo viên cũng đọc cho học sinh “nắn nót”, có khi còn cho phép các em mở

bài ra chép, miễn là các em “chép” đẹp là đợc Mục đích của hầu hết giáo viên quamỗi giờ chính tả chỉ là tiêu chí “Vở sạch - Chữ đẹp” chứ không phải là tốc độ viết đạtchuẩn của các em, không phải là cách tổ chức cho học sinh làm các bài tập phân biệtchính tả để từ đó nhận biết quy tắc chính tả Chính vì vậy, các em không nắm đợc

một cách bài bản về chuẩn chính tả“ ” Do đó xảy ra tình trạng: khi kiểm tra định kìhay khảo sát chất lợng, dẫu rằng giáo viên (không phải là giáo viên chủ nhiệm) có

đọc chuẩn tốc độ và chuẩn ngữ âm đến mấy thì nhiều học sinh vẫn viết rất xấu (doviết không kịp), viết sai chính tả (l/n, ch/tr, d/r/gi…) Có em còn thơ ngây hỏi: “Cô

ơi, lờ “ ” cao hay lờ “ ” thấp ạ?” hoặc Chờ” nặng hay chờ“ ” nhẹ hả cô?”…

Nắm vững tình hình dạy và học hiện nay đối với việc viết đúng chính tả ở lớp

4, tôi đã tiến hành dự giờ hai giáo viên trong khối 4, điều tra phơng pháp dạy, khảo

sát chất lợng học sinh qua bài Chính tả (nghe - viết) tuần 5.

- Phối hợp các phơng pháp dạy học cha tốt

- Cách tổ chức giờ dạy cha gây hứng thú cho học sinh

- Tổ chức cho học sinh nhận xét hiện tợng chính tả, hớng dẫn viết đúng, sosánh các cặp từ dễ lẫn phụ âm, quy tắc viết hoa, quy tắc đánh dấu thanh ch a kĩ nênkết quả bài viết của học sinh không cao

- Chữ viết của giáo viên trên bảng nhỏ, không đúng quy định, trong cùng mộtcâu giáo viên còn viết hai kiểu chữ hoa

b Học sinh:

- Một số học sinh ngồi không đúng t thế, để vở viết cha ngay ngắn Trong khiviết, một số em cha tập trung, còn nói chuyện, tốc độ viết chậm, dẫn đến viết khôngkịp, phải hỏi bạn gây ảnh hởng đến các bạn xung quanh

Trang 7

- Nhiều học sinh viết không đúng cỡ chữ, mẫu chữ quy định, viết sai âm đầu,vần, thanh, không nhớ quy tắc viết hoa Khi giáo viên hớng dẫn sửa lỗi, học sinh chaphân biệt đợc thế nào mới là chuẩn chính tả nên dẫn tới việc tự sửa lỗi còn tùy tiện,loanh quanh, chọn nhiều đáp án nh:

lẽ nào  lẽ lào, nẽ nào, nẽ lào

truyền ngôi  chuyền ngôi

dõng dạc  giõng dạc, dõng rạc

* Nguyên nhân:

Qua thực tế dự giờ, khảo sát chất lợng, tôi thấy:

- Học sinh: Kết quả viết đúng còn thấp Một số em viết còn tuỳ tiện, không có

sự so sánh, cân nhắc khi viết, vốn từ ngữ nghèo nàn, không nắm đợc quy tắc chínhtả Thậm chí có một số em trong một bài, viết hai kiểu chữ hoa, hai kiểu chữ: nét

đứng và nét nghiêng thanh đậm

- Giáo viên: Cha quan tâm bao quát lớp, cha nhấn mạnh hiện tợng chính tảtrong từng bài, tổ chức dạy học đơn điệu không phát huy đợc tính tích cực của họcsinh Cha củng cố các quy tắc chính tả, cha kết hợp giải nghĩa một số từ khó dẫn đếnhọc sinh không hiểu nghĩa nên viết sai

Qua thời gian nghiên cứu nội dung, chơng trình, phơng pháp, cách tổ chứcdạy chính tả của giáo viên lớp 4 và thực tế giảng dạy, tôi đã tìm hiểu đợc nhữngnguyên nhân học sinh viết sai chính tả và tìm biện pháp khắc phục, cùng với hai

đồng nghiệp thực hiện các biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh

IV Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh:

1 Biện pháp dạy học cần phù hợp với từng kiểu bài, dạng bài:

1.1 Hớng dẫn học sinh viết chính tả (đoạn - bài):

Để hớng dẫn học sinh viết chính tả "đoạn - bài" có kết quả, giáo viên áp dụngmột số biện pháp nh sau:

a Giúp học sinh nắm đợc hoặc nhớ lại đợc nội dung đoạn, bài cần viết

b Giúp học sinh nhận xét về các hiện tợng chính tả đáng chú ý trong bài vàtập viết trớc những trờng hợp dễ viết sai

c Tổ chức cho học sinh viết bài theo đúng tốc độ quy định

d Chấm, chữa bài viết cho học sinh

1.2 Hớng dẫn học sinh làm bài tập chính tả âm vần:

a Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập

- Cho học sinh đọc thầm rồi trình bày lại yêu cầu của bài tập

- Giáo viên giải thích thêm cho rõ yêu cầu của bài tập

Trang 8

- Tổ chức cho học sinh thực hiện làm mẫu một phần của bài tập để cả lớp nắm

đợc yêu cầu của bài tập đó

b Tổ chức cho học sinh thực hiện bài tập

- Tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân hoặc theo cặp, theo nhóm để thựchiện bài tập

- Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả bằng nhiều hình thức khác nhau

- Trao đổi với học sinh, sửa lỗi cho học sinh hoặc tổ chức để học sinh góp ýcho nhau, đánh giá cho nhau trong quá trình làm bài

- Sơ kết, tổng kết ý kiến của học sinh, ghi bảng nếu cần thiết

2 Tổ chức dạy các kiểu bài chính tả:

Để tạo hứng thú học tập cho học sinh và đạt đợc kết quả cao thì công tác tổchức một giờ dạy của ngời giáo viên là vô cùng quan trọng Qua thực tế giảng dạy,tôi xin đa ra một số cách tổ chức giờ dạy chính tả lớp 4 nh sau:

2.1 Dạy bài Chính tả nghe - viết :“ ”

- Đây là kiểu bài chính tả thể hiện đặc trng của phân môn chính tả Nói rằngchính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, đọc nh thế nào, viết nh thế nấy, giữa đọc vàviết có mối quan hệ mật thiết đều chủ yếu nói tới hình thức chính tả nghe đọc này

- Kiểu bài chính tả nghe đọc yêu cầu học sinh nghe từng từ, cụm từ, câu dogiáo viên đọc, vừa nghe vừa tái hiện lại hình thức chữ viết của các từ, cụm từ, câu ấy.Nói cách khác, học sinh phải có năng lực chuyển hoá ngôn ngữ âm thanh thànhngôn ngữ viết Yêu cầu đặt ra là học sinh phải viết đủ số âm đã nghe, viết đúng vànhanh theo tốc độ quy định (học sinh phải biết phối hợp nghe, nhớ để viết)

- Muốn viết đúng chính tả, việc nghe của học sinh phải gắn với việc hiểu nộidung của từ, cụm từ, câu, văn bản Vì vậy ngoài những hiểu biết về các quy tắc chínhtả, học sinh phải hiểu nghĩa của từ, của câu, văn bản

- Văn bản đợc đa ra cho học sinh viết phải là văn bản chứa nhiều "hiện tợng

chính tả" cần dạy Mật độ các hiện tợng chính tả cần dạy trong văn bản đó càng

nhiều càng tốt (chú ý tới yêu cầu dạy chính tả theo khu vực, sát hợp với phơng ngữ)

Bên cạnh đó văn bản ấy phải có nội dung phù hợp với học sinh ở từng độ tuổi,

có giá trị thẩm mĩ cao

Văn bản đó chủ yếu là chọn trong SGK (bài tập đọc), nhng cũng có thể chọnngoài SGK để gây hứng thú cho học sinh, tránh cảm giác trùng lặp, đơn điệu

* Về cách dạy: yêu cầu quan trọng đặt ra trong kiểu bài chính tả này là việc

đọc mẫu của giáo viên phải chuẩn xác, phải đúng với chính âm Cạnh đó, giáo viênnên đọc thong thả, rõ ràng, ngắt hơi hợp lí

Sau mỗi cụm từ, mỗi câu nên nhắc lại để học sinh dễ theo dõi Tốc độ đọcphải phù hợp, tơng ứng với tốc độ viết của học sinh

Trang 9

Trớc khi học sinh viết, giáo viên đọc thong thả và diễn cảm toàn bộ bài đợcchọn viết chính tả, nhằm giúp học sinh có cái nhìn bao quát, có ấn tợng chung vềnội dung của bài viết, làm cơ sở cho việc viết chính tả của học sinh Khi học sinhviết, giáo viên nên đọc câu một (mỗi câu giáo viên nên đọc khoảng 2 - 3 lần).

Nếu gặp câu dài, giáo viên có thể đọc từng cụm từ (cụm từ ấy phải diễn đạtmột ý nhỏ ) Cả việc đọc (của giáo viên) và việc viết (của học sinh) đều không theotừng từ riêng lẻ mà phải gắn với cả câu (hoặc cụm từ) trọn nghĩa Nh vậy, học sinhviết chính tả trên cơ sở thông hiểu nội dung văn bản và sẽ tránh đợc các lỗi dokhông hiểu những gì mình viết Sau khi học sinh viết xong, giáo viên cần đọc lạitoàn bộ văn bản lần cuối để học sinh kiểm tra, rà soát lại bài viết của mình Sau đócho từng cặp học sinh đổi vở kiểm tra lại lỗi bài của bạn Việc luyện viết các chữ khó viết cần tiến hành trớc khi viết bài

2.2 Dạy bài Chính tả nhớ - viết :“ ”

- Kiểu bài chính tả này yêu cầu học sinh tái hiện lại hình thức chữ viết củamột văn bản nào đó mà văn bản ấy đợc học thuộc Kiểu bài này nhằm kiểm tra nănglực ghi nhớ của học sinh và đợc thực hiện ở giai đoạn học sinh đã quen thuộc

hình thức chữ viết của Tiếng Việt

- Quy trình nhớ viết của học sinh có thể diễn ra nh sau:

+ Bớc 1: Học sinh tái hiện lại hình thức âm thanh của văn bản (thờng là bàithơ, đoạn thơ) Lúc này, hiện lên trong trí não học sinh không phải là những âmthanh vật chất mà là những hình ảnh âm thanh, những biểu tợng âm thanh

+ Bớc 2: Học sinh chuyển hoá văn bản dới hình thức âm thanh ấy thành vănbản dới hình thức chữ viết (vật chất hoá t duy)

- Về cách dạy: Giáo viên cần bố trí đủ thời gian để học sinh tự nhớ lại và viếtbài Giáo viên nên có biện pháp tác động (gợi ý, hớng dẫn ) giúp học sinh tái hiệnlại và lu ý học sinh những trờng hợp chính tả học sinh có thể đọc lại văn bản vài lợt

để tạo tâm thế viết bài và có cơ sở tái hiện lại văn bản Sau khi học sinh viết xong,giáo viên hớng dẫn học sinh kiểm tra lại bài viết

3 Thực hiện chuẩn quy trình dạy - học:

 Kiểm tra bài cũ:

Học sinh nghe viết một số từ ngữ khó đã đợc luyện tập ở tiết chính tả trớchoặc nghe viết một số từ thờng mắc lỗi ở địa phơng

 Dạy bài mới:

a Giới thiệu bài:

Giáo viên nêu yêu cầu của bài viết chính tả và bài tập chính tả và rèn một sốcặp âm, vần, thanh dễ lẫn

b Hớng dẫn chính tả:

Trang 10

- Học sinh đọc bài chính tả sẽ viết trong SGK.

- Giáo viên hỏi 1 - 2 câu hỏi để học sinh nắm đợc nội dung chính của bài viết

- Hớng dẫn học sinh nhận biết (phân tích, so sánh, ghi nhớ ) và tập viết cácchữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn trên bảng con

c Viết chính tả:

* Chính tả nghe - viết“ ” (giáo viên đọc cho học sinh viết)

- Giáo viên đọc lần thứ nhất để học sinh bao quát toàn bài (giáo viên cần phát

âm rõ ràng, tốc độ vừa phải, tạo điều kiện cho học sinh nắm bắt các hiện tợng chínhtả cần chú ý)

- Giáo viên đọc từng câu ngắn hay từng cụm từ để học sinh viết, mỗi câu ngắnhoặc cụm từ đợc đọc từ 2 - 3 lần cho học sinh kịp viết theo tốc độ quy định ở lớp 4

- Giáo viên đọc toàn bài lần cuối cho học sinh soát lại

* Chính tả nhớ - viết :“ ”

Học sinh nhớ lại nội dung bài đã học thuộc lòng trớc đó để tự viết lại

Với hình thức chính tả nhớ viết, giáo viên cần hớng dẫn học sinh cách tự nhớlại bài học thuộc lòng, đọc nhẩm từng câu thơ trong đầu, viết lại từng dòng thơ theothứ tự từ đầu đến cuối, chú ý nhắc nhở học sinh viết đúng, trình bày đẹp theo đặc

điểm của từng thể loại thơ Tránh tuyệt đối việc đọc cho học sinh viết hoặc cho họcsinh mở sách giáo khoa ra chép bài

d Chấm, chữa bài chính tả:

Mỗi giờ chính tả, giáo viên chọn chấm, chữa một số bài viết của học sinh, đốitợng đợc chọn chấm, chữa bài ở mỗi giờ là: những học sinh cha có điểm bài chínhtả, những học sinh viết chậm, hoặc hay mắc lỗi cần đợc chú ý rèn cặp thờng xuyên

Qua chấm bài, giáo viên có điều kiện rút ra nhận xét, kịp thời tuyên dơngnhững học sinh có nhiều tiến bộ, phát hiện những lỗi học sinh thờng mắc để các emchú ý sửa chữa Sau khi chấm bài cho một số em, giáo viên có thể giúp học sinh cảlớp tự kiểm tra và chữa lỗi theo các cách sau:

- Học sinh đổi vở cho nhau để chấm bài của bạn (dựa vào SGK)

- Giáo viên đọc từng câu cho cả lớp soát lỗi, kết hợp chỉ dẫn các chữ dễ viếtsai chính tả

Trang 11

- Bài tập bắt buộc (chung cho các vùng phơng ngữ): Nội dung các bài tập này

là luyện viết các từ ngữ dễ lẫn do ảnh hởng phơng ngữ và do cha hiểu rõ nghĩa vàcác hình thức chính tả khác nhau do nghĩa từ ngữ quy định

- Giáo viên nhận xét tiết học

- Lu ý những trờng hợp dễ viết sai, những học sinh còn hay viết sai từng loạilỗi cụ thể để nêu yêu cầu tiếp tục luyện tập

4 Phối hợp việc luyện tập th ờng xuyên về chính tả với việc luyện tập toàn

diện về ngôn ngữ (coi trọng việc phối hợp với chính âm và đối chiếu với ngữ nghĩa)

5 Phân loại các lỗi chính tả để tìm cách khắc phục thích hợp từng loại Có

thể có những lỗi chính tả phổ biến sau:

- Lỗi do cẩu thả của ngời viết

- Lỗi do hạn chế của chữ Việt (một âm có nhiều cách viết: VD: c/k/q)

- Lỗi do không nắm vững quy tắc chính tả

- Lỗi do phát âm địa phơng

- Lỗi do kết cấu của Tiếng Việt

Trong trờng hợp này nên dùng phơng pháp thống kê để đặt yêu cầu phù hợpvới việc sửa lỗi chính tả phù hợp với số lần xuất hiện của từng loại lỗi

6 Phối hợp linh hoạt giữa ph ơng pháp dạy có ý thức và phơng pháp dạy

không có ý thức, phơng pháp tích cực và phơng pháp tiêu cực:

a Nh ở phần trên đã nói, phơng pháp có ý thức đợc hiểu là phơng pháp hìnhthành các kĩ xảo chính tả cho học sinh dựa trên cơ sở vận dụng có ý thức một sốmẹo luật, một số quy tắc nhất định cho học sinh

Ví dụ:

+ Luyện chính tả phân loại cặp phụ âm n/l có thể luyện âm theo phơng thức và

bộ phận cấu âm: "l" phát âm bên, đầu lỡi - lợi Còn "n" phát âm mũi - đầu lỡi - răng.

+ "l" kết hợp đợc với âm đệm, còn "n" không kết hợp đợc với âm đệm Có thể

hình thành các mẹo chính tả luyện phát âm và viết

Lúa nếp là lúa nếp làng

Ngày đăng: 05/07/2021, 10:19

w